1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trung ương cục miền nam chỉ đạo quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1973 1975)

180 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu Quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1973 – 1975 của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi giòn giã đã thể hiện nghệ thuật chỉ đạo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Cao học Lịch sử Đảng Khóa 2014 - 2016

TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỈ ĐẠO QUÁ TRÌNH KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1973 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TÔ THỊ HẠNH NHÂN

Cao học Lịch sử Đảng Khóa 2014 - 2016

TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỈ ĐẠO QUÁ TRÌNH KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1973 – 1975)

Luận văn Thạc sĩ ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Hà Minh Hồng

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Minh Hồng

Tất cả các số liệu trình bày trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận văn

Tô Thị Hạnh Nhân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhận thức là một quá trình Việc hoàn thành Luận văn này cũng là một quá trình suy tư, trăn trở, tìm tòi của tác giả Trong quá trình gian nan đó, không thể thiếu được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân và tổ chức sau:

Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới PGS.TS.Hà Minh

Hồng, người đã định hướng đề tài và giúp đỡ, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận văn, từ những ý tưởng trong đề cương nghiên cứu đến

việc hoàn thiện toàn bộ Luận văn Thứ hai, tác giả xin cảm ơn quý thầy cô

Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã khai sáng cho tác giả nhiều kiến thức quý báu

về các vấn đề lịch sử nói chung và lịch sử Đảng nói riêng Thứ ba, tác xin

cảm ơn Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia

II, Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Thư viện các trường: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu và khảo sát thực tế

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng việc tổng kết sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) là một việc làm không hề dễ dàng so với trình độ và thời gian của tác giả Vì vậy, chắc chắn Luận văn sẽ còn nhiều thiếu sót, tác giả mong nhận được những góp ý của quý thầy cô và bạn đọc

Tô Thị Hạnh Nhân Lớp Cao học Lịch sử Đảng khóa 2014 - 2016

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

5 Đóng góp của Luận văn 10

6 Kết cấu của Luận văn 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM VÀ GIAI ĐOẠN KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 11

1.1 Quá trình ra đời, củng cố và hoạt động của Trung ương Cục miền Nam 11

1.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ sau Hiệp định Paris 1973 đi vào giai đoạn kết thúc……… 20

Tiểu kết Chương 1 27

CHƯƠNG 2 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN KHÁNG CHIẾN TỪ SAU HIỆP ĐỊNH PARIS ĐẾN NGÀY KẾT THÚC THẮNG LỢI 30-4-1975 29

2.1 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris 29

2.1.1 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo chuyển hướng đấu tranh sau Hiệp định Paris 29

2.1.2 Hoạt động chỉ đạo đối phó với tình hình địch vi phạm Hiệp định Paris và chống phá bình định lấn chiếm 34

2.2 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo hoạt động xây dựng lực lượng chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng miền Nam 44

2.2.1 Xây dựng khu giải phóng và căn cứ địa 45

2.2.2 Công tác hậu cần và tiếp nhận chi viện từ hậu phương 48

2.2.3 Công tác huấn luyện cán bộ và bộ đội các địa phương 52

2.2.4 Xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực và hình thành các binh đoàn 55

2.2.5 Xây dựng lực lượng chính trị chuẩn bị cho nổi dậy 59

2.3 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo phối hợp kịp thời và toàn diện trong Đại thắng mùa xuân 1975 65

Trang 6

2.3.1 Chỉ đạo phối hợp hoạt động trong các chiến dịch mùa khô 1974 – 1975 65

2.3.2 Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Cục miền Nam (29-3-1975) 69

2.3.3 Chỉ đạo phối hợp thực hiện tổng tiến công và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh 73

Tiểu kết Chương 2 87

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 90

3.1 Kết quả chỉ đạo thực tiễn trong giai đoạn kết thúc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973-1975) 90

3.1.1 Những thắng lợi dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) 90

3.1.2 Nguyên nhân thắng lợi 96

3.2 Bài học rút ra từ sự chỉ đạo quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Trung ương Cục miền Nam 118

3.2.1 Bài học về sự vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào thực tế chiến trường 118

3.2.2 Bài học về công tác tổ chức của Đảng ở chiến trường 122

3.2.3 Bài học về xây dựng tổ chức hành chính - quân sự trong chiến tranh 128

Tiểu kết Chương 3 136

KẾT LUẬN……… 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

PHỤ LỤC… 159

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi giòn giã đã thể hiện nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng tài tình, mưu lược của Đảng, trong đó có vai trò quan trọng của Trung ương Cục miền Nam – cơ quan lãnh đạo cao nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại chiến trường Nam Bộ

Sức mạnh phải tập trung, muốn tập trung cần có tổ chức Trung ương Cục miền Nam là tổ chức góp phần to lớn kiến tạo nên thành công của ngày toàn thắng 30-4-1975 Sự ra đời, củng cố và ngày càng phát triển của cấp bộ Đảng này là một tất yếu khách quan, đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách cần phải có một cơ quan lãnh đạo giữa chiến trường, phải có một bộ máy đầu não tại chỗ, phải có một tổ chức thống nhất giữa Trung ương với các chiến trường Nam Bộ

Trong chỉ đạo quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975), Trung ương Cục miền Nam không chỉ quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, đường lối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị mà còn chủ động bổ sung, làm phong phú, hoàn thiện kế hoạch chỉ đạo của Trung ương; không chỉ chấp hành mệnh lệnh cấp trên mà còn đưa mệnh lệnh đó vào thực tiễn chiến trường một cách sinh động, không giáo điều, xơ cứng; không chỉ xây dựng được một tập thể thống nhất, đoàn kết, muôn người như một mà còn rèn luyện nên một đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt táo bạo, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân trong những năm tháng hối hả tiến về đích

Nghiên cứu một cách thấu đáo về cơ quan lãnh đạo của Đảng ở chiến trường miền Nam giúp chúng ta nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc về nghệ thuật lãnh đạo chiến tranh cách mạng, về công tác tổ chức của Đảng trong những năm tháng kết thúc cuộc chiến Từ đó, giúp chúng ta không chỉ thấy nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này rất rộng lớn và bao quát mà còn thấy được sự phát triển sáng tạo về công tác tổ chức của Đảng trong thời kỳ hoàn thành triệt để các nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Quyết định thành lập và không

Trang 8

ngừng củng cố, nâng cấp cơ quan này thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam bởi sự ra đời của Trung ương Cục miền Nam

đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Vì lẽ đó, tác giả chọn vấn đề “Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1973 – 1975)” làm đề tài Luận văn nhằm góp phần khẳng định quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; chứng minh cơ quan này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình trong việc chỉ đạo triển khai trực tiếp đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn kết thúc Từ đó, chỉ ra rằng Trung ương Cục miền Nam đã để lại những bài học quý báu trong trong sự nghiệp cách mạng của Đảng hiện nay

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm rõ sự chỉ đạo và phối hợp chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng

ở miền Nam của Đảng từ năm 1973 đến năm 1975 Từ đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong giai đoạn hiện nay Để đạt được mục đích đó, Luận văn có các

nhiệm vụ sau: Một là, làm rõ tình hình cách mạng miền Nam sau Hiệp định Paris và

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi vào giai đoạn kết thúc;

Hai là, trình bày và phân tích có hệ thống quá trình chỉ đạo, phối hợp chỉ đạo từ sau

ngày Hiệp định Paris được chính thức ký kết cho đến ngày kết thúc thắng lợi; Ba là,

phân tích, đánh giá những thắng lợi dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam cùng với nguyên nhân của những thắng lợi ấy, từ đó chỉ ra một số bài học kinh nghiệm trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) đã có các công trình nghiên cứu sau:

2.1 Sách và hồi ký lịch sử

Năm 1992, cuốn Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng: Tập 1: Hòa

bình hay chiến tranh, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, của thượng tướng

Trang 9

Trần Văn Trà đã phản ánh những giai đoạn lịch sử của B2 - địa bàn chiến lược gồm chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung bộ và Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng, Quảng Đức, Tuyên Đức) Qua đó cho thấy B2 luôn là hướng chiến lược trọng điểm, ác liệt nhất trên chiến trường miền Nam, nơi giằng co quyết liệt giữa ta và địch Chính tại chiến trường nóng bỏng đó đã thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng,

mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam

Năm 2001 - Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng 6-1912 – 11-6-2002), Tỉnh ủy Vĩnh Long cùng với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

(11-tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách Chân dung người cộng sản chân chính

Phạm Hùng Cuốn sách tập hợp những bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và

Nhà nước, các đồng chí lão thành cách mạng và bạn bè đương thời, các nhà văn, nhà báo cùng cán bộ, chiến sỹ đã cùng đồng chí trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong thời kỳ xây dựng đất nước; đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã làm nổi bật chân dung của đồng chí Phạm Hùng khi được Trung ương và nhân dân giao phó trọng trách lịch sử là Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Bí thư Quân ủy Miền và Chính ủy các lực lượng vũ trang miền Nam Qua hoạt động chỉ đạo thực tiễn của cá nhân đồng chí Bí thư, chúng ta có thể thấy được vai trò của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 -1975)

Năm 2005, cuốn Lịch sử Văn phòng Trung ương Cục miền Nam, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã tái hiện những chặng đường mà cơ quan này đã trải qua: 1961 – 1965, 1965 – 1968, 1968 – 1973 và 1973 – 1975 Từ đó, cuốn sách nêu lên những đóng góp và một số kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của cơ quan này từ năm 1961 đến năm 1975, góp phần khẳng định vai trò trọng yếu của Văn phòng Trung ương Cục trong quá trình chỉ đạo thành công chiến tranh cách mạng của Trung ương Cục miền Nam, nhất là từ năm 1973 đến năm 1975

