Nghiên cứu “Vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX 1802 - 1858” là cách “ôn cố tri tân”, lớp người hậu thế rút ra được những bài học quý giá từ trong
Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài, tác giả hướng đến những mục đích nghiên cứu sau:
Th ứ nh ấ t: Làm rõ diện mạo hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
Th ứ hai: Làm sáng tỏ vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu
Long nửa đầu thế kỷ XIX trong bốn vấn đề: xác định đường biên giới, bảo vệ an ninh quốc phòng, khẳng định chủ quyền lãnh thổ; ổn định trật tự xã hội trên vùng đất mới; thúc đẩy phát triển kinh tế và góp phần hình thành nền “văn minh sông nước”
Th ứ ba: Từ việc nghiên cứu vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả đưa ra những so sánh đối chiếu với vai trò của hệ thống kênh đào ở Đông Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguồn tư liệu thành văn sớm nhất đề cập đến kênh đào Đồng bằng sông Cửu Long là các bộ chính sử triều Nguyễn
Thứ nhất: Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục do Viện Sử học dịch, Nhà xuất bản giáo dục Đây là bộ chính sử đồ sộ nhất của triều Nguyễn trong vòng 88 năm (1821 - 1909) bao gồm 10 tập Nội dung mà luận văn tìm hiểu nằm trong 7 tập (từ tập 1 đến tập 7) Đây được xem là nguồn tài liệu gốc phản ánh đầy đủ nhất về hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm những nội dung như: chiếu chỉ, tấu trình của vua quan về việc đào kênh, mục đích, thời gian, quá trình, phương thức và lực lượng đào kênh Đặc biệt, bộ sử này dày đặc những tư liệu về tình hình chiến sự diễn ra dọc bờ kênh Vĩnh Tế Đây là phần nội dung rất quan trọng tác giả kế thừa để chứng minh cho vai trò của kênh đào trong vấn đề quân sự, bảo vệ an ninh quốc phòng Đây cũng là nguồn tài liệu chính tác giả sử dụng làm chuẩn để so sánh với các bộ sử khác khi đề cập đến ở cùng một nội dung Ngoài ra, tác giả cũng thu thập thêm tư liệu về kênh đào ở Trung Bộ và Bắc Bộ để có điều kiện so sánh với kênh đào Đồng bằng sông Cửu Long trong nội dung luận văn
Thứ hai, Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (2005) do Hậu học Lý
Việt Dũng dịch và chú giải, tiến sĩ Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, Nhà xuất bản Đồng Nai Đây là bộ sách địa lí đầu tiên ghi chép về núi sông, con người, phong tục tập quán của vùng đất Nam Bộ Bộ sử bao gồm sáu nội dung lớn đó là Tinh dã chí, Sơn xuyên chí, Cương vực chí, Phong tục chí, Vật sản chí, Thành trì chí Nội dung được tác giả khai thác đó là Sơn xuyên chí, tập trung ở trấn Vĩnh Thanh và trấn Hà Tiên Mô tả của Trịnh Hoài Đức về các con kênh đào này cung cấp các thông tin về thời gian đào, lí do đào, người chỉ huy, lực lượng dân phu, hiệu quả của những con kênh đối với lịch sử xã hội thời bấy giờ Trong tài liệu này, tác giả còn khai thác những tư liệu gián tiếp như những tư liệu chép về sông, núi để từ đó xác định được vị trí và dòng chảy của những con kênh đào nơi đây
Thứ 3, Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (2004),
Viện sử học dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa Đây là bộ sách biên soạn dưới triều Nguyễn theo dạng Hội điển nhằm ghi chép lại các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại Đây được xem là bộ Hội điển có quy mô vào loại đồ sộ nhất trong kho tàng thư tịch viết bằng chữ Hán của Việt Nam Bộ sử bao gồm 7 tập, tác giả sử dụng tư liệu của tập thứ 7 là tập nói về hoạt động của Bộ Công, trong đó tập trung vào mục “Việc phòng sông ngòi” Đây được xem là tài liệu tập hợp đầy đủ toàn bộ những chỉ dụ, chiếu chỉ của các vua nhà Nguyễn tới quần thần và dân chúng về việc khai đào kênh
