Di tích Cát Tiên không những mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân Óc Eo - Phù Nam, mà còn có mối tương quan với các nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ như Champa, Chân Lạp, Angko
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Với tinh thần trách nhiệm của một người làm công tác nghiên cứu khoa học, tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Những vấn đề trình bày trong luận văn là trung thực, là kết quả của sự tổng hợp đúc kết từ nhiều nguồn tài liệu
Nếu có bất kỳ điều gì trái với tinh thần trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2016
Học viên
Lê Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của học viên tại Khoa Đông Phương học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Thành phố Hồ Chí Minh Để hoàn thành luận văn này, học viên đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ từ phía nhà trường, đơn vị công tác, bạn bè và người thân trong gia đình
Học viên xin trân trọng cám ơn:
- PGS.TS Đặng Văn Thắng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho học viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn
- Các giảng viên và Thầy Cô khoa Đông Phương học và phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
- TS Hoàng Anh Tuấn - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử TP.HCM đã động viên tinh thần, tạo mọi điều kiện thuận lợi để học viên hoàn thành luận văn
- TS Bá Trung Phụ - Trưởng phòng Trưng bày – Giáo dục – Truyền thông, cùng các đồng nghiệp hiện đang công tác tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè thân hữu đã giúp đỡ, hỗ trợ học viên
về vật chất lẫn tinh thần để hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2016
Học viên
Lê Thanh Bình
Trang 5MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
7 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LINGA, YONI, LINGA - YONI Ở ẤN ĐỘ 10
1.1 Một số thuật ngữ và khái niệm 10
1.1.1 Thuật ngữ Bà la môn và Hindu 10
1.1.2 Một số khái niệm 11
1.2 Linga, Yoni, Linga – Yoni qua Khảo cổ và Văn học 18
1.2.1. Về Khảo cổ 18
1.2.2 Về văn học 20
1.3 Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ 24
1.3.1 Linga 24
1.3.2 Yoni 41
1.3.3 Linga - Yoni 42
1.4 Linga - Puja 46
Trang 6CHƯƠNG 2: LINGA, YONI, LINGA - YONI Ở CÁT TIÊN
YONI Ở ẤN ĐỘ 50
2.1 Tổng quan về di tích Cát Tiên 50
2.1.1 Vị trí địa lý 50
2.1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu di tích Cát Tiên 51
2.2 Di sản ở Cát Tiên 55
2.2.1 Kiến trúc 55
2.2.2 Di vật 62
2.3 Mối tương quan giữa Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ 68
2.3.1 Linga 68
2.3.2 Yoni 76
2.3.3 Linga - Yoni 79
CHƯƠNG 3: LINGA, YONI, LINGA - YONI Ở CÁT TIÊN TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI LINGA, YONI, LINGA - YONI Ở ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA 86
3.1 Quá trình tiếp nhận ảnh hưởng của Hindu giáo ở Đông Nam Á 86
3.2 Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên so sánh với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Đông Nam Á lục địa 91
3.2.1 So sánh với Óc Eo - Phù Nam 92
3.2.1.1 Linga 92
3.2.1.2 Yoni 98
3.2.1.3 Linga - Yoni 102
3.2.2 So sánh với Champa 105
Trang 73.2.2.1 Linga 107
3.2.2.2 Yoni 112
3.2.2.3 Linga - Yoni 114
3.2.3 So sánh với Campuchia 117
3.2.3.1 Linga 117
3.2.3.2 Yoni 122
3.2.3.3 Linga - Yoni 123
3.2.4 So sánh với Thái Lan 124
3.2.4.1 Linga 124
3.2.4.2 Yoni 127
3.2.4.3 Linga - Yoni 128
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 149
Trang 91
DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Linga, Yoni đầu tiên được tìm thấy tại di chỉ văn hóa Harappa ở phía Bắc Ấn
Độ, biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở của văn minh nông nghiệp Về sau khi những người Arya tràn vào Ấn Độ thì những tín ngưỡng này được kế thừa và phát triển gắn với hệ thống thần thoại Ấn Độ Qua nhiều giai đoạn phát triển, Linga và Yoni
đã trở thành biểu tượng của thần Shiva, là đối tượng thờ phụng không chỉ của những tín đồ Hindu trên đất Ấn mà đã vượt ra ngoài lãnh thổ và có ảnh hưởng đến quá trình phát triển văn hóa của nhiều quốc gia cổ ở Đông Nam Á Tuy nhiên, tùy theo từng quốc gia, nền văn hóa, thời kỳ lịch sử khác nhau mà quá trình tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp cũng đậm nhạt khác nhau, và di tích Cát Tiên cũng không ngoại lệ Di tích Cát Tiên được phát hiện trong thập niên 80 của TK XX, di tích đã
bị hủy hoại và nằm dưới mặt đất [Lê Đình Phụng 2006: 5] Tuy nhiên, qua nhiều lần khai quật khảo cổ, kết quả thu được đã khẳng định di tích Cát Tiên là một quần thể kiến trúc có quy mô, một trong những trung tâm tôn giáo lớn của cộng đồng cư dân vùng đất phương Nam Di tích Cát Tiên không những mang đậm bản sắc văn hóa của cư dân Óc Eo - Phù Nam, mà còn có mối tương quan với các nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ như Champa, Chân Lạp, Angkor -Campuchia… Các đợt khai quật khảo cổ ở di tích Cát Tiên đã thu được nhiều loại hiện vật khác nhau, đáng chú ý là những Linga, Yoni và Linga - Yoni với số lượng và kích thước vượt trội
Trong những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường và hơn sáu năm công tác tại Bảo tàng Lịch sử - TP.HCM, nơi đang lưu giữ một số hiện vật Linga, Yoni
và Linga - Yoni; tác giả đã có điều kiện tiếp xúc với những hiện vật gốc, đó cũng là một thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài
Với mong muốn tìm hiểu và nghiên cứu về Hindu giáo nói chung và biểu
tượng Linga, Yoni, Linga - Yoni nói riêng, tác giả đã chọn đề tài“Linga, Yoni,
Linga - Yoni ở Cát Tiên trong mối tương quan với Ấn Độ và Đông Nam Á” làm
luận văn thạc sĩ Châu Á học
Trang 102
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp các nguồn tài liệu và kết quả nghiên cứu của những tác giả
đi trước, phân tích những hiện vật Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên và một số bảo tàng, di tích; luận văn bước đầu tìm hiểu mối tương quan văn hóa giữa Cát Tiên với Ấn Độ và Đông Nam Á lục địa
Nghiên cứu về biểu tượng Linga, Yoni và Linga - Yoni dưới góc độ văn hóa, tôn giáo để làm rõ các yếu tố bản địa hóa của các khu vực chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, từ đó giải thích vì sao cùng chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng số lượng và phong cách Linga, Yoni, Linga - Yoni giữa các khu vực và các nền văn hóa lại khác nhau
Ngoài việc cung cấp những thông tin cơ bản về Linga, Yoni, Linga - Yoni ở một số nền văn hóa, luận văn còn góp thêm tư liệu tham khảo cho những người có quan tâm đến biểu tượng Linga, Yoni, Linga - Yoni nói riêng và Hindu giáo nói chung
3 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Hindu giáo ở Đông Nam Á là lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước Năm 1898, chính quyền Pháp ở Đông Dương đã thành lập Trường Viễn Đông Bác Cổ tại Việt Nam nhằm nghiên cứu các nền văn minh Đông Nam Á Tuy nhiên nghiên cứu về Linga, Yoni, Linga - Yoni cho đến nay vẫn chưa có tài liệu chuyên khảo nào; đặc biệt là Linga, Yoni, Linga - Yoni ở di tích Cát Tiên trong mối tương quan với Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á Những công trình nghiên cứu về Linga, Yoni và Linga - Yoni chủ yếu là những bài viết hoặc chỉ là một nội dung trong một số công trình nghiên cứu Hầu hết các tác giả nghiên cứu dưới góc độ khảo cổ học mà chưa có công trình nào nghiên cứu đối sánh mang tính khu vực
Do nguồn tư liệu đa dạng nên trong phần lịch sử nghiên cứu tác giả lựa chọn một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và phân thành hai loại chính là công trình của các học giả trong và ngoài nước
Trang 113
Công trình “Văn hóa Óc Eo những khám phá mới” của tác giả Lê Xuân
Diệm và cộng sự xuất bản 1995 Công trình giới thiệu nền văn hóa Óc Eo giai đoạn
từ năm 1975 – 1993, từ lịch sử phát hiện, khai quật cho đến các di tích, các loại hình
di vật; trong đó có Linga, Yoni Công trình cũng đưa ra những tiền đề khoa học cho những khám phá tiếp theo về Óc Eo, về lịch sử xa xưa ở đồng bằng Nam bộ của Việt Nam và Đông Nam Á
Công trình “Lịch sử Vương quốc Champa” của Lương Ninh xuất bản năm
2004 Công trình cung cấp tư liệu về các giai đoạn của vương quốc Champa cổ, mở đầu cho nghiên cứu về lịch sử Champa của các học giả trong nước, đồng thời là một tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu về các giai đoạn lịch sử của vương quốc Champa cổ
Công trình “Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ” của tác giả Huỳnh Thị
Được xuất bản năm 2005, giới thiệu nội dung các thần thoại Ấn Độ liên quan đến các vị thần hay những biểu tượng của các vị thần thường được miêu tả trong nghệ thuật điêu khắc đá Chăm Ngoài ra, công trình cũng cung cấp hình ảnh và miêu tả chi tiết các tác phẩm điêu khắc có chủ đề từ thần thoại Ấn Độ hiện đang lưu giữ ở các di tích, các Bảo tàng trong và ngoài nước
