1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi thẩm mĩ của dòng văn học hiện thực qua truyện ngắn guy de maupassant

161 41 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XIX ghi dấu sự thành công rực rỡ của hai dòng văn học lớn, quan trọng nhất là văn học lãng mạn và văn học hiện thực, trong đó dòng văn học hiện thực đã đạt đư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***********

HÀ THỊ THU PHƯƠNG

SỰ THAY ĐỔI THẨM MĨ CỦA

DÒNG VĂN HỌC HIỆN THỰC

QUA TRUYỆN NGẮN GUY DE MAUPASSANT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

TP Hồ Chí Minh - NĂM 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU HIẾU

TP Hồ Chí Minh - NĂM 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn ba năm học tập và nghiên cứu tại khoa Văn học và Ngôn ngữ,

trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, luận văn nghiên cứu về Sự

thay đổi thẩm mĩ của dòng văn học hiện thực qua truyện ngắn Guy de Maupassant của chúng tôi đã hoàn thành Để đạt được kết quả đó, tôi chân

thành gửi lời cảm ơn tới:

- Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, các Thầy Cô trong khoa Văn học

và Ngôn ngữ, phòng Sau đại học… đã tạo những điều kiện tốt nhất để giúp tôi hoàn thành khóa học và luận văn này

- PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu, người đã động viên, hướng dẫn, giúp đỡ

để tôi có được quyết tâm hoàn thành công việc nghiên cứu của mình

- Gia đình, những người thân yêu và bạn bè… vì những tình cảm cũng như sự hỗ trợ mà mọi người đã dành cho tôi trong suốt những năm tháng học tập và nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Người thực hiện

Hà Thị Thu Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu

Kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa công bố dưới bất

kỳ hình thức nào trước đây

Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có sử dụng ý kiến nhận xét, đánh giá của các tác giả khác Những trường hợp như vậy, chúng tôi đều chú thích nguồn tại thư mục tham khảo

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

V CẤU TRÚC LUẬN VĂN 15

CHƯƠNG 1 17

NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ THẨM MĨ CHI PHỐI ĐẾN VĂN HỌC HIỆN THỰC CUỐI THẾ KỈ XIX 17

1.1 Sự toàn thắng của giai cấp tư sản và những dữ kiện lịch sử - văn hóa mới 17

1.1.1 Sự toàn thắng của giai cấp tư sản 17

1.1.2 Đế chế II và nước Pháp nửa sau thế kỉ XIX 21

1.1.3 Những thành tựu mới của khoa học và tư tưởng 25

1.2 Bối cảnh văn học 28

1.2.1 Sự phân hóa mạnh mẽ của tiếng nói văn học nửa sau thế kỉ XIX 28

1.2.2 Sự tiếp tục thăng hoa mạnh mẽ của văn xuôi tả chân 31

1.2.3 Xu hướng thay đổi thẩm mĩ của văn học hiện thực nửa sau thế kỉ XIX 36

1.3 Nhà văn Guy de Maupassant 41

CHƯƠNG 2 47

TRUYỆN NGẮN GUY DE MAUPASSANT VÀ SỰ TIẾP TỤC TRUYỀN THỐNG HIỆN THỰC CỔ ĐIỂN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 47

2.1 Sáng tạo trên nguyên tắc sự quan sát đời sống 47

2.1.1 Hiện thực về sự phân hóa xã hội 47

2.1.2 Hiện thực về cuộc chiến tranh Pháp – Phổ 55

2.1.2.1 Hình ảnh kẻ chiến thắng và sự thất bại của quân đội Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ 55

Trang 6

2.1.2.2 Thái độ của mọi tầng lớp nhân dân đối với chiến tranh 58

2.2 Tiếp tục thái độ phê phán những vấn đề mặt trái của hiện thực 64

2.2.1 Phê phán thói hám lợi 64

2.2.2 Phê phán tính giả tạo 68

2.2.3 Phê phán tính ác của con người 73

2.3 Vấn đề hoàn cảnh điển hình và tính cách điển hình 78

CHƯƠNG 3 86

TRUYỆN NGẮN GUY DE MAUPASSANT VÀ NHỮNG DẤU HIỆU THẨM MĨ CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CUỐI THẾ KỈ XIX 86

3.1 Vấn đề tầm bao quát hiện thực 86

3.1.1 Sự đa dạng về chủ đề 86

3.1.2 Sự thay đổi kiểu nhân vật phổ biến 95

3.2 Dấu ấn Chủ nghĩa tự nhiên trong truyện ngắn Guy de Maupassant 103

3.2.1 Tôn trọng tinh thần khoa học 103

3.2.2 Giữ thái độ khách quan, lạnh lùng, phi chính trị 110

3.2.3 Tin tưởng vào sự chi phối của mạch ngầm sinh học 114

3.3 Những dấu hiệu của mĩ học hiện đại chủ nghĩa 120

3.3.1 Thái độ hoài nghi và bi quan 120

3.3.2 Tinh thần phân tích tâm lý 126

3.3.3 Sự sáng tạo nên những “huyền thoại mới” 133

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

Trang 7

và sự khẳng định mạnh mẽ quyền lực của giai cấp tư sản Trong sự thay đổi chung

ấy, văn học Pháp nói chung và văn học hiện thực nói riêng cũng có sự thay đổi khuynh hướng thẩm mĩ rõ rệt

Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XIX ghi dấu sự thành công rực rỡ của hai dòng văn học lớn, quan trọng nhất là văn học lãng mạn và văn học hiện thực, trong đó dòng văn học hiện thực đã đạt được những thành tựu đáng kể với những tài năng văn chương kiệt xuất như Honoré de Balzac, Stendhal, Gustave Flaubert, Émile Zola, Guy de Maupassant…; và trong dòng văn học này, vào cuối thế kỉ XIX, Guy

de Maupassant nổi lên như một nhà văn thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn Nhiều người đã cho rằng ông cùng với O Henry (Mỹ) và Anton Pavlovich Tchékhov (Nga) là ba nhà văn viết truyện ngắn hay nhất mọi thời đại E Zola đã từng ca ngợi

tài năng truyện ngắn của ông, rằng ông đã “tự xếp vào hàng các bậc thầy”; còn M

Gorki, đại văn hào của nước Nga Xô viết lại ca ngợi ông là người có tài viết truyện

ngắn “không ai bắt chước nổi”…

Bằng ngòi bút hiện thực của mình, truyện của Maupassant đã phản ánh được đặc điểm tình hình xã hội của nước Pháp lúc bấy giờ thông qua quan điểm thẩm mĩ riêng cùng tài năng nghệ thuật độc đáo của ông Nội dung truyện của Maupassant hầu như không có những triết lý cao siêu nhưng chính những tình cảm bình dị, gần gũi, những câu chuyện quen thuộc trong đời sống được ông đưa vào truyện một cách rất tự nhiên đã làm cho truyện của ông trở nên rất dễ đi vào lòng người, khiến nhiều thế hệ độc giả say mê, thích thú

Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về G Maupassant ở nhiều góc độ khác nhau: về đời sống và văn nghiệp, về đề tài phổ biến, về nhân vật, về đặc điểm trần thuật, yếu tố kì ảo… Những nghiên cứu đã có ấy có những gợi ý hết sức bổ ích

Trang 8

2

để chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, với luận văn này, chúng tôi muốn đặt vấn đề theo một hướng có phần khác biệt: Trong khi chỉ ra những nét riêng, độc đáo và những thay đổi về thẩm mĩ qua truyện ngắn của Maupassant, chúng tôi đặt sáng tác của ông trong sự vận động, thay đổi của trào lưu văn học hiện thực nói chung, qua đó xác định chỗ đứng của tác giả trong tổng thể dòng văn học hiện thực thế kỉ XIX Cách tiếp cận vấn đề như vậy

sẽ khó khăn hơn, vì chúng tôi phải có cái nhìn đối sánh giữa sáng tác của G Maupassant với sáng tác của các nhà hiện thực phê phán tiền bối, với các nhà văn hiện thực và tự nhiên chủ nghĩa cùng thời, thậm chí cả với một số nhà văn theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa ở đầu thế kỷ XX để nhận ra rõ hơn sự độc đáo cũng như vị trí của ông trong tiến trình văn học hiện thực Nhưng với bản thân tôi, hướng tiếp cận này vô cùng có ích, vì cách tiếp cận như vậy tuy có nhiều thử thách nhưng lại giúp chúng tôi có được cái nhìn vừa cụ thể vừa bao quát, đồng thời từ đó chúng tôi cũng có điều kiện so sánh với dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam

− một hiện tượng văn học vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi văn học hiện thực Pháp, qua đó giúp bài giảng của cá nhân tôi ở trường phổ thông trở nên phong phú và sâu sắc hơn Những điều trình bày trên đây chính là những lí do thôi thúc chúng tôi

chọn đề tài “Sự thay đổi thẩm mĩ của dòng văn học hiện thực qua truyện ngắn

Guy de Maupassant” làm đề tài luận văn của mình

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Guy de Maupassant bắt đầu sáng tác từ khoảng hai mươi tuổi dưới sự hướng dẫn tận tình của những người thầy như L Bouilhet và G Flaubert, nhưng trong khoảng mười năm đầu sự nghiệp, ông chưa nhận được sự quan tâm của độc giả và danh tiếng cũng chưa đến với ông Ông thường xuyên bị thầy phàn nàn vì tính lười

biếng và kỹ năng viết truyện còn bị hạn chế [9] Vì vậy, để “đề phòng sự thất bại”,

người thầy cẩn thận, kỹ tính của ông không cho phép ông đăng bất kì tác phẩm nào

trên báo bằng tên thật trong giai đoạn này Chỉ đến khi tác phẩm Viên Mỡ Bò (viết

vào năm 1879) công bố lần đầu tiên vào tháng 1 năm 1880 bằng cách đọc cho

những nghệ sĩ thuộc nhóm Médan nghe và nhận được sự ca ngợi từ những nhà văn

Trang 9

3

bậc thầy, tên tuổi của ông bắt đầu nổi tiếng Kể từ đó, ông viết với tốc độ rất nhanh Theo Lê Hồng Sâm, riêng năm 1885, Maupassant đã viết khoảng 1500 trang sách, vượt cả H Balzac, Charles Dickens, A Dumas và những nhà văn nổi tiếng viết khỏe khác trên thế giới Sáng tác của ông nhanh chóng được bạn đọc yêu mến, kể cả

đến ngày nay, mà minh chứng gần đây nhất là công bố của tuần báo Le Figaro

littéraire (Pháp) rằng: trong 8 năm (1-2004 đến 1-2012), Maupassant là tác giả văn

học cổ điển có số lượng sách bán chạy nhất (3,8 triệu bản), hơn cả Molière, Zola,

Hugo… Danh tiếng của ông vượt ra khỏi biên giới nước Pháp vì ông “đã viết

những tác phẩm mang tính phổ quát nhưng sâu sắc mà ở đó có sự hòa quyện giữa cảm xúc, trí tuệ và niềm đam mê” [83] Hầu hết sáng tác của ông được dịch ra rất

nhiều thứ tiếng trên thế giới, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Hiện tại, chưa có thống kê về số lượng công trình nghiên cứu sáng tác của Maupassant trên thế giới cũng như ở Việt Nam Do điều kiện khách quan và năng lực ngoại ngữ còn giới hạn, người viết luận văn mới dừng ở việc đề cập một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài và chia theo ba nhóm, sắp xếp theo trình tự thời gian: nhóm các công trình, sách báo, tạp chí; nhóm các công trình bằng tiếng Anh, Pháp có thể tra cứu được ở Việt Nam và nhóm các bài trên mạng internet

Tại Việt Nam, cùng với quá trình truyền bá văn hóa và chữ viết của người Pháp, nhiều người Việt đã tiếp cận nguyên tác hoặc bản dịch và nghiên cứu sáng tác

của Maupassant từ rất sớm Tạp chí Nam Phong là một trong những ấn phẩm giới thiệu Maupassant sớm nhất ở Việt Nam Bài viết Lối tả chân trong văn chương -