Năm 2005 – nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất

đất nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn Về đấu tranh thống

nhất nước nhà, trong đó, có bài viết “Trung ương Cục miền Nam với sự nghiệp

cách mạng giải phóng miền Nam” của GS.TS.Trịnh Nhu và “Văn phòng Trung

Trang 10

ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ” của đồng chí Tô Bửu Giám – nguyên Phó Chánh Văn phòng Trung ương Cục miền Nam Hai bài viết trên đã nêu lên những đóng góp cụ thể và toàn diện của Trung ương Cục miền Nam nói chung

và Văn phòng Trung ương Cục miền Nam nói riêng trong suốt mười lăm năm tồn tại và phát triển Từ đó, các tác giả chỉ ra những đóng góp cụ thể, những cống hiến thầm lặng của Trung ương Cục miền Nam, của Văn phòng Trung ương Cục miền Nam cho thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất non sông Năm 2007 – Nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng (11-

6-1912 – 11-6-2007), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách Phạm

Hùng – Tiểu sử Cuốn sách đã phản ánh rất chi tiết các hoạt động chỉ đạo của đồng

chí trên cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Quân ủy Miền, Chính

ủy Bộ tư lệnh chiến trường B2 từ năm 1967 đến năm 1975 và Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh Từ đó khẳng định những đóng góp quan trọng của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng

Năm 2008, cuốn Nam Bộ 1945 - 1975 - Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh

cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh của

PGS.TS.Hà Minh Hồng đã làm nổi bật vị trí chiến lược quan trọng của chiến trường Nam Bộ, đồng thời tác giả đã làm rõ đó là chiến trường mở đầu và chiến trường quyết định kết thúc chiến tranh cách mạng Việt Nam

Năm 2010, cuốn Lịch sử xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 –

1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Quý chủ biên

đã miêu tả những chặng đường lịch sử hào hùng của cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam

Năm 2010, cuốn Căn cứ địa Bắc Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản đã làm sáng tỏ được vai

trò lịch sử của căn cứ địa Bắc Tây Ninh – địa bàn đứng chân lâu dài của Trung ương Cục miền Nam

Năm 2010, Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến xuất bản

bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, trong tập “Biên niên sự kiện Nam Bộ kháng

chiến 1945 – 1975” đã phản ánh những chặng đường lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ

Trang 11

và Trung ương Cục miền Nam, trong đó có chặng đường từ năm 1973 đến năm

1975

Năm 2012, cuốn Tiểu ban giáo dục R - một thời để nhớ của Ban liên lạc truyền

thông Tiểu ban Giáo dục miền Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Tiểu ban Giáo dục R được thành lập tháng 10-1962 thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, có chức năng làm tham mưu cho Trung ương Cục miền Nam, đề xuất chủ trương, đường lối, nhiệm vụ công tác giáo dục cách mạng từng thời điểm cụ thể

và cả định hướng lâu dài Qua cuốn sách, chúng ta thấy được những hy sinh, gian khổ không làm thui chột ý chí cách mạng của các thầy cô giáo, vượt lên tất cả, các thầy cô vẫn duy trì và phát triển giáo dục trong điều kiện chiến tranh vô cùng ác liệt Nhờ đó, Tiểu ban Giáo dục R nói riêng và Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam nói chung đã góp phần hết sức quan trọng vào quá trình chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Cục miền Nam

Năm 2014, cuốn Công tác bảo vệ Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Nhà xuất bản Công an Nhân dân,

đã tái hiện một thời gian khó, hiểm nguy mà hết sức vẻ vang của lực lượng an ninh (chủ công là Đoàn 180 An ninh vũ trang) làm công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo

và khu căn cứ Xứ ủy Nam Bộ, sau đó là Trung ương Cục miền Nam với từng chặng đường: 1954 – 1960, 1961 – 1972 và 1973 – 1975 Qua đó, cuốn sách cho chúng ta thấy được sứ mệnh lịch sử của Trung ương Cục miền Nam được hoàn thành là kết quả nỗ lực toàn diện của các cơ quan chuyên môn thuộc Trung ương Cục miền Nam, trong đó có Ban An ninh Trung ương Cục

Các cuốn lịch sử về chiến tranh giải phóng của các Quân khu 6, 7, 8 và 9; Lịch

sử một số đảng bộ các tỉnh, thành phố phía Nam như Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn –

Gia Định kháng chiến (1945 – 1975), Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1954 – 1975), Lịch sử Đảng

bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1930 – 1975, Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Bình Dương,… đã

phản ánh cụ thể sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với các khu ủy, tỉnh

ủy trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 12

Hồi ký của đồng đội về các đồng chí trong Bộ Chính trị, các đồng chí từng công tác tại Trung ương Cục miền Nam, của Chính ủy và Tư lệnh các quân khu 6,7, 8, 9

như Lê Duẩn – một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng

Việt Nam; Nhớ anh Lê Đức Thọ; Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - 30.4.1975 Bản hùng ca thế kỷ XX; Hồi ký cách mạng của Hà Huy Giáp – nguyên

Ủy viên Trung ương Cục với tựa đề Đời tôi – Những điều nghe, thấy và sống; Chiến

dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các tư lệnh và chính ủy; Đại tướng Lê Đức Anh; Nhớ

về chiến trường Khu 6 – Hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên; Con đường tôi đã chọn của Trung tướng Lê Văn Tưởng (Lê Chân)…đã làm rõ thêm một

số vấn đề xung quanh sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam với những sự kiện

cụ thể, tên đất, tên người, sự vật, sự việc rất sát thực, sống động, tươi nguyên, phong phú

2.2 Các luận văn và bài báo

Về luận văn, năm 1996, Luận văn Thạc sĩ của Ngô Quang Ty Tổng tấn công và

nổi dậy của quân và dân Sài Gòn – Gia Định trong Chiến dịch Hồ Chí Minh,

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, đã làm sáng tỏ vai trò lịch sử của quân và dân Sài Gòn – Gia Định trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam

Năm 1998, đề tài cấp Bộ Những sự kiện hoạt động của Trung ương Cục miền

Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1961 – 1975 do GS.TS.Trịnh Nhu làm

chủ nhiệm đã miêu tả hết sức cụ thể các sự kiện liên quan trực tiếp đến sự chỉ đạo cách mạng của Trung ương Cục miền Nam từ khi được tái lập ngày 23 tháng 1 năm

1961 đến lúc giải thể vào tháng 9 năm 1975

Năm 2012, luận văn Thạc sĩ Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo phong trào

đấu tranh của phụ nữ từ năm 1969 đến năm 1975 của Lưu Thị Mai Liên do

PGS.TS.Vũ Quang Hiển hướng dẫn, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hướng dẫn đã bước đầu tổng hợp và phân tích được một số chủ trương chính sách của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam trong quá trình lãnh đạo phong trào phụ nữ từ năm 1969 đến năm

Trang 13

1975; bước đầu trình bày một cách có hệ thống phong trào đấu tranh của phụ nữ miền Nam trên các mặt trận chính trị, quân sự, binh vận và ngoại giao từ năm 1969 đến năm 1975; rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo và chỉ đạo phong trào đấu tranh của phụ nữ từ năm

1969 đến năm 1975 và vận dụng vào công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới

Năm 2015, luận văn Thạc sĩ lịch sử Việt Nam Hoạt động của Ban Tài Chính đặc

biệt Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965 –

1975 của Lưu Thị Tuyết Trinh do TS Nguyễn Đình Thống hướng dẫn, Khoa Lịch

sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã làm rõ vai trò của Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục (tiền thân là Ban Tài chính của Xứ ủy Nam bộ và Ban Kinh tế tài chính Trung ương Cục) cũng như hoạt động kinh tài trong đường lối cách mạng của Đảng ở miền Nam; đồng thời làm rõ tư duy sáng tạo, sự chỉ đạo công tác kinh tế - tài chính sát với thực tiễn của Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ

Về bài báo, năm 2004, GS.TS Nguyễn Trọng Phúc có bài viết Trung ương

cục miền Nam - Sự ra đời và sứ mệnh lịch sử, Tạp chí Lịch sử Đảng số 11, tr.12-17;

Năm 2004, GS Trịnh Nhu với bài Thành tựu hoạt động, kinh nghiệm lãnh đạo của

xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước,

Tạp chí Lịch sử Đảng số 12, tr.19-27; Năm 2005, Phạm Hương Lan với Trung ương

Cục Miền Nam - nhìn từ công tác xây dựng Đảng, Tạp chí Giáo dục lý luận số 4,

tr.7-12; Năm 2007, Nguyễn Bình với Trung ương Cục miền Nam - một thành công

của Đảng về tổ chức và lãnh đạo chiến tranh cách mạng, Tạp chí Lịch sử quân sự

số 2, tr.11-15; Năm 2014, Trần Thị Nhẫn với Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo

Trang 14

Nam, làm nổi bật thành công của mô hình Xứ ủy, Trung ương Cục trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng

Tóm lại, trong các công trình trên, sự chỉ đạo và sự phối hợp chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được phản ánh ở những mức độ khác nhau với các cách tiếp cận ở từng lĩnh vực khác nhau Cho đến nay, vẫn chưa có công trình lịch sử nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về sự chỉ đạo kịp thời và toàn diện của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) Tuy nhiên, những công trình trên thực sự là nguồn tài liệu hữu ích giúp tác giả soi sáng con đường nghiên cứu của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu sự chỉ đạo, phối hợp chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) thông qua hệ thống các nghị quyết, chủ trương, chỉ thị, thông tri, điện cũng như hoạt động chính trị thực tiễn của tổ chức này

b Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Trung ương Cục miền Nam quán triệt các Nghị quyết của

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, của Bộ Chính trị về cách mạng miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) để đề ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác, chỉ đạo cụ thể quá trình kết thúc chiến tranh trên chiến trường được phân công