Công trình “Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu
Long trước TK X” của tác giả Lê Thị Liên xuất bản năm 2006 Tác giả trình bày về
các tượng Phật, tượng thần Hindu, biểu tượng Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Óc Eo - Phù Nam và Chân Lạp thời kỳ tiền Angkor trên vùng đất Nam Bộ Công trình đã phản ánh khá toàn diện nền nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo thời kỳ vùng đất Nam Bộ xưa chịu sự ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ Công trình có tính chất tham khảo khi nghiên cứu so sánh về mức độ ảnh hưởng và quan niệm thờ phụng ở từng khu vực
Một công trình quan trọng trong nghiên cứu về di tích Cát Tiên là “Di tích Cát
Tiên Lâm Đồng - Lịch sử và Văn hóa” của tác giả Lê Đình Phụng xuất bản năm
2006 Với vai trò là người trực tiếp phụ trách ba cuộc khai quật, tác giả đã trình bày
Trang 124
khá đầy đủ các đợt khai quật khảo cổ và mô tả những hiện vật thu được sau mỗi đợt khai quật, đặc biệt là những hiện vật Linga, Yoni, Linga - Yoni được tác giả khảo tả
và đánh giá khá chi tiết Công trình đã phác họa tổng quan toàn bộ khu di tích, từ đó
có những đánh giá bước đầu về niên đại và nền văn hóa của cư dân bản địa
Công trình “Khảo cổ học Tiền – Sơ sử và Lịch sử Lâm Đồng” của tác giả
Trần Bảo Sơn xuất bản 2014 Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên về tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa của tỉnh Lâm Đồng từ thời tiền sử đến sơ sử, từ nguyên thủy tiến tới các nhà nước sơ khai ở phía Nam vùng đất Tây Nguyên Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến quá trình khai quật khảo cổ di tích Cát Tiên qua các năm và những Linga, Yoni, Linga – Yoni tìm được từ các đợt khai quật; từ đó nhận định Cát Tiên là khu thánh địa nổi tiếng một thời, có thể là trung tâm tôn giáo - chính trị, một tiểu vương quốc cổ trong lịch sử
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu chưa xuất bản thành sách như
luận văn Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử của tác giả Phạm Hữu Mý về đề tài “Điêu
khắc đá Champa” bảo vệ năm 1995 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả trình bày khá chi tiết về các hình tượng, phong cách nghệ thuật trong điêu khác đá Champa Luận văn Tiến
sĩ Văn Hóa học của tác giả Phan Anh Tú với đề tài “Hình tượng điêu khắc thần
Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á” bảo vệ năm 2014 tại trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trong luận văn của mình, tác giả đã đi sâu nghiên cứu hình tượng vị thần Vishnu và Shiva
ở một số nền văn hóa cụ thể trong khu vực Đông Nam Á, sau đó tiến hành so sánh
để thấy được sự tương đồng và khác biệt về phong cách nghệ thuật cũng như mức
độ ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ giữa các khu vực
Những bài viết về Linga, Yoni, Linga - Yoni của các tác giả được công bố trên tạp chí Khảo cổ học và thông báo Những phát hiện mới về Khảo cổ học của Viện khảo cổ học học cũng là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho tác giả Trong tạp chí
Khảo cổ học số 2-2014 của Viện khảo cổ học, tác giả PGS.TS Đặng Văn Thắng có
bài tham luận “Thần Shiva trong văn hóa Óc Eo” cho thấy sự ảnh hưởng của
Trang 135
Hindu trong văn hóa Óc Eo thông qua những hiện vật thu được từ những đợt khai quật khảo cổ học Tác giả đã chia Linga trong văn hóa Óc Eo thành ba giai đoạn, từ
đó cho chúng ta thấy sự phát triển của Linga, Yoni giữa các giai đoạn
Một công trình rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa Ấn Độ là
“Lịch sử văn minh Ấn Độ” của tác giả Will Durant do dịch giả Nguyễn Hiếu Lê
chuyển ngữ, xuất bản năm 2006 Tác giả đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về lịch sử Ấn Độ trên các phương diện văn hóa, chính trị, nghệ thuật…; từ đó cho thấy các giai đoạn phát triển của nền văn minh nhân loại
Công trình “Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông” của Sherman E.Lee xuất bản năm
2007 Tác giả trình bày nền văn hóa và mỹ thuật Ấn Độ từ thời tiền sử, từ đó tìm hiểu về đời sống văn minh đô thị và thung lũng Indus Ở phần hai, tác giả trình bày
về phong cách Gupta và sự mở rộng của nền Phật giáo vào Đông Nam Á Tác giả cũng đề cập đến nền mỹ thuật Hindu từ lúc ban đầu cho đến thời Trung cổ và sau Trung cổ Tác giả đã so sánh đồng đại với các quốc gia Viễn Đông ngoài Ấn Độ để làm nổi bật sự tương đồng và dị biệt giữa các nền văn hóa
Tác giả Goerge Coedès với công trình “Cổ sử các nước Viễn Đông chịu sự
ảnh hưởng văn minh Ấn Độ”, xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1964 và chuyển ngữ
sang tiếng Việt vào năm 2008 Trong nghiên cứu của mình, Coedès cho rằng đế chế Phù Nam sụp đổ vào năm 550 và nước Chân Lạp bắt đầu hình thành dưới thời trị vì của vua Mahendravarman Để củng cố vương triều của mình, nhà vua đã liên kết với nhiều quốc gia cổ trong khu vực như: Lavo 1, Dvaravati 2 và Champa Đây chính là mối liên hệ đầu tiên giữa các quốc gia, là cầu nối cho mối liên hệ văn hóa chính trị sau này Trong tác phẩm, tác giả có nhắc đến sự xuất hiện sớm của Hindu giáo trên đất Xiêm 3 Công trình chủ yếu sử dụng hướng tiếp cận lịch sử để giải thích sự truyền bá văn hóa Hindu giáo từ đế chế Khmer sang các quốc gia láng
giiềng
1 Lavo: vương quốc (TK VII – XII) nằm ở tả ngạn sông Chao Phraya trong thung lũng Thượng Chao Phraya
2 Dvaravati (TK VI – XI) là một tập hợp các quốc gia đô thị của người Môn ở dọc sông Chao Phraya
3 Xiêm: tên gọi nước Thái Lan từ năm 1782 đến năm 1939
Trang 146
Năm 2009, với mục đích nêu bật mối quan hệ lâu đời Việt Nam - Ấn Độ, tác
giả Geetesh Sharma đã cho ra đời công trình “Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại
Việt Nam” và được dịch giả Thích Trí Minh chuyển ngữ sang tiếng Việt vào năm
2012 Với hơn 200 trăm trang, tác giả đưa ra luận cứ khẳng định mối quan hệ giữa
Ấn Độ và Việt Nam vốn đã có trong lịch sử Theo tác giả, mối liên hệ lịch sử giữa hai quốc gia đã được định hình thông qua sự xuất hiện và tồn tại của các quốc gia cổ như Champa, Phù Nam Cũng theo tác giả, cộng đồng người Chăm ở Việt Nam
"không ai khác hơn là các thương nhân hàng hải Ấn Độ đã mang theo hàng hóa đến Việt nam rồi dần dần lập nên vương quốc của mình” Tác giả cũng nhấn mạnh
sự ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đối với người bản địa không bắt nguồn từ cuộc xâm lăng, mà là sự lan tỏa của văn hóa Ấn Độ ở Đông Nam Á Đây được xem là một cuộc “xâm lăng” tri thức thông qua phương tiện hòa bình trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế và ngoại giao
Luận văn tiến sĩ về khảo cổ học đề tài “The Emergence and Development of
Brahmanism in Thailand with Special Reference to Iconography of Brahmanical Deities ( upto13th CentureA.D)” (tạm dịch “Sự xuất hiện và phát triển của Bà
La Môn giáo ở Thái Lan qua tiếu tượng học các vị thần Bà la Môn từ TK XIII”)
của tác giả Wannapat Ruangsup thuộc Trường đại học Deccan của Ấn Độ viết năm
2013 Tác giả trình bày quá trình xuất hiện và phát triển các hình tượng trong Balamon từ phi nhân dạng đến nhân dạng Đặc biệt trong chương hai, tác giả thống
kê và phân tích khá kỹ các loại hình Linga, Yoni, Linga – Yoni ở Thái Lan, từ đó so sánh với Ấn Độ và các nước Đông Nam Á Tác giả cũng khẳng định nghệ thuật
Balamon ở Thái Lan chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nghệ thuật Angkor
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những hiện vật Linga, Yoni, Linga – Yoni được tìm thấy ở Cát Tiên, các di tích, các Bảo tàng ở Ấn Độ và Đông Nam Á cũng như những tư liệu hiện vật đã được công bố trong các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Ngoài ra luận văn còn đề cập đến các hiện vật
Trang 157
như phù điêu, bản vẽ có liên quan đến Linga, Yoni, Linga - Yoni; các di vật, di tích, bia ký có liên quan nhằm làm rõ mối liên hệ qua lại giữa các nền văn hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, do hạn chế về mặt tư liệu và khả năng điền dã, vì vậy
trong giới hạn của đề tài luận văn, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ bao gồm khu vực Đông Nam Á lục địa và Ấn Độ Ở Đông Nam Á lục địa, tác giả sẽ đề cập đến một số nền văn hóa cổ như: Phù Nam, Champa, Dvaravati 1 của Thái Lan, Chân Lạp 2 và Angkor 3 của Campuchia ; trong đó khu di tích Nam Cát Tiên được coi là trung tâm để đối sánh với các khu vực khác nhằm làm rõ mối tương quan về văn
hóa và nghệ thuật giữa các nền văn hóa này
Về mặt thời gian, luận văn khảo cứu biểu tượng Linga, Yoni và Linga - Yoni
có niên đại vào khoảng TK IV - XII, cùng với khung niên đại của di tích Cát Tiên Tuy nhiên trong một số trường hợp tác giả sẽ sử dụng hiện vật có niên đại sớm hoặc muộn hơn khung niên đại nêu trên để tiện đối sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với một số quốc gia Đông Nam Á cổ đại Ngoài ra, luận văn lí giải nguyên nhân Linga, Yoni được thờ phụng phổ biến ở Ấn Độ và Đông Nam Á Bên cạnh đó luận văn cũng trả lời câu hỏi vì sao cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ nhưng ở mỗi quốc gia lại có cách tiếp nhận khác nhau
