Mức độ và phân bố của suy dinh duỡng và thiếu vi chất ở trong một quầnthể phụ thuộc vào các yếu tố như tình trạng kinh tế, chính trị, trình độ học vấn,điều kiện vệ sinh, điều kiện thời t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
LÊ THỊ THU HÀ
SUY DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VÀ DÂN TỘC VÂN KIỀU TẠI 3 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
QUẢNG BÌNH – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
LÊ THỊ THU HÀ - C01061
SUY DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VÀ DÂN TỘC VÂN KIỀU TẠI 3 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Đại học ThăngLong Hà Nội, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thànhđến Ban Giám hiệu, các phòng, khoa thuộc của nhà trường và các Giáo sư, Tiến
sĩ cùng toàn thể các Thầy cô giáo đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọiđiều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthiện đề tài nghiên cứu khoa học này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sĩ PhạmDuy Tường, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thựchiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Trung tâm Y tế huyện Bố Trach,Uỷban nhân dân và cán bộ các trạm y tế xã Sơn Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạchnơi trực tiếp lấy số liệu nghiên cứu, gia đình, bạn bè đồng nghiệp,những ngườithân trong gia đình, đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ động viên cho tôi trongquá trình hoàn thiện nghiên cứu khoa học này
Em xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Bình, ngày 9 tháng 11 năm
2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ nghiên cứu “ Suy dinh dưỡng và một
số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Chứt và dân tộc Vân Kiềutại Huyện Bố Trạch, Quảng Bình năm 2019” là công trình nghiên cứu của riêngtôi Những số liệu trong luận văn là trung thực được chỉ rõ nguồn trích dẫn Kếtquả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
từ trước đến nay
Quảng Bình, ngày 9 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hà
Thang Long University Library
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN 3
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DINH DƯỠNG 3
1.1.1 Định nghĩa dinh dưỡng 3
1.1.2 Tình trạng dinh dưỡng 3
1.1.3 Suy dinh dưỡng 3
1.1.3.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng 3
1.1.3.2 Phân loại suy dinh dưỡng 4
1.2 VÀI NÉT LỊCH SỬ VỀ NGHIÊN CỨU SUY DINH DƯỠNG 8
1.3 NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI 9
1.4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI 12
1.5 TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI: 13
1.5.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới 13
1.5.2 Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam 15
1.5.3 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại Quảng Bình 18
1.6 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20
1.6.1 Một số đặc điểm của huyện Bố Trạch-Quảng Bình 20
1.6.2 Một số đặc điểm của 3 xã nghiên cứu: - Vị trí địa lý: 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU: 23
2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 23
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: 23
2.4.3 Kỹ thuật chọn mẫu 24
Trang 62.5 CÁC BIẾN SỐ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU VÀ TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 25
2.5.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 25
2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số nghiên cứu 27
2.5.3 Công cụ và phương pháp thu nhập số liệu: 27
2.5.3.1 Thu thập số liệu định lượng( Phụ lục 2, phụ lục 5) 27
2.5.3.2 Thu thập số liệu định tính( Phụ lục 1) 29
2.5.4 Phân tích và xử lý số liệu: 30
2.6 SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 30
2.6.1 Sai số: 30
2.6.2 Biện pháp khăc phục: 30
2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 31
2.8 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 32
3.2 TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TRONG NGHIÊN CỨU 34
3.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SDD CỦA TRẺ 38
3.3.1 Các yếu tố liên quan từ phía trẻ 38
3.3.2 Các yếu tố liên quan về phía người nuôi dưỡng 39
3.3.2.1 Trình độ học vấn của mẹ 39
3.3.2.2 Nghề nghiệp của bà mẹ 39
3.3.2.3 Kinh tế gia đình của bà mẹ 40
3.3.2.4 Tuổi của bà mẹ 40
3.3.2.5 Tổng số lần sinh 40
3.3.2.6 Khoảng cách giữa các lần sinh 41
3.3.2.7 Tổng số con hiện có trong gia đình 41
3.3.2.8 Thứ tự của trẻ 42
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 44
Thang Long University Library
Trang 74.1 TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI
DÂN TỘC CHỨT, DÂN TỘC VÂN KIỀU 44
4.1.1 Tình trạng suy dinh dưỡng chung: 44
4.1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo xã (Vị trí địa lý) 45
4.1.3 Tỷ lệ Suy dinh dưỡng theo dân tộc 46
4.1.4 Suy dinh dưỡng theo giới: 47
4.1.5 Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: 48
4.1.6.Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi: 50
4.1.7.Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm: 52
4.2 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ 54
4.2.1.Các yếu tố từ phía trẻ 54
4.2.2 Các yếu tố từ phía người nuôi dưỡng 58
4.2.2.1 Yếu tố liên quan đến bà mẹ 58
4.2.2.2 Mối liên quan các yếu tố của bà mẹ đến SDD 60
4.2.3 Liên quan giữa kiến thức, thực hành của mẹ về nôi dưỡng và chăm sóc trẻ với SDD của trẻ 61
KẾT LUẬN 64
KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi 12
Bảng 1.2 Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5 tuổi 13 Bảng 1.3 Dự báo tỷ lệ SDD (%) đến năm 2020 ở các nước đang phát triển 15