Đó là Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris; chỉ đạo hoạt động xây dựng lực lượng chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng miền Nam; chỉ đạo phối hợp kịp thời và toàn diện trong Đại thắng mùa Xuân

1975

Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu Trung ương Cục miền Nam trong

quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1973 đến năm

1975

Trang 15

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu địa bàn Nam Bộ và các khu vực

thuộc phạm vi phụ trách của Trung ương Cục miền Nam theo sự phân công của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với các yêu cầu có tính nguyên tắc phương pháp luận: Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử - cụ thể Về phương pháp nghiên cứu, hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Các phương pháp hỗ trợ gồm thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp,

đi thực địa khu di tích có liên quan đến đề tài Phương pháp liên ngành gồm khu vực học, địa lí quân sự, chính trị học

Về nguồn tư liệu, nhìn chung nguồn tư liệu của đề tài rất đa dạng, trong đó

Luận văn sử dụng bốn nguồn chính sau đây: Thứ nhất, các nghị quyết, chỉ thị, báo

cáo, của Trung ương Cục miền Nam được lưu trữ chủ yếu tại phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7 và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, và các văn bản của Trung ương Cục miền Nam đã được công bố trong Văn kiện Đảng Toàn tập Đây được coi

là nguồn tài liệu phản ánh trực tiếp quá trình chỉ đạo thực tiễn chiến tranh cách

mạng của Trung ương Cục miền Nam Thứ hai, tài liệu của đối phương nghiên cứu

về Trung ương Cục miền Nam ngay từ khi Trung ương Cục được thành lập đầu

năm 1961 được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II Thứ ba, sách Lịch sử đảng

bộ các tỉnh, thành phố ở miền Nam đã xuất bản; các tư liệu, tài liệu, ý kiến , hồi ký của các đồng chí lãnh đạo, các nhân chứng lịch sử, các Tư lệnh và Chính ủy trực tiếp chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh và năm cánh quân đánh vào Sài Gòn có liên quan đến đề tài luận văn Nguồn tài liệu này liên tục được bổ sung từ trong và sau

chiến tranh đến nay Thứ tư, các bài viết trên ba tạp chí chuyên ngành là Nghiên cứu

Lịch sử, Viện Lịch sử Quân sự, Viện Lịch sử Đảng; các kỷ yếu hội thảo khoa học; các bài viết gần đây trên các Website với những góc nhìn mới, cách tiếp cận mới Nguồn tài liệu này hình thành sau chiến tranh và ngày càng phong phú

Trang 16

5 Đóng góp của Luận văn

Ý nghĩa khoa học của Luận văn: Kết quả của luận văn làm sáng tỏ những

hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và toàn diện của Trung ương Cục miền Nam trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975) Từ

đó, khẳng định tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần chủ động sáng tạo trong chỉ đạo, trong phối hợp chỉ đạo thực tiễn chiến tranh của Trung ương Cục miền Nam Trên

cơ sở đó, Luận văn góp phần khẳng định quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đồng thời giúp chúng ta

có cái nhìn vừa toàn diện vừa cụ thể về nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhận diện được những bài học kinh nghiệm quý giá trong quá trình xây dựng Đảng và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn: Kết quả của Luận văn có thể sử dụng làm tài

liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan; cho việc học tập, nghiên cứu các môn học, học phần như Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM VÀ GIAI ĐOẠN KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

CHƯƠNG 2 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN KHÁNG CHIẾN TỪ SAU HIỆP ĐỊNH PARIS ĐẾN NGÀY KẾT THÚC THẮNG LỢI 30-4-1975

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM

VÀ GIAI ĐOẠN KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN

Xem xét một cách tổng quan quá trình ra đời, củng cố và hoạt động của Trung ương Cục miền Nam giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về cấp bộ đảng này

từ quá trình ra đời, vị trí đặt căn cứ cho đến bộ máy tổ chức - nhân sự, từ quá trình chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng miền Nam cho đến lúc giải thể sau khi đã hoàn thành

sứ mệnh lịch sử của mình

Về quá trình ra đời, trước Cách mạng tháng Tám tổ chức phụ trách công tác

đảng ở miền Nam là Xứ ủy Nam Kỳ Giai đoạn 1945 – 1951, Xứ ủy Nam Bộ là cơ quan lãnh đạo chung cho toàn Nam Bộ Giai đoạn 1951-1954, trước yêu cầu về tăng cường lãnh đạo của Trung ương đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II quyết định giải thể Xứ ủy Nam

Bộ, thành lập Trung ương Cục miền Nam, cử đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư Giai đoạn 1954 – 1961, để các cơ quan lãnh đạo của Đảng có bộ máy

tổ chức gọn nhẹ, vững chắc, dễ bám trụ hoạt động trong điều kiện bí mật, Bộ Chính

Trang 18

trị quyết định “Bỏ Trung ương Cục Miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ và các Khu ủy” [30; tr 281]

Ngày 23-1-1961, trước cục diện mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ ba khóa III ra Nghị quyết cho tái lập Trung ương Cục miền Nam Cơ quan này có các phiên hiệu là B2, R, Ông Cụ dùng để bảo mật trong chiến trường

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên có mật danh B2 Chỉ đạo về mặt Đảng trên địa bàn B2 là Trung ương Cục miền Nam; chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng trên địa bàn B2 là Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Bộ Chỉ huy Miền, từ 18-3-1971 gọi là Bộ Tư lệnh Miền), trong đó đồng chí Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam – làm Bí thư Quân ủy Miền kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Miền chấp hành sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, làm tham mưu cho Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang

Địa bàn chiến trường B2 có đủ các loại hình: rừng núi, đồng bằng và đô thị Đối với kẻ thù, B2 là nơi hội tụ các cơ quan đầu não của ngụy quyền, là địa bàn chiến lược để thực hiện tập trung nhất chủ nghĩa thực dân kiểu mới với các chiến lược và chiến thuật chiến tranh nhằm chia cắt Việt Nam Đối với ta, B2 là chiến trường trọng điểm toàn miền Nam, là địa bàn thể hiện đầy đủ sự vận dụng đường lối chính trị và quân sự của Đảng về tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện B2 gồm có 5 quân khu: Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên gồm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức và dải đồng bằng nhỏ hẹp thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy)1; Quân khu 7 (miền Đông Nam Bộ: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy); Quân khu 8

1 Tuyên Đức gồm các huyện thị: Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) Quảng Đức gồm các huyện Gia Nghĩa, Đắc Song, Kiến Đức, Đức Lập, Khiêm Đức (nay thuộc tỉnh Đăk Nông) Bình Tuy: tỉnh do Ngô Đình Diệm lập gồm các huyện: Hàm Tân, Tánh Linh, Bình Tân, Hoài Đức (nay thuộc tỉnh Bình Thuận) Dẫn theo: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Tập 2:

1954 – 1975, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.911

Trang 19

(miền Trung Nam Bộ: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc

và Bến Tre); Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng (thêm một phần tỉnh Bạc Liêu), Rạch Giá, Cà Mau (gồm một phần tỉnh Bạc Liêu và Hà Tiên); Quân khu Sài Gòn – Gia Định

Về tổ chức và nhiệm vụ, ngày 14-3-1961, Trung ương Đảng gửi “Điện mật”

số 28/ĐM cho Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy V Nội dung của bức điện nêu rõ lý

do thành lập Trung ương Cục miền Nam:

“Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III quy định rõ hai nhiệm vụ

và hai chiến lược cách mạng khác nhau cho miền Bắc và miền Nam trong giai đoạn hiện nay; Căn cứ vào Điều 24 Điều lệ mới của Đảng, quy định Ban Chấp hành Trung ương được thành lập Trung ương Cục phụ trách chỉ đạo công tác Đảng ở những Đảng bộ đặc biệt trọng yếu; Căn cứ vào tình hình giao thông liên lạc hiện nay giữa hai miền còn khó khăn, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (1-

1961) quyết định Về tổ chức và nhiệm vụ của Trung ương Cục miền Nam:

1 Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương, gồm một số đồng chí Ủy viên Trung ương được Ban Chấp hành Trung ương cử ra và ủy nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác Đảng ở miền Nam

2 Trung ương Cục miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, thường xuyên do Bộ Chính trị thay mặt chỉ đạo

3 Trung ương Cục miền Nam có nhiệm vụ:

- Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và những chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị về cách mạng miền Nam mà đề ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác và chỉ đạo thực hiện cụ thể ở miền Nam Đối với những vấn đề quan trọng có quan hệ đến toàn quốc hoặc đối với nhiệm vụ chiến lược chung toàn miền Nam thì phải xin chỉ thị Trung ương và Bộ Chính trị Nhưng trong những trường hợp đặc biệt cấp bách không kịp xin chỉ thị Trung ương, Trung ương Cục

có quyền đề ra những chủ trương, chính sách lớn để đối phó kịp thời

Trang 20

với tình hình; nhưng một mặt phải báo cáo ngay với Trung ương và

Bộ Chính trị

- Chấp hành Cương lĩnh và những quy định cụ thể về Điều lệ Đảng ở miền Nam Căn cứ vào những quy định cụ thể và Điều lệ Đảng đối với Đảng bộ miền Nam mà tổ chức ra Đảng bộ các cấp ở miền Nam

và lãnh đạo các Đảng bộ đó hoạt động

- Thành lập các Đảng đoàn trong các tổ chức quần chúng ở miền Nam

để giúp cấp ủy lãnh đạo trực tiếp các tổ chức đó

- Thay mặt Ban chấp hành Trung ương quản lý và phân phối cán bộ của Đảng ở miền Nam