Thứ 4, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (2006) do Viện
Sử học dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa Bộ sử này gồm 5 tập, tác giả tập trung khai thác tư liệu trong tập thứ 5 là tập nói về Lục tỉnh Nam Kỳ Nhìn chung, mục ghi chép về núi sông có phản ánh về các kênh đào nhưng nội dung khá ngắn gọn, hầu như trích dẫn lại thông tin của Gia Định thành thông chí và Đại Nam thực lục Tuy nhiên, trong bộ sử này có thể tìm thấy và chắt lọc những thông tin về nhân khẩu cũng như các giang trạm, chợ quán, cầu đò, thổ sản của các tỉnh An Giang, Hà Tiên làm tài liệu bổ sung thêm cho luận văn
Những bộ sử liệu này viết đầy đủ những nội dung liên quan đến kênh đào Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, vì là những ghi chép đương thời nên ngay cả bộ phận biên soạn cũng không thể đánh giá hết được vai trò, giá trị và ý nghĩa của hệ thống kênh đào đối với vùng đất này Cách ghi chép dừng ở việc miêu tả chi tiết quá trình đào kênh, nếu có đánh giá vai trò thì cũng chỉ gói gọn trong những câu từ rất súc tích “thực công tư đều lợi” Kế thừa nguồn sử liệu đáng tin cậy bậc nhất này kết hợp với những nghiên cứu của lớp người hậu thế, tác giả muốn tập hợp, hệ thống tư liệu để đưa ra những đánh giá, nhận xét xác đáng về vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
- Kênh đào cũng được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu, chuyên khảo về quá trình khẩn hoang vùng đất Nam Bộ Tựu trung nhất là tác phẩm: Sơn Nam
(1997), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ, Tp.HCM Đọc những phần như
“Nhu cầu xác định vùng biên giới Việt - Miên”, “Nhu cầu chỉnh đốn về nội trị: Những đồn điền chiến lược ở Hậu Giang”, “Làng xóm, điền đất và người dân thời đàng cựu”, tác giả rút tỉa ra được những nhận xét liên quan đến nội dung chính của luận văn Ngoài ra, tác giả còn tiếp cận thêm một số tác phẩm khác như Phan Khoang (1967), Việt sử xứ Đàng trong, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn; Huỳnh Lứa
(1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Tp.HCM, Tp.HCM; Huỳnh Lứa
(2000), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Nxb
KHXH, Hà Nội Tuy nhiên, các nghiên cứu này không xây dựng chủ đề riêng về kênh đào mà lồng ghép vào những nội dung khác Vì thế, nội dung về kênh đào cũng chỉ xoay quanh chủ trương, biện pháp, quá trình đào kênh và một vài phân tích về vai trò của kênh đào Tuy nhiên mức độ còn rời rạc, lẻ tẻ, thường chỉ là vai trò của một con kênh trong một lĩnh vực nào đó, nhiều nhất là kênh Vĩnh Tế với vai trò đảm bảo an ninh quốc phòng, xác lập chủ quyền lãnh thổ
- Trong một số tài liệu viết về những nhân vật lịch sử như Lê Văn Duyệt, Thoại Ngọc Hầu cũng đề cập đến vấn đề trên Nguyễn Văn Hầu (2000), Thoại Ngọc
Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, Nxb Trẻ, Tp.HCM; Như Hiên
Nguyễn Ngọc Hiền (1997), Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Nxb Văn Học; Tạp chí Xưa và Nay (2008), Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, Văn hóa Sài Gòn,