Luận văn cung cấp tư liệu tham khảo cho những người có quan tâm nghiên cứu về Linga, Yoni, Linga - Yoni, đặc biệt là Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên Luận văn cũng giúp tác giả nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình công tác tại đơn vị
1 Dvaravati (TK VI – XI): tập hợp các quốc gia đô thị của người Môn ở dọc sông Chao Phraya
2 Chân Lạp: nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại ở Campuchia từ khoảng năm 550 – 802
3 Angkor cũng là tên gọi của kinh đô của Đế quốc Khmer ở Campuchia tồn tại trong khoảng thời gian từ TK
IX – XIII
Trang 168
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là công cụ quan trọng trong việc tiếp cận, tổng hợp
và phân tích nguồn tư liệu Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu so sánh: khảo cứu nét tương đồng và khác biệt
giữa các biểu tượng Linga, Yoni, Linga - Yoni ở di tích Cát Tiên với một số quốc gia Đông Nam Á lục địa và Ấn Độ
Phương pháp phân tích tư liệu: tham khảo và phân tích các nguồn tư liệu
của các tác giả đi trước để tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu vấn đề, từ đó tìm ra hướng nghiên cứu mới cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu tiến trình phát triển của Linga,
Yoni, Linga - Yoni; từ đó phân tích các đặc điểm, phong cách, niên đại của từng hiện vật tương ứng với từng giai đọan lịch sử nhất định
Phương pháp nghiên cứu điền dã: tiến hành thực địa khảo sát, chụp hình,
lấy tư liệu tại chỗ, đồng thời kiểm chứng lại nguồn tư liệu đã được các công trình nghiên cứu công bố trước đó
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu tổng hợp từ các chuyên
ngành có liên quan đến luận văn như: văn hóa, lịch sử, khảo cổ, tôn giáo và nhân học
6.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn này, tác giả dựa trên nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước khác nhau như: các công trình nghiên cứu, các bài viết, các báo cáo khai quật khảo cổ và những hiện vật có liên quan Ngoài ra, một số trang mạng điện tử có uy
tín cũng là nguồn tư liệu tham khảo cho tác giả thực hiện luận văn
Trang 179
7 Bố cục luận văn
Chương 1: Tổng quan về Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ
Ngoài phần định nghĩa, trong chương này tác giả trình bày Linga, Yoni, Linga
- Yoni trên hai phương diện khảo cổ học và văn học; từ đó phân tích Linga, Yoni, Linga - Yoni ở một số di tích và các bảo tàng trong và ngoài Ấn Độ để làm cơ sở
đối sánh với hiện vật ở di tích Cát Tiên
Chương 2: Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên trong mối tương quan với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ
Trình bày tổng quan về di tích Cát Tiên như vị trí địa lý, quá trình phát hiện và nghiên cứu, sau đó đi sâu vào trình bày các loại hình Linga, Yoni, Linga - Yoni để làm cơ sở đối sánh với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ
Chương 3: Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên trong mối tương quan với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Đông Nam Á lục địa
Trình bày quá trình ảnh hưởng và tiếp nhận ảnh hưởng Linga, Yoni, Linga - Yoni ở khu vực Đông Nam Á lục địa Phân tích một số hiện vật cụ thể ở từng nền văn hóa nhất định; từ đó đối sánh với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên để thấy được mối tương quan giữa Cát Tiên với khu vực
Trang 1810
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LINGA, YONI,
LINGA - YONI Ở ẤN ĐỘ
1.1 Một số thuật ngữ và khái niệm
1.1.1 Thuật ngữ Bà la môn và Hindu
Hindu giáo (hay còn gọi là Ấn Độ giáo ngày nay) là cả một quá trình phát triển liên tục và lâu dài, trải qua các thời kỳ: Veda, Bà la môn và Hindu; tuy nhiên
sự phân biệt rạch ròi giữa các thời kỳ này cũng còn nhiều tranh cãi Qua nghiên cứu,
tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, đặc biệt các tác phẩm “Lịch sử mỹ thuật Viễn
Đông” của Sherman E.Lee, “The art of south and southeast asia” (tạm dịch “Nền nghệ thuật tại khu vực Nam và Đông Nam Á”) của Miriam - Ira D Wallach
Foundation và tác phẩm “Lịch sử văn minh Ấn Độ” của Will Durant Các tác giả
hầu hết đều thống nhất quá trình hình thành và phát triển của Hindu giáo chia thành
ba thời kỳ như sau:
+ Thời kỳ Veda (TK XV - VIII TCN): Giai đoạn người Arya xâm nhập và
xác lập sự thống trị của mình ở Ấn Độ Kinh Veda 1 ra đời tập hợp tất cả tri thức về
vũ trụ, thiên nhiên và con người Các vị thần trong Veda ngụ ở ba cõi: Hạ giới,
Không trung và Thiên giới
+ Thời kỳ Bà la môn (TK VIII TCN – IV SCN): Người Arya di chuyển
xuống đồng bằng sông Hằng Giai đoạn này hình thành nên các bộ sử thi Mahabharata, Ramayana và bộ kinh Upanishad bổ sung cho kinh Veda Quan niệm
về linh hồn vũ trụ và chủ thể sáng tạo là sự thức giấc của thần Brahma, đồng thời cũng hình thành quan niệm về sự phân thân và các kiếp hóa thân của các vị thần Đây cũng là thời kỳ ra đời của Phật giáo với quan điểm không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn Đức Phật cũng không chấp nhận việc phân chia con người dựa trên các đặc tính, như việc cho rằng các đạo sĩ Bà la môn
1 Kinh Veda có bốn cuốn gồm Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda và Athavar Veda
Trang 1911
là thanh tịnh, còn các Thủ Đà La 1 là ngu tối và dơ bẩn Theo Phật giáo, đẳng cấp
chỉ là một vấn đề quy ước của con người
+ Thời kỳ Hindu (TK IV cho đến nay): Qua nhiều lần cải cách giới luật và
các thần linh mới để phù hợp với sự phát triển xã hội, giải thích sự ra đời của Đức Phật chỉ là một trong mười kiếp hóa thân của thần Vishnu Bà la môn giáo chuyển
thành Hindu giáo với ba vị thần chính thống là Shiva, Vishnu và Brahma
Dựa vào bản phân kỳ trên, trong quá trình thực hiện luận văn, những mốc thời
gian hoặc di vật có liên quan tới giai đoạn TK XV - VIII TCN tác giả sẽ dùng từ
“thời kỳ Veda” Những mốc thời gian và di vật có liên quan tới giai đoạn TK VIII
TCN - IV SCN hoặc nguyên bản trích dẫn của các tác giả nghiên cứu trước, tác giả
sẽ dùng từ “Bà la môn” Những mốc thời gian và di vật có liên quan tới giai đoạn
từ TK IV cho đến nay và ám chỉ toàn bộ ba giai đoạn kể trên tác giả sẽ dùng từ
Khái niệm “khu vực” theo tiêu chí không gian - chức năng biểu thị năm mức
độ từ thấp đến cao khác nhau Thứ nhất, “khu vực” là một khoảng đất (diện tích)
nhỏ được phân biệt với những khoảng diện tích khác bởi chức năng hay những dấu
hiệu nào đó, có thể là đất trống hay có mái che Thứ hai, “khu vực” là một địa
phương hay vùng đất bên trong lãnh thổ quốc gia, được phân biệt với các vùng đất
khác bởi các dấu hiệu địa lý hay phân biệt bởi địa giới hành chính, an ninh Thứ ba,
“khu vực” là lãnh thổ một quốc gia Cách nói này không phổ biến, nhưng “quốc gia” chính là một cấp độ thuộc ngoại diên của khái niệm “khu vực”, hơn nữa phải là
1 Thủ Đà La: hạng hạ tiện, nô lệ, làm khổ sai suốt đời cho các tầng lớp trên, bị đánh, giết tùy tiện
Trang 2012
cấp đơn vị cơ bản xét trên quan điểm nghiên cứu khu vực quốc tế Thứ tư, “khu
vực” là một vùng không gian rộng lớn trên bản đồ thế giới, bao gồm toàn bộ lãnh thổ liền kề nhau của nhiều quốc gia hoặc nhiều phần lãnh thổ của các quốc gia trên
cơ sở nét đồng nhất nào đó về các đặc điểm địa lí tự nhiên, hay các đặc điểm hành
chính, lãnh thổ, văn hoá Thứ năm, “khu vực” là một không gian xuyên quốc gia,
tức không nhất thiết phải liền kề nhau; bao gồm lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia tham gia vào một hiệp ước song phương hay đa phương [Lương Văn Kế 2012: 198]
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm “khu vực” ở mức độ thứ ba, tức coi khu vực là lãnh thổ một quốc gia để nghiên cứu về Ấn Độ và mức độ thứ tư, tức coi khu vực là một vùng không gian rộng lớn trên bản đồ thế giới, gồm toàn bộ lãnh thổ liền kề nhau của nhiều quốc gia hoặc nhiều phần lãnh thổ của các quốc gia trên cơ sở nét đồng nhất nào đó về các đặc điểm địa lí tự nhiên để nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á lục địa, trong đó có Phù Nam – Óc Eo, Champa, Campuchia, Thái Lan
Biểu tượng
Trong tiếng Việt, “biểu tượng” là một từ dùng khá phức tạp Theo “Từ điển
Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê xuất bản năm 2010, “biểu tượng” mang hai
nghĩa Thứ nhất, đây là “hình ảnh tượng trưng”, trong khi đó, theo nghĩa thứ hai thì
“Biểu tượng là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” Tác giả Đinh Hồng Hải trong cuốn “Nghiên cứu biểu tượng một số hướng
tiếp cận lý thuyết” xuất bản năm 2014 cho rằng “Biểu tượng là hình ảnh tượng