- Quy định đảng phí, quản lý và phân phối tài chính của Đảng ở miền Nam

- Từng thời kỳ, báo cáo mọi mặt tình hình và công tác của Đảng bộ miền Nam lên Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị

4 Trung ương Cục miền Nam có một bí thư, một hoặc hai phó bí thư, do Ban Chấp hành Trung ương chỉ định và Ban Thường vụ, do Hội nghị Trung ương Cục cử Trung ương Cục cần tổ chức các cơ quan giúp việc cho phù hợp tình hình và yêu cầu công tác của mình

5 Trung ương Cục thường lệ sáu tháng họp một lần Tùy tình hình cụ thể, Trung ương Cục có thể họp sớm hơn hay muộn hơn” [91; tr 161-162] Với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, vấn đề nhân sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam rất được Trung ương Đảng cân nhắc và lựa chọn kỹ càng Ngày 31-1-1961, trong Chỉ thị về phương hướng, nhiệm vụ và tăng cường các cơ quan chỉ đạo các cấp của Đảng ở miền Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhấn mạnh “bổ sung thêm số ủy viên, chỉ định một số ủy viên dự khuyết cho Trung ương Cục và tăng cường cán bộ cho các cơ quan Trung ương Cục, tăng cường các khu ủy

và cơ quan khu ủy đủ sức chỉ đạo công tác cách mạng ở từng chiến trường Nơi nào quan trọng phải phân công ủy viên Trung ương phụ trách” [84; tr 5]

Đầu năm 1961, Trung ương Đảng đã tập hợp đoàn cán bộ quân sự và chính trị tăng cường cho cách mạng miền Nam Đoàn gồm 500 người, hầu hết là cán bộ

Trang 21

cao cấp, do thiếu tướng Trần Văn Quang - Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu Trước khi đoàn lên đường, đồng chí Lê Duẩn và đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến căn dặn, chỉ đạo các nguyên tắc cần phải bám và tiến hành chiến tranh nhân dân với trình độ cao hơn

Cuối tháng 1-1961, lễ thành lập Trung ương Cục miền Nam được tổ chức tại

Mã Đà (Chiến khu Đ, Đồng Nai) Đồng chí Nguyễn Văn Linh (tức Mười Cúc), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được cử làm Bí thư Trung ương Cục Các đồng chí ủy viên gồm: Võ Chí Công (tức Năm Công), Võ Văn Kiệt (tức Sáu Dân), Hoàng Văn Thái (tức Tám Thành, Mười Khang), Trần Lương (tức Trần Nam Trung), Trần Văn Quang (tức Bảy Tiến), Phan Văn Đáng (tức Hai Văn), Phạm Thái Bường (tức Ba Bường) và Phạm Văn Xô (tức Hai Già) [85; tr 3]

Sau ngày được tái lập, Trung ương Cục miền Nam tổ chức ra các cơ quan giúp việc cho phù hợp với tình hình và yêu cầu công tác của mình Năm 1961, Trung ương Cục miền Nam có Văn phòng, Ban Tổ chức, Ban Cơ yếu, Ban Quân sự Miền, Ban Binh vận, Ban Tuyên huấn, Ban Hậu cần, Ban Kinh tài, Ban An ninh, Ban Dân vận – Mặt trận, Ban Hoa vận, Đài phát thanh Giải phóng và Thông tấn xã Giải phóng miền Nam, Ban Giao-bưu-vận miền Nam, Ban Thông tin liên lạc

Trong tình hình mới của cách mạng, những năm 1973 – 1974, công tác xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy của Trung ương Cục miền Nam được chú trọng Năm 1973, đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng,

Bí thư Khu ủy 9 được điều về bổ sung vào Thường vụ Trung ương Cục miền Nam; đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) được bổ sung làm Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam Tháng 5 – 1973, Ban Căn cứ giải thể, toàn bộ nhiệm vụ và cán bộ được chuyển giao cho Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam đảm nhiệm Năm 1974, Ban Dân vận – Mặt trận được kiện toàn, đồng chí Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường) làm Trưởng ban, các đồng chí Tư Thế, Võ Văn Khánh (Bảy Khánh) làm Phó Trưởng ban Tháng 4 – 1974, thành lập Ban Giao thông công chính trên cơ sở sáp nhập Ban Giao bưu vận Trung ương Cục miền Nam với Đoàn Giao thông vận tải A (miền Bắc mới vào), đồng chí Trần Thắng Minh (Hai Minh) được cử làm Trưởng ban

Trang 22

Cuối năm 1961, Trung ương Cục miền Nam đã thành lập Trường lý luận trung, cao cấp Nguyễn Ái Quốc miền Nam Từ đó cho đến năm 1975, nhà trường cung cấp cho Đảng khoảng 1000 cán bộ được trang bị lý luận và phương pháp công tác, góp phần tích cực nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng

tại chiến trường miền Nam [84; tr 570]

Về vị trí đặt căn cứ, từ năm 1950 đến năm 1951, căn cứ Xứ ủy được chuyển

từ Đồng Tháp về Tây Ninh và đóng tại đồng Rùm, lấy phiên hiệu là X40 Từ năm

1954 đến năm 1960, căn cứ Xứ ủy phải di chuyển và đóng tại nhiều nơi, phân tán,

kể cả ở Mã Đà (Đồng Nai) Riêng Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ từ 1956 đến 1957 được trú đóng tại địa bàn Quận 1, Sài Gòn – Gia Định, ngay giữa sào huyệt của địch [7; tr 13]

Sang đầu năm 1958, do yêu cầu nhiệm vụ chung của cách mạng miền Nam, căn cứ Xứ ủy Nam Bộ được chia làm hai khu: Căn cứ ở Đông Bắc gọi là chiến khu

Đ đóng tại Mã Đà (Đồng Nai); Căn cứ ở Tây Bắc gọi là chiến khu Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh và một phần Long An [7; tr 17] Tháng 8-1960, Xứ ủy Nam Bộ được chuyển từ căn cứ Sóc Xoài, Rừng Le (bắc Cà Tum – Tây Ninh) về căn cứ Trảng Chiên (Tây Ninh)

Từ năm 1961 đến năm 1962, Trung ương Cục miền Nam được chọn đặt ở

căn cứ khu A, bao quát gồm Chiến khu Đ (Suối Nhung – Mã Đà – Chiến khu Đ) với mật danh R, mở rộng lên phía Phước Long, Bình Long, Quảng Đức đứng giữa Trung Nam Bộ (nay thuộc xã Phủ Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) Tuy nhiên, việc tiếp tế lương thực ở khu A rất khó khăn, khí hậu lại khắc nghiệt Do đó, tháng 12-1962, Trung ương Cục miền Nam bắt đầu chuyển về căn cứ chiến khu B tức Dương Minh Châu, Tây Ninh Việc chuyển căn cứ R về Tây Ninh là sự sáng suốt tinh nhạy trong ý đồ chiến lược của ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam bởi khu B là vùng rừng bằng, đường giao thông rất thuận lợi nối liền từ căn cứ của Trung ương Cục miền Nam đến nhiều cơ sở cách mạng ở đô thị, nhất là Sài Gòn Căn cứ Khu B còn tiếp giáp với Campuchia, trong lúc Chính phủ Sihanouk thực hiện chính sách ngoại giao “Ốc đảo hòa bình”, tạo điều kiện an toàn cho căn cứ Trung ương Cục miền Nam tiện móc nối cơ sở Việt kiều ở Campuchia bảo đảm về

Trang 23

mặt hậu cần, liên lạc ra nước ngoài và miền Bắc; sau này trở thành con đường quá cảnh tiếp tế vũ khí, đạn dược quan trọng từ hậu phương lớn vào chiến trường B2 và Tây Nguyên

Căn cứ địa Trung ương Cục miền Nam được xem như là thủ đô kháng chiến trong cuộc chiến tranh cách mạng chống đế quốc Mỹ Tại nơi đây, mọi đường lối, chiến lược, sách lược và nhiều chỉ thị, nghị quyết được ra đời đã chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam, hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam Đây còn

là nơi lưu lại cuộc đời hoạt động cách mạng hết lòng tận tụy và vô cùng gian lao vất

vả của các đồng chí lãnh đạo và nhân dân miền Nam anh hùng Nó như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân; là chỗ dựa về mặt chính trị, nơi hướng về, hy vọng và khích lệ đồng bào miền Nam kháng chiến

Về quá trình hoạt động, từ năm 1961 đến năm 1975, Trung ương Cục miền

Nam đã tiến hành 16 hội nghị toàn thể với hàng trăm chỉ thị, nghị quyết Các bí thư của Trung ương Cục miền Nam từ khi được tái lập là đồng chí Nguyễn Văn Linh (từ năm 1961 đến năm 1964), đồng chí Nguyễn Chí Thanh (từ năm 1965 đến năm 1967) và đồng chí Phạm Hùng (từ năm 1967 đến năm 1975)

Về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 15-2-1961, tại chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng - Tổng

tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và Ban Quân sự thuộc Trung ương Cục miền Nam Quân giải phóng miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ chủ yếu là làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Chỉ sau một năm thành lập (1962), Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã xây dựng được ba trung đoàn bộ binh Đó là những đơn vị bộ đội chủ lực đầu tiên đặt nền móng cho Quân giải phóng miền Nam Việt

Trang 24

Nam không ngừng phát triển lớn mạnh Trải qua những năm tháng xây dựng và chiến đấu, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam - bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam - đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát huy truyền thống, bản chất cách mạng cao đẹp của Quân đội nhân dân ta

Về công tác dân vận, công tác mặt trận, nhằm đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, hai Mặt trận đã lần lượt ra đời là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960) và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (20-4-1968) được được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam

Để tập hợp được đông đảo và có hiệu quả các giai tầng vào công cuộc kháng chiến, Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo hai tổ chức này họp, bàn thống nhất nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh Theo đó, từ ngày 03 đến ngày 05-11-