Tp.HCM Các tác phẩm này làm sáng rõ công trạng của những bậc khai quốc công thần của nhà Nguyễn trên mảnh đất Nam Bộ, trong đó có công lớn trong việc đốc suất đào các con kênh lớn ở miền Tây Nam Bộ
- Tác giả cũng tiếp thu khá nhiều nghiên cứu của Phan Khánh trong hai tài liệu “Nam Bộ 300 năm làm thủy lợi” xuất bản năm 2004 và “Đồng bằng sông Cửu
Long - Lịch sử và lũ lụt” xuất bản năm 2001 Với tư cách là một nhà khoa học thủy lợi nghiên cứu hệ thống kênh đào dưới góc độ lịch sử, Phan Khánh đã cung cấp cho tác giả một cái nhìn tổng quan hết sức khoa học về điều kiện tự nhiên, sông ngòi, chế độ lũ lụt, thủy triều của đồng bằng sông Cửu Long, trên nền đó để làm cơ sở cho việc nghiên cứu hệ thống kênh đào ở đây
- Những công trình của các nhà nghiên cứu Nguyễn Công Bình, Mạc Đường,
Lê Xuân Diệm về những vấn đề dân tộc, tôn giáo, kinh tế, xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long từ quá khứ đến hiện tại cũng ít nhiều cung cấp nội dung liên quan đến luận văn của tác giả Nguyễn Công Bình (1995), Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và phát triển, Nxb KHXH, Hà Nội; Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm,
Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb KHXH,
- Ngày nay, nhiều Hội thảo khoa học đã được tổ chức để đánh giá đúng đắn hơn về vai trò của hệ thống kênh đào cũng như những giá trị tích cực của nó trong giai đoạn hiện tại Đáng lưu ý nhất là Hội thảo “Lịch sử hình thành và phát triển kênh Vĩnh Tế” do Viện KHXH tại TP.HCM phối hợp với tỉnh ủy, UBND tỉnh An Giang tổ chức vào năm 1999, Hội thảo “Lịch sử hình thành vùng đất An Giang” tổ chức tại An Giang năm 2000 Những Hội thảo này cung cấp nhiều thông tin về hệ thống kênh đào, đặc biệt giúp tác giả tìm được những thông tin về giá trị của hệ thống kênh đào đối với giai đoạn hiện tại ở hai vùng đất An Giang và Hà Tiên
- Mảng đề tài này cũng đã được nghiên cứu trong luận văn của học viên Phạm Đức Hảnh (2009), Lịch sử kênh đào Nam Bộ thời nhà Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn này rộng hơn so với đề tài luận văn của tác giả về cả mặt thời gian và không gian Luận văn của học viên Phạm Đức Hảnh đi sâu trình bày về lịch sử hình thành hệ thống kênh đào trong khi luận văn của tác giả lại đi sâu nghiên cứu một vấn đề: đó là vai trò của hệ thống kênh đào Trong nội dung về lịch sử hình thành các con kênh, tác giả đã kế thừa và tham khảo, đối chiếu nhiều nguồn tài liệu, trong đó có luận văn này để hệ thống hóa tư liệu, sắp xếp theo từng mảng vấn đề một cách đầy đủ và chi tiết Riêng đối với nội dung: vai trò của hệ thống kênh đào, vì không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên đề tài Lịch sử kênh đào Nam Bộ thời nhà Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX của Phạm Đức Hảnh trình bày khá sơ lược Còn trong đề tài Vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả đi sâu phân tích bối cảnh, tiền đề dẫn đến việc định hình những vai trò trên của kênh đào và chứng minh những vai trò đó qua nhiều cứ liệu lịch sử cụ thể Tác giả cũng bước đầu đưa ra những so sánh về lợi ích của kênh đào Đồng bằng sông Cửu Long với kênh đào Đông Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ, đồng thời rút ra những đặc điểm về hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX Đây là những nội dung mà trong luận văn của học viên Phạm Đức Hảnh chưa đề cập tới
Đóng góp của đề tài