trưng do con người tạo ra, tồn tại trong đời sống của con người và có tác động đến đời sống văn hóa của con người” [Đinh Hồng Hải 2014: 12] Cũng có một định nghĩa khác “Biểu tượng là từ gọi chung ở các nền văn hóa, tuy nhiên rất khó để lý giải chung cho tất cả các biểu tượng đó mà chỉ tiếp cận mỗi biểu tượng qua mỗi nền văn hóa Dù chúng tồn tại ở nền văn hóa nào thì cũng không thể tách rời văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật; vì vậy vai trò của biểu tượng cơ bản là một biểu tượng
Trang 2113
trong đời sống, một thành tố của tôn giáo và một tác phẩm nghệ thuật” [Đinh Hồng
Hải - Bùi Huy Vọng 2015: 7]
Trong khi đó, cuốn “Từ điển biểu tượng” của tác giả Carl G Liungman xuất
bản năm 1995 thì định nghĩa “Những gì được gọi là biểu tượng là khi nó được một nhóm người đồng ý nó có nhiều hơn một ý nghĩa đại diện cho chính bản thân nó”
[Carl G Liungman 1995: 25] Như vậy, ở hầu hết các bộ từ điển trên thế giới đều có
một điểm chung khi định nghĩa “Biểu tượng là một đối tượng này đại diện cho một đối tượng khác”
Cũng nghiên cứu về “biểu tượng”, nhưng ngành nhân học lại có lý thuyết về
“nhân học biểu tượng” “Nhân học biểu tượng” coi văn hóa là một hệ thống ý nghĩa truyền đạt, nghiên cứu văn hóa đặt trong tâm vào sức tưởng tượng của văn hóa Coi văn hóa là dạng ý nghĩa được biểu hiện bằng biểu tượng, được truyền lại theo thời gian, trong đó biểu tượng là phương tiện trung gian biểu hiện ý nghĩa nội dung về vật thể, biểu tượng có thể ở dạng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ
Trong cuốn “Encyclopedia of Social and Cultural Anthropology” (tạm dịch
“Bách khoa thư về nhân chủng học xã hội và văn hóa”) của tác giả Jonathan
Spencer xuất bản năm 1996 cho rằng “Nhân học biểu tượng đề cập đến văn hoá như một thực thể có tính độc lập tương đối, là một hệ thống ý nghĩa mà qua đó các nhà nhân học muốn tạo ra để giải mã và diễn dịch các biểu tượng và các nghi lễ trọng
tâm” [Jonathan Spencer 1996: 535-539] Còn trong cuốn “Encyclopedia of
Cultural Anthropology” (tạm dịch “Bách khoa thư về nhân học văn hóa”) của tác
giả Des Chene xuất bản năm 1998 lại cho rằng: “Nhân học biểu tượng nghiên cứu ý
nghĩa trong đời sống xã hội loài người, bằng cách nào chúng ta tri nhận và diễn giải những gì diễn ra xung quanh và bằng cách nào chúng ta sáng tạo và sẻ chia với thế giới hoặc hệ thống ý nghĩa văn hoá Nhân học biểu tượng tiếp cận với một góc nhìn rộng lớn về các biểu tượng, biểu tượng hoá, sự vật và ý nghĩa mà con người đặt cho với ý nghĩa, sự nhận biết, quá trình giao tiếp” [Des Chene 1998:
1274-1278]
Trang 2214
Nhân học biểu tượng dưới khía cạnh văn hoá dân gian trong cuốn “Folklore:
An encyclopedia of beliefs, customs, tales, music, and art” (tạm dịch “Văn hóa dân gian: Bách khoa thư về các tín ngưỡng, phong tục, chuyện kể, âm nhạc và nghệ thuật”) của tác giả Edith Turner xuất bản năm 1997 nhận định rằng “Nhân
học biểu tượng là khoa học nghiên cứu về các biểu hiện tự nhiên của các biểu tượng được sử dụng ở các nền văn hoá khác nhau, các nghi lễ trình diễn, và trong đời sống hàng ngày, nơi mà nó có đầy đủ hơn các ý nghĩa thành văn Mỗi biểu tượng có hai phần - một là những thực thể nhìn thấy và phần còn lại là ý nghĩa biểu hiện của nó Nhân học biểu tượng diễn giải các biểu tượng trong ngữ cảnh của tiến trình xã hội và đời sống văn hoá” [Edith Turner 1997: 24-29]
Từ các định nghĩa trên có thể thấy, đối tượng được nhắc đi nhắc lại là văn hoá và hệ thống ý nghĩa của nó Như vậy, đối tượng nghiên cứu của “nhân học biểu tượng” chính là văn hoá và hệ thống ý nghĩa của nó, đây là phương pháp tiếp cận nhằm nghiên cứu và lý giải ý nghĩa của các biểu tượng văn hoá
Linga
“Linga” (लिङ्गं) hay còn gọi là Lingam, Ling, Shiva Linga, Shiva Ling
Trong tiếng Bắc Phạn (Sanskrit), “Linga” có nghĩa là “dấu” (sign) hay “ký hiệu”
(mark) [Bách khoa toàn thư wikipedia:133] “Linga” là biểu tượng phi nhân dạng
(Aniconic) rất quen thuộc trong Hindu giáo, đặc biệt là những hệ phái thờ Shiva
Từ nguyên “Linga” vẫn còn là một vấn đề đang tranh cãi bởi nó không được tìm thấy trong những bản văn Sanskrit 1 cổ, là một thuật ngữ trung tâm của việc thờ phụng dương vật phi Aryan 2 và không có từ nguyên Ấn - Âu nào được đưa ra
đủ sức thuyết phục các học giả Nhiều học giả đã chọn lựa một nguồn gốc phi Aryan cho thuật ngữ này Ngôn ngữ tiền Dravidan thường không có từ bắt đầu
bằng “l hay r”, nhưng có một số ngôn ngữ trong đó “l” bắt nguồn từ “n” Dựa trên
1 Sanskrit hay còn gọi là tiếng Phạn, một ngôn ngữ cổ của Ấn Độ Sanskrit còn gọi là Bắc Phạn để phân biệt với tiếng Pali là Nam Phạn Sanskrit là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Hindu giáo, Phật giáo Bắc Tông và Jaina giáo
2 Người Arya thuộc chủng người da trắng, từ Tây Bắc nhập cư vào Ấn Độ vào khoảng 1500 TCN
Trang 2315
cơ sở đó, họ cho rằng Linga có thể là một từ vay mượn ngôn ngữ của người Dravida 1, được rút ra từ gốc tiếng của người Dravida ning/nig (nghĩa là đứng lên,
dựng đứng) Một nguồn gốc như vậy được cho là phù hợp với nghĩa của Linga là
“dương vật” và “cột trụ được dựng lên” [Asko Parpola 1994: 223]
Trong cuốn “A Sanskrit-English Dictionary” ( “Từ điển Sanskrits - tiếng
Anh”) của Monier-Williams xuất bản năm 1872 thì định nghĩa “Linga hay Lingam
có nghĩa là “dấu hiệu, ký hiệu, biểu hiện, vật tượng trưng, biểu tượng, là bộ phận đàn ông hay dương vật đặc biệt là của việc thờ phụng Shiva 2 trong hình thức một hòn đá hay cột đá” [Monier -Williams 1872: 901]
Sau này, từ điển “Encyclopædia Britannica 2010” cập nhật ngày 12/24/2014
thì giải thích “Shiva được thờ phụng trong hình thức Linga hay Lingam, một vật hình trụ hiến tế thường được gắn vào một Yoni Chúng cùng nhau tượng trưng cho quá trình vĩnh cửu của sáng tạo và tái sinh Từ cuối TK XIX, nhiều học giả đã giải thích Linga và Yoni là những miêu tả phi nhân dạng lần lượt của cơ quan giới tính nam và nữ” [Britannica: 136]
Trong tác phẩm “The Cultural Heritage of India” (“Di sản văn hóa Ấn Độ”)
của Haridas Bhattacharyya, một học giả bản địa, xuất bản 1956 khẳng định “Đối với những người thờ phụng thần Shiva, Linga chỉ là một hình thức hay biểu tượng phi nhân dạng của Đấng Tối Cao…, Những tín đồ Tantric xem Linga như một biểu tượng của sức sáng tạo thần linh nam - nữ” [Haridas Bhattacharyya 1956: 237]
Thuật ngữ “Linga” không xuất hiện trong Rig Veda, bản văn cổ nhất của Hindu giáo, nhưng lại xuất hiện trong các bản văn Hindu giáo sau này với nghĩa là
“dấu hiệu” Trong cuốn “The Myths and Gods of India The Classic Work on
Hindu Polytheism” (tạm dịch “Chuyện thần thoại và các tác phẩm kinh điển về thuyết đa thần Hindu ở Ấn Độ”) của tác giả Alain Daniélou xuất bản năm 1991
Trang 2416
có nhắc đến trong câu 1.16.106 của Shiva Purana 1 rằng “Linga nghĩa là dấu hiệu, dấu hiệu phân biệt mà qua nó bản chất của cái gì được nhận ra thì được gọi là Linga” [Alain Daniélou 1991:18]
Từ những định nghĩa và nhận xét trên, có thể thấy “Linga là một dấu hiệu, một biểu tượng” Dần dần, Linga mang nghĩa đặc biệt hơn khi là dấu hiệu của giới
tính, sau đó là dấu hiệu của giới tính nam, và cuối cùng là dấu hiệu của giới tính nam của thần Shiva Trong Hindu giáo thì thần Shiva là thần chủ và có quyền năng tuyệt đối, biểu tượng phổ biến nhất của thần là Linga, hay nói cách khác Linga chính là bản thân của thần Shiva Các triết gia cho rằng, hình ảnh trừu tượng sẽ biểu thị tốt hơn sự vô hình của thần thánh, tức là năng lực biến thành muôn hình vạn trạng vào được tất cả mọi nơi, mọi thời điểm; ví như bức tượng không cần đôi mắt, không cần đôi chân vì thần có thể di chuyển mà không cần những thứ đó Vì
là biểu tượng của thần Shiva, Linga mang hình dạng sinh thực khí nam biểu trưng cho sự phổ quát của thần linh, sức mạnh sinh sản của tự nhiên
Như vậy, có thể nói Linga là biểu tượng của vị thần Shiva, là một sản phẩm mang tính tinh thần cao của Hindu giáo Linga có nhiều loại hình khác nhau, nhưng phổ biến thường có dạng hình trụ, đầu vê tròn; có cấu tạo một, hai hoặc ba phần và
được các tín đồ Hindu giáo tôn sùng
Yoni
“Yoni” (योनि) trong tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) có nghĩa là “âm đạo” hay “dạ”, biểu tượng của Shakti 2 hay Devi 3 [Britannica: 136] Trong nghệ thuật Ấn Độ, Yoni thể hiện yếu tố nữ (âm), đồng thời cũng tượng trưng cho năng lượng nữ của vũ trụ Shakti khi gắn chặt với Shiva 4 là hình ảnh của cái Âm gắn với cái Dương Shiva là
1 Shiva Purana: những câu chuyện về thần Shiva
2 Shakti: năng lượng, sức mạnh và vẻ đẹp của người phụ nữ; nữ thần luôn sống bên trong mỗi chúng ta, và tất
cả những gì chúng ta cần làm là đánh thức và kết nối với nữ thần của con người mình
3 Nữ thần Devi: thần của tri thức, âm nhạc, nghệ thuật và thiên nhiên Bà là một trong ba vị thần bao gồm Saraswati, Lakshmi và Parvati Ba nữ thần cùng nhau hỗ trợ các nam thần là Brahma, Vishnu và Shiva trong