1968, Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam tổ chức hội đàm về những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh hiện tại của nhân dân miền Nam Đại biểu của hai đoàn đã trao đổi sôi nổi và ra Thông cáo chung: tố cáo cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa

và tàn bạo của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam, kêu gọi toàn thể đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh dũng tiến lên, giành thắng lợi hoàn toàn

Đặc biệt, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tiến hành Hội nghị hiệp thương mở rộng với các phe phái khác ở miền Nam, thành lập một nội các hòa bình đại diện cho chính thể miền Nam Việt Nam đấu tranh trên mặt trận ngoại giao Từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam ở miền Nam cùng các lực lượng yêu nước khác đã họp Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, nhất trí bầu

ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố

Trang 25

vấn Chính phủ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết và cụ Nguyễn Đoá làm Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật

sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch và luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch

Ngay từ đầu, Trung ương Cục miền Nam đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt (cả các văn kiện và nhân sự) cho sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Thông qua tổ chức này, Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và sâu sát hơn việc xây dựng và phát triển thực lực về mọi mặt; đồng thời mở rộng được hơn nữa sự ủng hộ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở miền Nam Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Cách mạng của nhân dân miền Nam đã thi hành những cải cách dân chủ ở vùng giải phóng, đặc biệt là chính sách ruộng đất Khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã được thực hiện Đại bộ phận nông dân ở miền Nam đã có ruộng để cày cấy Sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế cũng đạt được những kết quả quan trọng Nhờ đó, thực lực cách mạng ngày càng được tăng cường về mọi mặt, góp phần quan trọng tạo thế, tạo lực cho cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới

Để đảm bảo thống nhất lãnh đạo và phù hợp với tình hình miền Nam sau giải phóng, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định: “Giải thể Trung ương Cục miền Nam, giải thể các Khu ủy ở cả hai miền, đồng thời, thành lập Ban đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam, một hình thức tổ chức làm việc để thực hiện sự chỉ đạo tại chỗ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ

Tổ chức đó phải gọn, nhẹ và chỉ tồn tại một thời gian và không phải là một cấp trung gian giữa Trung ương và tỉnh…” [40; tr 430]

Nhận định về Trung ương Cục miền Nam, đối phương khẳng định: “Tất cả đường lối, chủ trương, kế hoạch hoạt động của VC 2 nhằm thôn tính miền Nam đều được thống nhất và chi phối chặt chẽ bởi TUCMN3” [113; tr 6-7] Do đó, chúng quán triệt: “tìm cách triệt hạ cho bằng được cơ quan đầu não này” [113; tr 7]

2 VC: Việt Cộng

3 TUCMN: Trung ương Cục miền Nam

Trang 26

Có thể thấy, từ quá trình hình thành; tổ chức và nhiệm vụ đến địa bàn đứng chân và quá trình hoạt động của Trung ương Cục miền Nam là một quá trình tính toán kỹ lưỡng của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhằm đảm bảo cho bộ máy chỉ đạo chiến tranh ở miền Nam được vận hành thông suốt Lịch sử Trung ương Cục miền Nam gắn liền với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống

đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai tại chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ

và Nam Tây Nguyên Trung ương Cục miền Nam là biểu tượng của lòng quyết tâm

và ý chí của Trung ương Đảng, của toàn Đảng bộ và quân dân miền Nam trong cuộc chiến sinh tử Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo kịp thời và toàn diện quân dân miền Nam quyết chiến và toàn thắng trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng

1.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ sau Hiệp định Paris

1973 đi vào giai đoạn kết thúc

Hòa đàm để kết thúc chiến tranh là quá trình kết hợp đánh với đàm, trong đó thắng lợi trên chiến trường có tính chất quyết định thắng lợi trong đàm phán Việc

ký kết hiệp định hòa bình là một bước ngoặt quan trọng để kết thúc chiến tranh Song muốn có hòa bình thực sự thì phải nỗ lực kiên trì phương pháp cách mạng bạo lực, giữ vững thế chiến lược tiến công để đánh gục hoàn toàn kẻ thù Từ năm 1973 đến năm 1975 phản ánh tính chất trên của giai đoạn kết thúc chiến tranh cách mạng Việt Nam

Đánh giá thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12 – 1976) nhận định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch

sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về

sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch

sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” [41; tr 402] và “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh,

Trang 27

ngoan cường và bền bỉ, anh dũng và thông minh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của các đảng bộ miền Nam, các cán bộ, chiến sĩ công tác và chiến đấu ở miền Nam, và hàng chục triệu đồng bào yêu nước trên tuyến đầu Tổ quốc đã nêu cao tấm gương kiên cường, bất khuất hơn ba mươi năm dưới ách quân xâm lược” [41, tr 403]

Hiệp định Paris về Việt Nam chính thức được ký kết ngày 27-1-1973 đã tạo

ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta Với Hiệp định Paris, ta đã “đánh cho Mỹ cút”, một thắng lợi lịch sử quan trọng tạo thời

cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào”

Trong lịch sử nền ngoại giao Việt Nam, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15-3-1968 đến 27-1-1973 với 201 phiên họp công khai và 45 cuộc găp riêng cấp cao, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam Vì vậy, thắng lợi này thực sự là sự kiên nhẫn, bền bỉ đấu tranh của nhân dân ta, thể hiện quyết tâm sắt đá của Đảng nhằm tạo ra bước ngoặt mới có lợi cho ta để đi đến kết thúc cuộc chiến tranh

Trong “Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” ngày 28-1-1973 chỉ rõ:

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi mở ra một bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam Hiệp định được ký kết là cơ sở chính trị và pháp lý bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, bảo đảm quyền tự quyết thiêng liêng của đồng bào ta ở miền Nam Thắng lợi này là cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước” [38, tr 446]

Xét ở góc độ tư duy quân sự, với Hiệp định Paris, Mỹ phải rút, các lực lượng

vũ trang của hai bên ở nguyên tại chỗ Nhờ đó, ta đánh bại âm mưu “phân tuyến” của đối phương, bộ đội ta không phải “tập kết” ra một nơi (như thời Hiệp định Geneve năm 1954), mà ngược lại, ta duy trì trên chiến trường thế xen kẽ “da beo”, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho địch

“Hiệp định đó ghi lại những thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân

Trang 28

dân ta Nó phản ánh sự so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trên chiến trường Việt Nam và trên thế giới Dân tộc ta đã đuổi được đội quân viễn chinh Mỹ và chư hầu gồm trên nửa triệu tên ra khỏi nước ta, chấm dứt sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài từ hơn một trăm năm nay , làm thất bại một bước quan trọng chiến lược quân sự “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã góp phần tích cực chống lại và làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, làm thất bại một bước quan trọng “học thuyết Nixon” [38, tr 219-220]

Trong bức thư gửi đồng chí Phạm Hùng, đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải là ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần

mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại, hành lang Nam, Bắc vẫn nối liền, hậu phương gắn với tiền phương thành một dải liên hoàn thống nhất; thế trận tiến công của ta vẫn vững” [24; tr 370]

Ngày 27-3-1973, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra chỉ thị “Về nhiệm vụ trước mắt và một số công tác cấp bách sau 60 ngày thi hành Hiệp định Paris”, trong đó nhắc nhở các địa phương: “Hiệp định Paris là một thắng lợi vĩ đại

có ý nghĩa lịch sử và thời đại, mở ra một giai đoạn mới của cả dân tộc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới; Hiệp định đã được ký kết nhưng địch sẽ còn tiếp tục phá hoại bằng nhiều cách vừa tinh vi vừa trắng trợn do đó ta tuyệt đối không ảo tưởng nhưng cũng không giản đơn cho địch muốn làm gì thì làm” [85; tr 219]

Như vậy, đối với ta, Hiệp định Paris đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, tạo ra thời cơ chiến lược rất quan trọng cho giai đoạn mới – giai đoạn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Một khi quân Mỹ đã rút đi và quân ta vẫn còn đó thì lực lượng so sánh giữa ta và địch đã thay đổi căn bản Đây là tiền đề cơ bản cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam hơn hai năm sau

Về phía đối phương, Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách thực dân mới ở miền Nam nhằm chia cắt nước ta Mỹ duy trì một lực lượng hải quân và không quân

ở Vịnh Bắc Bộ, Thái Lan và Guam, để lại ở miền Nam “những người lính không

Trang 29

mặc quân phục” cùng các nhân viên dân sự; đổi tên Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) thành cơ quan ngoại giao - tuỳ viên quốc phòng (DAO) Trước ngày ký Hiệp định Paris, Hoa Kỳ vội vã chuyển giao các căn cứ quân sự của họ ở miền Nam cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà cùng với viện trợ khẩn cấp một lượng vật chất khổng lồ

Quân Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam, nhưng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” vẫn được tiếp tục với mục tiêu ban đầu (thực hiện chủ nghĩa thực dân mới)

và với công thức cũ “chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn + vũ khí Mỹ + chỉ đạo của cố vấn Mỹ” Walter Lipman, nhà bình luận người Mỹ đã nhận xét về tính phi

“lôgích” của Học thuyết Nixon: “Đây có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh, một nước nghĩ rằng mình có thể thắng trận bằng cách rút quân chiến đấu khỏi chiến trường” [57, tr 805]

Nguyễn Văn Thiệu được đế quốc Mỹ tiếp tay đã trắng trợn tuyên bố chống phá Hiệp định Paris đến cùng Chúng nêu khẩu hiệu “bốn không” là không có hòa bình, không có ngừng bắn, không có giải pháp chính trị và không có tổng tuyển cử Chúng còn lệnh cho quân ngụy thực hiện “tràn ngập lãnh thổ”, quyết lấn chiếm vùng giải phóng của Việt Cộng