Bảng 1.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dướỉ 5 tuổi tại Việt Nam qua các năm 2007 – 2017, 16
Bảng 1.5 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung năm 2017[37] 17
Bảng 1.6 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Quảng Bình 18
Bảng 1.7 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Bố Trạch- Quảng Bình 20
Bảng 2.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 25
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng bà mẹ trong nghiên cứu (n= 375) 32
Bảng 3.2 Thông tin về trẻ em dưới 5 tuổi trong nghiên cứu (n= 375) 33
Bảng 3.3 Giới tính của trẻ 33
Bảng 3.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em <5 tuổi theo các thể 34
Bảng 3.5 Suy dinh dưỡng của trẻ theo xã 34
Bảng 3.6 Suy dinh dưỡng của Trẻ em theo dân tộc 35
Bảng 3.7 Suy dinh dưỡng của trẻ em theo giới 35
Bảng 3.8 Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân( CN/T) 36
Bảng 3.9 Suy dinh dưỡng thể thấp còi (CC/T) 37
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa bệnh tật của trẻ với SDD 38
Bảng 3.11.Liên quan giữa trình độ của mẹ với SDD của trẻ 39
Bảng 3.12 Liên quan giữa Nghề nghiệp của mẹ với SDD của trẻ 39
Bảng 3.13.Liên quan giữa kinh tế của mẹ với SDD của trẻ 40
Bảng 3.14 Liên quan giữa tuổi của mẹ với SDD của trẻ 40
Bảng 3.15 Liên quan giữa tổng số lần sinh của mẹ với SDD của trẻ 40
Bảng 3.16 Liên quan giữa khoảng cách các lần sinh của mẹ với SDD của trẻ 41
Bảng 3.17 Liên quan giữa tổng số con hiện có với SDD của trẻ 41
Bảng 3.18 Liên quan giữa thứ tự của trẻ với SDD của trẻ 42
Thang Long University Library
Trang 9Bảng 3.19 Liên quan giữa kiến thức và thực hành của mẹ về nuôi dưỡng và
chăm sóc trẻ với SDD của trẻ 42
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1.Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dướỉ 5 tuổi tại Việt Nam qua các năm
2008 – 2017, 17
Biểu đồ 3.1 Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân theo nhóm tuổi(n=375) 36
Biểu đồ 3.2 Suy dinh dưỡng thể thấp còi theo nhóm tuổi(n=375) 37
Biểu đồ 3.3 Liên quan giữa địa bàn cư trú của trẻ với SDD của trẻ: 43
Thang Long University Library
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh duỡng ở trẻ em đang là một vấn đề quan trọng trong sức khoẻcộng đồng, đặc biệt tại các nước đang phát triển, trong đó bao gồm các nướcĐông Nam châu Á và châu Phi [32] [42]
Suy dinh dưỡng thường xảy ra sớm ở trẻ em 6 tháng đến 2 tuổi và liênquan đến ăn bổ sung sớm, cai sữa sớm, chế độ ăn nghèo protein, thường xuyênmắc các bệnh nhiễm trùng [39], [41]
Mức độ và phân bố của suy dinh duỡng và thiếu vi chất ở trong một quầnthể phụ thuộc vào các yếu tố như tình trạng kinh tế, chính trị, trình độ học vấn,điều kiện vệ sinh, điều kiện thời tiết và mùa, sản xuất thực phẩm, phong tục vănhoá, tín ngưỡng về thực phẩm, thói quen nuôi con bằng sữa mẹ, tỷ lệ mắc cácbệnh nhiễm trùng, sự tồn tại và hiệu quả của các chương trình dinh dưỡng, sựsẵn có và chất lượng của các dịch vụ sức khoẻ [43], [44]
Suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, làm ảnh hưởng đến
sự phát triển thể chất và tinh thần ở trẻ em Tại hội nghị thượng đỉnh về dinhdưỡng họp tại Roma tháng 12/1992, đại diện của 159 nước đã tuyên bố quyếttâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh suy dinh duỡng Nhận thức đượctầm quan trọng của việc nâng cao sức khoẻ của trẻ em, giảm tỷ lệ bệnh tật tửvong; hướng tới mục tiêu lâu dài là cải thiện chất lượng cuộc sống, các chươngtrình chiến lược về sức khoẻ trẻ em trên thế giới đã đặt vấn đề ưu tiên phát hiện
và can thiệp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được kết quả đáng kể trong trongviệc giảm suy dinh dưỡng và các thể thiếu dinh dưỡng khác như thiếu vi chấtdinh dưỡng Mặc dù tỷ lệ suy dinh duỡng nhẹ cân đã giảm nhanh từ 33.8% (năm2000) xuống còn 14.1% (năm 2015) nhưng theo phân loại của Tổ chức Y tế Thếgiới tỷ lệ thiếu dinh dưỡng ở Việt Nam vẫn còn ở mức rất cao về suy dinh dưỡngthấp còi
Theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia năm 2018, Quảng Bình có
tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi 19.8% chiều cao/tuổi 30.8% và cân
Trang 122nặng/chiều cao là 6,5% [8] là tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất miền Trung.
Đã có những đề tài nhiên cứu tình hình dinh dưỡng ở Quảng Bình, tuy nhiênchưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng dinh dưỡng cho huyện Bố Trạch,đặc biệt là dân tộc Chứt (Arem), Vân Kiều (Makoong) thuộc 3 xã Sơn Trạch,Tân trạch và Thượng Trạch Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Huyện Bố Trạch có 3 xã miền núi, dân tộc Chứt (Arem), Vân Kiều(Makoong) sinh sống ở đây và chiếm 98% dân số của 2 xã Địa bàn phức tạp,khí hậu khắc nghiệt, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Trong nhữngnăm qua công tác phòng chống suy dinh duỡng trẻ em của huyện đã được chútrọng và đạt những kết quả đáng kể, năm 2018 là 11,0% giảm 37.8 % so với năm2012( 17.7%) Nhưng tỷ lệ suy dinh duỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại 03 xã SơnTrạch, Tân Trạch và Thượng Trạch cao nhất toàn huyện Để tìm hiểu thực trạngsuy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Chức và dân tộc Vân kiều tại
03 xã trên Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Chứt và dân tộc Vân Kiều tại 3 xã miền núi huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình năm 2019.
Mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Chứt và dân tộc Vân Kiều tại 3 xã miền núi Sơn Trạch, Tân Trạch và Thượng Trạch huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình năm 2019.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại 3 xã nghiên cứu.
Thang Long University Library
Trang 13CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DINH DƯỠNG
1.1.1 Định nghĩa dinh dưỡng
Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thànhphần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể đểđảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn, ăn vào vàtình trạng sức khỏe Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặcthừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai
1.1.3 Suy dinh dưỡng
1.1.3.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là trình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thườngcủa cơ thể không đáp ứng được, hậu quả là thiếu hoặc thừa dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng trẻ em gọi đầy đủ là suy dinh dưỡng là một rối loạn dinhdưỡng thường gặp ở trẻ em do thiếu nhiều chất dinh dưỡng, chứ không phảithiếu protetin - năng lượng đơn thuần [31], [34]
Suy dinh dưỡng là biểu hiện của sự chậm lớn, chậm tăng trưởng chủ yếu
là yếu tố nuôi dưỡng, bệnh tật hơn là nguyên nhân do di truyền, trẻ em dưới 5tuổi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, mọi trẻ em có thể phát triển như nhau
Suy dinh dưỡng thứ phát nếu thực phẩm cung cấp đủ về số lượng chấtlượng nhưng do trẻ không muốn ăn, do rối loạn hấp thu, do tăng chuyển hoá bất
Trang 144thường, do sai lạc chuyển hoá hoặc sự bất thường khiến cho nhu cầu bên trong
cơ thể bị thiếu hụt [31]
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vichất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độkhác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần
và vận động của trẻ 2 , 32
1.1.3.2 Phân loại suy dinh dưỡng
Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà suy dinh dưỡng biểu hiệncác thể, các hình thái khác nhau
- Phân loại theo lâm sàng
+ Thiếu dinh dưỡng protein, năng lượng
Thiếu protein, năng lượng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế
độ ăn không đảm bảo nhu cầu protein và năng lượng, tình trạng kèm theo là cácbệnh nhiễm khuẩn
Về hình thái: Suy dinh dưỡng thể teo đét (Marasmus) thường gặp nhất Đó
là hậu quả của một chế độ ăn thiếu cả năng lượng và protein hoặc do cai sữa quásớm hoặc do trẻ ăn bổ sung không hợp lý
Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor) ít gặp hơn thể teo đét, thường là
do chế độ ăn quá nghèo protin nhưng tạm đủ các chất gluxit
Ngoài ra có thể phối hợp giữa Marasmus và Kwashiorkor khi trẻ có biểuhiện gầy đét nhưng có phù
+ Thiếu vi chất dinh dưỡng:
Các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng của sức khoẻcộng đồng trong thập kỷ này, đựơc gọi là “ nạn đói tiềm ẩn” vì khác với nạn đóithông thường Thiếu vi chất dinh dưỡng không gây nên cảm giác đói khát,nhưng hậu quả của nó vô cùng lớn lao đối với sức khoẻ Vì vậy, phòng chốngthiếu vi chất dinh dưỡng còn mang một ý nghĩa lớn cả về sản xuất, năng lực họchành, là một chiến lược vì sức khoẻ và phát triển 32 , 35 Các nghiên cứu gần
Thang Long University Library
Trang 155đây về ảnh hưởng của thiếu vi chất dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng thể thấp còi,đặc biệt đáng chú ý là ảnh hưởng do thiếu kẽm, sắt, vitamin A và thiếu iốt.
Thiếu vitamin A là một trong những bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất ởtrẻ em vì nó gây ra những tổn thương ở mắt mà hậu quả có thể dẫn tới mù, đồngthời thiếu vitamin A làm tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tử vong
Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượngHemoglobin trong máu xuống thấp hơn ngưỡng quy định do thiếu một hay nhiềuchất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu vì bất cứ lý do gì Thiếu máu làmột trong những vấn đề mang ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng phổ biến nhất ở cácnước đang phát triển Các đối tượng có nguy cơ bị thiếu máu cao nhất là phụ nữ
có thai và trẻ em Thiếu máu gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ, tăng trưởng,giảm khả năng hoạt động thể lực và tăng nguy cơ mắc bệnh
Ngoài ra, ngày nay người ta đã biết cơ thể của trẻ em và người lớn củanhiều nước trên thế giới bị thiếu iốt, kẽm có thể coi là vấn đề sức khỏe cộngđồng quan trọng, thiếu kẽm có thể ảnh hưởng đến thai nghén, cân nặng sơ sinhgiảm, làm cơ thể trẻ kém phát triển, giảm khả năng miễn dịch của cơ thể dễ gâycác bệnh nhiễm khuẩn
Có thể nói SDD bao gồm nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau, nhưng tìnhtrạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng là thường gặp nhất Do đó,nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung vào tình trạng suy dinh dưỡng ở dạng này
- Phân loại trên cộng đồng
Trên cộng đồng, suy dinh dưỡng thể vừa và nhẹ thường gặp và có ý nghĩasức khoẻ quan trọng nhất, vì ngay cả suy dinh dưỡng nhẹ cũng là tăng gấp đôinguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em Người ta nhận thấy, hậu quả do suy dinhdưỡng lúc nhỏ còn ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động thể lực, trí lực cũngnhư một số bệnh mãn tính ở tuổi trưởng thành
Để xác định tình trạng suy dinh dưỡng, chủ yếu người ta dựa vào các chỉ
số nhân trắc (cân nặng theo tuổi = CN/T, chiều cao theo tuổi = CC/T, cân nặngtheo chiều cao = CN/CC)
Trang 16- Một số cách phân loại trước đây
Cách phân loại của Gomez: Năm 1956, một bác sỹ người Mexico tên làGomez đã đề ra cách phân loại như sau: Quy cân nặng của đối tượng theo phầntrăm so với cân nặng được coi là chuẩn của quần thể tham khảo Harvard Theo
đó suy dinh dưỡng độ I tương ứng với 75 - 90% của cân nặng chuẩn, SDD độ IItương ứng 60-75% cân nặng, SDD độ III khi dưới 60% cân nặng chuẩn Trongmột thời gian dài, cách phân loại Gomez đã được sử dụng như là cách phân loạisuy dinh dưỡng duy nhất trên cộng đồng Năm 1966 Jelliffe đã đưa ra cách phânloại suy dinh dưỡng và cũng dựa vào quần thể tham khảo Harvard Năm 1977Waterlow và cộng sự đã đề nghị sử dụng chỉ tiêu chiều cao theo tuổi để đánh giásuy dinh dưỡng
- Cách phân loại của Tổ chức y tế thế giới 4 , 39
Các cách phân loại của Gomez và Jelliffe ở trên khá đơn giản và dễhiểu Tuy nhiên, các ngưỡng phần trăm đề ra, chưa tính đến các phân phối bìnhthường (đôi khi còn gọi là phân bố chuẩn hay phân phối Gaussian) trong cộngđồng và cách phân loại này không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy rahay đã lâu Hầu hết các số đo nhân trắc cơ thể người của tất cả các nhóm dân tộckhác nhau đều tuân theo quy luật phân phối bình thường Giới hạn thường được
sử dụng nhất là khoảng giới hạn từ -2SD đến +2SD, độ lệch chuẩn (SD), tươngđương với bách phân vị thứ 97 đến bách phân vị thứ 3
Năm 1981, Tổ chức y tế thế giới chính thức khuyến khích sử dụng khoảnggiới hạn từ - 2SD đến + 2SD để phân loại suy dinh dưỡng trẻ em Quần thể thamkhảo được sử dụng là NCHS (national center for health statistics) Cho tới nay,đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới Thang phânloại dựa vào cân nặng và chiều cao theo các chỉ số như sau:
Cân nặng/tuổi: Cân nặng theo tuổi phản ánh tình trạng nhẹ cân, là chỉ số
đánh giá suy dinh dưỡng thông dụng từ năm 1950 Chỉ số này được dùng đểđánh giá suy dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng Nhẹ cân chỉ là một đặc tínhchung của suy dinh dưỡng, nhưng không cho biết đặc điểm cụ thể, đó là loại suy
Thang Long University Library
Trang 177dinh dưỡng mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu Chỉ số này nhạy cảm và có thểquan sát nó trong một thời gian ngắn, tuy vậy chỉ số này không nhạy đối với trẻ
em bị còi thấp, vì với những trẻ này có thể phát triển cân nặng thấp nhưng chỉsong song với phía dưới của đường phát triển bình thường, hoặc có những trẻquá cao, nên cân nặng theo tuổi có thể bình thường, nhưng thực ra trẻ bị suydinh dưỡng Chỉ số này liên quan đến tuổi và đó cũng là vấn đề khó khăn khi thuthập số liệu để tính toán, đặc biệt ở những nơi có trình độ dân trí thấp, bà mẹđông con, những nơi các bà mẹ nhớ ngày sinh tháng đẻ của trẻ theo cách riêngcủa họ Thì đây quả là một vấn đề hết sức khó khăn Tuy nhiên, theo dõi cânnặng là việc tương đối dễ thực hiên ở cộng đồng hơn cả, do đó tỷ lệ thiếu cântheo tuổi được sử dụng rộng rãi để tính tỷ lệ chung của suy dinh dưỡng [4]
- Chiều cao/tuổi: Chiều cao/tuổi thấp được gọi là thấp còi (stunting), biểu
hiện suy dinh dưỡng trong quá khứ Thấp còi được xem là hậu quả của tình trạngthiếu ăn hoặc mắc các bệnh nhiễm khuẩn tái diễn Đồng thời, nó cũng phản ánh
đó là hậu quả của vệ sinh môi trường kém và suy dinh dưỡng sớm Chỉ số nàyđược dùng để đánh giá suy dinh dưỡng trong quá khứ với các trang thiết bị rẻtiền và dễ vận chuyển Tuy nhiên, chỉ số này không nhạy, vì sự phát triển chiềucao là từ từ Như vậy, khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn Tỷ lệ trẻ
em thấp còi được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo.
Đây là chỉ tiêu tốt để đánh giá sự cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội Thôngthường ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi,đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định, sau đó chiều cao trung bình đi song song với chiềucao tương ứng ở các quần thể tham khảo
- Cân nặng/chiều cao: Cân nặng theo chiều cao thấp được gọi là suy dinhdưỡng thể gầy còm (wasting), là chỉ số đánh giá suy dinh dưỡng hiện tại, hay nóicách khác nó biểu hiện suy dinh dưỡng cấp tính, do vậy cần phải ưu tiên canthiệp Cân nặng/chiều cao thấp, chính là thiếu hụt cơ thể ( khối nạc, khối mỡ,xương) khi so sánh tổng số cần có của đứa trẻ có cùng chiều cao (hay chiều dài).Cân nặng theo chiều cao thấp, phản ánh sự không tăng cân hay mất cân nếu so
Trang 188sánh với trẻ có cùng chiều cao Nó còn phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễmkhuẩn là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này Tỷ lệ cân nặng/chiềucao thấp thường xuất hiện nhiều ở trẻ 12 - 24 tháng tuổi, do đây là thời kỳ trẻhay mắc bệnh và thiếu ăn do thiếu chăm sóc Suy dinh dưỡng cấp tính tiến triểnrất nhanh ở trẻ em bị sụt cân hoặc không tăng cân Chỉ số cân nặng/chiều cao có
ưu điểm là không cần biết tuổi của trẻ, vì vậy có thể tránh được một dữ liệu (tínhtuổi) đôi khi rất khó thu thập hoặc không chính xác Đồng thời chỉ số này còn cómột ưu điểm là không phụ thuộc vào yếu tố dân tộc, vì trẻ dưới 5 tuổi cơ thểphát triển như nhau trên toàn cầu
1.2 VÀI NÉT LỊCH SỬ VỀ NGHIÊN CỨU SUY DINH DƯỠNG
Từ lâu suy dinh dưỡng trẻ em đã được đề cập tới do tình trạng thiếu lươngthực hoặc cung cấp thức ăn không đủ dẫn đến gầy còm, sút cân và chậm pháttriển về thể lực và giảm sút trí tuệ hậu quả đến tử vong [26]
Năm 1908, Cotrea gọi suy dinh dưỡng là bệnh “rắn nhỏ” vì trẻ em mắcbệnh cơ thể nhỏ bé, da lại có lằn sẫm nâu nhạt như da rắn Năm 1926, Normetbác sỹ người Pháp đã mô tả căn bệnh này với tên gọi là bouffissure, bệnh sưngphù Annam gặp nhiều ở Trung Nam Bộ Việt Nam Năm 1927, tác giả Keller gọi
là bệnh suy thoái của trẻ ăn bột Các tác giả Autret và Behar gọi suy dinh dưỡng
là hội chứng đa khiếm khuyết ở trẻ em, vì thấy rằng đứa bé bị thiếu nhiều chấtdinh dưỡng Năm 1930 Cicely Williams đã dùng thuật ngữ “Kwashiorkor” nghĩa
là bệnh của những đứa bé bị bỏ rơi”
Năm 1959, một số tác giả dùng thuật ngữ “Suy dinh dưỡng protein - calo”
để chỉ những đứa trẻ vừa đói protein, vừa đói năng lượng Năm 1962, trong bảngphúc trình tại khóa họp thứ sáu, tiểu ban dinh dưỡng FAO/WHO đã chọn từ
“Suy dinh dưỡng protein - calo” Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên gọi “Suy dinhdưỡng protetin - năng lượng (protein energy malnutrion = PEM)” để chỉ suydinh dưỡng ở mức độ nặng hơn Thuật ngữ này được dùng cho đến ngày nay
Thang Long University Library
Trang 199Suy dinh dưỡng tại Việt Nam đã được nghiên cứu từ thập niên 90, lúc đó
là một quốc gia, nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tỷ lệSDD xếp vào trong những nước đứng hàng đầu trên thế giới, khoảng 60% trẻ emdưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, theo nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn, NguyễnThị Hương Nga 10 Tình trạng suy dinh dưỡng của nước ta kéo dài sau hơn mộtthập kỷ chúng ta vẫn đứng đầu các nước về suy dinh dưỡng.Tỷ lệ suy dinhdưỡng giảm mạnh cùng với nền kinh tế thị trường phát triển, những năm cuốicủa thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, từ gần 60% giảm xuống còn37,5% năm 2003, 7 Và giảm nhiều với các năm sau đó.Với một nền kinh tếphát triển tình hình suy dinh dưỡng càng được sự quan tâm của Chính phủ, các
tổ chức xã hội, nên tỷ lệ suy dinh dưỡng đã giảm một cách đáng kể và có xunghướng giảm chậm mỗi năm từ 0,1-0,3% , 37
1.3 NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI.
Có rất nhiều yếu tố có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng thiếuprotein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó thực phẩm, sức khoẻ và chămsóc là bộ ba các thành tố thiết yếu trong chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng
ở trẻ em.Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng còn có rất nhiều trong đó như:Tình trạng dinh dưỡng của mẹ khi mang thai ảnh hưởng đến sự phát triển của bàthai làm trẻ bị suy dinh dưỡng ngay từ trong bào thai, kinh tế gia đình, trình độvăn hóa, các bệnh nhiễm trùng, tiêu chảy
Những nguyên nhân trực tiếp của suy dinh dưỡng trẻ em gồm ăn uống không hợp lý và bệnh tật
- Khẩu phần ăn:
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em chothấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở ViệtNam Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả người lớn và trẻ em nước ta còn ở mứcthấp so với các nước trong khu vực, 31 Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì hầu hếtcác gia đình cho trẻ ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa ăn hàng
Trang 2010ngày thấp (trung bình 3 bữa/ngày) Trẻ không được bú mẹ đầy đủ, đúng thờigian, không được bú sữa mẹ hoặc cai sữa sớm và cai sữa không đúng là nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng.
- Bệnh tật:
Thiếu dinh dưỡng và bệnh nhiễm trùng ở trẻ em gây ảnhhưởng tới sự phát triển chung của trẻ trong thời gian dài Ở các nước đang pháttriển, sự lưu hành của các bệnh nhiễm trùng,nhiễm HIV, thiếu dinh dưỡng và tửvong ở trẻ em cao hơn ở các nước phát triển Thiếu máu có thể do nguyên nhânthiếu dinh dưỡng, mắc các bệnh nhiễm trùng và do mất máu Thiếu sắt là nguyênnhân chính của 50% các trường hợp thiếu máu Thiếu một số các vi chất dinhdưỡng khác như vitamin nhóm B (B6, B12, riboflavin) và axit folic cũng có thểgây thiếu máu 31 , Theo nghiên cứu của Nguyễn Tất Cương (2015) Tình trạngdinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi nhiễm HIV tại cơ sở điều trị ngoại trú bệnh viện Nhitrung ương, Hà Nội năm 2015, thì tình trạng nhiễm HIV của trẻ dưới 5 tuổi ảnhhưởng trầm trong đến thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ, tỷ lệ trẻ suy dinhdưỡng nhẹ cân lên tới 22,1%, trong khi đó thời điểm năm 2015 suy dinh dưỡngnhẹ cân chung toàn quốc theo thống kê Viện Dinh dưỡng Trung ương năm 2014
là 14,5%, điều đó nhiễm trùng có liên quan ảnh trực tiếp đến suy dinh dưỡng củatrẻ dưới 5 tuổi
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây raSDD, thiếu máu ở trẻ em Một số nghiên cứu về nhiễm giun ở trẻ em cho thấy tỷ
lệ nhiễm giun rất cao (khoảng 60%) với các loại giun chủ yếu là giun đũa vàgiun móc Nhiễm các loại giun cũng là vấn đề cần được nghiên cứu để tìm ra cácgiải pháp phù hợp Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một vấn đề sức khoẻ cộngđồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường không đảmbảo Nhiễm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thụ các chất dinh dưỡng, thiếumáu, và gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Nhiễm ký sinh trùngđường ruột với cường độ cao và trong một thời gian dài có thể gây suy dinhdưỡng như thấp còi, nhẹ cân và ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong
Thang Long University Library
Trang 21- Nguyên nhân gốc rễ của suy dinh dưỡng trẻ em có thể là nghèo đói, chế
dộ ăn không hợp lý và thiếu kiến thức, có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hộitiếp xúc với thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Mặt khác, phần lớncác hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn lại thường sinh nhiều con Vì giađình đông con nên chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ không được đảmbảo Chính điều này lại tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giải quyết.Nghèo đói thật sự là vấn nạn của đất nước trong những thập kỷ 80 và những nămđầu của thập kỷ 90, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển về thể chất, tinh thầncủa trẻ, thời điểm những năm đó tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân lên tối gần 40%
và suy dinh dưỡng thấp còi chiếm tới 60% Sự đói nghèo là vòng luẩn quẩn dẫnđến bệnh tật,suy dinh dưỡng
- Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân cơ bản tác động đến tình trạngdinh dưỡng của trẻ em như tiềm năng của đất nước, cơ cấu kinh tế xã hội, đườnglối chính sách của mỗi quốc gia Mỗi yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ trẻ em có những nét riêng biệt trên mỗi vùng miền, mỗi địaphương, mỗi nước Chính sách xã hội cũng là một trong những yếu tố liên quantác động đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, ở các vùng miền khác nhau sự quantâm cúng khác nhau, những vùng núi, vùng nông thôn xa thành thị công tácchăm sóc sưucs khỏe cho phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi cũng chưa đượcquan tâm nhiều, theo nghiên cứu của Lê Danh Tuyên ( 2012), 35 , thì liên quangiữa cơ cấu chính sách xã hội đến thực trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi,không được quan tâm nhiều, không có những chương trình phổ biến kiến thức,bữa ăn dinh dưỡng, cách nuôi con nên tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi là 33,4%,suy dinh dưỡng nhẹ cân là 18,3% cao hơn nhiều với con so suy dinh dưỡng của
cả nước theo thống kê của Viện Dinh dưỡng Trung ương năm 2012 là SDD thấpcòi 26,9%, SDD nhẹ cân là 16,2%
- Trẻ em bị suy dinh dưỡng nếu không được chăm sóc tốt sẽ có thể dẫnđến tử vong Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, trong số 4,3 triệu trườnghợp từ vong hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển thì 1,4
Trang 2212triệu (34%) có liên quan đến thiếu dinh dưỡng 44 , Trong đó tỷ lệ tử vong dosuy dinh dưỡng chủ yếu năm ở các nước Nam Á, trong đó tỷ lệ cao nhất là Băng
la đét 834 ngàn trẻ mỗi năm 35 , còn Ấn Độ khoảng gần 1 triệu trẻ SDD tỷ vonghàng năm chủ yếu là do đói nghèo, chăm sóc y tế, sự chăm sóc của cộng đồngchủ yếu tập chung ở vùng núi, vùng có thu nhập thấp Tỷ lệ suy dinh dưỡng củaViêt Nam cũng khá cao trong những năm của thập kỷ 90 ( SDD nhẹ cân là32,1%), hàng năm có trên 1300 trẻ tử vong do suy dinh dưỡng kết hợp với cácbệnh nhiễm trùng khác
1.4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
Trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệsinh thì khả năng phát triển không khác nhau giữa các chủng tộc Theo khuyếnnghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các chỉ tiêu thường dùng để đánh giátình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi (W/A), chiều cao theo tuổi (H/A),cân nặng theo chiều cao (W/H) Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêunói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (dưới - 2SD) so với quần thể tham khảoNCHS (National Center For Health Statistics) của Hoa Kỳ
Bảng 1.1 Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
Trang 2313tiện dụng cho phép nhận định tình trạng dinh dưỡng nói chung, song có nhược điểm là không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay kéo dài đã lâu.
+ Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thấp dưới -2SD phản ánh tình trạng thiếudinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi cọc (thể thấpcòi - Stunting)
+ Cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng dưới -2SD theo quầnthể, phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm cho đứa trẻ bị ngừng lêncân, tụt cân, trở nên gày còm (Wasting)
Bảng 1.2 Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5
tuổi Chỉ tiêu
Thấp còi (Stunting)
Nhẹ cân (Underweight)
Gầy còm (Wasting)
1.5 TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI:
1.5.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Suy dinh dưỡng là một bệnh phổ biến của toàn cầu, đặc biệt là các nước đangphát triển Theo tổ chức y tế thế giới, năm 1990 ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em
bị suy dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu, trong đó khoảng 150 triệu ở các nướcChâu Á chiếm khoảng 44% [31] Tại hội nghị quốc tế về dinh dưỡng họp tại Romanăm 1992 cho thấy khoảng 20% dân số các nước đang phát triển lâm vào cảnh đóithiếu, 192 triệu người suy dinh dưỡng Phần lớn người dân ở các nước đang pháttriển thiếu các vi chất dinh dưỡng Khoảng 40 triệu người thiếu vitamin A, 200 triệungười thiếu máu do thiếu sắt Theo kết quả điều tra của 72 nước đang phát triển từnăm 1980 - 1992 cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 35,8%, tỷ lệtrẻ còi cọc 42,7% tỷ lệ gầy còm là 92% Trong đó Châu Á có tỷ lệ cao nhất là 42%trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân,
Trang 241447,1% thể còi cọc và 10,8% thể gầy còm Châu Úc có 29% trẻ suy dinh dưỡngthể nhẹ cân, 38,6% thể còi cọc và 7,2% thể gầy còm Mỹ La tinh có 11 % trẻ suydinh dưỡng thể nhẹ cân, 22,2% thể còi cọc và 2,7% thể gầy còm [1].
Những năm gần đây suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi có xu hướnggiảm trên phạm vi toàn thế giới Theo số liệu điều tra của 61 quốc gia năm 1998thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trong 15 năm qua giảm 0,54% /năm Trong đó cácnước Đông Nam Á có tỷ lệ giảm nhanh nhất khoảng 0,9% [7] Theo thống kêcủa UNICEF cho thấy năm 1998 tỷ lệ suy dinh dưỡng của các nước Đông Nam
Á như: Lào 40%, Indonesia 34 %, Mianma 43% [31]
Theo báo cáo của UNICEF công bố năm 2016 cho biết hơn 1/4 trẻ emdưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang bị đe doạ.Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tửvong là trẻ em, khoảng 4,3 triệu trẻ em mỗi năm Theo báo cáo, kể từ năm đầuthế kỷ 21 đến nay tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân chỉ giảm nhẹ, đây là bằngchứng cho thấy thế giới đã không làm tròn nhiệm vụ với trẻ em Mặc dù đã cótiến bộ ở một số quốc gia, nhưng trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang pháttriển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em thiếu cân Hiện tại, 27% trẻ em
ở các nước đang phát triển bị thiếu cân (khoảng 14 triệu trẻ em) Gần 3/4 trẻ emthiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia, trong đó Ấn Độ 48 triệu trẻ
em dưới 5 tuổi SDD bằng số trẻ SDD của các nước Nigeria, Pakista, TrungQuốc và Công Gô cộng lại chiếm khoảng 30% tỷ lệ SDD toàn cầu 35
Báo cáo của UNICEF cho biết chỉ có hai khu vực trên thế giới đang điđúng hướng đáp ứng được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ - giảm đựơc tỷ lệ trẻ
em thiếu cân: Châu Mỹ La tinh, vùng Caribê và Đông Á và Thái Bình Dương,với tỷ lệ thiếu cân tương ứng là 7% và 15% Tiến bộ ở Động Á phần lớn do tiến
bộ vượt bậc của Trung Quốc trong việc giảm được tỷ lệ trẻ em thiếu cân trungbình là 6,7% mỗi năm kể từ năm 1990 đến ănm 2008 và giảm trung bình 1,5 %
từ 2010 đến nay Những quốc gia khác trong khu vực đang bị tụt lùi đằng saunhư Nam Á, Bănglađét, Ấn Độ và Pakixtan 35 , 37
Thang Long University Library
Trang 25Khu vực Đông Nam Á
Đông và Nam Phi
Mỹ La tinh/ Caribê
Chung các nước đang
phát triển
1.5.2 Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam.
Suy dinh dưỡng là gánh nặng của mỗi quốc gia, Việt Nam những năm đầucủa thập kỷ 90, tỷ lệ SDD ở mức khá cao, xếp trong hàng những nước có tỷ lệSDD cao nhất tại các nước Châu á, với tỷ lệ SDD nhẹ cân là 34,3%, SDD thấpcòi là 24,6% theo nghiên cứu của Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn 16
Suy dinh dưỡng trẻ em trong những năm qua và hiện nay vẫn đang là vấn
đề phổ biến Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm
2007 đến năm 2017 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong cộng đồng
đã giảm, tuy nhiên vẫn ở mức cao hoặc rất cao so với tiêu chuẩn phân loại suydinh dưỡng cộng đồng ở cả 2 thể: thể nhẹ cân và thể thấp còi Tỷ lệ suy dinhdưỡng nhẹ cân năm 2007 là 21,2%, đến năm 2017 là 13,8%, suy dinh dưỡngthấp còi từ 33,9% năm 2007, đến năm 2017 còn 24,3% Tỷ lệ suy dinh dưỡng cảhai thể nhẹ cân và thấp còi đều giảm theo từng năm, những năm gần đây theo kếtquả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ SDD giảm rất chậm với thể nhẹ cânnăm 2017 giảm so với năm 2016 là 0,1%, còn tỷ lệ SDD thấp còi năm 2017giảm so với 2016 là 0,2% theo bảng 1.6
Trang 2616Suy dinh dưỡng của nước ta từ năm 2007 được đánh giá là một trongnhững quốc gia có sự chuyển đổi mạnh mẽ về thực trạng dinh dưỡng của trẻdưới 5 tuổi được cải thiện rất nhiều Trước đó trong những năm của thập kỷ 80
và trong cả những năm phát triển của thập kỷ 90, Việt Nam vẫn nằm trongnhững nước nghèo nhất của khu vực Đông nam Á và trên thế giới Cụ thể là theothống kê của Viện Dinh dưỡng Trung (2000), Bảng dinh dưỡng thực phẩm ViệtNam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 7, 12-20 04 , thì tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹcân là 33.6%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi là 46,7%, nhưng bắt đầu tỷ lệ SDDgiảm nhiều từ năm 2007 suy dinh dưỡng thấp còi là 33,9%, đến năm 2017 là24,3%, còn suy dinh dưỡng nhẹ cân năm 2007 là 21,2%, đến năm 2017 là13,8% Thực trạng suy dinh dưỡng của Việt Nam so với một só các nước trongkhu vực vẫn còn ở mức cao, nhưng đã có xu hướng dần dần ổn định, tỷ lệ suydinh dưỡng hàng năm đối với SDD nhẹ cân chỉ giảm khoảng 0,1%, và giảm0,2% suy dinh dưỡng thấp còi so sách năm 2016 với 2017 theo bảng 1.6
Bảng 1.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dướỉ 5 tuổi tại Việt Nam qua các
Trang 27Thang Long University Library
Trang 28Biểu đồ 1.1.Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dướỉ 5 tuổi tại Việt Nam qua các
năm 2008 – 2017,
(Nguồn điều tra của Viện dinh dưỡng quốc gia 35 , 37 )
Bảng 1.5 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Bắc Trung bộ và Duyên hải
miền Trung năm 2017[37]
(Nguồn điều tra của Viện dinh dưỡng quốc gia 35 , 37 )
Đối với nước ta, trong những năm gần đây nhờ triển khai mạnh mẽ các
Trang 29chương trình can thiệp nhằm nâng cao tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em trên
Trang 3018toàn quốc Đồng thời đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, hiểu biết củangười dân về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ được nâng cao, đã tác động mạnh
mẽ, làm thay đổi tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em theo chiều hướng giảm dần, song ởmiền núi và vùng dân tộc thiểu số vẫn ở mức cao Có những nơi tỷ lệ suy dinhdưỡng trẻ dưới 5 tuổi cao trên 50% và có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái vàgiữa các tỉnh
1.5.3 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tại Quảng Bình.
Quảng Bình là một trong những tỉnh có tỷ lệ SDD trẻ < 5 tuổi còn cao.Hiện nay toàn tỉnh có tổng số 159 xã phưòng, trong đó số xã thuộc diện nghèo,
xã khó khăn vùng135 là 39 xã Tổng số trẻ < 5 tuổi: 63.351cháu Tổng số trẻ < 2tuổi: 24.965 Tổng số chuyên trách dinh dưỡng: 159 và tổng số cộng tác viên:1.210 người
Kết quả điều tra hằng năm của Viện dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ SDD nhưsau: [8]
Bảng 1.6 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Quảng Bình.
Trang 31Thang Long University Library
Trang 3219Bình quân hàng năm giảm tỷ lệ SDDTE < 5 tuổi của Tỉnh là 1,7% tươngđương với tỷ lệ Toàn quốc Tuy nhiên Quảng Bình là một trong những Tỉnh có tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD cao nhất của khu vực Bắc trung Bộ kể cả 2 thể nhẹcân và thấp còi theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, so với Toàn quốc,Quảng Bình là một trong những Tỉnh có tỷ lệ trẻ em SDD <5 tuổi cao, thể nhẹcân xếp thứ 54/63; Thể thấp còi xếp thứ 54/63 và thể gầy còm xếp thứ 42/63
Trong những năm qua hoạt động phòng chống SDD ở Quảng Bình đãđược triển khai ở 7 huyện, thành phố Năm 2007 Tỉnh đã có quyết định thành lậpBan chỉ đạo SDD ở cấp Tỉnh nhưng chưa kiện toàn ở cấp huyện và xã Đã triểnkhai tốt các hoạt động phòng chống SDD trẻ em thuộc chương trình mục tiêuquốc gia Huy động được các nguồn lực vào hoạt động PCSDD; do đó đã giảmđược tỷ lệ SDD trẻ em hằng năm là 1,7% Tuy nhiên báo cáo đánh giá kết quảhoạt động PCSDD trong những năm cho thấy: sự phối hợp giữa các ban ngànhliên quan trong công tác PCSDDTE của các cấp chưa được chặt chẽ và đồng bộ
Ví dụ: dinh dưỡng học đường/ Hội chử thập đỏ, Hợp phần an ninh lương thực/hội phụ nữ Cán bộ làm công tác dinh dưỡng tại tỉnh và huyện /thành phố hầuhết là kiêm nhiệm Cán bộ huyện/thành phố và đội ngũ CTV dinh dưỡng cơ sởthay đổi thường xuyên nên có nhiều hạn chế trong công tác nắm bắt; triển khaicông việc có hiệu quả và thiếu kiến thức chuyên môn cơ bản cũng như cập nhậtkiến thức mới; đặc biệt là từ khi không có kinh phí hỗ trợ cho mạng lưới nhiềuchuyên trách và CTV dinh dưỡng đã bỏ cuộc Cán bộ làm công tác Dinh dưỡngtuyến tỉnh và huyện/ thành phố chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát và giúp đỡkịp thời các hoạt động dinh dưỡng của tuyến cơ sở Thiếu kinh phí hoạt động:các hoạt động chỉ được thực hiện dựa vào nguồn kinh phí Trung ương, không có
sự hỗ trợ kinh phí của dịa phương nên hạn chế trong công tác triển khai công tácphòng chống SDD của tỉnh về mọi mặt Kinh phí của chương trình có hạn nênkhông có để tổ chức các hoạt động PCSDD như: tập huấn thường xuyên/ chuyêntrách và CTV; thực hành dinh dưỡng cho bà mẹ; mua sản phẩm dinh dưỡng; incác tài liệu truyền thông Năm 2008 thực hiện
Trang 3320thông tư 147 kinh phí chi cho mạng lưới giảm xuống chỉ còn hỗ trợ cho 30 xãtrọng điểm, còn lại 129 xã không có nguồn kinh phí để chi trả cho hoạt độngmạng lưới do vậy một số chuyên trách và CTV đã bỏ cuộc, số còn lại thì hoạtđộng kém hiệu quả; đây là một khó khăn thực sự cho việc triển khai các hoạtđộng PCSDD ở cơ sở của tỉnh.
1.6 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.6.1 Một số đặc điểm của huyện Bố Trạch-Quảng Bình
Huyện Bố Trạch có diện tích tự nhiên 2.123,1km² Toàn huyện có 30 xã,thị trấn, trong đó có 9 xã miền núi và 2 xã miền núi rẻo cao tiếp giáp với biêngiới Việt Lào qua cửa khẩu Caroong – Nọng Ma Huyện Bố Trạch có dân số:185.453 người Số trẻ em dưới 5 tuổi: 10559 trẻ Ngoài dân tộc Kinh, huyện BốTrạch có 2 dân tộc là dân tộc Chứt và Vân Kiều (Kinh: 95,8%, Vân Kiều: 3,1%,Chức: 1,1% )
Bảng 1.7 Tình hình SDDTE dưới 5 tuổi ở Bố Trạch- Quảng Bình
(Báo cáo tổng kết năm lưu tại Trung tâm Y tế Bố Trạch) Tỷ lệ suy dinh dưỡng
của huyện Bố Trạch (11.0%) thấp hơn trung bình của toàn tỉnh (19,8%) tuy
nhiên tại 02 xã Tân Trạch và Thượng Trạch và bản
Trang 34Thang Long University Library
Trang 3521Rào Con ở xã Sơn Trạch tỷ lệ SDD năm 2016 đạt 29,2% cao hơn mức trungbình.
1.6.2 Một số đặc điểm của 3 xã nghiên cứu: - Vị trí địa lý:
Ba xã nghiên cứu là Tân Trạch, Thượng Trạch, và Sơn Trạch nằm phíaTây huyện Bố Trạch, dọc theo dãy Núi Trường Sơn Phía Tây giáp biên giớiViệt Lào Địa hình phức tạp có nhiều đồi núi và khe suối chia cắt
- Dân số:
+ Tổng dân số năm 2018 ở 3 xã: 15.807 khẩu (Tân Trạch 387 ThượngTrạch: 3.912, Sơn Trạch 11.508)
+ Số trẻ em dưới 5 tuổi là: 1.106 trẻ (Tân Trạch: 80; Thượng Trạch:
- Trước đây người dân thường sinh sống dọc khe suối, đồi núi, các bản rất
xa nhau, có bản đi bộ một ngày đường mới tới nơi
+ Dân tộc: Có 2 dân tộc sinh sống: Chứt ( Arem): chiếm khoảng 100 %dân số xã Tân Trạch(Dân số 249 người) Vân Makoong, Bru Vân kiều Makongchiếm 100% dân số ở xã Thượng Trạch( dân số 2.549), Bru vân kiều di chuyển
từ Dân tộc vân Kiều Sống dọc theo dãy Trường Sơn, tập trung tại bản Rào con
xã Sơn Trạch chiếm khoảng: 30% dân số của xã Sơn Trạch Dân số 11.675 trong
đó bản Rào con nơi cư trú của dân tộc Vân Kiều là 2.285)
- Kinh tế: 3 xã thuộc xã nghèo, hưởng chương trình 135 của Chính Phủ
Cơ sở hạ tầng kém phát triển Sống chủ yếu dựa vào làm rẫy và khai thác lâmthổ sản
- Về Y tế: 3 xã đã có trạm y tế xã 2 tầng các trạm đều có1 Bác sỹ và 1-2NHS, nhưng trang thiết bị còn nghèo nàn Chuyên môn còn hạn chế
- Phong tục tập quán dân tộc Chứt, Dân tộc Vân Kiều ở đây tuy đã có tiến
bộ, nhưng vẫn còn nhiều hủ tục lạc hậu: Không được sinh con ở nhà mà phảisinh ở một cái chòi nhỏ cách nhà 15-30 mét; Khi con còn bú mang theo con lênrẫy treo vào cành cây hoặc để ở nhà chiều về cho bú, khi hết bú thì chỉ ăn mộtbữa buổi sáng rồi bỏ con ở nhà chiều về mới cho ăn tối, khi ở nhà trẻ tự tìm lấy
Trang 3622thức ăn có gì ăn nấy; Việc nuôi con khoán trắng cho vợ còn chồng làm được tiềnthì dùng để uống rượu Tập tục kết hôn của Dân tộc Vân Kiều thì việc kết hôn,sinh con, đặt tên cho con do bên ngoại quyết định, theo tập tục mẫu hệ.
KHUNG LÝ THUYẾT TRONG NGHIÊN CỨU
SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI VÀ CÁC YẾU
Các chỉ tiêu nhân trắc dinh dưỡng
CácthểSDD
Trang 37Thang Long University Library
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
+Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ đang có con
dưới 5 tuổi hiện ở địa bàn 3 xã Tân Trạch và Thượng Trạch, Sơn trạch tại thờiđiểm điều tra
+Tiêu chuẩn loại trừ: Không chọn trẻ dưới 5 tuổi có dị tật ( cong vẹo cột
sống, dị tật các chi ) và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi từ chối phỏng vấn
2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã miền núi rẻo cao: Tân Trạch, ThượngTrạch, Sơn Trạch – Huyện Bố Trạch – Quảng Bình
2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2019 đến tháng 7/2019
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp điều tra mô tả cắt ngang có phân tích để đánh giáthực trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan ở 3 xãmiền núi huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình năm 2019
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu tính theo cở mẫu quần thể hữu
P : Tỷ lệ (%) suy dinh dưỡng ước tính, lấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
em dưới 5 tuổi của tỉnh Quảng Bình năm 2013 là 19,8% (p = 0.198).Theo
Trang 3924nghiên cứu của Lê Văn Cư ( 2012) Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và các yếu tố liên quan tại Huyện Lệ thủy Quảng Bình năm 2012
Z : Ứng với độ tin cậy 95% thì z = 1,96
α : Là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%
: Sai số cho phép 0,05
(1 – p) = 1 – 0,198 = 0,802
Thay số vào công thức, tính đượcn = 244
*Bước 2 Cỡ mẫu quần thể hữu hạn:
ni x Nfn
f =
ni + Nf
Trong đó: nf: là cỡ mẫu cho quần thể hữu hạn;
Nf: là kích thước của quần thể hữu hạn;
ni: là cỡ mẫu cho quần thể vô hạnTheo hồ sơ quản lý trẻ em dưới 5 tuổi ở các xã vào tháng 02/2019: 1.106 em
Trang 40xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Sơn Trạch tại thời điểm điều tra:
Thang Long University Library