sự sáng tạo, duy trì sự sống và sự hủy diệt của vũ trụ
4 Shiva: vị thần tối cao, thần chủ trong hệ thống các vị thần của Hindu giáo Shiva tượng trưng cho sự hủy diệt và sáng tạo biểu tượng của thần là cái Linga
Trang 2517
hình ảnh người cha, còn Shakti là hình ảnh người mẹ thần thánh Vì vậy, Shiva và Shakti chỉ là một cái tuyệt đối, trong hai mặt của Âm và Dương [Jean Chevalier 1997: 816]
Yoni có nhiều hình dạng khác nhau như hình tứ giác, hình tròn hoặc bát giác; thường có vòi dẫn nước, mặt Yoni chạm lõm, ở vị trí tâm Yoni có lỗ lắp Linga
Linga và Yoni thường đi chung với nhau tạo thành bộ Linga - Yoni
Linga - Yoni
“Linga - Yoni” là hình thức thờ sinh thực khí, biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực Nhưng với định danh, “Linga - Yoni” là biểu tượng của Hindu giáo, tượng trưng cho đấng thần linh vì mỗi vị thần đều có vợ là người phối ngẫu đồng thời cũng là Shakti, tức là bản thể của chính vị nam thần Shakti là vợ của thần Shiva với nhiều hiện thân khác nhau như Parvati - nữ thần của núi rừng, thần Uma hay thần Durga - nữ thần với quyền lực vô biên “Linga - Yoni” có thể được xem là sự đồng nhất của thần Shiva với chính Shakti của mình, biểu thị cho sự toàn năng của thần Shiva “Linga - Yoni” còn là biểu tượng của nguyên lý sinh sản, là biểu thị sự hợp nhất nguyên lý âm dương, vũ trụ và vạn vật tồn tại đều dựa trên sự cân bằng của hai mặt đối lập ấy Đối với thần linh thì sự giao hòa không phải là điều xảy ra ở nữ tính hay nam tính; mà đó là sự kết hợp mang tính nguyên lý
Chính vì vậy, hình tượng Linga thường được hiểu là tính dương, tượng trưng cho thần Shiva; còn Yoni tượng trưng cho vợ thần Shiva, được hiểu là tính âm Cũng có quan điểm cho rằng “Linga - Yoni” chỉ là sự hiện thân duy nhất của một vị thần Shiva, bởi lẽ những người vợ của thần đều do những kiếp khác nhau mà thần hóa thân ra Như vậy âm tính và dương tính đều tồn tại trong bản thân thần Shiva, cũng như vạn vật tồn tại dựa trên sự đối lập của hai mặt âm dương trong một bản thể “Linga - Yoni” là một trong những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc phổ biến ở các cơ sở thờ phụng của tín đồ Hindu, nó được thể hiện sinh động qua các hình dạng và chất liệu khác nhau
Trang 2618
1.2 Linga, Yoni, Linga – Yoni qua Khảo cổ và Văn học
1.2.1 Về Khảo cổ
Hindu giáo có quá trình phát triển lâu dài và liên tục qua các thời kỳ Veda, Bà
la môn và Hindu Tuy nhiên, khi nói về nguồn gốc của tôn giáo này thì hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
Những người theo chủ nghĩa dân tộc cho rằng, chân lý thiêng liêng đã truyền cho người Arya 1, một dân tộc được coi là thượng đẳng và cao quý Họ đã sử dụng ngôn ngữ Sanskrit 2 để viết kinh Veda, cuốn kinh đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành Hindu giáo Như vậy, Hindu giáo ra đời sau thời đại của người Arya (khoảng
1500 - 1000 TCN) [Sherman E.Lee 2007: 16]
Một quan điểm khác thì cho rằng, người bản địa Dravidia 3 đã sáng tạo ra những vị thần chủ yếu và đặt nền móng cho sự phát triển Hindu giáo Vào khoảng năm 1500 TCN, người Arya nhập cư vào vùng Tây Bắc Ấn Độ và chinh phục người bản địa Dravidia Tại đây, họ áp đặt hệ tư tưởng của mình, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa tinh túy của nền văn hóa bản địa Đến năm 1200 TCN, người Arya
viết bộ kinh cổ Rig Veda [Will Durant 2006: 53-54]
Theo tác giả Kim Knott trong cuốn “Ấn Độ giáo nhập môn” xuất bản năm
2010, hiện những bằng chứng về khảo cổ học từ các di tích, di vật và văn bản sơ khai vẫn chưa đủ để xác định rõ về thời kỳ này [Kim Knott 2010: 14-15] Tuy nhiên, khi bàn về nguồn gốc của Hindu giáo, người ta chỉ có thể tạm căn cứ từ các công trình khảo cổ học, tiêu biểu là cuộc khai quật vào đầu năm 1920 Lúc đó tại thung lũng sông Ấn, các nhà khảo cổ học người Anh và Ấn Độ đã phát hiện một nền văn minh vĩ đại ở hai thành phố Mohenjo-daro 4 và thành phố Harappa 5 (2500-1500
1 Người Arya thuộc chủng người da trắng từ phương Tây Bắc nhập cư vào Ấn Độ vào khoảng 1500 TCN
2 Sanskrit hay còn gọi là tiếng Phạn, một ngôn ngữ cổ của Ấn Độ Sanskrit còn gọi là Bắc Phạn để phân biệt với tiếng Pali là Nam Phạn Sanskrit là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Hindu giáo, Phật giáo Bắc Tông và Jaina giáo
3 Người Dravidia: người bản địa xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất trên sông Ấn
4 Moenjo-daro là tên di tích khảo cổ nằm ở tỉnh Sindh thuộc Pakistan Di chỉ này được UNESCO công nhận
là di sản thế giới vào năm 1980
5 Harappa: di tích khảo cổ nằm ở tỉnh Punjab, Pakistan
Trang 2719
TCN) Trong quá trình khai quật, các nhà khảo cổ phát hiện một thành phố cổ rộng
lớn, xác định đây là nền văn minh thành thị sớm, nở rộ vào cuối thiên niên kỷ III TCN Người ta ước lượng rằng, trong thời điểm phát triển nhất của nền văn minh này thì ở hai thành phố Mohenjo-daro và Harappa đều có khoảng 35 ngàn dân và có trình độ quy hoạch đô thị Phần lớn thành phố Mohenjo-daro được xây bằng gạch đất nung Tại đây người ta xây một con đê bằng gạch trát bùn, trên đỉnh đê có một công trình gọi là “Đại bồn”, xung quanh bồn có sân lát gạch chạy dài theo hướng Bắc Nam, mỗi đầu lại có những bậc thang để bước xuống bồn Công dụng của chiếc bồn này được phỏng đoán có liên quan tới một nghi thức tắm gội nào đó Điều này khiến người ta liên tưởng tới tập tục của người theo đạo Hindu và các khái niệm về
sự dơ bẩn, không được coi là tinh khiết [Roy C Craven 2005: 10-11] Những hiện vật được phát hiện ở đây khá phong phú, phần nào phản ánh đời sống tinh thần của
cư dân nền văn minh sông Ấn Chẳng hạn như những con thú được mô tả trên các con dấu với sự xuất hiện thường xuyên của những con bò đực (vật cưỡi của thần Shiva), điều này cho thấy có khả năng chúng là một biểu tượng tôn giáo [Roy C
Craven 2005: 15]
Một hiện vật nổi bật được phát hiện ở nền văn hóa Harappa là con dấu mô tả
một vị thần là “Proto-Shiva” (H 2.1) Người trên con dấu đều ngồi trong tư thế du
già 1, đầu đội vương miện là một chiếc mũ có hình thù tương tự biểu tượng cây đinh
ba, một biểu tượng của thần Shiva sau này Hình dáng và phong cách của vị thần này chính là nguyên mẫu của thần Shiva Ấn Độ sau này [Roy C Craven 2005: 16]
Dựa trên việc phát hiện những hòn đá tròn nhỏ, tác giả John Marshall trong
cuốn “Monhenjo - Daro and the Indus Civilization”(tạm dịch “Monhenjo - Daro
và nền văn minh sông Ấn”) xuất bản năm 1931 cho rằng đây là những biểu tượng
của cơ quan sinh sản phụ nữ Yoni, là nguồn gốc của việc thờ thần Mẹ Luận điểm này được nhiều thế hệ học giả ủng hộ
Một số tài liệu nghiên cứu khác cũng cho rằng, hình tượng thần Shiva dưới hình dạng Linga ra đời từ trước thời kỳ Veda, gắn với tục thờ Linga và Yoni của các
1 Du già (hay còn gọi là Yoga) : phương pháp luyện tâm và luyện thân cổ xưa của người Ấn Độ
Trang 2820
tộc người ở lưu vực sông Ấn thuộc chủng tộc Sumerian 1 và Dravidian Tín ngưỡng của họ gắn liền với huyền thoại về thần Mẹ và sự thờ cúng âm lực, coi âm vật của
người phụ nữ là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo
Kinh Rig Veda cũng chỉ ra rằng, cư dân ở thung lũng sông Ấn có truyền thống thờ phụng cột đá hình dương vật từ thời tiền sử Người ta thờ những cột đá tự nhiên (Swayambhu linga) làm từ hòn cuội có hình dạng Linga lấy từ sông Narmada 2 Những cột đá này được đặt trên bệ bằng đá hoặc đồng thau để bên bờ sông, được người dân thờ phụng và tôn kính như thần Shiva Từ những nghi lễ sinh sản của xã hội nông nghiệp Harappa, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Linga là biểu tượng dương vật, đã xuất hiện ở văn minh thung lũng sông Ấn dưới hình thức những viên
đá hình nón và hình trụ
Dựa trên những phân tích này, tác giả John Marshal đưa ra kết luận:
“Việc thời phụng dương vật này chính là tiền thân của việc thờ phụng Linga của thần Shiva trong Hindu giáo sau này Vị thần xuất hiện trên con dấu chính là nguyên mẫu của thần Shiva Và dương vật (urdhva-medhra 3 ) dường như được thể hiện, nhưng đây cũng có thể là đoạn cuối của thắt lưng” [John Marshal 1931:
52-56] Như vậy, có thể nói rằng Linga đã xuất hiện vào thời kỳ Harappa
(2500-1500 TCN), dưới hình thức trụ đá và hình ảnh chiếc dương vật của các vị thần khắc trên con dấu
1.2.2 Về văn học
Trong Thánh kinh, tác giả G.P.Singh lập luận tư tưởng Veda không cho phép việc thờ phụng dương vật, việc thờ phụng Linga chỉ được miêu tả trong những bản văn phi Aryan Veda 4 Từ đó cho thấy rằng những người tiền Aryan thờ phụng Linga như một vị thần Việc thờ phụng Linga dưới hình thức hòn đá lớn được xem
1 Sumer: những người đầu tiên xây dựng nên nền văn minh Lưỡng Hà
2 Sông Narmada (còn được gọi là Rewa): dòng sông lớn thứ năm nằm ở miền Trung Ấn Độ và dòng sông lớn thứ ba chảy hoàn toàn trên đất Ấn, sau sông Hằng và sông Godavari Sông Narmada tạo thành ranh giới chia
Ấn Độ thành hai miền Nam và Bắc
3 Urdhva-medhra: thuật ngữ Sanskrit dùng để chỉ dương vật thẳng đứng
4 Phi Aryan Veda: Những văn bản không thuộc bộ kinh Veda do người Arya viết ra
Trang 2921
như các Linga tự nhiên tượng trưng cho thần thánh đã phổ biến trong các bộ lạc người Dravidia trước thời kỳ Veda Sau này những người Arya đã đón nhận việc thờ phụng dương vật từ những người phi Aryan, như G.P.Singh nhận định trong
cuốn “Những nền văn minh sông Ấn” rằng “Có khả năng cả việc thờ phụng Shiva
và Linga đã được Hindu giáo thừa hưởng từ Harappa” [G.P.Singh 2008: 270]
Linga chính thức được thờ phụng phổ biến trong giai đoạn sau Sử thi (khoảng từ
500 - 100 TCN)
Ở phần cuối của Sử thi Mahabharata 1, lần đầu tiên Linga được ám chỉ là cơ
quan giới tính của thần Shiva “Chúng ta chưa bao giờ nghe Linga của bất kỳ người nào được các vị thần thờ phụng… Bởi vì các con trẻ không phải mang dấu hoa sen của Brahma 2 , hay chiếc đĩa của Vishnu 3 hay tiếng sét của Indra 4 nhưng được đánh dấu là cơ quan nam giới và nữ giới” “Shiva nói: Ta không khác biệt với dương vật Dương vật đồng nhất với ta… do đó nó phải được tôn thờ… bất kỳ
ở đâu mà tồn tại một cơ quan sinh dục nam dựng đứng, chính ta sẽ hiện diện cho
dù không có bất kỳ sự miêu tả nào khác về ta” [John Muir 1873: 192]
Hay ở một đoạn khác trong cuốn“Shiva Purana Vidyesshvara Samhita” viết
“Thượng Đế là nguồn gốc của mọi hạnh phúc, để tồn tại hạnh phúc vĩnh hằng, người môn đệ phải thờ phụng dương vật, đó chính là vị thần Shiva, là mặt trời phát sinh thế giới Nó là biểu tượng nguồn gốc vạn vật Shiva là nguồn gốc vạn vật, nên được thờ phụng trong hình thức dương vật, qua đó nguyên lý nam được nhận
ra Do đó, dương vật là biểu tượng của thần”
Trong văn học dân gian có nhiều câu chuyện khác nhau kể về sự xuất hiện của chiếc Linga Phổ biến nhất là câu chuyện về nguồn gốc Linga của giáo sư Jean
Flliozat trong cuốn “Bàn về tượng thần Shiva ở miền Nam Ấn Độ - Pho tượng về
1 Mahabharata ra đời vào khoàng TK thứ V TCN, là một trong hai cuốn Sử thi tiếng Sanskrit, nó chiếm vị trí quan trọng trong triết học và tôn giáo Ấn Độ
2 Brahma: thần sáng tạo, vị thần tối cao thứ ba trong ba vị thần tối cao của Hindu giáo
3 Vishnu: thần bảo tồn, vị thần tối cao thứ hai trong ba vị thần tối cao của Hindu giáo
4 Indra: thần sấm sét trong Hindu giáo
Trang 3022
trong đêm tối, chưa phát triển nhưng đang thu vào trong bản thân thần Vishnu, lúc
đó thần đang nằm trên mặt nước, ngài thấy từ đằng xa có một ánh sáng vô tận ngay trong nháy mắt đã đi tới tận ngài, đó là thần Brahma dưới hình thức người màu vàng, có bốn cái mặt, mang cái da con nai đen và cái lọ nước Thế rồi thần Brahma mới hỏi thần Vishnu rằng ngươi là ai và tự giới thiệu rằng mình là người sáng tạo
ra thế giới Thần Vishnu trả lời rằng thần Vishnu mới là người sáng tạo ra thế giới
và đồng thời là người phá hủy thế giới Lúc bấy giờ từ ở phương Bắc hiện ra một ngọn lửa ghê rợn làm cho cả hai cảm thấy khủng khiếp và ở trong ngọn lửa ấy một cái Linga không thể tả được hình dạng ra sao, cũng không phải bằng vàng, cũng không phải bằng bạc hay bằng đá, rực lửa khủng khiếp như muốn đâm thủng cả trời đất Thần Brahma yêu cầu thần Vishnu chạy đến chân tìm xem đầu của nó ra sao còn thần Brahma lên tìm xem ngọn của nó thế nào, sau khi chạy một hơi dài
1000 năm, thần Vishnu vẫn không đi đến đích và đâm ra hoang mang, còn thần Brahma cũng tốn công và mỏi mệt, chạy trở về lóa cả mắt, mất cả cảm giác Thế rồi
cả hai vị thần bắt đầu cuộc trầm tư mặc tưởng, đi đến chỗ tìm ra được Thượng đế Thượng đế hiện hình dưới hình thức ánh sáng chói lọi, người mang đầy thứ trang sức tay cầm một cây cung và một cây chỉa vào trong Tuy vậy, Thượng đế phán cho hai vị thần biết rằng ngài rất hài lòng với cả hai vị thần và phán rằng Brahma là tổ tiên của mọi thế giới, chính là cánh tay phải của Thượng đế; Vishnu là người không
ai có thể chiến thắng được và là cánh tay trái của Thượng đế Như vậy Linga là tạo vật tự nó tồn tại, chủ nhân của Linga là Thượng đế” [Jean Flliozat 1972: 6-7]
Qua câu chuyện cho thấy Linga gắn với thượng đế, mà thượng đế là thần Shiva nên Linga cũng được cho là Thượng đế Tiền thân của thần Shiva là thần Rudra, vị thần của giông bão và sấm chớp, đồng thời cũng là thần của gia súc Vì vậy, thần Shiva vừa có tính hủy diệt (giông bão và sấm chớp) vừa có tính sáng tạo (năng lực sinh sản) Chính vì vậy người ta thường thờ sức mạnh sáng tạo siêu việt của thần bằng hình thức Linga Tín đồ Hindu giáo cũng coi Shiva là vị phúc thần vì
1 Ba trùng thế giới: Trời, Đất và Không trung
Trang 31Như vậy, thông qua bằng chứng khảo cổ học và ghi chép trong các tác phẩm văn học, có thể tạm kết luận rằng, hình tượng Linga đã xuất hiện từ rất sớm và được cư dân ở vùng văn minh sông Ấn thờ phụng Linga ra đời từ những thuộc tính vốn có của tự nhiên, kết hợp với tín ngưỡng dân gian về việc thần thánh hóa các hiện tượng và hình ảnh tự nhiên như dòng sông, ụ đất, cái cây, cột đá hay vòng
đá và tôn thờ sự sinh sôi nảy nở của cư dân nông nghiệp Họ coi việc thờ cúng âm lực 2 dưới dạng sinh thực khí là sự hòa hợp, một trong những nguồn gốc tạo nên sự sinh sôi nảy nở của nền văn minh nông nghiệp Từ những tín ngưỡng cổ xưa ấy, qua quá trình phát triển và sáng tạo của dân gian, nó đã hình thành nên một hệ thống các triết lý về thế giới tự nhiên với những vị thần tương ứng Đó là cơ sở cho
sự ra đời của tôn giáo, kéo theo một hệ thống các vị thần ra đời cùng với những biểu tượng nhất định Ví như biểu tượng của thần Shiva là cái Linga
Ngày nay ở Ấn Độ, chúng ta có thể bắt gặp Linga được thờ ở những vùng đất thiêng và đặc biệt là trong các đền Hindu Khi Linga được dựng lên, người ta tin rằng những Linga ấy được sinh ra từ lòng đất với đầy đủ sức mạnh siêu nhiên của thần linh Trong thần thoại, Linga thường được thể hiện như một cột lửa sáng hơn là
1 Theo huyền thoại Ấn Độ, sông Hằng xuất phát từ dãy Himalaya chảy thành dòng thác lớn bao quanh thành phố của thần Brahma ở núi Meru, để ngăn cản, phân chia bớt sức mạnh của dòng thác này Thần Shiva đã đứng dưới dòng thác cho dòng nước chảy qua các lọn tóc của mình để chia cắt thành bảy dòng sông thiêng ở
Ấn Độ
2 Âm lực: năng lượng Âm – Dương tự nhiên (tính âm – dương)
Trang 3224
một biểu tượng dương vật, nó cũng được xem như là trung tâm hay là trục của vũ trụ, là cầu nối giữa trần thế và thiên đường Theo văn học Bà la môn, Linga là dấu hiệu trừu tượng, là biểu tượng mô tả thần Shiva tạo ra sự sống cho chính ngài, vì vậy hình tượng Linga mang hàm ý thể hiện toàn bộ vũ trụ về không gian và thời gian, sáng tạo, cuộc sống và cái chết
1.3 Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Ấn Độ
1.3.1 Linga
Linga trong văn hóa Ấn Độ nghĩa là “dấu hiệu” hay “giới tính”, là biểu tượng trừu tượng thể hiện cho sinh thực khí của thần Shiva cũng như năng lực sinh sản của ngài Với những tính năng và ý nghĩa đó, người dân vùng thung lũng sông Ấn
đã thờ thần Shiva dưới dạng chiếc Linga, một biểu tượng được cách điệu hóa của sinh thực khí nam Ngoài ý nghĩa biểu tượng của tính dục, Linga còn được xem là chiếc cột trụ chống đỡ vũ trụ, là biểu tượng của sự vĩnh cửu và tính chính thống của mỗi triều đại Trong “Thuyết vũ trụ luận” của Ấn Độ, Linga còn được xem như là cái trục của vũ trụ kết nối trần gian và thiên giới [Phan Anh Tú 2014: 99]
Thời kỳ đầu TK I TCN trở về trước, hình tượng Linga đầu tiên chỉ là những cột đá hoặc trụ đá hình sinh thực khí Những Linga này ở dạng sơ khai, làm từ đá hoặc đất nung nhưng chưa có một quy chuẩn cụ thể Chẳng hạn như Linga được phát hiện ở văn hóa Harappa có dạng hình trụ tròn đầu hơi vê tròn, thân không họa
tiết, kích thước nhỏ
Tuy nhiên khoảng cuối TK I TCN - TK I, Linga được thể hiện có phần chi tiết
và hiện thực hơn; những phần, đường viền thể hiện rõ, tinh tế và sống động hơn Từ cuối TK I - II, Linga được thể hiện mang tính quy ước với các phần rõ rệt, chẳng hạn như Linga Gudimallma ở miền Nam Ấn Độ [Theather Elgood 1999: 47] Ở giai đoạn sau, do nghệ thuật điêu khắc từng bước phát triển, bên cạnh những Linga hiện thực được chạm nổi các vị thần, bắt đầu xuất hiện những Linga được quy ước hóa với các phần rõ rệt hay nhiều Linga nhỏ trên một Linga lớn Chất liệu chế tác Linga cũng ngày càng phong phú hơn, từ đất nung, đá cho đến kim loại, thậm chí còn làm bằng trái cây [Brannon Parker 2012: 308]
Trang 3325
Ở Ấn Độ, bên cạnh loại Linga phổ biến không họa tiết, dựa vào đặc điểm, loại hình và ý nghĩa, người ta còn định danh theo các tên gọi khác nhau như:
+ Ekamukha Linga gọi tắt là Mukhalinga, là dạng Linga ở vị trí cột thiêng 1,
có chạm nổi khuôn mặt của thần Shiva Loại Linga này khá phổ biến trong nghệ thuật tạo hình của Hindu giáo, xuất hiện vào khoảng từ TK I TCN – TK V, đặc biệt phát triển nhất dưới triều đại Gupta (TK III - V) Do các ngôi đền Ấn Độ giáo thường có sảnh đường và cửa ra vào quay về hướng Đông nên hầu như các mặt của thần Shiva trên Mukhalinga đều được đặt quay về hướng Đông
+ Panchamukha Linga: là loại Linga trên khắc bốn khuôn mặt thần Shiva
Bốn khuôn mặt quay về bốn hướng tương ứng với bốn phương của thế giới, tâm là trục Linga tượng trưng cho khuôn mặt thứ năm của thần Shiva Loại hình Panchamukha Linga xuất ở Ấn Độ hiện vào khoảng TK IV
+ Sahasra Linga: trong tiếng Sankirt Sahasra có nghĩa là “một ngàn” Sahasra
Linga là một ngàn cái Linga nhỏ chạm trên thân một Linga lớn Chẳng hạn Sahasra Linga tại đền Parasburameshvara, gồm có 20 hàng, mỗi hàng có 50 Linga nhỏ xếp vòng chạy quanh thân Loại hình Sahasra Linga xuất hiện vào khoảng TK V
Vì sự phong phú và đa dạng của Linga trên khắp Ấn Độ, tác giả chưa có điều kiện tổng hợp hết các số lượng Linga cũng như Yoni Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ trình bày một số Linga tiêu biểu và có niên đại gần hoặc đồng đại với Linga, Yoni, Linga - Yoni ở Cát Tiên để tiện đối sánh
Linga hiện thực
Thời kỳ đầu, ở thung lũng sông Ấn đã phát triển một nền văn minh nông nghiệp với hình thức tín ngưỡng độc đáo, thờ âm lực hay tín ngưỡng phồn thực, với mong muốn mang lại cho mùa màng tốt tươi Biểu hiện rõ nét của tín ngưỡng này là những chiếc Linga được các nhà khoa học phát hiện qua những đợt khai quật khảo
cổ học ở Harappa và Mohenjo - Daro vào năm 1920
1 Cột thiêng: đường thẳng được khắc chìm hoặc chạm nổi, bắt đầu từ điểm trên cùng của phần bát giác chạy lên phần trụ tròn của thần Shiva tiếp giáp với mi thiêng, giống như dây hãm bao quy đầu của dương vật
Trang 3426
Báo cáo các cuộc khai quật khảo cổ học ở Mohenjo-Daro của John Marshal
ghi nhận “Một số hiện vật biểu tượng của dương vật là những hòn đá và những vòng đá tượng trưng cho Yoni” (H 2.2) Như vậy“ việc thờ cúng dương vật là một yếu tố quan trọng của tôn giáo ở Harappa” [Makhtar Ahmed 2014: 195] Những
Linga phát hiện ở Harappa hầu hết được làm từ đá cuội, sa thạch, đất nung có kích thước không lớn, hình dạng khá đơn giản Bên cạnh những Linga làm bằng đá có dạng hình trụ, thân phình lớn, đầu hơi vê tròn; còn có Linga có cấu tạo thân dạng hình trụ thuôn dần lên đầu, đỉnh Linga có dạng hình bán cầu trông giống như bộ phận sinh dục nam Những Linga này có kích thước khoảng 10cm - 20cm
Cũng tại Harappa, vào năm 1940, nhà khảo cổ học M.S.Vats phát hiện thêm hai Linga tại rãnh III và IV [MS Vats 1940: 51-52] và một chiếc Linga tại rãnh ký hiệu Ai, chúng đều có niên đại khoảng 5.000 năm [MS Vats 1940: 61-63] Linga tại rãnh ký hiệu Ai, có dạng hình trụ đầu hơi vê tròn, được dựng đứng trên một cái bệ cũng dạng hình tròn có chiều cao bằng ½ chiều cao Linga Xét dưới góc độ nghệ thuật ở thời kỳ này, kỹ thuật tạo hình Linga khá hoàn thiện (H 2.3) Như vậy, cách ngày nay 5.000 năm, những biểu tượng sinh thực khí đầu tiên đã được cư dân thung lũng sông Ấn thờ phụng
Tại Dholavira 1, theo các nhà khoa học thì cư dân nơi đây ngoài việc thờ phụng tượng nữ và biểu tượng cho tính sinh sản nữ còn thờ phụng cả Linga biểu tượng cho sự sinh sản ở nam giới Đó là chiếc Linga bằng đất nung có dạng hình trụ thân phình đầu vê tròn, hiện vật có niên đại khoảng 2500 TCN [Jane Mclntosh 2008: 287] Chiếc Linga này được chế tác khá trau chuốt với bề mặt phẳng mịn, hình dáng cân đối, cho thấy tấm lòng thành kính của tín đồ với đối tượng thờ phụng
Những trình bày trên cho thấy, ở giai đoạn đầu, thần Shiva được thờ phụng dưới hình thức phi nhân dạng là chiếc Linga ở dạng sơ khai, chưa có một quy ước
cụ thể Nhưng khoảng từ đầu TK I, Linga không chỉ còn là biểu tượng đơn giản, mà
có phần chi tiết hơn với những phần, đường viền rõ và sống động Chẳng hạn như
1 Dholavira: địa điểm khảo cổ tại Khadirbet thuộc quận Kutch, bang Gujarat, miền Tây Ấn Độ
Trang 3527
chiếc Linga bằng đá phát hiện ở đền Nandeshwar 1 có dạng hình trụ tròn, trên thân Linga có đường gờ nổi, có ghi dòng chữ Tamin 2 [B.Kolappan and D.Madhavan: 103] (H 2.4) Qua thông tin và phong cách chữ viết, các nhà khoa học đoán định Linga này có niên đại vào khoảng TK I Còn theo nhà khảo cổ học R Nagaswamy thì đây có thể được xem là Linga cổ nhất ở phía Nam Ấn Độ Linga tại đền Ardhanarishvara, phía Nam tỉnh Canara của Ấn Độ, có niên đại muộn hơn khoảng
TK X - XI mang tính tả thực cao Linga này có dạng hình trụ tròn, đầu hơi nhọn, làm bằng đá sa thạch, cao 60cm Đầu Linga có cột thiêng chạy thẳng từ thân lên chạm mi thiêng 3 [Snehalatha: 128] (H 2.5) Loại Linga này có tạo hình gần giống với Linga tại đền thần Shiva ở Gò Cây Trôm, Óc Eo, An Giang
Từ cuối TK I - II, Linga thể hiện tính quy ước rõ ràng hơn, hình ảnh thần Shiva cũng được chạm khắc trên Linga một cách chi tiết hơn Chẳng hạn như Linga Gudimallma hiện đang lưu giữ tại đền Parasurameswara ở phía Nam Ấn có niên đại vào TK I được xem là Linga chạm thần Shiva cổ nhất Ấn Độ [Heather Elgood 2000: 47] (H 2.6) Linga này hình trụ có chiều cao 150cm và chia thành ba phần Tính từ trên xuống, phần đầu Linga này có dạng hình trụ tròn có kích thước lớn hơn so với phần thân, ngăn cách với phần thân bởi đường mi thiêng nổi chạy bao quanh đầu Linga, thân Linga chạm nổi thần Shiva trong tư thế đứng chân rộng ngang vai Đầu thần với mái tóc xoắn bồng bềnh bện vào nhau, khuôn mặt tròn bầu, mắt mở lớn, sống mũi thẳng, miệng hơi mỉm cười với đôi môi dày, tai, cổ và tay có đeo đồ trang sức Tay phải cầm con vật nhỏ có sừng tay trái cầm cây đinh ba và bình nước, bụng hơi phệ Hai chân Linga đứng trên vai Yaksha 4, Yaksha trong tư thế quỳ hai chân Những đường nét trên Linga Gudimallam gần giống với những đường nét chạm khắc trên những bức điêu khắc Yaksha, được tìm thấy ở Mathura và Bodhgana 5, chúng đều có niên đại vào khoảng nửa sau TK I [Klaus Klostermaier 2007: 111]
1 Đền Nandeshwar thuộc làng Netrumpakkam tỉnh Kancheepuram, Ấn Độ
2 Tamil: ngôn ngữ thuộc hệ Dravida, một trong những ngôn ngữ chính của Ấn Độ, Sri Lanka và Singapore
3 Mi thiêng: đường chạy vòng quanh phần trụ tròn của thần Shiva giống như rãnh quy đầu dương vật
4 Quỷ Dạ Xoa được thờ phụng từ buổi bình minh của Hindu giáo
5 Bodhgana: ngôi đền ở quận Gaya, Bihar, Ấn Độ
Trang 3628
Như vậy, qua hình tượng thần Shiva phản ánh sự phát triển của loại hình Linga cũng như phong cách nghệ thuật Mathura rõ nét
Ở giai đoạn sau này, Linga phát triển ngày càng phong phú hơn về loại hình,
đề tài, kích thước Chẳng hạn như Linga thể hiện đề tài “Câu chuyện về nguồn gốc của chiếc Linga”, gọi là Lingodbhavamurti 1 Linga một phần, hai phần hoặc ba phần mỗi phần thể hiện một ý nghĩa nhất định, ngoài ra còn có loại hình Ekamukha Linga, Panchamukha Linga hay Sahasra Linga
Tóm lại, loại hình Linga hiện thực được thể hiện khá đa dạng từ đơn giản như Linga phát hiện ở văn hóa Harappa cho đến Linga được chạm khắc tinh tế như Gudimallma Linga hay Lingodbhavamurti Ngày nay hình thức thờ phụng Shiva dưới dạng Linga vẫn còn phổ biến ở các đền Hindu trên khắp Ấn Độ, đặc biệt ở miền Nam
Linga ba phần
Linga ba phần là biểu tượng cho sự hợp nhất của ba vị thần là Brahma, Vishnu
và Shiva Ba mặt của sự sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt tương ứng với ba thiên hướng, những phẩm chất căn bản những đối tượng thuộc về thế giới, hiện tượng đó là ba Guna 2 Bộ ba này hiển thị một trật tự trí tuệ và tinh thần nơi thần linh, sự tổng hợp
ba tính này của mỗi sinh linh được gọi là tam vị nhất thể Ba vị thần này thống nhất trong một Linga được gọi là Trimurti 3, nhấn mạnh ý niệm không có sự phân biệt giữa Brahma, Vishnu và Shiva [Lâm Quang Thùy Nhiên 2005: 41] Đề cập đến nguyên lý và sự thống nhất của ba vị thần này, tác giả David L.Haberman trong
cuốn “Worship of Trees in Northern India” (tạm dịch “Thờ phụng cây ở phía
Bắc Ấn Độ”) cho rằng:
1 Lingodbhavamurti: Linga đầu chạm nổi vị thần Brahma, thân chạm nổi thần Shiva và đế chạm nổi vị thần Vishnu
2 Guna: ba phẩm tính chính hàm chứa trong tất cả mọi dạng thể của sự sáng tạo, gồm Sattva (sự thăng bằng,
là an bình, rạng ngời, bất thân thiện, khổ đau, an vui ); Tamas (năng lượng, là sự đam mê, tính chất linh hoạt ) và Rajas (bóng tối, là sự nặng nề, u mê, tính chất bất động )
3 Trimurti (hay Tam thần Ấn giáo): ba vị thần tối cao của Hindu giáo, gồm Brahma, Vishnu và Shiva
Trang 3729
“Sử thi trong Agni Purana 1 ủng hộ quan điểm ba ngôi Trimurti, từ chân lên đến đầu gối là phần Brahma, từ đầu gối lên đến rốn là phần Vishnu, từ rốn lên đỉnh đầu được xem là phần Shiva Phần Brahma được chôn trong đất, phần Vishnu trong bệ Yoni, còn phần Shiva ở trên Yoni” [David L.Haberman 2013: 77-78]
Theo tác giả David L.Haberman, Trimurti là dạng có ba phần, phần dưới tượng trưng cho thần Brahma, phần giữa tượng trưng cho thần Vishnu và phần trên tượng trưng cho thần Shiva Tác giả cho rằng sự kết hợp của các vị thần Brahma, Vishnu và Shiva như một nguyên lý thống nhất
Như vậy, Linga ba phần gồm phần dưới hình tứ giác, phần giữa hình bát giác
và phần trên hình trụ tròn, tương ứng với các thần Brahma, Vishnu và Shiva Ba phần này tương ứng với đất, thế gian và trời Phần trụ tròn tượng trưng cho Shiva với tư cách là nguyên lý nhân quả, là người hủy diệt nhưng cũng là sản sinh, các mặt khối hình bát giác, tứ giác là những bàn tay của thần Vishnu và Brahma che cột lửa, sức mạnh sáng tạo ra thế giới [Lâm Quang Thùy Nhiên 2005: 65]
Linga ba phần ra đời vào thời kỳ vương triều Gupta (TK III - V) [Mitterwallner 1984: 20] Linga lúc này không còn phản ánh tính hiện thực như những thời kỳ trước bởi phần đầu Linga không còn nhô ra khỏi thân, không còn thể hiện hình dạng giống như bao quy đầu Linga loại này được phát hiện tại hang thờ
số 3 trong quần thể hang Arvalem ở Goa 2 và Linga tại Karamdanda, Utra Pradesh
Từ TK V về sau, Linga ba phần phát triển hoàn chỉnh với khuôn mẫu quy ước Linga dạng hình trụ, chia thành ba phần: hình trụ tròn (Rudra bhagra) 3, dạng bát giác (Vishnu bhaga) 4 và dạng tứ giác (Brahma bhaga) 5 Linga ba phần được thờ phụng trong chính điện của đền thần Shiva, như Linga ở phế tích đền thần Shiva tại Mandasor và đền Krishna Mandapa ở Mahabalipuram, vùng Tamil Nadu, phía Nam
Ấn Độ Linga bằng đá tại đền Krishna Mandapa, có hình dạng trụ chia thành ba
1 Agni Purana: những câu chuyện về thần Agni
2 Hang Arvalem hay còn gọi là hang Pandava ở Goa, Ấn Độ
3 Rudra bhagra: phần tượng trưng cho thần Shiva
4 Vishnu bhaga: phần tượng trưng cho thần Vishnu
5 Brahma bhaga: phần tượng trưng cho thần Brrahma
Trang 3830
phần, tính từ trên xuống, phần thứ nhất dạng hình trụ đầu vê tròn; mặt trước Linga
có khắc chìm mi thiêng bắt đầu từ gần đỉnh chạy xuống giáp phần bát giác vòng quanh thân vòng về trước hướng lên điểm xuất phát, tạo thành hình tam giác nhọn; dưới đỉnh tam giác không thể hiện cột thiêng Phần thứ hai dạng hình bát giác, có các cạnh bằng nhau và phần dưới cùng dạng tứ giác được gập vào nền đền bằng đá Dựa vào phong cách nghệ thuật và niên đại của ngôi đền thì hiện vật có niên đại vào khoảng TK VII - VIII (H 2.7) Bên cạnh Linga ba phần có kích thước vừa phải, ở
Ấn Độ còn có Linga với kích thước lớn như Linga bằng đá tại Ahicchatra (Madhaya Pradesh) Linga dạng hình trụ cao khoảng 280cm, có cấu tạo chia làm ba phần là phần trên dạng trụ tròn, phần giữa dạng bát giác và phần dưới dạng tứ giác Linga này có niên đại vào khoảng TK VII và có kích thước lớn vượt trội nhất so với các Linga cùng thời khác [Wannapat Ruangsup 2013: 205]
Linga hai phần
Linga hai phần có cấu tạo chung dạng hình trụ, chia thành hai phần Phần trên dạng tròn tượng trưng cho thần Shiva và phần dưới dạng hình bát giác tượng trưng cho thần Vishnu Chẳng hạn hai Linga bằng đá tìm thấy tại Karamdanda (Utra Pradesh) và Linga tìm thấy ở hang số 3 trong quần thể hang Arvalem (Goa) Trong
đó, Linga tại Karamdanda có dạng hình trụ chia thành hai phần rõ rệt là dạng trụ tròn chạm chìm mi và cột thiêng, còn phần dưới có dạng bát giác với các cạnh bằng nhau Linga ở hang số 3 cũng có cấu tạo hai phần là dạng trụ tròn có kích thước nhỏ
và chạm chìm mi thiêng, không có cột thiêng Phần thứ hai dạng tứ giác, bốn góc bo tròn Xét về tạo hình thì Linga ở hang số 3 không rõ ràng và cân đối như Linga ở Karamdanda Cả hai Linga này đều có niên đại vào khoảng TK IV – V [Wannapat Ruangsup 2013: 204]
Bên cạnh Linga hai phần có niên đại sớm, còn có Linga hai phần có niên đại muộn như Linga tại đền thần Shiva Mahadev 1 Linga này làm bằng đá có niên đại vào TK XII, dạng hình trụ đầu vê tròn, chia thành hai phần Phần thứ nhất tính từ trên xuống dạng hình trụ tròn tượng trưng cho thần Shiva, đỉnh của Linga có gắn
1 Đền Mahadev (còn gọi là Dudheshwar Mahadev): thuộc làng Bhat, tỉnh Ahmedabad Gujarat, Ấn Độ
Trang 3931
đầu rắn Naga 1 Phần thứ hai dạng hình bát giác tượng trưng cho thần Vishnu với các cạnh bằng nhau Hiện vật hiện đang lưu giữ và thờ phụng trong sân đền Dudheshwar Mahadev
Như vậy, Linga hai phần chỉ biểu trưng cho thần Shiva và Vishnu Tuy không xuất hiện phần của thần Brahma nhưng Linga hai phần vẫn có ý nghĩa biểu tượng cho sự sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt Trong nghệ thuật điêu khắc Hindu, ở giai đoạn muộn sau này, hình tượng hai vị thần Shiva và Vishnu thể hiện cùng trên một hiện vật được tạo ra bởi hệ phái Vishnu giáo, đó là hình tượng Hari Hara 2 Hari là thần Vishnu và Hara là thần Shiva; như vậy Vishnu đứng trước, Shiva đứng sau Đó cũng chính là lí do Vishnu chiếm ưu thế hơn so với Shiva Harihara đôi khi cũng được sử dụng như một thuật ngữ triết học để biểu thị sự thống nhất của Vishnu và Shiva Khái niệm về sự tương đương của nhiều vị thần như một nguyên tắc “sự hiệp nhất của mọi sự tồn tại” được nhắc tới như Harihara trong các văn bản triết học Advaita Vedanta 3 của Hindu [David Leeming 2001: 67] Linga hai phần cũng được nhiều nước chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ tiếp nhận, dù phong cách đã có thay đổi nhưng ý nghĩa vẫn giữ nguyên vẹn như ban đầu
Linga một phần
Ở Ấn Độ, Linga một phần có hai dạng là làm bằng đá cuội và dạng quy ước Linga bằng đá cuội thường ở dạng đơn lẻ, trong khi Linga ở dạng quy ước thường tạo liền khối với Yoni tạo thành bộ Linga-Yoni Ở giai đoạn sau, thân Linga một phần được chạm khắc đề tài “Câu chuyện về nguồn gốc của chiếc Linga”, được gọi
là Lingodbhavamurti Lingodbhavamurti được thể hiện dưới hai dạng phù điêu hoặc tượng tròn Về niên đại, Linga một phần bằng đá cuội hoặc cột đá có niên đại sớm nhất vào thời kỳ Harappa (2500-1500 TCN) Lingodbhavamurti xuất hiện vào hậu
1 Naga: rắn hổ mang Trong tiếng Sanskrit và Bali, Naga ( िाग ) dùng để chỉ thần rắn hoặc vua hổ mang, nhưng trong nhiều trường hợp cũng được sử dụng như sarpá ( सरप), từ để chỉ loài rắn nói chung Rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử, là một linh vật được tôn kính như một sự linh thiêng Người Ấn còn dành riêng cho rắn ngày tết là vào tháng 8 hàng năm
2 Harihara: hoá thân của thần Vishnu và Shiva
3 Advaita Vedanta: trường phái triết học nằm trong Ấn Độ giáo, xem xét đến bản chất của thế giới hiện thực
Trang 4032
kỳ Gupta và phát triển mạnh vào khoảng TK IX, chẳng hạn như Lingodbhavamurti
ở vùng Tamil Nadu thuộc thời kỳ Chola (TK IX), Lingodbhavamurti tại hang số 15
và 16 trong quần thể hang động ở Ellora 1 , Lingodbhavamurti tại đền Brahmapurisvana ở Tamil Nadu, Lingodbhavamurti tại đền Kailasanathaswamin ở
Kanchipuram, Lingodbhavamurti tại Darasuram và Lingodbhavamurti ở Thanjavur
Trong số các Lingodbhavamurti kể trên, phải kể đến chiếc Lingodbhavamurti bằng đá, cao 138cm phát hiện ở Tamil Nadu (phía Nam Ấn Độ) có niên đại TK IX, thuộc thời kỳ Chola [Theather Elgood 1999: 46] (H 2.8) Hiện vật này hiện được trưng bày tại phòng Nghệ thuật Đông Nam Á thuộc Bảo tàng Anh Linga chạm khắc đề tài “Câu chuyện về nguồn gốc của chiếc Linga” có dạng hình trụ tròn, chạm nổi ba vị thần tối cao Đầu Linga này chạm nổi thần Brahma trong tư thế đang bay lên trời để tìm ngọn của cột lửa, thân chạm nổi thần Shiva trong tư thế đứng, tóc búi cao, phía trước mái tóc chạm hình bông hoa Mặt tròn, tai đeo trang sức dạng tròn,
cổ đeo vòng chuỗi hạt, thân hình cân đối, ngực nở, hông thắt eo, mình đeo dải băng vắt chéo từ vai phải sang hông trái, hông đeo dải băng thắt nút phía trước thả tua rũ xuống dưới, thần có bốn tay, cổ và bắp tay có đeo đồ trang sức Phía bên trái, tay thứ nhất có tư thế chống hông, tay thứ hai cầm con thú có sừng giơ cao ngang vai,
đó có thể là con hươu, dấu hiệu của sự hy sinh và cái chết, cũng là vật hiến tế Ở bên phải, tay thứ nhất giơ cao ngang ngực, lòng bàn tay hướng về phía trước với ý nghĩa xua đuổi sự sợ hãi và ban phước lành; tay thứ hai cầm chiếc rìu giơ cao ngang vai thể hiện cho sức mạnh tuyệt đối Phía dưới thần Shiva là thần Vishnu đang trong
tư thế lao xuống đất tìm kiếm gốc của cột lửa [Theather Elgood 1999: 47] Thần Shiva thể hiện dưới dạng này không chỉ mang ý nghĩa đại diện cho trục vũ trụ mà còn kết nối năng lượng thiên đàng và trần thế, vì vậy nó được đặt tên là Lingodbhavamurti Khái niệm về Lingodbhavamurti miêu tả thần Shiva dưới hình thức phi nhân dạng là chiếc Linga đầu tiên xuất hiện trong thời kỳ hậu Gupta (280-
1 Quần thể hang động Ellora: công trình tôn giáo được thiết kế và xây dựng vào TK V – X Có tất cả 34 động đền thờ và động tu viện của đạo Phật, Hindu và đạo Giai-na Trong đó, hang động Phật giáo gồm 12 công trình (động số 1 - 12), hang động Hindu giáo gồm 17 công trình (động số 13 – 29), hang động Giai-na giáo gồm 5 công trình (động số 30 – 34) Quần thể này là những minh chứng sống động cho thời kỳ hưng thịnh của các tôn giáo trong lịch sử Ấn Độ đương thời