Chính quyền Sài Gòn đề ra chương trình toàn diện thực thi chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon bằng một loạt kế hoạch quân sự, chính trị, kinh tế phối hợp sau: Kế hoạch “cộng đồng tự vệ và phát triển địa phương 1973- 1975” nhằm bình định lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng, đẩy lùi lực lượng cách mạng ra khỏi biên giới; Kế hoạch xây dựng quân đội 1974-1975 nhằm hiện đại hóa, tinh nhuệ hóa quân đội; Kế hoạch 5 năm “kinh tế hậu chiến” 1975-1980 để dần dần “tự lực tự cường”, không lệ thuộc vào viện trợ Mỹ

Kế hoạch trước mắt của chính quyền Sài Gòn là xóa thế “da beo”, mở rộng vùng kiểm soát, trọng điểm nhằm vào đồng bằng sông Cửu Long và chung quanh Sài Gòn “Kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973-1975” với 5 biện pháp chiến lược lớn mà

“lấn chiếm bình định” là biện pháp trọng tâm nhằm mục tiêu cuối cùng là “chiến tranh tàn lụi”, “Việt Cộng chỉ còn là một đảng đối lập vào năm 1974 hoặc 1975”

Trang 30

Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Ngưng chiến không ngưng bắn, không thi hành Hiệp

định, trên hòa bình dưới chiến tranh, ngoài hòa hợp trong bình định” [57; tr 807]

Trước tình hình mới, trong tháng 1-1973, Bộ Chính trị thông qua nghị quyết của Quân ủy Trung ương, trước mắt đòi ngụy quyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Bám sát tinh thần trên của Trung ương, ngày 16-3-1973, Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam nhận định tình hình có hai khả năng phát triển, hoặc địch chịu thi hành Hiệp định hoặc chiến tranh sẽ mở rộng và chỉ đạo các địa phương cần dựa vào tình hình thực tế mà chuyển hướng đấu tranh cho phù hợp

Ngày 24-5-1973, Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị với đại diện các chiến trường để nghiên cứu, thảo luận những vấn đề chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương khóa III Đại diện các chiến trường miền Nam có đồng chí Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Hoàng Văn Thái – Tư lệnh Quân giải phóng, đồng chí Nguyễn Văn Linh – Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, đồng chí Võ Văn Kiệt – Bí thư Khu ủy Khu 9, đồng chí Nguyễn Minh Đường – Bí thư Khu ủy Khu 8, đồng chí Trần Nam Trung – Bộ Trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Hội nghị đánh giá toàn diện tình hình cách mạng từ sau khi ký Hiệp định Paris, so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch để đề ra biện pháp, chủ trương thích hợp trong tình hình mới Hội nghị nhất trí cho rằng miền Nam chưa có hòa bình Trên cơ sở đó, Hội nghị đã xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đấu tranh trên các mặt trận là chính trị, quân sự và ngoại giao nhằm kiên quyết đánh bại âm mưu phá hoại Hiệp định Paris; giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, thắng địch từng bước, chuẩn bị điều kiện đầy đủ nhất để có thể chủ động đối phó với địch trong mọi tình huống, sẵn sàng đưa cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn [59; 294-295] Kết luận trên của Hội nghị

Bộ Chính trị là nội dung chủ yếu của Báo cáo Chính trị trình Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Khóa III

Tháng 7-1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 ra Nghị quyết Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới Hội nghị đánh giá: “Cuộc kháng chiến chống

Trang 31

Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trở thành cuộc đọ sức điển hình, thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới,

là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mang tính chất thời đại rất sâu sắc” [38; tr 213] Sau khi đánh giá những thắng lợi to lớn của quân và dân ta, Hội nghị đã rút ra những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi, trong đó ''Nhân tố quyết định thắng lợi của chúng ta là luôn luôn giữ vững, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” [38; tr 223] Hội nghị đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn sau 18 năm kháng chiến chống Mỹ: 1-Giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công, 2-Nắm vững quan điểm cách mạng bạo lực, 3-Giương cao ngọn cờ dân tộc dân chủ và ngọn

cờ xã hội chủ nghĩa, 4-Biết thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn,

5-Có phương pháp cách mạng thích hợp

Hội nghị nêu rõ ở miền Nam vẫn chưa có ngừng bắn, ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ giúp đỡ vẫn tiếp tục âm mưu gây chiến Âm mưu của đế quốc Mỹ là tiếp tục dùng ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, biến miền Nam thành một nước riêng biệt, một quốc gia thân Mỹ Thực tế thì sau khi quân Mỹ rút đi, quân ngụy tuy có mạnh về phương tiện vật chất nhưng thực chất đang xuống dốc Thế và lực của cách mạng miền Nam lúc đó mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào kể từ năm 1954 Lực lượng vũ trang nhân dân đứng vững trên các địa bàn chiến lược Nhân dân vùng tạm bị chiếm bị kìm kẹp vẫn hướng về cách mạng Miền Bắc đang phục hồi kinh tế, là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam [59, tr 296-297]

Hội nghị nhận định: Chỗ yếu của cách mạng miền Nam là phong trào đấu tranh chính trị, bộ đội địa phương và dân quân du kích, cơ sở cách mạng ở đô thị và nông thôn chưa ngang tầm nhiệm vụ Hội nghị cho rằng cách mạng miền Nam có thể phát triển theo hai khả năng: Một là ta có thể buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris; Hai là ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt, phát xít – tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ đang thống trị trong vùng địch kiểm soát – đẩy lùi và

Trang 32

thắng địch từng bước, đi đến xóa bỏ chế độ thực dân mới, thiết lập một chính quyền dân tộc dân chủ thực sự, thực hiện hòa hợp dân tộc, thoát ly hẳn sự lệ thuộc vào

Mỹ, thực hiện một miền Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà” [59, tr 297-298]

Hội nghị Trung ương lần thứ 21 vạch rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam: 1-Trong bất cứ tình huống nào, phải nắm lực lượng vũ trang, 2-Nhiệm

vụ hàng đầu của cách mạng miền Nam hiện nay là giành dân và giành quyền làm chủ của nhân dân, 3-Binh vận là mũi tiến công rất quan trọng làm tan rã chính quyền địch, 4-Đẩy mạnh phong trào đấu tranh đô thị đòi hòa bình, dân chủ, dân sinh, đòi thi hành Hiệp định Paris, 5-Củng cố vùng giải phóng, 6-Tăng cường công tác Mặt trận và công tác chính quyền, 7- Công tác ngoại giao phải nắm vững pháp

lý Hiệp định Paris, kiên quyết và kịp thời vạch trần âm mưu và hành động vi phạm Hiệp định của địch [59; tr 298]

Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 đã đề ra chủ trương, biện pháp cơ bản để mở ra con đường đưa cuộc cách mạng dân tộc dân chủ miền Nam tiến sang giai đoạn cuối cùng Dưới ánh sáng của Nghị quyết 21, Trung ương Cục miền Nam

đã kịp thời chỉ đạo quân dân vượt qua mọi khó khăn, vươn lên giành thắng lợi từng bước trong từng chiến dịch để tạo thế, tạo lực tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn

Trong chỉ đạo chiến tranh, nếu việc bắt đầu và tiến hành chiến tranh đã rất phức tạp thì việc kết thúc chiến tranh cho hợp quy luật lại càng khó khăn, phức tạp hơn bởi càng đi vào giai đoạn cuối càng nhiều bước gian nan, đối phương càng manh động với tâm lý không còn gì để mất – “tử thủ”, còn quân dân ta dễ chủ quan, mất cảnh giác, hành động ta dễ mềm mỏng, thiếu quyết tâm Tuy nhiên, sau khi có Nghị quyết 21 Ban Chấp hành Trung ương khóa III, dưới sự chỉ đạo kịp thời và toàn diện của Trung ương Cục miền Nam, chiến tranh cách mạng đã chuyển sang thế chủ động phản công và tiến công, các chiến dịch nhằm bao vây, cô lập đầu não Sài Gòn lần lượt giành thắng lợi, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng Đó chính là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - chiến dịch tiến công lớn nhất vào Sài Gòn – Gia Định giành toàn thắng vào ngày 30-4-

1975

Trang 33

Tiểu kết Chương 1

Trung ương Cục miền Nam được tái lập vào năm 1961 và ngày càng được củng cố, kiện toàn về mọi mặt đủ sức để hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó trong quá trình kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 -1975)

Hiệp định Paris được ký kết đã mở ra bước ngoặt cho cục diện chiến tranh với lợi thế thuộc về ta Việc ta đã “Đánh cho Mỹ cút” – một tên đế quốc hùng mạnh, giàu có, hung hãn, nham hiểm – thực sự là thắng lợi to lớn để từ đây quân dân ta bước vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh “đánh cho ngụy nhào” với tinh thần

“một ngày bằng hai mươi năm”

Từ năm 1973 đến năm 1975 là chặng đường cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với các dấu mốc lịch sử: Từ 28-1-1973 đến cuối năm 1973 - Lúc này địch ra sức lấn chiếm, bình định nhằm phá thế “2 vùng, 2 chính quyền, 2 quân đội” theo Hiệp định Paris; ta đấu tranh giành giật quyết liệt với địch để giữ vững và phát triển thế chiến lược mới Từ cuối năm 1973 đến trước mùa khô 1974 –

1975 – lúc này địch ngày càng suy yếu, phòng ngự bị động; ta liên tục tấn công và phản công đi đôi với tích cực tạo thế lực mới, tích cực chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược mới Từ đầu mùa khô 1974 – 1975 đến ngày 30-4-1975 - đây là khoảng thời gian ta thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đánh bại Mỹ ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam

Nghị quyết lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 7-1973 là một trong những văn kiện quan trọng của cuộc kháng chiến chống