Đề tài “Vai trò c ủ a h ệ th ống kênh đào ở Đồ ng b ằ ng Sông C ử u Long n ử a đầ u th ế k ỷ XIX (1802 - 1858)” khi nghiên cứu xong có những đóng góp cụ thể sau đây:
- Luận văn là nguồn tài liệu tập hợp đầy đủ về tất cả những nội dung liên quan đến kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX một cách hệ thống nhất Do đó, nó sẽ trở thành công cụ tra cứu hữu hiệu cho những ai quan tâm đến mảng đề tài này
- Kênh đào thể hiện tầm nhìn chiến lược của nhà Nguyễn đối với vùng đất Nam Bộ Do đó, nghiên cứu đề tài này cũng góp thêm vào những đánh giá về vai trò, công lao của vương triều Nguyễn - vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam
- Bước đầu đưa ra những so sánh giữa lợi ích của hệ thống kênh đào Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX với kênh đào Đông Nam Bộ, Trung Bộ và
Bắc Bộ Qua đó khẳng định được vai trò ưu việt của hệ thống kênh đào đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương, phương pháp định lượng, phương pháp định tính
7 Kết cấu nội dung của đề tài: Đề tài ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 Hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2 Hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long trước 1802
1.3 Hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 2 Vai trò của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỉ XIX
2.1 Kênh đào với vai trò bảo vệ an ninh quốc phòng, xác lập chủ quyền lãnh thổ
2.2 Kênh đào với vai trò ổn định trật tự xã hội trên vùng đất mới
2.3 Kênh đào với vai trò phát triển kinh tế
2.4 Kênh đào với vai trò hình thành nền văn minh sông nước
Chương 3 Một vài nhận xét về hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
3.1 So sánh lợi ích của kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX với kênh đào Đông Nam Bộ, Trung Bộ, Bắc Bộ
3.2 Đặc điểm của hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long nửa đầu thế kỷ XIX
3.3 Giá trị của kênh đào trong giai đoạn hiện tại
CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG KÊNH ĐÀO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long ôm trọn phần đất của mười hai tỉnh và một thành phố: Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ Tổng diện tích khoảng 39.000 km vuông, chiếm 12% diện tích cả nước [31, tr.22] Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện thiên nhiên ưu đãi, đặc biệt là chế độ thủy văn cực kì thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp
Hệ thống sông lớn nhất của vùng là sông Mê Kông, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy qua Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia và cuối cùng là Việt Nam Phần chảy qua Nam Bộ dài 250 km theo hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang rồi đổ ra biển qua chín cửa, có chỗ rộng đến 2, 3 ngàn mét [65, tr.57] Lượng nước trung bình hàng năm của sông Cửu Long khoảng 4.000 tỷ mét khối nước và cung cấp khoảng 100 triệu tấn phù sa cho đồng bằng [65, tr.65] Diện tích đất phù sa này trải rộng đến 39.950 km vuông [65, tr.64] Vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long giàu nhất nước chính là nhờ khối lượng phù sa tập trung rất cao dọc các sông chứ không phân rải như trong hệ thống sông Hồng
Ngoài sông chính này, nơi đây còn có một hệ thống sông nữa đó là các sông nhỏ ở phía Nam miền Tây Nam Bộ, đổ ra Vịnh Thái Lan Đó là các sông Giang Thành (cũng gọi là Kiên Giang), sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Mỹ Thanh, sông Ông Đốc, sông Cửa Lớn, sông Gành Hào, sông Bảy Háp, sông Trèm Trẹm, sông Cái Tàu… Đồng bằng sông Cửu Long còn có một đặc điểm thủy văn rất đặc biệt có lợi cho phát triển nông nghiệp nữa là lũ Lũ vào đến Đồng bằng sông Cửu Long khá hiền, tránh được yếu tố bất ngờ nguy hiểm Lũ về mang một lượng phù sa màu mỡ bồi đắp cho đồng bằng, giúp thau chua rửa mặn, dẫn ngọt để phục vụ sản xuất Lũ về đồng thời cũng mang lại nhiều nguồn lợi thủy hải sản cho cư dân nơi đây
Bên cạnh chế độ thủy văn ưu đãi, Đồng bằng sông Cửu Long còn có khí hậu tương đối ổn định và luôn ở mức cao Đây cũng là nơi ít xảy ra thiên tai như bão, hạn hán
Như vậy, phù sa màu mỡ, lượng nước khổng lồ, nền nhiệt độ cao, mưa lũ điều hòa là những điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển kinh tế Tuy nhiên, thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long cũng mang nhiều hiểm họa khôn lường Đó là tình trạng nhiễm phèn, nhiễm mặn trên một diện tích lớn, ngập nước kéo dài trong mùa lũ và thiếu nước trầm trọng trong mùa khô Tất cả đều là những thách thức cho những ai muốn khai phá và chinh phục vùng đất này vào buổi đầu
Khảo cổ học đã chứng minh rằng, cho đến đầu Công nguyên, con người đã bắt đầu xuất hiện và cư trú ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Với trình độ kĩ thuật khá phát triển, những lớp cư dân đã dần dà xây dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh với đô thị cảng Óc Eo - Ba Thê sầm uất Tuy nhiên, cho đến cuối thế kỷ VII, vương quốc Phù Nam sụp đổ Từ đó cho tới thế kỷ XVI, vùng đất này về cơ bản là vùng đất hoang dã, chưa được mở mang khai phá
Từ khoảng thế kỷ XIV, nơi đây tiếp nhận lớp cư dân mới, đó là người Khmer từ Chân Lạp xuống Lớp cư dân này chưa đủ sức tạo ra những thay đổi cho diện mạo của vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long cho đến khi người Việt tìm đến khai mở và sinh sống
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, một bộ phận cư dân người Việt phiêu tán từ miền Bắc, miền Trung lần lượt tìm đến Đồng bằng sông Cửu Long Bộ phận này có mặt ngày càng đông góp phần thay đổi dần khung cảnh hoang vu của vùng đồng bằng trũng thấp, đầy rẫy thú dữ, muỗi mòng Sự có mặt của cư dân người Việt được hợp thức hóa từng bước qua việc khẳng định chủ quyền của các chúa Nguyễn đối với vùng đất mới từ các mối quan hệ chính trị - ngoại giao giữa chính quyền phong kiến họ Nguyễn và chính quyền phong kiến Chân Lạp Điều này đến lượt nó lại trở thành một đảm bảo chắc chắn cho quá trình khai phá, tạo dựng cuộc sống của các tầng lớp cư dân Việt trên vùng đất mới Bên cạnh lớp cư dân người Việt là chủ đạo còn có một vài thành phần dân tộc khác như Hoa, Chăm, Khơme và một số người thuộc quốc tịch khác như Pháp, Anh, Macao, Giava, Ấn Độ
Khi đặt chân lên vùng đất mới, lớp lưu dân thường cư trú trước tiên ở những giồng đất cao ven sông, là những nơi có điều kiện khai phá tương đối thuận lợi, có nước ngọt dùng cho sinh hoạt và trồng trọt Bên cạnh các giồng đất cao ven sông, vùng đất ven núi và vùng cao ven biển nơi có những cửa sông tốt cũng được khai phá sớm
Có thể phác họa bước chân khai phá của lớp cư dân người Việt trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long như sau: trong các thế kỷ XVIII - XIX, lưu dân người Việt lần lượt đến định cư và khai khẩn ở bờ sông Vàm Cỏ Tây, bờ bắc sông Tiền và các cù lao nơi cửa sông Tiền Ở ven Đồng Tháp Mười, ven Tứ giác Long Xuyên nơi có những giồng cao, lưu dân cũng đã tới đây và trụ lại Khu vực bờ nam sông Tiền, đầu thế kỷ XVII, một bộ phận lưu dân người Việt trong đó phần lớn là tín đồ Đạo Thiên Chúa ở miền ngoài lánh nạn cấm đạo đến khai khẩn và sinh sống ở đây Ở khu vực ven biển phía Tây Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau), từ cuối thế kỷ XVII trở đi, lưu dân người Việt và người Hoa cũng đến sinh tụ Ở vùng hữu ngạn sông Tiền qua đến sông Hậu, lưu dân đến ở và khai khẩn chưa nhiều do điều kiện thiên nhiên ở đây không thuận lợi Họ chỉ sống rải rác ở một số nơi như Châu Đốc, Sa Đéc, Tân Châu
Sang thế kỷ XIX, áp lực của việc gia tăng dân số liên tục đã khiến cho những vùng đất trước đây còn hoang vắng thì nay lần lượt có người đến ở và khai phá Đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ XIX, lưu dân người Việt xâm nhập càng lúc càng mạnh vào vùng đất nằm về phía Nam sông Hậu như vùng Long Xuyên, Rạch Giá sau khi một số con kênh lớn như Thoại Hà, Vĩnh Tế được khai đào cạn, lênh đênh lơ lửng, thuyền to đến đây phải đợi nước triều lên mới đi lại được Tình trạng xuống cấp này của con kênh được phản ánh rất rõ qua sách Gia Định Đến với vùng đất mới, những lớp cư dân Việt - Hoa - Khmer đã sớm thích ứng với điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng, chung lưng đấu cật khai phá vùng đất mới, biến vùng đất hoang sơ, sình lầy, thú dữ trở thành vùng kinh tế phát triển và chứa đựng nhiều tiềm năng
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản thuận lợi cho phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp trồng lúa nước Tuy nhiên, khu vực này cũng tồn tại nhiều yếu tố khó khăn như nhiều vùng còn ngập mặn, nhiễm phèn, ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô Đây còn là nơi sinh sống của thú dữ, gây nguy hiểm cho con người và nông nghiệp như sâu bọ, rắn rết, hổ, cá sấu…Đó là tất cả những thuận lợi và khó khăn mà những lớp tiền nhân người Việt đã đón nhận và gặp phải trong quá trình khai phá vùng đất mới
1.2 Hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long trước 1802
Cư dân Nam bộ cách nay trên dưới hai ngàn năm đã khai đào hàng trăm cây số đường nước ở Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Các cuộc khai quật từ thời L.Malleret (1944) đã tìm thấy dấu tích khoảng 30 “đường nước cổ” với chiều dài trên 200 km là các kênh đào ngang dọc ở vùng thấp trũng Tứ giác Long Xuyên
[107, tr.9] Đây vừa là hệ thống đường giao thông lợi dụng thủy triều ra vào cảng thị Óc Eo, vừa là hệ thống thủy lợi thoát nước trong mùa nước nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long Nhìn chung các đoạn kênh đào cổ đều rất thẳng Con kênh đào dài nhất gần 90 km chạy theo hướng nam - bắc, từ thương cảng Óc Eo qua vùng Lò Mo gần núi Sam đến Angkor Borei, nối với những trung tâm thành thị lớn Angkor Borei (Campuchia) ở phía Bắc với di chỉ Óc Eo ở phía Nam [107, tr.9] Con kênh rộng nhất gần 28 km nối giữa kênh đào Ba Thê ở phía đông đến kênh thành cổ Sdachao giữa vùng Thất Sơn phía tây [107, tr.9] Dấu tích các đường nước này đã hình thành một mạng lưới đan xen, lan tỏa, nối liền khu vực này với biển, với khu vực núi, giữa các khu vực cư trú với nhau Những thành thị như: Óc Eo, Nền Chùa, Nền Vua được nối với nhau bằng những con kênh và cùng nối với kênh chính, chạy dọc miền tây sông Hậu theo hướng đông - tây