Bàn về văn sĩ Pháp Guy de Maupassant (1850-1893) (số 21 năm 1919) của Thượng

Chi đã trình bày một số đặc điểm trong sáng tác của tác giả này từ trang 194-197

Theo tác giả bài viết, Maupassant “vốn là một tay tả-chân, nên rất là say mê

vật-giới ở ngoài, và chú trọng cái hình-thức trong văn-chương” [9, tr.195], điều đó

giống với Flaubert Tác giả nhận định Maupassant chưa tinh tế bằng Flaubert trong việc miêu tả tâm lý của con người do ông chủ yếu quan tâm đến thế giới thực –

những gì “có hiển-nhiên” [9, tr.195] còn “cao hơn, sâu hơn thì không nghĩ tới” [9,

Trang 10

4

tr.195] Dù “không có cái lý tưởng cao sâu gì” [9, tr.195], truyện của Maupassant vẫn được đánh giá là tuyệt bút, nhất là những truyện viết về những “hạng người

thường thường” [9, tr.195] và ông “không dám sai sự thật mảy may” [9, tr.196]

Ngoài ra, truyện của Maupassant cũng được khen ngợi, được chào đón ngay từ sáng

tác đầu tiên là vì “có cái vẻ linh hoạt”, “cái thú hài hước”, “kết cấu có điều độ”,

“lời văn vừa cứng vừa súc”, bằng giọng “lãnh đạm”, “khách quan” [9, tr.126] và

bằng chủ đề vụn vặt trong cuộc sống Tác giả khẳng định rằng nếu Maupassant sống thêm vài năm nữa, ông sẽ mở ra một thời kì mới trong văn chương và đó sẽ là thứ văn chương sâu sắc

Đoàn Rạng, Vũ Quý Mão… trong Mười thế kỉ văn chương Pháp (1962) đã

dành vài dòng để nhận xét về con người và tác phẩm của Guy de Maupassant Theo

các tác giả, Maupassant là một người có “tâm hồn ủ rũ và chán chường, là một nhà

văn giản dị và minh triết Ông viết đoản thiên tiểu thuyết đượm vẻ yếm thế, miêu tả giới tiểu tư sản và đời sống thôn dã” [54, tr.915]

Đỗ Đức Dục trong Chủ nghĩa hiện thực phê phán (1972) đã khẳng định sáng

tác của Maupassant không bị giới hạn trong khuôn khổ mĩ học tự nhiên do E Zola làm chủ soái dù ông đã tham gia, mà cũng như Zola, các sáng tác của ông mang đầy

đủ các đặc điểm của Chủ nghĩa hiện thực phê phán Tác giả cũng chỉ ra sự thay đổi

về điểm nhìn trong các sáng tác của Maupassant: từ nhấn mạnh bản chất sinh vật của con người đến xây dựng nhân vật điển hình, qua đó phản ánh sự giả dối đến tận cùng của thực tại xã hội [15]

Lời giới thiệu tiểu thuyết Một cuộc đời (1980) do Mai Xuân dịch, Trần Việt

giới thiệu, đã chỉ ra một số đặc điểm sáng tác của Maupassant: “Đằng sau cái vẻ

ngoài hấp dẫn, hóm hỉnh, nhẹ nhàng, đơn giản, lại ẩn giấu tấm thảm kịch sâu xa trong đời sống hàng ngày ở xã hội Pháp cuối thế kỷ XIX” [103, tr.6] Ở đó, “Tình yêu, hạnh phúc, mơ ước, luyến tiếc, đau khổ và thất vọng được khắc họa bằng những bức tranh hiện thực, bức nọ nối tiếp bức kia với mọi sắc thái đa dạng và sức truyền cảm phi thường” [103, tr.13] Maupassant không che giấu hiện thực xấu xa

Trang 11

5

của xã hội Pháp lúc bấy giờ, bởi ông từng nói: “Cho dù là cay đắng, sự thật cũng

chỉ có một mà thôi” [103, tr.13] Dịch giả cũng đánh giá Maupassant là nhà văn viết

truyện ngắn tới trình độ điêu luyện, thường chú ý những biểu hiện tinh vi, đi sâu vào quá trình diễn biến tâm lý nhân vật, những rối ren, những uẩn khúc, những khát khao, những dằn vặt làm nổi bật tính điển hình của đối tượng được miêu tả

Trong Văn học lãng mạn và hiện thực phương Tây thế kỷ XIX (1981), tác giả

Lê Hồng Sâm đã dành 41 trang để khái quát những nét nổi bật được xem như những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của Maupassant Theo tác giả, hầu hết các sáng tác

của Maupassant thể hiện thái độ bi quan trước cuộc đời và sự “thiếu tính người”của

con người bằng giọng điệu lạnh lùng, khách quan và điệu cười châm biếm Ông cũng chỉ ra những ảnh hưởng của Chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác của Maupassant, nhất là nhấn mạnh đặc điểm con người sinh vật bị các quy luật sinh học điều khiển mà các sáng tác càng về sau càng rõ và sự chuyển biến từ miêu tả

tâm lý con người xã hội sang miêu tả tâm lý thuần túy trong nỗi “cô độc kinh khủng

của con người” [55, tr.423] Ông “đi xa hơn các nhà hiện thực tiền bối trong việc khám phá những ngóc ngách bí ẩn của tâm hồn, trong sự thể hiện những tình cảm nằm ở lớp sâu của tính cách, đột xuất xuyên ra khỏi vỏ ngoài bình thường, do tác động của hoàn cảnh” [55, tr.436] Lê Hồng Sâm cũng đã chỉ ra một số nét nghệ

thuật mà Maupassant kế thừa từ thế hệ trước và những dấu hiệu thẩm mĩ của chủ

nghĩa hiện đại đang manh nha trong sáng tác của ông Tác giả cũng khẳng định “vũ

khí nghệ thuật mạnh nhất của Maupassant là sự châm biếm kín đáo toát ra từ bản thân tình thế, từ hành vi, tâm lý nhân vật, từ sự phát triển của đề tài” [55, tr.444]

Khi so sánh giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, các dịch giả của Lịch sử Văn

học Pháp thế kỉ XIX – Tuyển tác phẩm (1997) ca ngợi tài năng viết truyện ngắn của

Maupssant dù tiểu thuyết của ông cũng vô cùng hấp dẫn Tuy với dung lượng nhỏ, ngôn ngữ giản dị nhưng sức khái quát của các truyện ngắn của ông rất cao, nó

“chứa đựng cốt tủy của những tập sách mà các nhà tiểu thuyết phải viết thật dày”

[57, tr.224-225], như nhận xét của Émile Zola

Trang 12

Trong Guy de Maupassant – Tuyển truyện (2001), Lê Huy Bắc quan tâm

nhiều đến giá trị hiện thực và nhân đạo trong sáng tác của nhà văn bậc thầy về truyện ngắn này Theo ông, dù chọn cho mình giọng điệu lạnh lùng, đả kích, châm biếm cuộc sống đầy cái xấu xa nhưng thấp thoáng trong các sáng tác của Maupassant là những đau khổ, những bi kịch tinh thần mang tính cá nhân hoặc do hoàn cảnh sống mà nhân vật phải chịu đựng [106]

Tác giả Vũ Cao Trân khi viết về Maupassant trong sách Lịch sử văn học

Pháp thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX (tập II) (2005) đã đề cao tài năng nghệ thuật của nhà

văn, chỉ ra những đề tài thường lặp lại trong sáng tác của ông với thái độ phê phán

xã hội tư sản vụ lợi, giả dối Đặc biệt, bài viết đã chỉ ra được sự vận động trong quan điểm sáng tác của Maupassant: từ phê phán, lên án gay gắt xã hội đến cái nhìn đầy bi quan, hoài nghi trước cuộc sống khi ông nhận ra sự đấu tranh của mình là vô

bổ, ông không tin vào khả năng thay đổi của thực tại mặc dù ông hết sức bất bình Tác giả cũng chỉ rõ: Maupassant chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa thực chứng nên có cái nhìn bi quan về cuộc sống, vì ông bị ám ảnh rằng con người bị bất lực, chịu phụ thuộc bởi những quy luật sinh lí khắc nghiệt Càng về cuối đời, các sáng tác của Maupassant càng có cái nhìn bi quan, các chủ đề mang tính xã hội càng bị thu hẹp, các tác phẩm miêu tả tâm lí xã hội dần nhường chỗ cho những xúc cảm

“thuần túy tâm lí” [65, tr.573], về nỗi cô đơn kinh khủng của những con người thờ

ơ, lãnh đạm với cuộc sống và giữa con người với nhau, không bao giờ hiểu được

nhau bởi giới hạn của một tư duy “hoàn toàn bất lực, dốt nát và mơ hồ” [65,

tr.573] Bài viết cũng đã chỉ ra được các đối tượng chính, giọng điệu, ngôn ngữ, kết cấu… trong sáng tác của Maupassant

Trang 13

7

Năm 2005, Vũ Yến Ly sưu tầm và dịch tập Guy de Maupassant – Truyện

ngắn kì lạ Trong lời nói đầu, dịch giả khẳng định một trong những đặc điểm sáng

tác của Maupassant là “đạt tới sự sâu sắc từ những chuyện tưởng như tầm phào vô

nghĩa” [108, tr.7] Tác giả cũng đề cập đến mảng truyện có màu sắc siêu thực của

Maupassant và cho rằng “truyện ngắn siêu thực” [108, tr.8] của ông là những tác phẩm “hiện thực nhất trong các nhà văn viết truyện hoang tưởng” [108, tr.8], chúng “không phải là tác phẩm của một kẻ điên, mà hiển nhiên là ông đã sử dụng

những kinh nghiệm, những trải nghiệm của chính bản thân ông trong những cơn rối loạn tinh thần để viết lại những xúc cảm mà con người có thể cảm thấy” [108, tr.8-

9] Đó là những tác phẩm “không chỉ phản ánh thế giới nội tâm con người mà còn

phản ánh cách suy nghĩ tư duy của con người, phản ánh cả hơi thở của thời đại đó”

[108, tr.9] Điều đó có nghĩa là những sáng tác kì ảo của Maupassant vẫn đầy giá trị hiện thực, nhưng chính sự có mặt của yếu tố siêu thực, kì ảo làm cho truyện của ông trở nên hết sức độc đáo

Tài năng và sự cống hiến của Maupassant cũng được đề cập trong một số từ

điển văn học Trong Từ điển văn học (bộ mới) (2005), các tác giả đã xác nhận tác phẩm của ông “phơi bày những sự thực xấu xa trong xã hội tư sản” [29, tr.1002];

hoặc châm biếm, hoặc cảm thông cuộc đời đầy đau khổ của những con người nhỏ

bé bị các quy luật sinh lý điều khiển; thái độ bi quan vì không có niềm tin vào tương lai, vào khả năng thành công do đấu tranh đem lại [29] Các tác giả nhận định rằng

“chủ đề xã hội thu hẹp lại” [29, tr.1003], Maupassant chuyển ngòi bút dần sang

miêu tả thuần tâm lý và đặc biệt ám ảnh về cái chết Trong một cuốn từ điển khác,

Từ điển văn học nước ngoài (2009), ở phần tác giả, tác phẩm, các tác giả đã nhận

xét Maupassant là “cây bút kiệt xuất của mọi thời” [4, tr.583], ông viết về nhiều mảng đề tài khác nhau, trong đó nổi bật nhất là “đề tài tinh thần yêu nước, nỗi cô

đơn, sự phản trắc, hạnh phúc cũng như tấm lòng nhân hậu của con người” [4,

tr.584] Các giả khẳng định dẫu Maupassant “thường sử dụng yếu tố hài để châm

biếm, đả kích nhưng đằng sau mỗi trang viết thành công của ông, ta thường thấy sự

đổ vỡ và nước mắt” [4, tr.584], và tuy ông có cái nhìn khá bi quan về cuộc đời,

Trang 14

8

nhưng một trong những điểm rất đáng lưu ý trong ngòi bút hiện thực của ông là tấm lòng ưu ái với những người lớp dưới

Trong giáo trình Văn học phương Tây (nhiều tác giả) xuất bản năm 2012,

ngoài việc giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp, đề tài, nội dung tư tưởng của nhà văn, các nhà nghiên cứu tập trung nhấn mạnh sự phong phú về dạng nhân vật, về thái độ bi

quan, “nỗi lo âu khắc khoải của con người” [21, tr.423], về tình yêu nước và sự

thiện cảm của tác giả đối với những người thuộc tầng lớp dưới Về vị trí của Maupassant trong đời sống văn học nửa sau thế kỷ XIX, các tác giả đánh giá

“Maupassant là nhà văn hiện thực tiêu biểu của giai đoạn văn học hiện thực phê phán sau năm 1848” [21, tr.423]

Gần đây, Lê Nguyên Cẩn là người có nhiều bài viết liên quan tới Guy de

Maupassant, cả về con người và tác phẩm Trong Tác gia tác phẩm văn học nước

ngoài trong nhà trường, ông nhận xét truyện ngắn của Maupassant có sức phản ánh

sâu rộng cuộc sống bằng tài năng nghệ thuật bậc thầy, đặc biệt trong kết cấu, cách

sắp xếp và lựa chọn tình tiết truyện [5] Ông cho rằng truyện của Maupassant “đã

đạt tới nghệ thuật lớn cả chiều rộng lẫn chiều sâu trong số lượng câu chữ ít nhất”

[5, tr.283] Ở một cuốn sách khác, cuốn Tiểu thuyết phương Tây thế kỉ XIX (2014),

từ trang 224 đến trang 256, tác giả đã khái quát cuộc đời, sự nghiệp, một số đặc điểm cơ bản về sáng tác của Maupassant cả truyện ngắn và tiểu thuyết Cụ thể hơn,

Lê Nguyên Cẩn đã khái quát những kiểu nhân vật, chủ đề chính, thái độ, bút pháp, đồng thời chỉ ra một số đặc điểm thẩm mĩ trong sáng tác của nhà văn này, như: cách Maupassant chọn hoàn cảnh điển hình để tạo tình huống giúp bộc lộ tính cách nhân vật, cách khai thác các biểu hiện tâm lý, xung đột nội tâm, cách lựa chọn chi tiết đắt giá theo quan hệ nhân quả và thái độ bi quan, tiếng cười đả kích mà tác giả thể hiện

trong tác phẩm… Tất cả những điều đó làm cho tác phẩm của Maupassant có “sức

hấp dẫn lôi cuốn độc giả mọi thời, tạo ra cái duyên kể chuyện” [7, tr.246]

Trang 15

9

Ngoài các giáo trình, các sách chuyên khảo mà chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận nên trên, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khác ít nhiều đề cập đến nhà văn tài năng Pháp cuối thế kỷ XIX này

Trong công trình Khảo sát sự chuyển hướng thẩm mĩ Văn học Pháp cuối thế

kỉ XIX (2010), Nguyễn Hữu Hiếu đã chỉ ra sự thay đổi thẩm mĩ của văn học Pháp

cuối thế kỉ XIX Trong đó, theo tác giả, các sáng tác của Maupassant đã “từ hiện

thực mang tính chất ngoại quan chuyển dần sang hiện thực gắn liền với ấn tượng,

ám ảnh” [27, tr.62] Một số tác phẩm của Maupassant vẫn tiếp tục viết về phong tục

nhưng sức nặng của tầm quan sát và bao quát hiện thực bên ngoài đã dần được thay thế bằng sức nặng của sự ám ảnh thuộc nội giới Đó là lí do tại sao trong sáng tác của nhà văn Pháp có rất nhiều nhân vật luôn làm đọng lại trong cảm xúc của người

đọc “một nỗi đau cô đơn của phận người khi tất cả dần rời bỏ”, “sự ám ảnh về

những giả dối của cuộc đời, những sự giả dối có khi lộ liễu, có khi được giấu kín

mà chỉ khi người ta chết đi mới được phát giác” [27, tr.65] Tác giả cũng chỉ ra một

số thay đổi về thái độ của Maupassant đối với hiện thực so với các nhà hiện thực cổ điển trước đó

Cũng nghiên cứu về Maupassant, Đào Duy Hiệp lại chú ý đến cấu trúc tác phẩm và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác của ông qua một số bài viết

như bài viết Nhân vật và các mối quan hệ giữa chúng qua truyện ngắn Bố của

Ximông [26], Cấu trúc cái kỳ ảo trong truyện ngắn Guy de Maupassant [25]…

Ngoài những công trình trên, còn có nhiều luận văn thạc sĩ hoặc khóa luận, tiểu luận có đề cập đến sáng tác của G Maupassant ở những vấn đề cụ thể về nội

dung hoặc hình thức nghệ thuật Tiêu biểu có thể kể đến luận văn Nghệ thuật truyện

ngắn Maupassant xét từ góc độ trần thuật học (2010) của Nguyễn Thị Hải Yến

[69], khóa luận Đặc điểm truyện ngắn của Guy de Maupassant (2012) của Vưu Huyền Trân (Đại học Cần Thơ) [93], Hình tượng những con người nhỏ bé trong

truyện ngắn của Maupassant (Lương Kỳ), Sự thể hiện con người trưởng giả trong truyện ngắn Maupassant (Kiều Kim Ngọc), Hệ thống nhân vật trong truyện ngắn

Trang 16

10

của Maupassant (Lê Minh Đức), Giá trị hiện thực trong truyện ngắn G Maupassant (Nguyễn Văn Chiến), Các kiểu tình huống trong nghệ thuật truyện ngắn Guy de Maupassant (Tống Thị Thu Hường), Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn Guy de Maupassant (Vũ Trúc Hà), Ảnh hưởng hội họa ấn tượng trong nghệ thuật miêu tả truyện ngắn Maupassant (Kim Thị Thu Hà)…

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trong nước nói trên, chúng tôi còn khảo sát được một số công trình của nước ngoài được dịch ra tiếng Việt và một số công trình bằng tiếng nước ngoài

Trong Số phận lịch sử của Chủ nghĩa hiện thực (tập 2, 1981), Bôrix Xuskốv

đã có chú ý đến đặc trưng thẩm mĩ trong sáng tác của Maupassant, Flaubert và E Zola Tác giả chỉ ra rằng Maupassant tiếp tục nghiên cứu, phân tích bản chất xã hội

và dùng thủ pháp điển hình hóa nhằm khẳng định lợi ích vật chất vẫn là động lực thúc đẩy con người hành động, thậm chí đó là những hành động gợi lên cảm giác độc ác một cách đầy bản năng Ông cho rằng Maupassant đã nhìn thấy sự mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học, kỹ thuật, lối sống duy vật chất với những giá trị tinh

thần, làm cho “con người hư hỏng và đời sống tinh thần, đạo đức của nó trống

rỗng” [66, tr.296] và ở đó “sự tàn bạo bao trùm tất cả mọi lĩnh lực của đời sống xã hội, đe dọa nhân cách con người Ông miêu tả những biểu hiện đa dạng của sự tàn bạo ở ngay trong những tình cảm riêng tư, thầm kín của con người” [66, tr.297] để

rồi khiến người ta phải “hoài nghi với những tiến bộ của thế kỷ, thiếu tin tưởng ở

tương lai” [66, tr.293] và gây nên khủng hoảng về tinh thần Tác giả cũng chỉ ra

rằng trong một số tác phẩm, Maupassant bị lúng túng trong việc điển hình hóa khi

ông quá nhấn mạnh vào yếu tố sinh vật, yếu tố tính dục của con người và ông “cảm

thấy một cách bi kịch và bệnh hoạn tình trạng người và người sống chia rẽ rời rạc

do quá trình tha hóa gây ra” [66, tr.298]

Mới đây, năm 2012, Marlo Johnston công bố cuốn sách Guy de Maupassant

[72], một cuốn sách trình bày những nghiên cứu chi tiết về cuộc sống hàng ngày và những câu chuyện liên quan đến sự nghiệp của nhà văn này Tuy nghiêng về nghiên

Trang 17

11

cứu tiểu sử nhưng cuốn sách của ông ít nhiều cũng giúp người đọc hiểu hơn về nhà văn có cuộc sống phong phú và phức tạp này

Năm 2015, trong lời giới thiệu cuốn Những truyện ngắn hay nhất của Guy de

Maupassant (The Best Short Stories Guy de Maupassant), ngoài việc trình bày đôi

nét về cuộc đời và sự nghiệp của Maupassant, Cedric Watts đã chỉ ra một số đặc điểm thẩm mĩ trong sáng tác của nhà văn Pháp như: sự đề cập thẳng thắn của ông về các vấn đề xã hội, kể cả việc đề cập đến tính dục, cái xấu, cái ác bằng giọng điệu châm biếm nhẹ nhàng Tác giả nhận xét rằng: Maupassant có phẩm chất đặc biệt của một người kể chuyện, đó là sự sáng suốt, phong cách chuyên nghiệp, khéo léo

và thường không phô trương, ông có giọng điệu phê phán mạnh mẽ, có thái độ thông cảm với người tầng lớp dưới, đặc biệt là các cô gái giang hồ, ông cũng hoài nghi tôn giáo, khinh miệt biểu hiện thiếu đạo đức của tầng lớp trung lưu và thể hiện thái độ ghê tởm trước sự lãng phí, tàn bạo của chiến tranh [76, tr.x] Tác giả cũng tỏ

ra không hoàn toàn đồng ý với một số ý kiến cho rằng thái độ của Maupassant trong

sáng tác là “thờ ơ” (indifference) [76, tr.x], chỉ cung cấp thông tin chứ không bình luận về các hiện tượng xã hội (no social comment) [76, tr.x], “không bao giờ phán

xét đạo đức” (never makes a moral judgement) [76, tr.x] và để cho câu chuyện tự

nói tiếng nói của nó (the story appears to tell itself) [76, tr.x]… Theo Cedric Watts, Maupassant vẫn thể hiện rất rõ quan điểm của mình (dù rất kín đáo), đó là một thái

độ bi quan, đồng thời có nhiều khi nhà văn thể hiện sự phê phán đạo đức một cách trực tiếp để rồi qua đó ngầm chỉ ra giá trị đạo đức thực sự mà con người cần có…

Một số cuốn sách khác mà chúng tôi tiếp cận được cũng ít nhiều đề cập đến

G Maupassant như Lịch sử văn học Pháp (Histoire de la littérature française) của

G Lanson (1970), Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XIX của Max Milner (1975), của P.Brunel và một số tác giả khác (1986) và của F.Egea, D Rince (1988), hay Ý nghĩa

thời đại của chủ nghĩa hiện thực phê phán (La signification présente du réalisme critique) của G Lukács (1960)… Tuy nhiên, do đây là những cuốn sách bằng tiếng

Pháp và do khả năng tiếp xúc văn bản của tôi còn hạn chế nên sự lĩnh hội chưa thực

Trang 18

Bài viết Truyện ngắn của G Môpátxăng (1986) [84] của Phạm Quang Trung

đăng trên trang http://www.pqtrung.com/ đề cập đến một số đặc điểm truyện ngắn của tác giả này: nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, lòng nhân đạo sâu sắc, đồng thời ông cũng chỉ ra một số hạn chế mang tính thời đại trong nhận thức của nhà văn bậc thầy về truyện ngắn

Tác giả của bài viết ngắn Nhà văn Guy de Maupassant (2001) trên trang

http://nguyet-trinh.com/ khi đề cập đến sáng tác của Maupassant cũng nhấn mạnh

rằng những “nhận định, phê bình của Maupassant thường nhắm vào luân lý đạo

đức xã hội”, và “Maupassant thành công với tài viết văn xuôi tuyệt vời, rõ ràng minh bạch, và văn phong thật tự nhiên , tính muôn màu muôn vẻ, tính ngắn gọn súc tích, văn xuôi trôi chảy rõ ràng và cái nhìn đầy tính hiện thực đã đặt ông lên vị trí các nhà văn ưu tú trong mọi thời điểm” [85]

Trên trang http://giaitri.vnexpress.net/ có đăng bài V.S Naipaul:

“Maupassant là nhà văn vĩ đại” (2006), theo bài viết, nhà văn V.S Naipaul – người

được giải Nobel văn chương năm 2001 – đã ca ngợi Maupassant là nhà văn vĩ đại,

siêu phàm, thậm chí còn vượt qua cả Balzac, bởi “hầu như mỗi truyện ngắn của

ông là sự phô bày một cuộc sống đầy đủ” với nguồn chất liệu dồi dào Và vì vậy,

theo Naipaul, khi đọc truyện của Maupassant, người đọc “cảm nhận rất rõ đặc

trưng của nước Pháp nhưng rõ ràng đó vẫn là những sáng tác dành cho độc giả khắp các nơi trên thế giới” [86]

Bài Truyện ngắn của G Môpátxăng (2013) được đăng trên trang

http://ttgdtxlaocai.vn/ trình bày đôi nét về những yếu tố ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của nhà văn, tác giả khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo đồng thời nêu lên một số nét về nghệ thuật kể chuyện trong sáng tác của ông Bài viết cũng chỉ ra

Trang 19

13

một số hạn chế trong sáng tác của Maupassant nhưng vẫn khẳng định tài năng viết truyện tuyệt vời của ông [87]

Trên trang http://www.online-literature.com đăng rất nhiều sáng tác của Guy

de Maupassant, đồng thời là diễn đàn trao đổi những nhận định, đánh giá cũng như một số bài viết về tác giả này, trong đó có những ý kiến rất đáng chú ý Trong bài

viết Chủ nghĩa hiện thực qua “Sợi dây chuyền kim cương” (Realism in “The

Necklace”) (11-12-2015), tác giả đã nhận định sáng tác của Maupassant là sự kết hợp giữa quan sát, suy tư, và thường gây bất ngờ cho người đọc Người đọc cảm nhận tác phẩm như thế nào tùy thuộc vào hoàn cảnh sống của mình và qua tác phẩm, độc giả cũng cảm nhận được quan điểm của Maupassant về cuộc sống Truyện của ông không còn yếu tố cổ tích với kết thúc có hậu nữa mà là câu chuyện

của thế giới thực, của cuộc sống “tàn bạo, vụn vặt, và rời rạc, đầy những điều

không thể giải thích được, những tai ương vô lý” Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho

rằng hầu hết truyện ngắn của Maupassant có cái kết quá bi thảm, điều đó làm cho con người cảm thấy bi quan về cuộc sống, vì thế, nó làm cho mọi người mệt mỏi, thiếu tin tưởng vào cuộc đời [82]

Bài Nhà văn Pháp Guy de Maupassant: Thiên tài bi thảm (2015) của Huyền

Anh đăng trên trang http://daidoanket.vn/ đã chỉ ra một số mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Maupassant [88]

Điểm qua các công trình nghiên cứu về Maupassant, chúng tôi nhận thấy đã

có rất nhiều công trình khoa học, bài viết về ông trên nhiều khía cạnh khác nhau Những công trình đó là nền tảng quan trọng để chúng tôi có cái nhìn tổng quan về

sự thay đổi thẩm mĩ trong sáng tác của Maupassant, đồng thời, các bài nghiên cứu

ấy cũng nêu lên gợi ý quan trọng giúp chúng tôi củng cố thêm những ý tưởng khoa học của mình

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận văn chủ yếu tập trung vào làm sáng tỏ sự thay đổi thẩm mĩ của dòng văn học hiện thực cuối thế kỷ XIX được thể hiện qua truyện ngắn của Maupassant

Trang 20

14

Để làm rõ vấn đề, chúng tôi luôn có ý thức so sánh, đối chiếu, cụ thể là so sánh đặc điểm thẩm mĩ truyện ngắn của ông với đặc điểm thẩm mĩ Chủ nghĩa hiện thực phê phán qua sáng tác của các tác giả đầu thế kỷ như Balzac, Standhal…, với các sáng tác theo trường phái tự nhiên chủ nghĩa của nhà văn cùng thời như Flaubert, Zola và với một số nhà văn theo khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa đầu thế kỉ XX nhằm làm sáng tỏ sự thay đổi thẩm mĩ trong truyện ngắn của ông trong tiến trình vận động của Chủ nghĩa hiện thực

Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn khảo sát các truyện trong các tuyển tập sau:

- Tập Dưới ánh trăng (1986) (2 tập), Nxb Văn hóa Thông tin Lâm Đồng, Đỗ

Tư Nghĩa, Mạc Mạc, Hướng Minh, Trung Hiếu, Nguyễn Văn Sỹ, Võ Điền, Lê Hồng Sâm dịch

- Một số tác phẩm của Maupassant trong Tuyển tập truyện ngắn Pháp thế kỉ

XIX (1986), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Đặng Anh Đào, Lê Hồng

Sâm dịch

- Tập truyện Guy de Maupassant (1988), Nxb Tổng hợp Hậu Giang, Trần

Thanh Ái dịch

- Tuyển tập Guy de Maupassant (2000), Nxb Hội nhà văn, nhiều dịch giả

- Tập Truyện ngắn kì lạ (2005), Nxb Lao động, Hà Nội, Vũ Yến Ly sưu tầm

và dịch

- Tập Viên Mỡ Bò (2006), Nxb Hội Nhà văn, do nhiều tác giả dịch

- Tập Cuộc thách đấu (2007), Nxb Công an Nhân dân, Trần Bình dịch

- Tập Thiên diễm tình (2007), Nxb Công An nhân dân, Trần Bình dịch

Ngoài khảo sát các truyện ngắn của Guy de Maupassant trong tám tập truyện trên, chúng tôi còn khảo sát một số tác phẩm của ông đã được dịch và đăng trên mạng internet Chúng tôi nhận thấy rằng, với những truyện dịch và đăng trên mạng,

Trang 21

15

bên cạnh những tác phẩm được dịch rất hay thì còn một số tác phẩm cần phải kiểm chứng tính chính xác, vì vậy, trong khả năng của mình, với những tác phẩm như thế, chúng tôi cố gắng có sự đối chiếu giữa các bản (nếu một tác phẩm được nhiều người dịch) để chọn ra bản dịch theo chúng tôi là hay hơn hoặc đối với bản tiếng Anh mà chúng tôi có điều kiện được tiếp cận

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa vào nội dung và tính chất của đề tài, trong khi thực hiện nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp văn hóa – lịch sử

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phê bình tiểu sử

Đó là những phương pháp nghiên cứu nghiên cứu chính chúng tôi sử dụng trong luận văn Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, chúng tôi sẽ linh động sử dụng thêm những phương pháp hỗ trợ khác

V CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1 Những tiền đề lịch sử - xã hội và thẩm mĩ chi phối đến văn học hiện thực nửa sau thế kỉ XIX

Trong chương này, chúng tôi viết về những yếu tố lịch sử - xã hội và thẩm

mĩ ảnh hưởng đến văn học hiện thực cuối thế kỉ XIX như: sự toàn thắng của giai cấp tư sản, sự hình thành và diệt vong của Đế chế II, những thành tựu mới về khoa học và tư tưởng có ảnh hưởng đến sự quan điểm sáng tác của Maupassant nói riêng, văn học Pháp cuối thế kỉ XIX nói chung Đây cũng là thời kì văn học Pháp có sự phân hóa mạnh mẽ, dòng văn học hiện thực tiếp tục dòng chảy của mình với đặc

Trang 22

Chương 3 Truyện ngắn Guy de Maupassant và những dấu hiệu của Chủ nghĩa hiện thực nửa cuối thế kỉ XIX

Trong chương này, chúng tôi chỉ ra những dấu hiệu của chủ nghĩa hiện thực hậu hiện thực cổ điển trong sáng tác của Maupassant Đó là những thay đổi về tầm bao quát hiện thực so với văn học hiện thực cổ điển, dấu ấn Chủ nghĩa tự nhiên và những dấu hiệu của mĩ học hiện đại chủ nghĩa – yếu tố giúp Maupassant được đánh giá là một trong những nhà văn mở đường cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế

kỉ XX

Trang 23

17

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ THẨM MĨ CHI PHỐI ĐẾN VĂN HỌC HIỆN THỰC CUỐI THẾ KỈ XIX

1.1 Sự toàn thắng của giai cấp tư sản và những dữ kiện lịch sử - văn hóa mới

1.1.1 Sự toàn thắng của giai cấp tư sản

Sau thời kì của Ông vua mặt trời Louis XIV (1643-1715), nhà nước phong

kiến tại Pháp ngày càng rơi vào khủng hoảng, đánh mất vai trò lịch sử của mình Nước Pháp khủng hoảng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa – tư tưởng Cuối thế kỉ XVIII, vua Louis XVI (1774-1792) chủ trương cai trị đất nước dựa trên cầu nguyện, cung kiếm và lao động Nhà vua không thừa hưởng được sự tiến bộ trong

tư tưởng của thời kì Ánh sáng, không tỉnh táo trong xử lý những mâu thuẫn xã hội đang âm ỉ chờ bùng phát mà ngập trong bóng tối của những hoan lạc, ăn chơi vô độ, tàn nhẫn, bất công, chuyên quyền… nhất là trong hoàn cảnh giai cấp tư sản đang phát triển mạnh mẽ, có ý thức hệ rõ ràng và có học thức Quý tộc, tăng lữ chiếm số lượng nhỏ nhưng lại được thụ hưởng cuộc sống xa hoa bằng trăm khoản thuế đổ

đầu những người thuộc đẳng cấp thứ ba “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”,

tầng lớp tư sản lãnh đạo đẳng cấp thứ ba đứng lên chiến đấu giành quyền dẫn dắt lịch sử về mình thông qua cuộc Cách mạng tư sản năm 1789 Đây là cuộc cách mạng được Lê-nin đánh giá là triệt để nhất, đưa giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, mở đường cho giai cấp tư sản Pháp phát triển mạnh mẽ trong suốt thế kỉ XIX Cùng với thắng lợi của cách mạng tư sản, bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền - văn bản nền tảng của cách mạng, được Quốc hội Lập hiến soạn thảo,

với công thức Tự do - Bình đẳng - Bác ái, đã công nhận, khẳng định quyền công

dân, quyền cá nhân của con người là những quyền mang tính tự nhiên, việc xây dựng bộ máy chính trị là để phục vụ con người Sự ban bố Tuyên ngôn với việc nhấn mạnh sự bình đẳng và tự do đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “khai tử” chế độ

Trang 24

phái tư sản tự do thông qua việc nhà vua ban bố Sắc lệnh tháng 7 đã trở thành ngòi

nổ dẫn tới Cách mạng tháng Bảy (1830) với “ba ngày vinh quang” và nền Quân

chủ tháng Bảy ra đời

Cuộc cách mạng tháng Bảy tuy không chấm dứt được chế độ quân chủ ở Pháp nhưng đã chấm dứt vai trò cầm quyền của Charles X, chấm dứt thời kì phục hồi vương chính của triều đại Bourbons Kế vị Charles X là Công tước Orléan Louis Philippe, người đại diện cho thế lực chủ nhà băng – một sự lựa chọn phù hợp với giai cấp tư sản, người suốt thời gian cầm quyền đã cố gắng xây dựng hình ảnh

“ông vua công dân” [62, tr.159] với vẻ gần dân và dân chủ Thắng lợi này đã khẳng

định được vai trò nắm giữ thực quyền của giai cấp tư sản và đưa nước Pháp đi theo con đường quân chủ lập hiến, trong đó vương quyền chỉ còn mang tính biểu trưng

Trang 25

19

Cuộc cách mạng này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự trỗi dậy của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước châu Âu khác, tạo tiền đề để chủ nghĩa tư bản giành thắng lợi vào năm 1848

Vua Louis Philippe I cũng chỉ ở tại ngôi được 18 năm bởi vì nền dân chủ do ông tạo ra không theo kịp sự phát triển rất nhanh của tình hình kinh tế xã hội Tuy nhiên, trong những năm tại vị, ông đã làm được một số việc thúc đẩy kinh tế phát triển, hướng con người vào đời sống giàu tính thế tục hơn Đây là thời kì nước Pháp

được mệnh danh là thời kì tôn thờ “con bê vàng” dưới lời kêu gọi “Hãy làm giàu

đi” của vị thủ tướng Guizot – người được Louis Phillipe tin tưởng, đồng thời cũng

là thời kì “dục vọng” cá nhân về sự thành đạt tiền bạc, địa vị, quyền lực… trở thành

động cơ cho sự vận hành của toàn xã hội

Lúc này, mâu thuẫn ngày càng tăng trong nội bộ giữa các phe phái: phái Chính thống do nhà thơ Chateaubriand đại diện trung thành và tìm cách phục hồi nền thống trị của dòng họ Bourbons; phái Cộng hòa được sự ủng hộ của trí thức tiểu

tư sản, nhà báo, quân nhân… và những người ủng hộ sự phục hồi của Chủ nghĩa Bonaparte Dù Napoléon đã mất vào năm 1821 nhưng sách vở viết về ông nhiều vô

kể và hầu hết đều mang sắc thái ca ngợi, thậm chí còn coi ông như một vị anh hùng,

một Prométhé bị xiềng (Hồi ức về đảo Saint Hèléne của Lascases, 1923) Những

câu chuyện về cuộc đời của Napoléon được lưu truyền, người dân hoài niệm về ông, các nhà văn đương thời ca ngợi, ngưỡng mộ ông, trong đó có cả các nhà văn lớn như Victor Hugo, Stendhal, Balzac, Guy de Maupassant

Đó là vấn đề chính trị Còn trên lĩnh vực kinh tế − xã hội, trong thời kỳ Quân chủ tháng Bảy (1830-1848), nước Pháp tiếp tục tiến hành cách mạng công nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ Nhưng nếu sự phát triển về kinh tế, trong con mắt của các nhà xã hội học, phản ánh sự tiến bộ xã hội thì đối với những nhà văn hiện thực, nó không phải bao giờ cũng song hành với đời sống tinh thần và sự phát triển của phẩm chất đạo đức, thậm chí nó còn làm mối quan hệ giữa

con người trở nên đơn giản dưới sự điều khiển của “dục vọng” về vật chất Nói như

Trang 26

20

Rousseau :“Sự tiến bộ bề ngoài trên thực tế chỉ giúp loài người trở nên văn minh về

vật chất, nhưng lại khiến nhân loại suy bại về tinh thần” [38, tr.37] Mâu thuẫn giai

cấp gia tăng Trước tình cảnh đó, hơn ai hết, những trí thức, trong đó có nhiều văn nghệ sĩ, những người vốn đã tin tưởng rằng cuộc cách mạng sẽ đem đến cuộc sống

tốt đẹp đã rơi vào tình trạng vỡ mộng, mất niềm tin vào hiện thực Thực tế tâm trạng

vỡ mộng này được phản ánh qua sáng tác của nhiều nhà văn như Stendhal (với Đỏ

và Đen), H Balzac (với tiểu thuyết Vỡ mộng), hay Gustave Flaubert (với Bà

Bovary), G Maupassant (với Một cuộc đời)…

Trong khi quý tộc tỏ ra bạc nhược thì tầng lớp tư sản ngày càng tăng cường phát triển kinh tế, do đó, số lượng công nhân tăng nhanh Công nhân vỡ mộng khi

họ chỉ được hưởng đồng lương chết đói và phải duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu

Vì đời sống nghèo khổ, tầng lớp thợ thuyền đã đứng lên tranh đấu Họ còn kết hợp với phong trào cộng hòa dân chủ để phát triển thành cao trào cách mạng to lớn

Xã hội Pháp càng ngày càng có sự mâu thuẫn mạnh mẽ Trong khi tầng lớp công nhân rơi vào tình trạng nghèo khổ thì tầng lớp tiểu tư sản có cảm giác bị gạt ra khỏi vũ đài chính trị vì sự khắt khe trong quy chế bầu cử Quần chúng nhân dân nổi giận, tập hợp các phe phái chống đối tại các bữa tiệc nhằm phê phán chính phủ Họ

tổ chức biểu tình đòi cách chức Guizot, đòi cải cách xã hội Nhà vua hoảng sợ, từ ngày 24-2-1848 đã tiến hành một loạt hoạt động để xoa dịu lòng dân, thậm chí còn tuyên bố từ chức, đưa người cháu mới 9 tuổi lên ngôi Nhưng những hành động ấy

là quá trễ Trước tình hình đó, nhân dân hô vang không cần quốc vương, không cần nhiếp chính vương Phái tư sản cộng hòa đứng đầu là Dupont và Lamartine đứng ra thành lập chính phủ Cộng hòa Đây là nền Cộng hòa thứ hai trong lịch sử nước Pháp

Như vậy, chỉ với ba ngày đấu tranh, nền Quân chủ tháng Bảy bị sụp đổ, nền Cộng hòa thứ Hai ra đời Trong lúc nhân dân đang sục sôi, giai cấp tư sản đã họp và lập nên chính phủ lâm thời gồm 11 thành viên, trong đó đại đa số là người của giai cấp tư sản Dưới áp lực của quần chúng nhân dân, chính phủ lâm thời tuyên bố

Trang 27

21

thành lập nền cộng hòa Giai cấp tư sản hứa tạo điều kiện để công nhân có công ăn việc làm ổn định, có lương đảm bảo đời sống, nhưng thực ra sau khi dần dần nắm quyền lực về chính trị, giai cấp này nhanh chóng thể hiện bản chất thống trị và bóc lột của mình Thành quả Cách mạng tháng Hai vốn bắt đầu từ quần chúng nhân dân lại rơi vào giai cấp tư sản

Như vậy, đến cuộc cách mạng 1848, sứ mạng lịch sử của nền Quân chủ lập hiến chấm dứt Giai cấp tư sản đã thành công trên vũ đài chính trị dựa trên công sức, nước mắt và máu của những người công nhân và tiểu tư sản Nắm được quyền

thống trị, giai cấp tư sản quay cuồng trong cơn lốc làm giàu, tôn sùng chủ nghĩa vị

lợi, bất chấp mọi mối quan hệ tốt đẹp thông thường Bản chất ấy đã làm thay đổi

các mối quan hệ cơ bản trong xã hội Các nhà văn, nhà thơ là những người đặc biệt nhạy cảm với những biến đổi này Họ quan sát, phân tích, nhận định, đánh giá hiện thực ấy qua tác phẩm của mình Nhưng từ đây, sự tin tưởng, lạc quan đã dần bị thay thế cho sự hoài nghi, bi quan vào con người, vào cuộc sống đầy sự giả dối, tầm thường mà xã hội tư sản bày ra

1.1.2 Đế chế II và nước Pháp nửa sau thế kỉ XIX

Nền Cộng hòa thứ hai ra đời đã thực sự đưa giai cấp tư sản lên nắm toàn bộ quyền hành Chính trường nước Pháp tiếp tục có những vấn đề mới nảy sinh bởi giữa các phe phái luôn mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế và vị thế chính trị, cụ thể là giữa phái ôn hòa và cấp tiến Trong bối cảnh chính trị rối ren ấy, sự xuất hiện của Louis Bonaparte nhanh chóng được nhân dân ủng hộ Bởi vì, ít nhất, trong con mắt của nhân dân, ông không gắn với các sự việc không được lòng dân trong nước và mặt khác, nhân dân tin vào ông vì ông còn là cháu của cựu hoàng Napoléon Bonaparte, người đã có công làm rạng danh đất nước, người đã khẳng định mạnh

mẽ vị thế của nước Pháp ở châu Âu Vì thế, trong cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nước Pháp, Louis Bonaparte giành thắng lợi vẻ vang với 5,5 triệu phiếu trên 7,5

triệu cử tri Ngày 20-12-1848, Louis Bonaparte tuyên bố nhậm chức: “Trước

thượng đế và toàn thể nhân dân Pháp mà nghị viện là đại biểu, tôi tuyên thệ vĩnh

Trang 28

22

viễn trung thành với nền dân chủ và nền cộng hòa, thực hành tất cả các nghĩa vụ

mà hiến pháp đã trao cho” [62, tr.172]

Trong giai đoạn đầu cầm quyền, do Louis Bonaparte còn ở thế yếu nên phải dựa vào đảng Trật tự Nhưng, theo thời gian, bằng tài ứng biến lanh lợi, ông ta càng ngày càng khẳng định được vị thế chính trị của mình trên chính trường Để nâng cao tầm ảnh hưởng, ngày 2-12-1851, đúng vào ngày Napoléon Bonaparte đăng quang mấy chục năm trước, Louis Bonaparte đã quyết định làm một cuộc chính biến Cuộc chính biến này làm cho nước Pháp dù có cái vỏ vẫn là chính thể cộng hòa nhưng bản chất đã thiết lập nền độc tài Đến tháng 9-1952, Bonaparte ráo riết thiết lập đế chế, tạo nên hi vọng cho quảng đại quần chúng, cố gắng làm yên lòng các nước láng giềng rằng đây là đế chế hòa bình Ngày 21-11-1852, buổi trưng cầu dân ý về việc phục hồi đế chế diễn ra, Louis Bonaparte giành thắng lợi, lên ngôi vua, chính thức lập ra Đế chế II

Trong 18 năm tồn tại của Đế chế II, Napoléon III tỏ ra cứng rắn trong việc củng cố quyền lực chính trị của mình, nhưng ông cũng đã có những động thái nới rộng các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trước tiên là nới rộng quyền lực của nghị viện, từ đó dần dần đưa nước Pháp từ nước chuyên chế sang đế chế tự do Và mặc dù trong suốt thời gian cai trị, tuy vẫn còn một số điểm chưa hợp lòng dân nhưng nhìn chung Napoléon III đã có công trong việc thay đổi bộ mặt nước Pháp trên mọi mặt theo hướng tích cực hơn Napoléon III đặc biệt chú trọng đến những chính sách như giảm thuế, kí kết tự do mậu dịch với các nước, dỡ bỏ hàng rào thuế quan… kích thích nền kinh tế phát triển nhanh theo hướng tự do như kiểu nền kinh

tế Anh Ông chú trọng phát triển toàn diện các loại hình giao thông vận tải, tạo điều kiện cho việc giao lưu về hàng hóa được dễ dàng hơn Ngành ngân hàng đặc biệt phát triển để hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác Nước Pháp được coi là nước đi theo chủ nghĩa cho vay nặng lãi, các ngân hàng nắm quyền lực điều khiển nền kinh tế đất nước, giới tư bản tài chính có quyền hành lớn Song song với điều đó, cách mạng công nghiệp được đẩy mạnh và nước Pháp nhanh chóng bước vào thời kì hiện đại

Trang 29

23

Trái với sự ăn nên làm ra của giới tư bản, cuộc sống xa hoa, lãng phí của triều đình, đời sống của giới thợ thuyền và nông dân dù có cải thiện đôi chút nhưng nhìn chung vẫn khổ cực, bần cùng, tăm tối Sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội vẫn còn đó và ngày càng rõ rệt

Về lĩnh vực ngoại giao, cũng giống Napoléon Bonaparte, ngoài bề mặt Louis Bonaparte tuyên bố đây là đế chế hòa bình, nhưng thực chất bằng sức mạnh quân sự của mình, ông đã tìm mọi cách để phục hồi địa vị của nước Pháp ở châu Âu khi tiến hành cuộc chiến với Nga (1853-1856), với Áo (1859), Phổ (1870-1871), đồng thời tiến hành xâm chiếm thuộc địa ở nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi, trong đó có xứ

sở Đông Dương Trong các cuộc chiến dưới triều Napoléon III, cuộc chiến tranh với Phổ là cuộc chiến cả hai bên đều muốn đánh Tuy nhiên, giống như người bác của mình, Napoléon III chủ quan khinh địch nên nhanh chóng bị quân Phổ đánh bại, buộc ông ta phải giương cờ trắng đầu hàng nhục nhã ngay trong ngày Quốc khánh Ngày 2-9-1870, Napoléon III cùng với 8 vạn quân bị bắt làm tù binh Sự thất bại này để lại hậu quả nghiêm trọng Biết được tin quân đội Napoléon III thất bại, ngày 3-9 nhân dân Paris tức giận đứng lên biểu tình Ngày 4-9 bùng nổ cách mạng lật đổ

Đế chế II Napoléon III bị giam lỏng ở Đức rồi lưu vong sang Anh, mất tại Anh vào 9-2-1873

Thực chất, mầm mống sự bất mãn đối với các chính sách của Napoléon III

đã âm ỉ ngay từ những chính sách phát triển thiên về phát triển tín dụng, nhẹ về phát triển công nghiệp kết hợp với các chính sách về dân chủ, tôn giáo, đời sống xa hoa của triều đình, quý tộc – điều vốn đi ngược lại với nguyện vọng của đại đa số dân chúng Pháp… Vì vậy, sự kiện Napoléon III thất bại trong cuộc chiến tranh với Phổ thực chất là “giọt nước tràn ly”, châm ngòi cho cuộc nổi dậy của nhân dân Paris để xây dựng nên nhà nước công xã đầu tiên trên thế giới, tạo nên hình ảnh một chế độ mới, một kiểu xã hội mới trong lịch sử nhân loại

Thất bại của Napoléon III buộc nước Pháp phải trả giá: cắt cho Đức toàn bộ tỉnh Alsace và Lorraine; trong khi nhân dân sẵn sàng đứng lên chiến đấu để bảo vệ

Trang 30

24

đất nước thì giai cấp tư sản hèn nhát cam tâm chấp nhận bồi thường chiến phí 5 tỷ frăng và quân Đức được quyền chiếm đóng ở miền bắc nước Pháp cho đến khi trả xong tiền bồi thường Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Clemenceau, nhân dân Paris làm cuộc cách mạng lật đổ Đế chế Gaubetta, người vốn thuộc phái cộng hòa trong nghị viện, hô hào thành lập nền cộng hòa cứu quốc Trước sự hèn nhát của chính phủ, sự tự lăng nhục quốc thể khi Thiers cho quân Phổ duyệt binh tại đại lộ Champs-Elysées ở Paris, đời sống nhân dân lại cực khổ do bị quân Phổ bao vây, tiền lương của quốc dân quân bị cắt, các loại nợ nần bị ép trả hết…, chính phủ

vệ quốc, quân đội và nhân dân nhanh chóng tích lũy lương thực, tiến hành cách mạng, thay đổi chính quyền Lúc này, ở Pháp có nhiều tư tưởng triết học và quan điểm chính trị khác nhau, trong đó ảnh hưởng nhất là tư tưởng Proudhon, một người

cổ xúy chủ nghĩa vô chính phủ, muốn xây dựng một xã hội lí tưởng của liên minh công xã Bên cạnh đó, số lượng quốc dân quân do công nhân võ trang đã lên tới 300.000 người mà chính phủ hầu như không có quyền can thiệp Nhưng Thiers lại cho quân đến tước trọng pháo của quốc dân quân, tạo ngòi nổ trực tiếp cuộc khởi nghĩa ngày 18-3-1871 và ngay trong ngày quân vệ quốc đã chiếm được các cơ quan đầu não của Paris, làm chủ tình hình chính sự Đến ngày 28-3, Ủy ban công xã ra mắt quốc dân, tuyên bố mình là chính quyền duy nhất, bác bỏ mọi mệnh lệnh, thông cáo của chính quyền Versailles Công xã lập ra cơ cấu nhà nước với 10 Ủy ban nhằm thực hiện các cải cách có lợi cho người lao động, nhất là công nhân Công xã đưa ra những quy định về giờ làm việc (8 tiếng một ngày), cấm cúp phạt, cấm làm đêm, tăng lương cho công nhân, định giá lương thực, thực phẩm, giáo dục tách khỏi nhà thờ, đảm bảo nơi ở cho công nhân, giải tán quân đội và cảnh sát cũ, thành lập lực lượng vũ trang và an ninh nhân dân… Những quy định trên đã đáp ứng được khát khao của quần chúng lao động tạo nên không khí chính trị sôi sục ở Paris

Nhưng, sau mọi nỗ lực hòa giải giữa công xã và chính quyền Versailles, tuần

lễ đẫm máu đã xảy ra (21 đến 28-5-1871) Quân chính phủ điên cuồng thanh trừng các chiến sĩ công xã trong khi các chiến sĩ công xã đã chiến đấu rất hiên ngang để bảo vệ thành quả của cách mạng Nhà thơ công nhân Eugène Pottier đã sáng tác bài

Trang 31

25

thơ Quốc tế bất hủ, về sau được nhà soạn nhạc Pierre Degeyter phổ nhạc thành bài

Quốc tế ca – bài ca ca ngợi lí tưởng của công xã cách mạng và khí tiết chiến đấu

của tầng lớp cần lao trên thế giới Sau tuần lễ đẫm máu, Công xã Paris thất bại Nó

là cuộc cách mạng cuối cùng của thế kỷ XIX, là đỉnh điểm và điểm kết thúc cho những hoạt động mang tính bạo lực để đòi hỏi quyền lợi cho quần chúng lao động Công xã đã phản ánh được khát khao về một chế độ mới, xã hội mới tốt đẹp, nhân văn hơn Nó cổ vũ nhân dân lao động toàn thế giới đấu tranh cho một tương lai tốt đẹp Các hoạt động của công xã đã có những tác động nhất định đến tư tưởng, nhân sinh quan, quan điểm xã hội của các nhà văn lớn lúc bấy giờ như V Hugo, E Zola,

G Maupassant, A Rimbaud… Chúng ta có thể tìm thấy những dấu ấn và dư vang của cách mạng công xã trong sáng tác của họ

Sau cuộc tàn sát công xã, chính trường Pháp lại lục đục tranh giành quyền lợi giữa các phe phái, trong đó chủ yếu là phái cộng hòa và phái quân chủ Hai phái này đấu đá nhau về quyền lợi nhưng dưới sự trỗi dậy của phái Bonaparte, đành xích lại gần, thỏa hiệp với nhau thông qua bản hiến pháp năm 1875, còn gọi là hiến pháp Cộng hòa Ba Từ đây, phái cộng hòa ngày càng thắng thế trên con đường chính trị Bằng những chính sách mềm dẻo, linh hoạt, phái Cộng hòa đã cố gắng trong việc củng cố thể chế cộng hòa đại nghị bằng một loạt các cải cách nhằm thể chế hóa, dân chủ hóa đời sống xã hội, đáng chú ý nhất là cải cách giáo dục của thủ tướng Ferry Vai trò của nhà thờ bị suy giảm, người dân hướng cái nhìn vào thực tế đời sống hơn Điều này góp phần củng cố một đặc điểm thẩm mĩ trong dòng văn học hiện thực đang rất thịnh hành lúc bấy giờ: các nhà văn cần tiếp tục nhìn cuộc sống một cách chân xác hơn, thế tục hơn so với các nhà hiện thực nửa đầu thế kỉ XIX

1.1.3 Những thành tựu mới của khoa học và tư tưởng

Thế kỷ XIX được mệnh danh là thế kỷ người phương Tây “đứng trước ngưỡng cửa của thời đại khoa học” Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học thực nghiệm trong thế kỷ này có những thành tựu rực rỡ, tác động mạnh mẽ tới đời sống nói chung, trong đó có văn học

Trang 32

26

Trước thế kỉ XIX, phương Tây dù đã có những lý thuyết tiến bộ về tiến hóa nhưng đều ở dạng sơ khởi hoặc thiếu tính thuyết phục nên ít được phổ biến rộng rãi hoặc bị Giáo hội cấm đoán Đến đầu thế kỉ XIX, lý thuyết tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên do Charles Darwin nghiên cứu từ 1838, đến 1859 công bố nội dung trên trong

cuốn Nguồn gốc các loài đã làm thay đổi nhận thức của con người về thế giới, bất

chấp sự phản đối của các tín hữu Ki tô giáo xác tín vào sách Sáng Thế

Cuốn sách có tên đầy đủ là “The origine of species by means of natural

selection or the preservation of favoured races in the struggle for life” (Nguồn gốc

các loài qua con đường chọn lọc tự nhiên hay sự bảo tồn các chủng thích nghi trong cuộc đấu tranh sinh tồn) đã giải thích quá trình tiến hóa của mọi loài dựa trên biến

dị, di truyền và chọn lọc tự nhiên, tạo nên bước ngoặt lớn trong lịch sử sinh học nói riêng và trong lịch sử khoa học tự nhiên nói chung Thuyết tiến hóa của Darwin chỉ

ra rằng đặc tính thích nghi của cơ thể và sự đa dạng về loài là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, loài mới xuất hiện là kết quả tiến hóa từ loài cũ thông qua đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên Các loài phải đấu tranh với nhau và biến đổi mình để thích nghi môi trường sống nhằm duy trì, phát triển sự sống của mình

Học thuyết tiến hóa của Darwin đã làm thay đổi tư duy về thế giới theo kiểu

tư duy tiến hóa [24, tr.30] khi cho rằng “thế giới là một thực thể khách quan luôn biến đổi và phát triển, mà động lực là những nhân tố tự nhiên chứ không phải do một lực huyền bí phi vật chất nào đó chỉ huy” [24, tr.31]; chọn lọc tự nhiên cũng áp

dụng cho con người, con người có nguồn gốc từ động vật và tổ tiên con người có chung gốc với loài khỉ nhân hình, chọn lọc sinh dục là yếu tố quan trọng trong sự tiến hóa của con người Thuyết tiến hóa của Darwin đã làm thay đổi nhận thức của con người về thế giới, về nguồn gốc của con người, chấm dứt niềm tin về nguồn gốc thần thánh của con người Học thuyết này đã có ảnh hưởng lớn đến Claude Bernard, người được coi là cha đẻ của Sinh lý học với nhiều quyển sách về y khoa, trong đó

đặc biệt đáng chú ý là cuốn Nhập môn y học thực nghiệm – cuốn sách có vai trò mở

đường cho việc áp dụng phương pháp thực nghiệm vốn đã được sử dụng trong vật

lý và hóa học vào y học Barnard đã áp dụng thuyết tiến hóa để thực nghiệm trên gia

Trang 33

27

súc và quan sát người bệnh để tìm nguyên lý cơ bản sinh ra bệnh tật, sự di truyền bệnh tật qua các thế hệ, để chỉ ra được quy luật hoạt động chung nhất của cơ thể bị bệnh Như vậy, Barnard dùng phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu bên trong

cơ thể con người, từ đó tìm cách phòng bệnh hoặc điều trị bệnh Phương pháp này yêu cầu người nghiên cứu phải quan sát thực tế một cách tỉ mỉ, khách quan để được các thông tin trung thực, chính xác, sau đó giải thích hiện tượng bệnh lý dựa trên những lý luận đã có từ trước Chính bước phát triển mới này của y học thực nghiệm

đã làm cho E Zola, dưới sự động viên, khuyến khích trực tiếp của C Barnard kết hợp với lí thuyết về tự nhiên và di truyền của Lucas và lý thuyết về tiểu thuyết thực nghiệm của H Taine, tiến hành một bước tiến mới nữa của khoa học thực nghiệm là

áp dụng phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu tự nhiên vào nghiên cứu xã hội qua sáng tạo văn chương, cái mà Zola gọi là “tiểu thuyết thực nghiệm”

Ngoài lĩnh vực sinh học, nửa sau thế kỉ XIX chứng kiến sự ra đời của các khám phá vĩ đại về lĩnh vực vật lí như các phát minh về điện, các phát minh về cấu trúc và thành phần của nguyên tử… Những phát minh này đã làm thay đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực kĩ thuật và công nghiệp, mở đường cho kinh tế phát triển vượt bậc, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng như khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy…

Sự thành công trong phát triển công nghệ, máy móc được thể hiện ở những Hội chợ triển lãm (Expo) mà Paris chính là nơi tổ chức nhiều lần nhất trong khoảng thời gian từ 1851 đến 1889 Sự phát triển của máy móc càng tiếp thêm sức sống mãnh liệt cho chủ nghĩa tư bản Đặc biệt, sự thành công trong việc xây dựng tháp Effel, công trình không chỉ là biểu tượng cho Paris hoa lệ, lãng mạn, mà còn là biểu trưng cho thành công mang tính tổng hòa của nhiều bộ môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý

Đây cũng là giai đoạn một loạt các tư tưởng triết học ra đời và có ảnh hưởng lớn đến quan điểm sáng tác của các nhà văn đương thời, trong đó đặc biệt phải kể đến triết học thực chứng mà đại diện là Auguste Comte (1798-1857), người vốn là học trò của nhà tư tưởng tiền bối Saint Simon nhưng sau đó ông lại đi ngược lại học

thuyết của chính người thầy của mình Trong hai tác phẩm chính “Giáo trình triết

Trang 34

28

học thực chứng” và “Thế hệ triết học thực chứng”, A Comte đã vận dụng tinh thần

khoa học để nghiên cứu, phân tích rút ra các quy luật thực tế của xã hội nhằm cải tạo xã hội Tư tưởng của ông đã ảnh hưởng lớn đến nhà phê bình văn học Pháp H Taine (1828-1893) và là tiền đề triết học quan trọng, trên cơ sở đó Émile Zola đề xuất lí thuyết mĩ học tự nhiên chủ nghĩa của mình và chính ông trở thành chủ soái

Văn học hiện thực vẫn tiếp tục sứ mệnh của nó, tiếp tục phát huy sở trường

là quan sát, phân tích cuộc sống thường ngày, ngay trong lòng thực tại Tuy nhiên, trong giai đoạn này, trước sự hấp dẫn của những thành tựu khoa học và những nguồn tư tưởng mới, nhiều nhà văn mong muốn áp dụng phương pháp thực nghiệm của khoa học tự nhiên vào nghiên cứu xã hội Một trong những người thể hiện sự hưởng ứng nồng nhiệt ấy chính là Émile Zola, và chính ông đã lập thuyết, khai sinh

ra Chủ nghĩa tự nhiên, một khuynh hướng tiếp nối sứ mệnh của Chủ nghĩa hiện thực đầu thế kỷ Thế mạnh của chủ nghĩa tự nhiên là quan sát, ghi chép, “chụp ảnh” lại mọi góc độ của cuộc sống đến mức tỉ mỉ và dùng lí thuyết về di truyền, chọn lọc tự nhiên của các nhà sinh học để giải thích diễn biến cuộc đời của nhân vật cũng như các vấn đề xã hội Tuy nhiên, chính quy luật xã hội đã tác động một cách khách quan lên sáng tác của Zola, làm sáng tác của ông không còn thuần túy là minh chứng cho lí thuyết sinh vật học mà ông từng chịu ảnh hưởng sâu sắc Càng đến cuối thế kỉ, sự phân hóa của dòng văn học hiện thực càng rõ nét trước sự biến đổi không ngừng của đời sống tinh thần con người Chủ nghĩa tự nhiên khi mới ra đời

Trang 35

29

đã cuốn hút được rất nhiều văn nghệ sĩ tham gia vì đã đáp ứng được những thay đổi

về khoa học, triết học, thẩm mĩ Nhưng ngay khi tham gia, các nhà văn của trường phái văn học này đã nhận thấy sự quan sát và phân tích dựa trên tinh thần khoa học

đã không đáp ứng đủ được nhu cầu thẩm mĩ của họ, vì vậy càng về cuối thế kỉ họ càng có ý thức tìm kiếm con đường đi riêng của mình

Trong lĩnh vực thơ ca, đó là sự xuất hiện của phái Parnasse (Thi sơn) với các tác giả tiêu biểu Théophile Gautier, Leconte de Lisle…, một phái thơ chủ trương

“nghệ thuật vị nghệ thuật”, thơ ca “vô cảm” và đề cao yêu cầu về sự gọt giũa ngôn

từ Những nhà thơ như Charles Baudelaire, Paul Verlaine, Arthur Rimbaud…, ban đầu là thành viên của phái thơ này nhưng sau đó họ cũng nhanh chóng li khai lập trường của phái Parnasse và hình thành một trong những hiện tượng thơ hết sức quan trọng cuối thế kỉ XIX là chủ nghĩa tượng trưng

Đó còn là dòng văn học viễn tưởng mà tiêu biểu là Jules Verne với các tác

phẩm như Hai vạn dặm dưới đáy biển, Vòng quanh thế giới trong 80 ngày, Hành

trình vào tâm trái đất… không chỉ thu hút các em nhỏ mà còn cả người lớn Ngoài

ra, dòng văn học kì ảo cũng xuất hiện, thậm chí ngay cả những nhà văn được coi là hiện thực vẫn dùng yếu tố kì ảo để làm phương tiện phản ánh hiện thực…

Cuối thế kỉ XIX, một sự kiện lịch sử có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần nhân dân Pháp là sự ra đời và tồn tại của Công xã Paris (từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1871) Công xã ra đời từ máu của những con người lao động cùng khổ và những trí thức yêu mến công bằng xã hội đã gióng tiếng trống vọng làm rung lên tâm hồn văn nghệ sĩ, khiến họ hướng đôi mắt và trái tim tràn đầy cảm xúc của mình đến những người làm nên Công xã, để ca ngợi, tôn vinh, để thấy lóe lên ở chân trời

xa hình ảnh một xã hội mới tốt đẹp hơn Đông đảo văn nghệ sĩ tham gia trực tiếp chiến đấu cho Công xã hoặc có cảm tình và viết về công xã với thái độ ca ngợi như Jules Vallès, Victor Hugo, Louise Michel, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine… Công

xã Paris tồn tại trong 72 ngày đêm đã tạo tiếng vang lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến văn chương lúc bấy giờ, tạo nên một khuynh hướng văn học mới trước đó chưa có: Văn

Trang 36

30

học Công xã - một hiện tượng văn học mới gắn liền với ý hệ của giới cần lao Dòng văn học này chủ yếu viết về đời sống của những người lao động qua thái độ trân

trọng của các nhà văn Eugéne Pottier sáng tác bài Quốc tế ca chứa đầy tinh thần

đấu tranh đòi giải phóng khỏi khổ đau:

“Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian!

Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn! ”

Dù bị đàn áp đẫm máu nhưng hình ảnh về quần chúng thợ thuyền anh dũng

đã trở thành những nhân vật chính trong nhiều tác phẩm của các nhà văn đương thời – những người trực tiếp tham gia như Éugène Pottier, Jules Vallès… và cả những nhà văn vốn không thực sự thuộc về dòng văn học tả chân như Victor Hugo, Paul Verlaine, Arthur Rimbaud… nhưng có cảm tình với Công xã Khuynh hướng chung của văn học Công xã là ca ngợi nhân dân, thể hiện niềm tin vào một chế độ mới, ở

đó, quần chúng lao động được hưởng đời sống tốt đẹp hơn, đời sống mà họ khao

khát Công xã “như một ngọn hải đăng, nó tỏa sáng ngời ngợi trong đêm tối và để

lại, qua các thời đại, những hào quang rực rỡ” [68, tr.21] Văn chương Công xã

đem lại cho văn học Pháp một sức sống mới đầy niềm vui, khác hẳn với văn chương

bi quan của một số tác giả khác cùng thời Đây là khuynh hướng tiếp nối dòng văn học hiện thực nhưng đậm tính lãng mạn vì luôn thấm đẫm lý tưởng cách mạng Nó

đã vượt qua được những ảo tưởng của Chủ nghĩa xã hội không tưởng để thúc đẩy người dân hành động, đứng lên bảo vệ quyền lợi cho bản thân mình, tự thoát khỏi khổ đau Dòng văn học này cũng không còn chỗ cho quan điểm vị nghệ thuật của phái Parnasse và Chủ nghĩa tượng trưng, cũng không tin vào vấn đề di truyền như các tác giả của Chủ nghĩa tự nhiên Nó là bước gạch nối quan trọng giữa Chủ nghĩa hiện thực phê phán với Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong thế kỉ XX

Tóm lại, văn học Pháp cuối thế kỉ XIX từng bước có sự phân hóa mạnh mẽ gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử và bối cảnh văn học mới Điều này phản ánh một bước đi mới của văn học trên con đường làm mới mình, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội và tư duy của con người trong hoàn cảnh lịch sử và tri thức mới

Trang 37

31

1.2.2 Sự tiếp tục thăng hoa mạnh mẽ của văn xuôi tả chân

Văn xuôi tả chân Pháp thế kỉ XIX có nguồn gốc từ dòng văn học thế tục tồn tại ngay từ trong văn học dân gian, biến đổi theo từng thời kì khác nhau phụ thuộc vào sự nhận thức của con người trước cuộc sống Thời kì trung cổ, phong kiến là thời kì con người theo triết lí khắc kỉ, cảm xúc về cái đẹp ít nằm nơi trần thế mà ở nơi thiên đàng, vì vậy dòng văn học tả chân ít được quan tâm Đến thời kì Phục hưng, dưới sự tác động to lớn của nền văn hóa Hy-La tràn đầy tính thế tục, triết lý khắc kỉ bị xem xét lại, lúc này văn học bắt đầu thể hiện sự say mê trước vẻ đẹp đầy

tự do, phóng khoáng của cuộc sống trần thế, đề cao những khát vọng rất đẹp, rất nhân văn của con người Văn chương thời kì cổ điển lại nhằm mục đích đề cao việc

từ bỏ tình cảm cá nhân để thực hiện nghĩa vụ đối với đất nước mà thực chất là phục

vụ lợi ích của giai cấp tư sản đang lên và ngầm hạ thấp vai trò của giai cấp quý tộc phong kiến Văn xuôi thời kì Ánh Sáng hướng nhiều hơn đến mục tiêu thế tục, xem xét nhiều hơn mối quan hệ giữa cảm xúc với ngoại giới Dù văn học thời đại Phục hưng và Ánh sáng rất giàu tính hiện thực nhưng nó vẫn chưa phải là Chủ nghĩa hiện thực như chúng ta thường hiểu vì màu sắc hiện thực trong văn học những thời đại

này mới có “giá trị như là một sự bổ sung cần thiết để nhà văn đạt đến mục đích tối

hậu là khẳng định những ngọn cờ tư tưởng của thời đại” [27, tr.21] Chỉ đến thế kỉ

XIX, dòng văn học hiện thực mới thực sự ra đời với tư cách một trào lưu và với quan điểm thẩm mĩ rõ ràng rằng mỗi tác phẩm văn học đều hướng tới tái hiện một cách chính xác, đầy đủ, chân thực môi trường xã hội và thời đại, từ đó, nhà văn phân tích qua nghệ thuật và bằng nghệ thuật các mối quan hệ của con người với môi trường phong phú, phức tạp, thường xuyên biến đổi, đồng thời khái quát những qui luật của hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật

Chủ nghĩa hiện thực Pháp thế kỉ XIX ra đời trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể là giai đoạn thắng thế của chủ nghĩa tư bản và sự lên ngôi của lối sống vật chất Dòng văn học này có tham vọng phản ánh, phân tích mọi mặt của hiện thực đời sống và hiện thực tâm hồn, tìm hiểu cơ chế vận hành của xã hội Đây là dòng văn học chịu

sự chi phối rất lớn của hiện thực mà hiện thực luôn có sự biến đổi quanh co, phức

Trang 38

32

tạp, vì vậy, các nhà văn hiện thực luôn tìm kiếm những phương thức, phương tiện theo họ là hữu hiệu để tái hiện lại hiện thực xã hội đang thay đổi đầy sinh động ấy Mỗi nhà văn có cách nhìn về cuộc sống theo hướng riêng Từ cách nhìn cuộc sống

ấy, họ có cách thể hiện quan điểm riêng về cuộc sống qua sáng tác của mình Các sáng tác của những nhà văn hàng đầu của dòng văn học hiện thực đầu thế kỉ XIX như Stendhal, Balzac, Flaubert… đều chứng minh khả năng thâu tóm đời sống của nghệ thuật thông qua tìm hiểu mối quan hệ giữa môi trường sống và con người, qua

sự cá thể hóa, khái quát hóa và xây dựng những điển hình nghệ thuật Bộ “Tấn trò

đời” của Balzac, các tiểu thuyết của Stendhal, Gustave Flaubert và Émile Zola là

minh chứng rõ rệt, chứng minh rằng, cho đến thế kỉ XIX khó có thể có một mô hình văn học nào có sức mạnh lớn lao trong việc thể hiện bức tranh đời sống cũng như khái quát những qui luật của đời sống như văn học hiện thực chủ nghĩa

Nếu giai đoạn đầu thế kỉ XIX văn xuôi tả chân thiên về quan sát, phân tích hiện thực xã hội mang tầm bao quát cao với đại diện xuất sắc nhất là Balzac thì đến cuối thế kỉ XIX, Chủ nghĩa tự nhiên đã ra đời do Émile Zola khởi xướng Qua nhiều bài viết của mình từ 1871-1880, ông đề xuất phương pháp sáng tác chung mới là sáng tác văn chương theo mô hình khoa học thực nghiệm Bởi lẽ, dưới sự tác động của những tiến bộ khoa học thực nghiệm, nhất là sinh học, cũng như những mặt trái của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, con người cảm thấy hoài nghi: ngoài quy luật vận động của xã hội mà mọi người đã nhận ra còn một mạch ngầm sinh học đang âm thầm điều khiển số phận của con người cũng như điều khiển sự vận động của xã hội Sự hoài nghi đó là do tinh thần đề cao vai trò của khoa học nhưng cũng là do lúc này con người đã cảm nhận được sự giới hạn của khoa học trong việc giải thích các hiện tượng đời sống, giải thích sự trống rỗng trong tâm hồn con người trước bộn

bề vật chất Chính trong hoàn cảnh đó, Émile Zola đã nhận ra kiểu văn học hiện

thực cổ điển “ngoài sự chính xác của các chi tiết ra còn phải nói đến sự thể hiện

chính xác những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” (F Engels) không

còn thỏa mãn được yêu cầu thẩm mĩ nữa Ông đã tập hợp được rất nhiều nhà văn lớn cùng thời để bàn bạc, nêu chủ trương một kiểu sáng tác mới phù hợp hơn với

Trang 39

33

hoàn cảnh lịch sử - xã hội và nhận thức của con người về hiện tại Những ý kiến

trao đổi ấy được tập hợp trong cuốn Những buổi tối ở Médan và một mô hình văn học mới được khai sinh là Chủ nghĩa tự nhiên Tất nhiên, các quan điểm sáng tác

của Chủ nghĩa tự nhiên không phải hoàn toàn mới mẻ khi Zola lập thuyết Điều đó

có nghĩa là Chủ nghĩa tự nhiên vẫn nằm trong dòng chảy của Chủ nghĩa hiện thực,

đã có những manh nha từ trước đó, thậm chí một vài khía cạnh mĩ học của Chủ nghĩa tự nhiên đã xuất hiện ngay trong thời kì Chủ nghĩa hiện thực cổ điển Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau và bản thân Chủ nghĩa tự nhiên cũng bộc lộ một số hạn chế nhưng nó vẫn là trào lưu có ảnh hưởng lớn, chủ đạo của văn xuôi cuối thế

kỉ XIX

Với tư cách là nhà văn hàng đầu của Chủ nghĩa tự nhiên, Zola mong muốn

bộ tiểu thuyết Gia đình Rougon - Macquart (1871-1893) của ông có thể sánh ngang với bộ Tấn trò đời của Balzac nhưng với phương thức sáng tác khác Ông mong muốn “tác phẩm của tôi sẽ là khoa học hơn là xã hội muốn vẽ nên xã hội hiện

đại, mà chỉ một gia đình thôi, để chỉ ra vai trò của huyết thống đang thay đổi những môi trường” [61, tr.62] Như vậy, ông say mê những thành tựu do khoa học thực

nghiệm mang lại và hi vọng việc dùng những thao tác thực nghiệm trong sáng tác sẽ đem đến những thành công mới cho văn chương khi phương pháp sáng tác của Chủ

nghĩa hiện thực phê phán không còn sức hấp dẫn như trước nữa Sự ra đời của Chủ

nghĩa tự nhiên (Naturalisme) đã đáp ứng được nhu cầu đổi mới lối viết của văn học

hiện thực khi đó đang dần bế tắc sau những thành công vượt bậc của các bậc tiền bối thời Chủ nghĩa hiện thực cổ điển Chủ nghĩa tự nhiên trong giai đoạn này không phải được hiểu là kiểu sống gần gũi với thiên nhiên để tạo cho mình sức sống mới khỏe mạnh hơn Nó có nội hàm là sáng tác văn chương phản ánh mọi hiện tượng phong phú của tự nhiên, của cuộc sống bằng cách ghi chép lại cuộc sống một cách tỉ

mỉ, chân thực, khách quan dựa trên các phương pháp của khoa học tự nhiên Các

nhà văn tự nhiên chủ nghĩa bị ảnh hưởng và coi các công trình khoa học như Luận

về di truyền tự nhiên của Lukas, Nguồn gốc các loài của Dawin, Mở đầu nghiên cứu

Trang 40

34

về y học thực nghiệm của Claude Bernard, phương pháp khoa học thực chứng của

A Comte và của H Taine là định hướng để sáng tác

Zola xây dựng lý thuyết về Chủ nghĩa tự nhiên với sự tin tưởng mạnh mẽ vào khoa học Tinh thần khoa học trong văn chương thể hiện ở chỗ nhà văn phải biết cách tôn trọng tài liệu, biết cách quan sát tỉ mỉ, ghi chép cẩn thận, tập hợp tư liệu

đầy đủ, rồi thực nghiệm “để tái tạo hiện thực một cách hoàn toàn khách quan và tỉ

mỉ ngay cả những khía cạnh tầm thường nhất” [60, tr.29] Mọi hành động phải dựa

trên sự nghi ngờ, thậm chí nghi ngờ chính bản thân mình nhưng phải tin vào khoa học Chỉ có sự nghi ngờ mới có thể giúp chúng ta tìm đến được hiểu biết tuyệt đối

và chỉ không nghi ngờ nữa khi tìm được quy luật vận hành của tự nhiên Áp dụng phương pháp thực nghiệm, Zola muốn tìm ra hiện thực thực sự của cuộc sống chứ không phải là hiện thực bên ngoài Theo Sainte – Beuve, cách làm đó của các nhà tự nhiên chủ nghĩa giúp cho kết quả khoa học được thừa nhận ở mọi nơi, giúp giải phóng con người ra khỏi những vấn đề còn mơ hồ, ảo tưởng

Bộ tiểu thuyết Gia đình Rougon – Macquart gồm có 20 tiểu thuyết với

khoảng 1200 nhân vật ở tất cả các tầng lớp xã hội khác nhau nhưng Zola chú ý nhất

là tầng lớp dưới đáy xã hội, coi họ là đối tượng thẩm mĩ chính của văn học Người

thợ là nhân vật chính trong rất nhiều tác phẩm của ông như Quán rượu, Germinal,

Con vật người… Ở đó, những người lao động, dưới ngòi bút chịu ảnh hưởng của

thuyết sinh tiến hóa của Darwin, đã bị mạch ngầm sinh học điều khiển kiểu “con

vật - người” theo quy luật của “chủ nghĩa Darwin xã hội” [61, tr.63], “mạnh được yếu thua”… do sự thúc đẩy của di truyền từ đời này sang đời khác, của bệnh lý thần

kinh, của xung động tình dục, của thú tính… tức là phần sinh lý tự nhiên theo kiểu

“một khi con người về cơ bản là vật chất thì bản chất họ đều giống nhau” [61,

tr.64] Nhà văn còn phải tìm ra được đằng sau những số phận là do ảnh hưởng yếu

tố di truyền, nòi giống Chẳng hạn, anh ta là người mắc bệnh điên, nghiện rượu, chết sớm là vì thế hệ trước của anh ta có người bị như thế Điều này chứng tỏ Zola tin tưởng vào thuyết tiền định sinh vật luận, con người không được tự do lựa chọn cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau cho mình Đây là điểm hạn chế của ông về tư

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (2007), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Lao Động, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2007
2. Barthes, R (Phùng Văn Tửu dịch) (2008), Những huyền thoại, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Barthes, R (Phùng Văn Tửu dịch)
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
3. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn lý luận, tác gia và tác phẩm, (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lý luận, tác gia và tác phẩm, (2 tập)
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
4. Lê Huy Bắc chủ biên (2009), Từ điển văn học nước ngoài, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học nước ngoài
Tác giả: Lê Huy Bắc chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
5. Lê Nguyên Cẩn (2006), Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
6. Lê Nguyên Cẩn (2011), Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Honoré de Balzac, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Honoré de Balzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
7. Lê Nguyên Cẩn (2014), Tiểu thuyết phương Tây thế kỉ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết phương Tây thế kỉ XIX
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
8. Mortimer Chambers, M… (2014), Lịch sử văn minh phương Tây, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh phương Tây
Tác giả: Mortimer Chambers, M…
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2014
9. Thượng Chi dịch (1919), “Lối tả chân trong văn chương – Bàn về văn sĩ Pháp Guy de Maupassant (1850-1893)”, Tạp chí Nam Phong, (21), tr. 194-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối tả chân trong văn chương – Bàn về văn sĩ Pháp Guy de Maupassant (1850-1893)”, "Tạp chí Nam Phong
Tác giả: Thượng Chi dịch
Năm: 1919
10. Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway, Nxb Đại học Quốc gia Tp. HCM, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp. HCM
Năm: 2003
11. Đào Ngọc Chương (2009), Phê bình huyền thoại, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình huyền thoại
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2009
12. Darcos, X (Phan Quang Định dịch) (1997), Lịch sử văn học Pháp, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Pháp
Tác giả: Darcos, X (Phan Quang Định dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1997
13. Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
14. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
15. Đỗ Đức Dục (1972), “Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây từ nửa sau thế kỷ XIX bước sang thế kỉ XX”, Tạp chí Văn học, (3), tr.91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây từ nửa sau thế kỷ XIX bước sang thế kỉ XX”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1972
16. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây (dưới ánh sáng quan điểm Mác-xít), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây (dưới ánh sáng quan điểm Mác-xít)
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
17. Đỗ Đức Dục (2002), Hônôrê Đơ Banzắc – Một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, Nxb Hải Phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hônôrê Đơ Banzắc – Một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 2002
18. Trần Đỗ Dũng (1967), Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại (một quan niệm văn minh mới theo Claude Lévi-Strause), Trình bày xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại (một quan niệm văn minh mới theo Claude Lévi-Strause)
Tác giả: Trần Đỗ Dũng
Năm: 1967
19. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
20. Nguyễn Hồng Đào (1997), Thẩm mỹ học, Nxb Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm mỹ học
Tác giả: Nguyễn Hồng Đào
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w