Mỹ, chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng giành thắng lợi trong giai đoạn kết thúc chiến tranh Từ thế bị động đối phó, chiến tranh cách mạng miền Nam chuyển lên chủ động phản công và tiến công, bẻ gãy kế hoạch lấn chiếm của Mỹ - ngụy Từ chỗ mất đất, mất dân, ta chuyển lên thu hồi và mở rộng vùng giải phóng, đẩy Mỹ - ngụy vào tình trạng bế tắc, suy sụp

Chỉ đạo chiến tranh cách mạng đi vào giai đoạn kết thúc là chỉ đạo quân dân chống lại ngụy quyền đang rơi vào trạng thái “tử thủ”, không còn gì để mất nên địch

Trang 34

càng hung hăng, càng phiêu lưu Vì vậy, với trọng trách lịch sử của mình, Trung ương Cục miền Nam đã hết sức cẩn trọng trong chỉ đạo, quyết giành toàn thắng nhưng phải thắng từng bước, từng chiến dịch trên từng chiến trường để đi đến hoàn toàn thắng lợi tại đầu não địch là Sài Gòn

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam, các cấp Đảng bộ

ở Nam Bộ đã nắm vững trọng tâm Nghị quyết Trung ương 21 và các nghị quyết của

Bộ Chính trị sau đó để vận dụng, chỉ đạo sát đúng phù hợp với thực tế của địa phương Đặc biệt là tư tưởng tiến công, quan điểm cách mạng bạo lực với nhiệm vụ hàng đầu là cương quyết chống địch lấn chiếm, giữ đất giành dân, phát triển thực lực của ta về mọi mặt, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho trận đánh cuối cùng

Trang 35

CHƯƠNG 2 TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN KHÁNG CHIẾN TỪ SAU HIỆP ĐỊNH PARIS ĐẾN NGÀY KẾT THÚC THẮNG LỢI 30-4-1975

2.1 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris

2.1.1 Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo chuyển hướng đấu tranh sau Hiệp định Paris

Chỉ đạo là chỉ đường, điều khiển, dẫn dắt; là quá trình hướng dẫn cụ thể để triển khai một đường lối, chủ trương nhất định [110, tr 156] Nói đến chỉ đạo là

nhấn mạnh đến quá trình đánh giá tình hình, nhận diện bối cảnh, dự kiến các kịch bản có thể xảy ra từ đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm để hành động trên cơ sở đường lối chiến lược

Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo thực tiễn kháng chiến từ năm 1973 đến năm 1975 gồm các mặt: Tiến hành đánh giá tình hình sau Hiệp định Paris, đánh giá lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhận định thời cơ lịch sử; Hiện thực hóa quyết tâm chiến lược, quyết tâm thời cơ của Trung ương Đảng về việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; Tổ chức chỉ đạo toàn diện trên các chiến trường được giao Cụ thể là Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các lực lượng chuyển hướng đấu tranh trước, trong và sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, đồng thời chỉ đạo chống phá bình định, sẵn sàng đối phó với tình hình địch thi hành Hiệp định Paris; Chỉ đạo phối hợp hoạt động trong các chiến dịch mùa khô 1974 – 1975, đặc biệt là chỉ đạo phối hợp thực hiện tổng tiến công và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh; Chỉ đạo nhân dân miền Nam ngay sau ngày giải phóng, nhanh chóng thiết lập trật tự, ổn định mọi mặt, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng

Trang 36

Trước khi có Nghị quyết 21 của Trung ương, ngày 30-5-1973, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các khu ủy, tỉnh ủy về chuyển hướng đấu tranh sau khi ký Hiệp định Paris Thường vụ có ý kiến chỉ đạo các địa phương trên những

vấn đề sau: Trước hết, các địa phương cần nhận thức một cách sâu sắc toàn diện về

sự chuyển hướng chỉ đạo của Đảng sau khi Hiệp định Paris được ký kết Thứ hai,

các địa phương cần nhận rõ yêu cầu mới của ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận)

và vận dụng phương châm phương thức kết hợp với pháp lý của Hiệp định cho phù hợp với tình hình cụ thể; đó là việc kết hợp đấu tranh ba mũi với pháp lý đòi địch thi hành Hiệp định Paris gắn với yêu cầu phá kìm kẹp giành quyền làm chủ, giữ quyền làm chủ ở xã ấp, không ngừng làm thay đổi tương quan lực lượng ở cơ sở Mọi hoạt động vũ trang của ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) cũng là nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị là để thi hành Hiệp định

Thứ ba, đưa dân bung ra trở về sản xuất ở các xã ấp cũ tạo thành thế da beo, thế cài

răng lược (nhất là những xã thuộc vùng trắng trước đây) tạo thành thế liên hoàn giữa các ấp của xã, giữa các xã trong huyện, đồng thời gắn nội dung chỉ đạo kìm kẹp với việc vận động binh lính địch [85; tr 220-221]

Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo Ban Tuyên huấn các khu, các tỉnh, huyện, thị khẩn trương in ấn tài liệu, phát hành kịp thời đến các cơ sở với nội dung vừa đánh giá thắng lợi vừa chuẩn bị tư tưởng cách mạng cho việc thi hành Hiệp định Paris, kịp thời phát huy khí thế cách mạng trong quần chúng ở cả vùng giải phóng và vùng yếu

Ban Tuyên huấn Tỉnh Bình Phước đã biên soạn đề cương tuyên truyền mừng thắng lợi Hiệp định Paris với những nội dung cơ bản: “Với văn bản Hiệp định Paris được ký kết, nhân dân ta đã giành lại độc lập, tự do, đánh tan âm mưu xâm lược của Mỹ muốn biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng; Thắng lợi này là một trong những thắng lợi oanh liệt nhất của dân tộc ta vì

Mỹ là tên đế quốc giàu mạnh nhất thế giới, chúng phải rút quân khi mộng xâm lược vẫn còn tồn tại trong đầu óc những kẻ hiếu chiến cầm quyền; Thắng lợi của ta cũng

là thắng lợi chung của ba nước Việt – Campuchia – Lào và có ý nghĩa lịch sử đối với các nước đang chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, đưa trào lưu giành độc lập

Trang 37

dân tộc trên thế giới dâng lên mạnh mẽ, góp phần củng cố hòa bình trên thế giới; Thắng lợi đã đem lại vinh quang, tự hào, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Non sông đất nước mãi mãi biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho sự nghiệp vẻ vang, biết ơn những bà mẹ đã sinh thành, dưỡng dục và hiến dâng những người con yêu quý của mình cho cách mạng, biết ơn sự giúp đỡ to lớn của các nước

xã hội chủ nghĩa anh em và sự ủng hộ quốc tế vô cùng quý báu của bầu bạn khắp năm châu; Hiệp định Paris đã chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc trong nội bộ đất nước, nhưng chủ nghĩa đế quốc và những kẻ

ôm chân đế quốc cố bám quyền lợi ích kỷ, muốn duy trì chủ nghĩa thực dân, trắng trợn phá hoại Hiệp định Paris Cuộc đấu tranh cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, mặc dù còn phải gian khổ, hy sinh nhưng tình hình đã thay đổi sâu sắc, thuận lợi cho công cuộc chiến đấu “đánh cho ngụy nhào” Đây là chặng đường tất thắng

và không còn xa nữa” [5, tr 170-171]

Sau khi có Nghị quyết 21 của Trung ương, Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Cục miền Nam, họp từ ngày 6 đến ngày 18-9-1973, đã phân tích đặc điểm tình tình xã hội và các giai cấp ở miền Nam, từ đó đề ra năm công tác lớn: 1-Công tác quân sự, 2-Công tác đánh ra phía trước (vùng tranh chấp và vùng địch tạm kiểm soát), 3-Công tác đô thị, 4-Công tác xây dựng vùng giải phóng, 5-Công tác đảng [85; tr 230-232]

Về công tác quân sự, Nghị quyết 12/TWC nhấn mạnh phải kiên quyết và chủ động đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, tiêu diệt và làm tan rã nhiều địch kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh pháp lý của quần chúng, giữ vững, hoàn chỉnh vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, mở rộng diện tranh chấp, từng bước chuyển vùng tranh chấp thành vùng giải phóng, chuyển vùng địch kiểm soát thành vùng tranh chấp để thu hẹp vùng địch, giành dân và giành quyền làm chủ của dân, tạo thế và tạo điều kiện thuận lợi nhất phát triển phong trào đấu tranh trong

đô thị và vùng địch kiểm soát ở nông thôn [85; tr 230-231]

Về công tác đánh ra phía trước (vùng tranh chấp và vùng địch tạm kiểm soát), Nghị quyết nhận định đây là vùng đông người nhiều của, giành được vùng này là làm chủ được kho nhân lực, vật lực, tài lực lớn và chiếm được bàn đạp vùng

Trang 38

ven tạo thế cho phong trào đô thị, mở ra khả năng thuận lợi để xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, hình thành thế mạnh của ba vùng chiến lược, làm thay đổi lớn lực lượng so sánh có lợi cho ta trong giai đoạn mới Nghị quyết nhấn mạnh phải nhận thức rõ vị trí, tính chất và nội dung của công tác này – đó là một cuộc đấu tranh toàn diện, vừa tấn công vừa xây dựng, kết hợp tổng hợp các loại hình đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định để bảo vệ đời sống cho nhân dân, từng bước giành quyền làm chủ của nhân dân, giải phóng xã ấp, xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở tiến lên thiết lập một chế độ dân tộc dân chủ nhân dân ở nông thôn Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ của năm 1974 là quyết tâm đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định mới của địch, thu hồi về cơ bản vùng giải phóng và vùng tranh chấp mạnh, đồng thời tùy điều kiện từng nơi ra sức mở rộng thêm vùng giải phóng, giành quyền làm chủ với nhiều mức độ ở vùng nông thôn do địch kiểm soát, làm cho hậu phương của địch bị thu hẹp và luôn luôn không ổn định Để thực hiện được nhiệm vụ này phải luôn luôn nắm vững tư tưởng tiến công, quan điểm bạo lực cách mạng, quan điểm quần chúng

Về công tác đô thị, Nghị quyết 12/TWC xác định phong trào thành thị phải trải qua nhiều bước quá độ để đẩy mạnh đấu tranh và xây dựng lực lượng để từng bước đẩy lùi địch và làm thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho ta, phải từng bước đưa lên thành bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang

Về công tác đảng, phải tăng cường lãnh đạo tư tưởng mà nội dung chủ yếu là làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và nhân dân thấu suốt một cách sâu sắc các vấn

đề cơ bản của cách mạng miền Nam, tình hình và nhiệm vụ mới Trên cơ sở đó mà bồi dưỡng tinh thần cách mạng tiến công, cách mạng liên tục, tư tưởng bạo lực, quan điểm quần chúng, đạo đức cách mạng của Hồ Chủ Tịch, xây dựng quyết tâm tạo mọi sự chuyển biến trong công tác tổ chức, nhất là ở cơ sở

Như vậy, Nghị quyết 12/TWC đã cụ thể hóa và phát triển Nghị quyết Trung ương 21, chỉ đạo các khu ủy, tỉnh ủy miền Nam chuyển hướng đấu tranh theo tư tưởng chiến lược tiến công, nắm vững quan điểm cách mạng bạo lực, trong bất cứ tình huống nào cũng phải nắm vững lực lượng vũ trang, quyết giành dân và giành

Trang 39

quyền làm chủ của nhân dân, biết thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn

Căn cứ vào Nghị quyết 12/TWC của Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền khẩn trương xây dựng kế hoạch quân sự mùa khô 1973 – 1974 Theo đó, chiến trường chính được xác định là chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, vùng đông dân nhiều lúa gạo – nơi mà ngụy quyền cố giữ và dự định là chỗ dựa cuối cùng trong tình thế xấu nhất; còn chiến trường miền Đông được xác định là chiến trường quyết định cho toàn bộ cuộc chiến vì nơi đây lực lượng cách mạng có căn cứ vững chắc, có hậu cần đảm bảo, có quân chủ lực mạnh nhất đủ điều kiện tạo ra thế trận quyết chiến chiến lược, tiêu hao lớn sinh lực địch, làm thay đổi tương quan lực lượng và cuối cùng đánh quỵ quân chủ lực Sài Gòn Chiến trường miền Đông ứng với vùng 3 chiến thuật ngụy, được chính quyền Sài Gòn tăng cường mạnh mẽ để bảo vệ “Thủ đô Sài Gòn” Chiến tuyến này sụp đổ thì hang ổ cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn cũng không còn

Trần Văn Trà – Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam - vạch rõ ý đồ chiến lược của kế hoạch quân sự mùa khô 1973 – 1974: “Toàn bộ ý định của Bộ Chỉ huy B2 có thể tóm gọn là: áp sát Sài Gòn, “kẹp cổ” kẻ địch, bắt chúng phải bị động phòng ngự thủ đô – trung tâm đầu não – để chúng ta chủ động trừng trị chúng vi phạm Hiệp định có hiệu quả Mở rộng phía sau và các vùng đông dân, mở hành lang thông suốt dự trữ vật chất kỹ thuật Tạo thế, tạo lực thay đổi tương quan lực lượng mọi mặt có lợi cho ta…” [104; tr 272] Theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền, tháng 4-1974, Cục Chính trị Miền tổ chức Hội nghị về công tác chính trị, tư tưởng trong toàn Quân Giải phóng nhằm mục đích củng cố nhận thức, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương và Trung ương Cục cho cán bộ, chiến sỹ trước khi bước vào thời kỳ chuẩn bị chiến lược sau mùa khô 1974

Như vậy, dựa trên tinh thần chủ đạo của Nghị quyết Trung ương 21, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo các cấp trực thuộc thực hiện chuyển hướng đấu tranh, quyết đưa cách mạng miền Nam vững bước vượt qua những khó khăn trước mắt để giành thắng lợi cuối cùng ngay tại sào huyệt của quân thù

Trang 40

2.1.2 Hoạt động chỉ đạo đối phó với tình hình địch vi phạm Hiệp định Paris và chống phá bình định lấn chiếm

Trước, trong và sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ vẫn không từ bỏ chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh”, cố giữ miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ

Từ đó, chính quyền Sài Gòn có cơ sở để quyết tâm thực hiện hàng loạt kế hoạch

“tháo gỡ” nhằm đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi miền Nam Việt Nam, chiếm lại những vùng ta đã giải phóng trước và sau hiệp định Paris, tiến tới chia cắt lâu dài đất nước

Chính quyền Sài Gòn biết trước Hiệp định Paris sẽ có nhiều bất lợi cho họ nên từ cuối năm 1972, Bộ Tổng tham mưu ngụy, cơ quan đầu não của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã có kế hoạch bình định lấn chiếm “tràn ngập lãnh thổ” để giành lợi thế chiến trường từ đầu Kế hoạch bình định lấn chiếm của ngụy quyền có quy mô bao trùm các mặt kinh tế, quân sự, chính trị nhằm khôi phục kinh tế dài hạn, củng cố quân đội, hiện đại hóa quân đội Sài Gòn

Kế hoạch trên chia làm ba bước: Bước một từ tháng 3 đến tháng 5-1973 với mục tiêu lấn chiếm cho được địa bàn Chương Thiện - là tuyến phòng thủ từ xa để bảo vệ đầu não vùng IV chiến thuật của địch (đóng tại thành phố Cần Thơ), là lá chắn ngăn chặn quân chủ lực của ta tấn công, làm bàn đạp để đánh phá căn cứ địa cách mạng U Minh Bước hai từ tháng 6 đến tháng 9-1973 với mục tiêu bình định lấn chiếm U Minh Bước ba từ tháng 10 đến tháng 11-1973 với mục tiêu bình định vùng nam Cà Mau và củng cố các vùng đã kiểm soát được

Về thủ đoạn bình định, chúng tập trung bình định trọng điểm từng khu vực, đồng thời tiến hành hòa hoãn ở một số khu vực khác như U Minh Bình định trọng điểm thì lấy quân sự làm chính, nơi hòa hoãn thì lấy phong tỏa kinh tế và chiến tranh tâm lý làm chính; Đôn lực lượng lên theo từng cấp, xây dựng lực lượng bảo

an cơ động, giao cho phòng vệ dân sự và cảnh sát chịu trách nhiệm an ninh phía sau, tổ chức thành liên đoàn, tiểu đoàn bảo an cơ động trong phạm vi tiểu khu; Lấn

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 -1975 – Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 -1975 – Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
2. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
3. Ban liên lạc truyền thông Tiểu ban Giáo dục miền Nam (2012), Tiểu ban Giáo dục R – Một thời để nhớ, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu ban Giáo dục R – Một thời để nhớ
Tác giả: Ban liên lạc truyền thông Tiểu ban Giáo dục miền Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
4. Ban Tổng kết chiến tranh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945 – 1975)
Tác giả: Ban Tổng kết chiến tranh, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
5. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Phước (2012), Lịch sử ngành Tuyên giáo tỉnh Bình Phước (1930 – 2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành Tuyên giáo tỉnh Bình Phước (1930 – 2010)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Phước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
6. Ban tư tưởng – văn hóa Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng – văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên công tác tư tưởng – văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955 – 1975)
Tác giả: Ban tư tưởng – văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
7. Bộ Công an – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (2014), Công tác bảo vệ Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975) (2014), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác bảo vệ Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Tác giả: Bộ Công an – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (2014), Công tác bảo vệ Trung ương Cục miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975)
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2014
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2015), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
9. Bộ Quốc phòng, Quân khu 7 (2004), Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Quân khu 7
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1991), Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1991
11. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2002
12. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 – Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh Lâm Đồng (2012), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lâm Đồng (1945 – 2010), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lâm Đồng (1945 – 2010)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 7 – Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh Lâm Đồng
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2012
13. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 – Bộ Tham mưu (2013), Lịch sử Bộ Tham mưu Quân khu 7 (1946 – 2011), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bộ Tham mưu Quân khu 7 (1946 – 2011)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 7 – Bộ Tham mưu
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2013
14. Nguyễn Bình (2007), “Trung ương Cục miền Nam - một thành công của Đảng về tổ chức và lãnh đạo chiến tranh cách mạng”, Tạp chí Lịch sử quân sự (2), tr.11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung ương Cục miền Nam - một thành công của Đảng về tổ chức và lãnh đạo chiến tranh cách mạng”, "Tạp chí Lịch sử quân sự
Tác giả: Nguyễn Bình
Năm: 2007
15. Carl Von Clausewitz (1981), Bàn về chiến tranh phần 1, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chiến tranh phần 1
Tác giả: Carl Von Clausewitz
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1981
16. Căn cứ địa Bắc Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ địa Bắc Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Căn cứ địa Bắc Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
17. Chân dung người cộng sản chân chính Phạm Hùng (2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung người cộng sản chân chính Phạm Hùng
Tác giả: Chân dung người cộng sản chân chính Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các Tư lệnh và Chính ủy (2005), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các Tư lệnh và Chính ủy
Tác giả: Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các Tư lệnh và Chính ủy
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2005
19. Trần Phấn Chấn (1998), Lịch sử lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Phấn Chấn
Nhà XB: Nxb.Quân đội Nhân dân
Năm: 1998
21. Chung một bóng cờ (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chung một bóng cờ
Tác giả: Chung một bóng cờ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm