Là một người con Chăm sống ở vùng Ninh Thuận và được trực tiếp tiếp xúc với cộng đồng người Chăm Islam ở đây, nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Lịch sử hình thành và phát triển của cộn
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TS TRƯƠNG VĂN MÓN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Số liệu được dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu của tôi qua các tài liệu sách báo, tạp chí đã công bố và thực tế đi điền dã, phỏng vấn nhân chứng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2016
Tác giả luận văn
Châu Nữ Hoàng Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, ủng hộ của Qúy Thầy cô, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:
- Qúy thầy cô đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá
trình học tập
- Phòng Sau đại học và Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
- Ủy ban nhân dân xã Phước Nam, Ủy ban nhân dân xã Xuân Hải, Ban
quản trị các thánh đường ở Ninh Thuận, Ban đại diện cộng đồng Islam Ninh Thuận và cộng đồng Chăm Islam ở ba làng Văn Lâm, Phước Nhơn, An Nhơn
đã cung cấp tư liệu và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin
- Các anh chị, bạn bè đã luôn ủng hộ và chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Trương Văn Món – người đã kiên nhẫn, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện công trình nghiên cứu này và xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Gia đình – những người đã tiếp cho tôi sức mạnh và nghị lực để vượt qua những khó khăn trong suốt thời gian qua
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2016
Tác giả luận văn
Châu Nữ Hoàng Yến
Trang 5MỤC LỤC DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu của đề tài 10
8 Những thuận lợi và khó khăn 11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CỘNG ĐỒNG CHĂM NINH THUẬN
VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP ISLAM VÀO VIỆT NAM 1.1 Cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận 13
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.2 Điều kiện xã hội 16
1.1.3 Sơ lược về lịch sử người Chăm và cộng đồng tôn giáo Chăm ở Ninh Thuận 17
1.2 Islam du nhập vào Việt Nam 23
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Islam 23
1.2.2 Con đường du nhập đạo Islam vào Đông Nam Á 28
1.2.3 Qúa trình du nhập đạo Islam vào Việt Nam 31
1.3 Tiểu kết chương 35
CHƯƠNG 2: CỘNG ĐỒNG CHĂM ISLAM Ở NINH THUẬN
2.1 Sự xuất hiện của cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận 36
2.2 Sự phát triển về số lượng và sự mở rộng về địa bàn cư trú của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận 39
Trang 62.3 Qúa trình chuyển biến về kinh tế - văn hoá của cộng đồng
Chăm Islam ở Ninh Thuận 44
2.3.1 Đời sống kinh tế 44
2.3.2 Đời sống văn hoá 49
2.4 Tiểu kết chương 68
CHƯƠNG 3: CÁC MỐI QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG CHĂM ISLAM NINH THUẬN 3.1 Quan hệ cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận với các cộng đồng Chăm theo tôn giáo khác ở Ninh Thuận 70
3.1.1 Mối quan hệ với cộng đồng Chăm Bàni/Awal 70
3.1.2 Mối quan hệ với cộng đồng Chăm Bàlamôn/Ahier 74
3.2 Quan hệ cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận với cộng đồng Chăm Islam ở Việt Nam 75
3.3 Quan hệ cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận với các nước và tổ chức Islam quốc tế 79
3.3.1 Quan hệ với cộng đồng Islam Malaysia 80
3.3.2 Quan hệ với cộng đồng Islam ở Campuchia 83
3.3.3 Quan hệ với các cộng đồng, tổ chức Islam khác 84
3.4 Xu thế phát triển của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận 87
3.5 Tiểu kết chương 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Người Chăm là một trong các cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở Việt Nam Trong suốt chiều dài lịch sử, họ đã sáng tạo ra một nền văn hóa rực rỡ mang nhiều bản sắc riêng
Tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những thành tố quan trọng để cấu thành văn hóa Chăm Do đó lĩnh vực tôn giáo Chăm cũng được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu nhiều nhất Theo thống kê của P-B Lafont, từ đầu thế kỷ XIX đến nay đã có hơn 1.055 công trình nghiên cứu về Champa [56], trong đó đã có gần 80 công trình (sách, báo) của các tác giả viết về tín ngưỡng, tôn giáo Chăm Tuy số lượng nhiều nhưng không phải công trình nghiên cứu tôn giáo nào cũng hoàn chỉnh mà phần nào cũng có một số thiếu sót cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung Đặc biệt, đa phần các tác giả khi nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo Chăm chỉ tập trung nghiên cứu cộng đồng Chăm Ahier (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn), Chăm Awal hay còn gọi là Chăm Bàni (Chăm ảnh hưởng Islam) và
bộ phận Chăm Asulam (Chăm Islam chính thống) Nam Bộ chứ chưa tập trung nghiên cứu sâu về bộ phận Chăm Islam ở vùng Ninh Thuận dưới góc nhìn lịch
sử Thậm chí, có một số người còn có những hiểu biết sai lầm, chưa đúng về lịch
sử hình thành và phát triển của bộ phận người Chăm này Trong khi đó, cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận ngày càng không phải là cộng đồng Chăm khép kín như xưa mà họ đã phát triển, giao lưu hội nhập với các cộng đồng Chăm Islam ở Việt Nam và trên thế giới
Như vậy lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận cũng như quá trình giao lưu hội nhập hiện nay của họ như thế nào đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện Vì vậy, mảng đề tài này vẫn còn trống cần phải tiếp tục nghiên cứu
Trang 8Là một người con Chăm sống ở vùng Ninh Thuận và được trực tiếp tiếp xúc
với cộng đồng người Chăm Islam ở đây, nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Lịch
sử hình thành và phát triển của cộng đồng Chăm Islam tại Ninh Thuận (1962 – 2016)” để làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm làm sáng rõ quá trình hình thành
và phát triển của cộng đồng người Chăm Islam ở Ninh Thuận Xem xét cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận ra đời trong bối cảnh lịch sử nào? Sự biến chuyển đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của Chăm Islam Ninh Thuận qua thời gian ra sao? Mối quan hệ giữa người Chăm Islam với các cộng đồng tôn giáo Chăm khác ở Ninh Thuận, với Chăm Islam ở Nam Bộ và cộng đồng Islam thế giới như thế nào? Từ đó, sẽ xác định rõ điểm chung – riêng của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận so với các cộng đồng trên trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từng là một quốc gia phát triển thịnh đạt với nền văn hóa đặc sắc nên mặc
dù không còn tồn tại nhưng những vấn đề liên quan đến vương quốc Champa nói chung và người Chăm nói riêng vẫn thu hút rất nhiều học giả trong và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu Những công trình nghiên cứu về Champa và văn hóa Chăm, tôi tạm thời chia thành 3 giai đoạn với 3 nhóm tác giả tiêu biểu như sau:
- Giai đoạn 1: Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, có tác giả
E Aymonier, A Cabaton, E.M Durand, P Mus, L Pinot, P-Y Manguin, G Maspero Các tác giả này được xem là người đi tiên phong trong công trình nghiên cứu về người Chăm và Champa
Trang 9- Giai đoạn 2: Vào thập niên 60 của thế kỷ XX khi Pháp rút khỏi Việt Nam,
ở miền Nam Việt Nam xuất hiện vài học giả nghiên cứu về người Chăm mà đáng chú ý nhất là các tác giả Dohamide, Nghiêm Thẩm và Nguyễn Văn Luận
- Giai đoạn 3: Sau 1975, xuất hiện rầm rộ các công trình của các tác giả Việt Nam như Mah Mod, Lương Ninh, Lý Kim Hoa, Phan Văn Dốp, Vương Hoàng Trù, Nguyễn Đức Toàn, Phan Quốc Anh, Phú Văn Hẳn, Bá Trung Phụ, Trần Tiến Thành, Nguyễn Hồng Dương, Trương Tiến Hưng, Ngô Văn Doanh, Đổng Văn Dinh, Sakaya (Trương Văn Món), Inrasara, Thành Phần
Trong giai đoạn đầu, E Aymonier với cuốn The Chams and Their
Religions (Người Chăm và tôn giáo của họ) đã mô tả về các đền đài, di tích thờ
cúng, lịch cúng tế, các vị thần linh, vị tu sĩ, đặc biệt các lễ nghi tín ngưỡng, tôn
giáo của người Chăm Hai công trình: The Religious Ceremonies of Champa (Những nghi lễ tôn giáo của Champa) và India Seen From The East: India and
Indigenous Cults in Champa (Ấn Độ nhìn từ phía Đông: Ấn Độ và tục thờ thần
bản địa của Champa) của P Mus và công trình The Art of Champa (Nghệ thuật
Champa) của J Boisselier cũng có nội dung tương tự Còn A Cabaton với cuốn
Nouvelles recherches sur les Chams (Nghiên cứu người Chăm) đã đi sâu nghiên
cứu tín ngưỡng lễ nghi của người Chăm Ahier; E M Durand với cuốn Les
Chams Bani (Người Chăm Bàni) đi sâu nghiên cứu người Chăm Bàni (còn gọi là
Chăm Awal) ở Ninh – Bình Thuận Đáng lưu ý là P-Y, Manguin với công trình
L'introduction de l'Islam au Campa (Giới thiệu về Islam ở Champa) đã đề cập
đến vấn đề Islam trong xã hội người Chăm nhưng rất tiếc công trình này chủ yếu chỉ tập trung bàn về quá trình du nhập Islam vào Champa, chưa đề cập gì đến bộ phận người Chăm Islam ở Ninh Thuận
Có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu bước đầu đều là mảng tư liệu quý giá, đặt nền móng cơ bản cho việc định hình và nghiên cứu về cộng đồng
Trang 10người Chăm trong những giai đoạn về sau Tuy nhiên những công trình trên chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận
Trong giai đoạn 2, vấn đề đạo Islam trong xã hội Chăm được các tác giả đề cập nhiều hơn Nếu như trong bài "Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam" [54] Nghiêm Thẩm chủ yếu giới thiệu về tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm Bàlamôn thì trong bài "Hồi giáo tại Việt Nam" [17], tác giả Dohamide đã giới thiệu thời điểm du nhập Hồi giáo vào người Chăm ở Việt Nam, giới tu sĩ Chăm Hồi giáo, Kinh Qur'an, Thánh đường, tục thờ Po Awloah (Allah), lễ Ramawan
và một vài nét sinh hoạt trong thôn xóm người Chăm An Giang, Châu Đốc, Tây Ninh, Sài Gòn Tương tự như Dohamide, Nguyễn Văn Luận, trong cuốn sách
Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam [29] cũng đã mô tả lại sinh
hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào Chăm Hồi giáo ở miền Tây Nam phần Việt Nam Bên cạnh giới thiệu về giáo chủ, thần linh Hồi giáo, lễ Ramadan, bố thí, lễ hành hương, tác giả còn trình bày tín ngưỡng ma thuật, chữa bệnh bằng bùa phép… của người Chăm Hồi giáo miền Tây Nam phần Như vậy, trong giai đoạn 2 này, mặc dù vấn đề người Chăm Islam được đề cập nhiều hơn nhưng các công trình nghiên cứu chủ yếu chỉ tập trung vào bộ phận Chăm Islam ở Nam Bộ
mà chưa nói đến bộ phận Chăm Islam ở Ninh Thuận
Sang giai đoạn 3, với bài viết "Bước đầu tìm hiểu về tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm ở Việt Nam" [30], tác giả Mad Moh đã mô tả nhiều khía cạnh
về tín ngưỡng tôn giáo Chăm và Hồi giáo, Ấn Độ giáo thế giới nhưng lại không
đề cập đến cộng đồng Chăm Islam ở Việt Nam Nhóm tác giả Phan Xuân Biên
(chủ biên) với cuốn Văn hóa Chăm[5] đều có đề cập đến tín ngưỡng, tôn giáo Chăm nhưng chưa nói rõ về cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận Tiếp theo
cuốn Văn hóa Chăm của nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Ngô Văn Doanh cũng xuất bản cuốn Văn hóa cổ Chăm pa [11] Trong cuốn sách này, bằng những
Trang 11nguồn tư liệu người Pháp đã viết về bia ký, đền tháp, tượng thờ Champa, Ngô Văn Doanh đã trình bày lại về tôn giáo Chăm Tuy nhiên trong phần này, tác giả chỉ trình bày về Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Champa, còn phần Islam giáo thì tác giả không đề cập đến
Lương Ninh, có bài viết "Hồi giáo ở Việt Nam" trong sách Những đặc điểm
cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam [33], ngoài việc trình bày về sự du
nhập của đạo Hồi, vương triều Hồi giáo Sultanat Pasai năm 1412 và Sultanat Malacca ở bán đảo Mã Lai năm 1414, tác giả còn giới thiệu về đạo Hồi ở Việt Nam, tuy nhiên phần này tác giả chỉ giới thiệu sơ lược, chung chung chứ không
đề cập chuyên sâu và đầy đủ về cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận Bên cạnh
bài viết trên, Lương Ninh còn có cuốn sách Lịch sử Vương quốc Champa [36]
cũng có đề cập đến tôn giáo và tín ngưỡng của người Chăm từ 1471 đến nay ở
chương 13 nhưng tác giả không đề cập rõ về bộ phận Chăm Islam ở Ninh Thuận
Nguyễn Hồng Dương có bài viết "Ảnh hưởng của Bàlamôn giáo, Phật giáo
và Hồi giáo đối với văn hóa của người Chăm ở Việt Nam" trong sách Tôn giáo
trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam [15] Bài viết này, tác giả
chủ yếu trình bày lại thời điểm du nhập, sự ảnh hưởng cũng như trình bày một số kiến trúc đền đài, bia kí, tượng thờ của Phật giáo, Bàlamôn và Hồi giáo Chăm ở Việt Nam Riêng phần Hồi giáo, tác giả trình bày sơ sài, chủ yếu nói về Chăm Islam ở thành phố Hồ Chí Minh chứ chưa đề cập đến Chăm Awal/Bàni (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo) và Chăm Islam ở Ninh Thuận
Nguyễn Mạnh Cường – Nguyễn Minh Ngọc có cuốn Người Chăm – Những
nghiên cứu bước đầu [9] Mặc dù tiêu đề là vậy nhưng nội dung chính của cuốn
sách này là nói về người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam Ưu điểm nổi trội của cuốn sách là tập hợp nhiều số liệu báo cáo ở địa phương và ít nhiều cho độc giả hiểu vài nét về người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam Tuy nhiên, hai tác giả chưa phân
Trang 12biệt được Chăm Bàni và Chăm Islam, còn lẫn lộn giữa nghi lễ của hai nhóm tôn giáo này
Cuốn Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận,
Bình Thuận [18] do Hoàng Minh Đô (chủ biên) và cuốn Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận
[16] của Nguyễn Hồng Dương đều trình bày về đặc điểm, thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm ở Ninh – Bình Thuận nhưng ngoài những thành tựu đã đạt được, hai cuốn sách này còn có nhiều hạn chế trong việc nhận định về tín ngưỡng, tôn giáo Chăm và chưa đề cập nhiều về cộng đồng người Chăm Islam ở Ninh Thuận
Cuốn sách chuyên khảo Hồi giáo và Hồi giáo ở Việt Nam (Islam và Islam ở
Việt Nam) [37] của tác giả Trần Thị Kim Oanh xuất bản năm 2013 mặc dù là một
cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề của Hồi giáo ở Việt Nam nói chung như con đường du nhập, phong tục, lễ nghi, nhưng tất cả đều sơ sài và chưa phân biệt được cộng đồng Islam người Chăm ở Nam Bộ và cộng đồng Islam người Chăm
ở Ninh Thuận Năm 2000, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ
Chí Minh đã thực hiện đề tài Cộng đồng Hồi giáo (Islam) ở thành phố Hồ Chí
Minh và mối quan hệ với khu vực Đông Nam Á [57] Đề tài này mặc dù cung cấp
rất nhiều những sự kiện liên quan đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận nhưng như tựa đề của nó, nó chỉ tập trung nhiều vào cộng đồng Islam ở thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra trong giai đoạn 3 này, một số tác giả người Chăm đã có những công trình nghiên cứu giới thiệu sơ lược về tín ngưỡng, tôn giáo của chính dân tộc mình, tiêu biểu như Phú Văn Hẳn với bài "Cộng đồng Islam Việt Nam – Sự hình thành, hòa nhập, giao lưu và phát triển" [20] và bài "Islam giáo và các nghi
lễ, tập quán của người Chăm ở Nam Bộ" [21]; Bá Trung Phụ có bài "Cộng đồng
Trang 13người Chăm Islam giáo ở Việt Nam với đời sống xã hội" [41] Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu nói về cộng đồng Islam ở Nam Bộ, chưa đề cập đến cộng đồng Islam ở Ninh Thuận Bên cạnh những tác giả trên, thời điểm này còn xuất hiện hàng loạt bài viết của Sakaya về tín ngưỡng, tôn giáo Chăm, đáng chú ý là những bài sau : "Tín ngưỡng Bàlamôn giáo và Hồi giáo trong lễ hội Chăm" [46], "Thực trạng tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm Ninh Thuận" [45], "Sự biến đổi của tôn giáo Chăm hiện nay" [47] và bài "Dấu ấn văn hoá Ảrập trong văn hoá Chăm
ở Ninh Thuận và Bình Thuận" [49] Đó là những bài mà tác giả Sakaya có đề cập đến cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận
Như vậy, có thể thấy rằng đã có những công trình, những bài viết nghiên cứu về người Chăm Islam ở Việt Nam, về sự du nhập Hồi giáo vào cộng đồng người Chăm Nhưng tựu trung lại phần lớn những công trình, bài viết này đều chỉ thiên về tôn giáo hoặc nêu ý chung chung, đôi chút có nhầm lẫn và chủ yếu chỉ tập trung vào cộng đồng Islam ở miền Tây và thành phố Hồ Chí Minh chứ chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Chăm Islam tại Ninh Thuận Đây là mảng trống lớn mà luận văn này cần tiếp cận và hướng tới Vì thế nghiên cứu đề tài này trở thành vấn đề cần thiết
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử hình
thành và phát triển cộng đồng người Chăm Islam ở Ninh Thuận
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Người Chăm Islam ở Ninh Thuận tập trung chủ yếu ở 3 làng
An Nhơn, Phước Nhơn1
(xã Xuân Hải – huyện Ninh Hải) và Văn Lâm2 (xã
1 Từ năm 2008, làng Phước Nhơn tách thành 3 thôn là Phước Nhơn 1, Phước Nhơn 2, Phước Nhơn 3
Trang 14Phước Nam – huyện Thuận Nam) của tỉnh Ninh Thuận Vì vậy không gian - địa bàn nghiên cứu chính của đề tài là ở 3 làng này
Về thời gian: Cộng đồng người Chăm Islam Ninh Thuận hình thành từ năm
1962, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay (2016) Cho nên thời gian nghiên cứu của luận văn là trong khoảng 54 năm, từ 1962 đến 2016
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn:
Phương pháp lịch sử: Dùng để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Chăm Islam ở Ninh Thuận từ năm 1962 đến 2016
Trong phương pháp lịch sử có sử dụng phương pháp lịch đại và đồng đại để xem xét, so sánh quá trình hình thành và phát triển đạo Islam ở khu vực Ninh Thuận có liên quan như thế nào với đạo Islam ở vùng khác của Việt Nam cũng như ở khu vực Đông Nam Á và thế giới
Phương pháp điền dã: Tác giả đi thực tế ở Ninh Thuận để trực tiếp phỏng vấn, thu thập các thông tin và ghi nhận đời sống sinh hoạt cộng đồng của người Chăm Islam - Ninh Thuận Trong phương pháp này, tác giả chú ý nhất là phương pháp thu thập dữ liệu qua hồi cố, qua truyện kể lịch sử (oral history) của người lớn tuổi trong cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trên cơ sở tập hợp các nguồn tài liệu, tác giả sẽ phân tích, so sánh đối chiếu giữa các tài liệu, kể cả tài liệu tiếng Chăm, tiếng Việt và cả tiếng nước ngoài Từ đó sẽ có những thông tin cần thiết và chính
2 Từ năm 2005, làng Văn Lâm tách thành 4 thôn là Văn Lâm 1, Văn Lâm 2, Văn Lâm 3 và Văn Lâm 4
Trang 15xác về mặt sử liệu liên quan đến đề tài đồng thời thấy rõ sự tương đồng và khác biệt của các nguồn tư liệu
Phương pháp logic: tác giả sử dụng phương pháp logic để phân tích, nhận định, hệ thống hoá tài liệu nhằm rút ra những đặc trưng riêng và chung của cộng đồng người Chăm Islam Ninh Thuận với cộng đồng tôn giáo Chăm khác ở Ninh Thuận và cộng đồng Chăm Islam ở Nam Bộ và thế giới
Ngoài ra, để thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, chụp ảnh, vẽ biểu đồ,…
5.2 Nguồn tài liệu
Có 3 nguồn tài liệu chính được sử dụng trong luận văn này:
- Tài liệu sách, tạp chí đã xuất bản công bố liên quan đến đề tài luận văn (tiếng Việt và tiếng Anh)
- Tài liệu viết tay văn bản Chăm (manuscrip Chăm) còn lưu giữ trong cộng đồng Chăm liên quan đến văn hoá Chăm và sự du nhập đạo Islam vào vùng Chăm
- Tài liệu điền dã, phỏng vấn (tiếng Việt, tiếng Chăm)
6 Đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp nhất định về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học, sưu tầm và phân tích được nhiều nguồn dữ liệu khác nhau
để làm rõ quá trình và hình thành phát triển của cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận; mối quan hệ giữa cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận và cộng đồng Chăm Bàni/Awal (Hồi giáo cũ), Chăm Ahier (Chăm Bàlamôn) và Chăm Islam ở
Trang 16Nam Bộ và thế giới như thế nào Từ đó góp phần làm rõ nét bức tranh tổng thể của bộ phận người Chăm Islam ở Ninh Thuận trong lịch sử hình thành và phát triển tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp cơ
sở khoa học, hệ thống hoá tài liệu, hình ảnh quý giá của cộng đồng Chăm Islam
ở Ninh Thuận cho các sinh viên, giảng viên, nhà nghiên cứu tham khảo Đặc biệt tài liệu luận văn sẽ giúp cho những nhà chức trách tham khảo trong việc quản lý cũng như hoạch định chính sách tôn giáo một cách khoa học, phù hợp với cộng đồng người Chăm Islam ở Ninh Thuận nói riêng và người Chăm nói chung trong tình hình đạo Islam đang có nhiều biến động trên thế giới hiện nay
du nhập Islam vào Đông Nam Á, quá trình du nhập Islam vào Việt Nam)
Chương 2: Cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận Chương này gồm 32
trang (tr.36 – tr.68) Trước tiên là nêu rõ sự xuất hiện của cộng đồng Chăm Islam
ở Ninh Thuận vào thập niên 60, sự phát triển về số lượng và sự mở rộng địa bàn
cư trú qua thời gian Sau đó là trình bày quá trình chuyển biến về đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng Chăm Islam từ khi hình thành cho đến nay
Trang 17Chương 3: Các mối quan hệ cộng đồng và xu thế phát triển của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận Chương này có 20 trang (tr.70 – tr.90), tập
trung đề cập các mối quan hệ của cộng đồng Chăm Islam với các cộng đồng Chăm theo tôn giáo khác ở Ninh Thuận, với các cộng đồng Islam ở Việt Nam và Islam thế giới Đặc biệt trong chương này cũng nêu lên xu thế phát triển của cộng đồng Chăm Islam Ninh Thuận trong tương lai
8 Những thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi, trước hết tác giả được sự giúp đỡ của quý thầy cô và bạn học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, sự ủng hộ của gia đình và đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy hướng dẫn Tác giả cũng là người Chăm sinh sống ở làng có cộng đồng Islam nên có điều kiện tiếp xúc, phỏng vấn sâu, khai thác nhiều nguồn tư liệu để thực hiện đề tài
Bên cạnh những thuận lợi trên, tác giả còn gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu Trước tiên là việc có con nhỏ đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình nghiên cứu, đi thực tế của tác giả Thêm vào đó là những nhân chứng lịch sử đều
đã già, việc nhớ lại chuyện quá khứ trở nên khó khăn nên đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện
Nhìn chung, trong quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn nhất định Vì thế luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô và đồng nghiệp cũng như độc giả gần xa đóng góp ý kiến bổ sung
Trang 18
Hình 1: Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận (Nguồn: TS Trương Văn Món cung cấp ngày 05/06/2016)
Trang 19CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CỘNG ĐỒNG CHĂM NINH THUẬN VÀ QUÁ
TRÌNH DU NHẬP ISLAM VÀO VIỆT NAM
1.1 Cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ninh Thuận là một tỉnh miền trung Việt Nam nằm ở giữa vĩ tuyến 11018
và 12002, giữa đông kinh tuyến 108035 và 109015; phía bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, nam giáp tỉnh Bình Thuận, đông giáp Biển Đông và phía tây giáp Lâm Đồng [61, tr 13] Trên đại thể Ninh Thuận giống như một cái chảo Ba mặt: phía bắc, tây, nam và một nửa phía đông bị núi bao bọc, chỉ còn một nửa phía đông còn lại thông thoáng hướng mặt ra biển Đông
Khí hậu ở Ninh Thuận khắc nghiệt Ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau Mùa mưa ở đây không nhiều Do đó trữ lượng mưa trung bình hàng năm rất thấp (695mm/năm) Ngược lại mùa khô thì rất nóng kéo dài đến 9 tháng Nhiệt
độ trung bình 29 – 330
C Lượng bức xạ lớn, lượng bốc hơi gấp hai lần lượng mưa Độ ẩm 80,3% hàng năm [61, tr 16-17] Mùa khô thường có gió, từ trung tuần tháng 10 đến tháng 4 dương lịch có gió mùa đông bắc và từ trung tuần tháng 4 dương lịch đến trung tuần tháng 10 năm sau có gió tây nam Hai ngọn gió trên hàng năm đem lại nhiều mưa cho các tỉnh trong toàn quốc nhưng đến Ninh Thuận bị chắn bởi các ngọn núi cao xung quanh làm cho ngọn gió yếu dần, tạo cho Ninh Thuận khí hậu khô và nóng
Theo các nguồn tư liệu, phần đất Ninh Thuận được hình thành là kết quả của sự hoạt động kiến tạo địa chất cách đây khoảng 230 triệu năm Cho đến nay
do phải chịu nhiều sự biến đổi về hình thể và do sự tác động của địa động, núi
Trang 20lửa và xâm thực nên đã hình thành địa hình Ninh Thuận đa dạng bao gồm: Núi – Đồng bằng – Biển cả
Núi ở Ninh Thuận đa dạng Đứng ở Phan Rang hay Tháp Chàm nhìn ra thì chúng ta sẽ thấy hệ thống núi non phía bắc tạo hình lòng máng mà hai đỉnh cao hay hai bờ máng là dãy núi Đá Mài, núi Kiền Kiền (Ninh Hải) Phía tây có núi cao ở các đèo Ngoạn Mục như núi Gia – Rich, núi Hòn Chàm, núi Kanan, chạy dọc theo biên giới Lâm Đồng và Ninh Thuận Về phía đông, giáp biển là quần sơn mà chu vi giới hạn là vịnh Cam Ranh Đây là ngọn quần sơn dày đặc, núi này núi tiếp núi kia, trong đó ngọn núi cao nhất là núi Chúa, núi Nước Nhỉ, núi Ông,
Với địa hình thế núi như thế đã hình thành nên sông ngòi Ninh Thuận Nước mưa từ sườn núi bao quanh chảy dồn xuống thành khe suối, chảy vào rún thành những lòng chảo ở giữa, tạo nên nhiều con sông rạch như sông Dinh, sông Pha, sông Cái, sông Ma Lâm, sông Quao, sông Lu và hàng ngàn con suối khác chằng chịt như lòng bàn tay xòe ngón chảy về đồng bằng như suối Ma Ty, suối Tía, suối Than, suối Trại Thịt, suối Yahac, suối Dầu, suối Me Trong đó chỉ có con sông lớn nhất là sông Dinh, dài khoảng 100 cây số bắt nguồn từ các dãy núi cao ở tây bắc với nguồn chính là sông Tô Hạp (Khánh Hòa) rồi chảy qua nhiều khe núi và cuối cùng tạo thành nhiều cửa sông đổ ra biển Đông Đặc điểm của sông ở đây là ngắn, dốc có nhiều khe đá Do vậy sông ngày thường thì nước cạn không sâu lắm, đến mùa mưa thì nước đổ xuống từ các núi đá chảy xiết, đổ vào lòng chảo, gây nên nhiều cơn lũ lụt Do vậy để điều hòa lượng nước, trên những khúc sông ngắn dốc người Chăm thường đắp đập, làm thủy lợi để đưa nước sông về đồng bằng cày cấy
Do đặc điểm của địa hình kiến tạo, vùng đồng bằng Ninh Thuận là một cái trũng nằm sát hệ thống chân núi Lâm Viên – Lâm Đồng trải dài đến tận biển
Trang 21Đồng bằng ở đây được bồi tụ, một phần là nước mưa xâm thực mạnh vào các sườn núi tạo nên các "phay" và những dòng sông lớn mang theo phù sa lắp dần vùng vịnh Phần khác do vùng này là một lòng chảo, có núi bao bọc cho nên mặt nước ở đồng bằng này yên lặng, phù sa dễ dàng lắng đọng không bị cuốn trôi ra biển cả Qua thời gian lâu dài phù sa đọng lại thành nhiều lớp lấp đầy vùng vịnh
và tạo nên đồng bằng ngày nay Tuy nhiên vì khí hậu khô nóng nên đồng bằng thường khô hạn thiếu nước, đất đai cằn cỗi, rất khó khăn cho việc sản xuất nông nghiệp Diện tích canh tác nơi đây không đáng kể, còn lại phải bỏ hoang vì khô hạn
Cùng nằm nối nhau trên bờ biển miền trung Việt Nam, biển Ninh Thuận kéo dài khoảng 100 km, được giới hạn bắt đầu từ mũi Cà Tiên (Cam Ranh – Khánh Hòa) ở phía bắc kéo dài đến tận thôn Lạc Nghiệp (Phước Diêm – Ninh Thuận) giáp với Bình Thuận về phía nam Bờ biển Ninh Thuận cao và dốc, có những bãi cát đẹp như bãi Ninh Chữ Nhưng cũng có bãi đá lô nhô nằm sát chân núi như biển Cà Ná Bãi biển lại nằm gần với các cửa sông cho nên rất thuận lợi cho việc tìm nước ngọt, đào giếng nước ngọt trong chuyến viễn hành của ngư dân biển Ngoài những bãi biển đẹp và các cửa sông nước ngọt, biển Ninh Thuận còn có những hòn đảo xếp thẳng hàng, làm bình phong cho bờ phía trong Đó là đảo Hòn Trứng, Hòn Chụt, Hòn Tý, Hòn Sam, Hòn Đỏ (Mỹ Tân – Ninh Thuận), đảo Hòn Khỉ (Cà Ná – Ninh Thuận) Tuy vậy đây chỉ là những hòn đảo nhỏ nằm trên diện tích biển rộng nên mặt biển ở đây trống trải, cộng với vách núi bao quanh đã chắn gió làm cho bờ biển Ninh Thuận không có gió bão như ở nơi khác Vùng biển này trở thành nơi tránh bão an toàn cho các chuyến tàu viễn hành bằng đường biển [61, tr 13-49]
Nói chung, môi trường tự nhiên ở Ninh Thuận cùng mang đặc điểm với miền trung Việt Nam Nằm giữa chẹt núi và biển, đồng bằng sâu trũng với khí
Trang 22hậu khắc nghiệt nhiều nắng ít mưa Điều kiện tự nhiên, môi sinh ấy đã tác động
và góp phần hình thành nên sắc thái văn hóa của người Chăm – đó là sắc thái của một cư dân vừa làm nông vừa đi biển Đứng trước thiên nhiên khắc nghiệt,người Chăm đã kiên trì từng bước chinh phục tự nhiên hình thành nên những dấu ấn lịch sử - bản sắc văn hoá riêng của chính mình
1.1.2 Điều kiện xã hội
Ninh Thuận là vùng đất sinh sống lâu đời của người Chăm Xưa kia, nó thuộc khu vực Panduranga của vương quốc Champa Trong quá trình Nam tiến, cuối năm 1692, chúa Nguyễn tấn công và biến khu vực này của Champa thành trấn Thuận Thành (sau đó đổi thành phủ Bình Thuận) Đến năm 1832, trong cuộc cải cách hành chính của mình, Minh Mạng đã chia khu vực Panduranga thành
An Phước và Hòa Đa thuộc tỉnh Bình Thuận
Trải qua nhiều biến cố lịch sử với những lần sáp nhập rồi chia tách thì ngày nay Ninh Thuận có diện tích tự nhiên là 3.360,1 km2, dân số toàn tỉnh là 580.000 người [78] Trên địa bàn tỉnh có 34 dân tộc, trong đó đông nhất là người Kinh, tiếp sau đó là người Chăm, người Raglay, cùng một số dân tộc ít người khác như K'ho, Hoa, Chu Ru, Nùng, Tày Các tôn giáo đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là Phật giáo, Công giáo, Bàlamôn giáo, Bàni, Islam, Tin lành, Cao Đài
và Baha'i với tổng số khoảng 248.000 tín đồ, chiếm khoảng 42% dân số toàn tỉnh Tín đồ của Phật giáo, Công giáo, Cao Đài chủ yếu là người Kinh; tín đồ Islam, Bàlamôn, Bàni hầu hết là người Chăm; tín đồ đạo Tin lành ngoài người Kinh, còn có các dân tộc khác như Raglay, K'ho, Chăm,…[55, tr 31]
Người dân Ninh Thuận sống chủ yếu bằng hai nghề: nghề nông, nổi tiếng với các đặc sản như nho, táo, tỏi và nghề biển chủ yếu đánh bắt hải sản ven bờ Mặc dù hiện nay, xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra rất mạnh nhưng ở Ninh Thuận các ngành công nghiệp phát triển không đáng kể, chỉ
Trang 23vài khu công nghiệp đang dần dần hình thành như khu công nghiệp Du Long, Phước Nam, Thành Hải, Cà Ná
Ninh Thuận có 7 đơn vị hành chính trực thuộc (1 thành phố và 6 huyện) Người Kinh cư trú rải rác khắp các địa bàn trong tỉnh, từ vùng núi đến ven biển Người Raglai ở miền núi phía Tây, chủ yếu ở huyện Ninh Sơn Người K'ho cư trú ở vùng rừng núi phía Tây Nam, giáp với tỉnh Lâm Đồng Người Hoa cư trú chủ yếu ở tỉnh lỵ, thị xã và các nơi đông đúc Người Chăm cư trú chủ yếu ở vùng đồng bằng phía Đông và sống tập trung trong 22 làng3
Còn các dân tộc khác sống tản mạn, xen ghép khó nhận ra khu vực cư trú riêng
Nhìn chung, với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đời sống của người dân Ninh Thuận mà đặc biệt là đời sống của các dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn Ninh Thuận là địa bàn cư trú lâu đời của người Chăm Hiện nay, đây cũng
là tỉnh có nhiều đồng bào Chăm sinh sống nhất của cả nước nên nền văn hóa đặc sắc của người Chăm in đậm dấu ấn trên vùng đất này Phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật ẩm thực,… của người Chăm là một trong những nét tiêu biểu của đời sống xã hội nơi đây
1.1.3 Sơ lược về lịch sử người Chăm và cộng đồng tôn giáo Chăm ở Ninh
Thuận
Người Chăm là dân tộc chủ đạo của vương quốc Champa xưa Dựa vào sử liệu lịch sử Trung Quốc cho chúng ta biết rằng kể từ cuối thế kỷ II – hay nói một cách chính xác hơn, đó là vào năm 192 sau công nguyên, một bộ tộc sống ở vùng Jen-nan (trực thuộc khu vực Huế bây giờ) đã từng vùng lên chống lại sự đô hộ của Tàu (Trung Quốc) nhằm xây dựng một vương quốc độc lập gọi là Lin-yi Và nhờ các sử liệu về ngôn ngữ cũng như nhân chủng được nghiên cứu bởi R Stein,
3
Làng Tuấn Tú, làng Thành Tín, làng Mỹ Nghiệp, làng Chung Mỹ, làng Vĩnh Thuận, làng Văn Lâm, làng Hiếu Thiện, làng Vũ Bổn, làng Phước Lập, làng Hậu Sanh, làng Hữu Đức, làng Như Bình, làng Hoài Trung, làng Chất Thường, làng Hiếu Lễ, làng Phước Đồng, làng Phú Nhuận, làng Lương Tri, làng Thành Ý, làng An Nhơn, làng Phước Nhơn, làng Bỉnh Nghĩa
Trang 24nhà bác học Pháp, chúng ta biết rằng giữa Lin-yi và Champa có sự liên hệ về mặt lịch sử [42, tr 4]
Cũng theo nguồn sử liệu của Trung Quốc chúng ta biết được rằng thủ đô của Lin-yi nằm phía nam đèo Hải Vân (tức là vùng Trà Kiệu bây giờ), đây là trung tâm truyền bá Bàlamôn giáo lẫn trung tâm phát triển ngôn ngữ Chăm và văn tự Chăm Lúc đầu vương quốc Lin-yi bành trướng mạnh mẽ biên giới chính trị của mình về phía bắc cho tới núi Hoành Sơn (Quảng Bình), sau đó tìm cách
đô hộ dần những vương quốc Ấn Độ giáo ở miền Nam Trong suốt thế kỷ IV, V
và VI, vương quốc Lin-yi cũng nhiều lần tìm cách dùng vũ lực để dời biên giới chính trị của mình ra khỏi khu vực Hoành Sơn, nơi sinh cư của cộng đồng người Việt cổ Nhưng những ý đồ chiến tranh này cũng không đạt được sự thành công cho lắm
Từ thế kỷ VII, lịch sử vương quốc này bắt đầu bước vào một niên đại sáng sủa hơn Danh xưng Champa cũng được xuất hiện lần đầu tiên trên tấm bia viết bằng Phạn ngữ được tìm thấy ở miền Trung Việt Nam có niên đại năm 658 và trên một tấm bia khác của Campuchia viết vào năm 668 [9, tr 27] Như vậy trong suốt 200 năm từ thế kỷ VII, vương quốc Champa đã trở thành một quốc gia hùng mạnh, nắm quyền cai trị trên một lãnh thổ rộng lớn, chạy dài từ cửa An Nam (núi Hoành Sơn, Quảng Bình) ở phía bắc đến đồng bằng sông Đồng Nai ở phía nam Vương quốc này được chia thành 5 khu vực hành chính hay tiểu vương quốc, gọi là Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga [42,
tr 13]
Sang thế kỷ X, sự vùng dậy mạnh mẽ của Đại Việt nhằm thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc đã đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch trình diễn tiến lịch sử của khu vực Đông Dương Còn Champa, sau một thời gian sống trong hòa bình và thịnh vượng đã bắt đầu đối phó với những biến cố chính trị và quân sự
Trang 25Câu chuyện công chúa Huyền Trân và sự dâng hiến đất đai của Champa cho Đại Việt vào thế kỷ XIV đã trở thành biến cố lịch sử quan trọng của vương quốc này Nó đánh dấu sự thất thế của Champa trong việc phòng ngự trong các cuộc tấn công của Đại Việt trong các thế kỷ sau Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông dẫn đoàn quân hùng mạnh đánh phá thành Đồ Bàn và dời biên giới giữa hai nước xuống phía nam Bình Định (đèo Cù Mông) Kể từ đây lãnh thổ Champa chỉ còn lại vùng Kauthara (Phú Yên, Nha Trang), Panduranga (Phan Rí, Phan Rang) và vùng cao nguyên phía Tây Panduranga
Cùng với quá trình Nam tiến của người Việt, người Chăm mất dần phần lãnh thổ Đến năm 1832, vua Minh Mạng quyết định chiếm đóng phần đất Panduranga cuối cùng của người Chăm và xóa Champa ra khỏi bản đồ Đông Dương
Có thể nói rằng, từ thế kỷ XV nền văn minh Ấn giáo của Champa không còn giữ được trạng thái nguyên thủy của nó nữa Điều này có hai nguyên do, một
là, cuối thế kỷ XII, đạo Islam đã bành trướng ở Ấn Độ đồng nghĩa với việc văn minh Ấn giáo của Ấn Độ bị cắt đứt liên hệ với bên ngoài; hai là sự thất bại về mặt quân sự với các nước Campuchia, Đại Việt và sự uy hiếp của Trung Quốc đã làm phai nhạt niềm tin của người Chăm vào hệ thống tâm linh của Ấn giáo Sự khủng hoảng tinh thần của người dân Chăm đối với triết lý Ấn giáo này đã góp phần làm cho Champa suy yếu về mọi mặt Trong tình thế mất dần chủ quyền của đất nước, có bộ phận người Chăm bị người Việt đồng hóa, có bộ phận vẫn tiếp tục bám trụ mảnh đất tổ tiên và gìn giữ nền văn hóa của dân tộc và một bộ phận không nhỏ rời bỏ quê hương sang lánh nạn ở các nước Lào, Campuchia,
Mã Lai, Và tại nơi đất khách quê người, khi niềm tin vào Ấn giáo đã phai nhạt,
họ dễ dàng tiếp nhận một niềm tin mới, đó là niềm tin của đạo Islam Chính bộ phận người Chăm đi lánh nạn này đã góp phần truyền bá đạo Islam vào bộ phận
Trang 26người Chăm còn lại tại quê hương tạo nên sự đa dạng trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm
Tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những thành tố quan trọng cấu thành văn hóa Chăm Hiện nay, tại Ninh Thuận người Chăm được chia thành 4 cộng đồng tôn giáo:
- Chăm Jat4: Đây là danh từ dùng để chỉ Chăm gốc, Chăm truyền thống, Chăm theo tín ngưỡng địa phương mà chưa bị ảnh hưởng Bàlamôn giáo và Hồi giáo
Nhóm người Chăm này hiện nay đang sống ở hai thôn Bỉnh Nghĩa (Palei Bal Raya) và Phước Lập (Palei Aia Li-u) với dân số khoảng 5.000 người Họ sống quay quần thành làng Mỗi làng được hợp thành bởi nhiều tộc họ, khoảng 300-400 gia đình và mỗi gia đình từ 7-10 người [50, tr 72] Họ sống bằng nghề nông (ruộng, rẫy), chăn nuôi gia súc, gia cầm và nổi tiếng có nghề săn bắt và hái lượm
Nhóm người Chăm này vẫn còn lưu giữ tương đối tín ngưỡng truyền thống của họ mà ít bị lai tạp hoặc ảnh hưởng bởi Bàlamon giáo, Phật giáo hoặc Islam như vùng Chăm Bàlamôn/Ahier và Chăm Bàni/Awal Họ không có tầng lớp tu sĩ trong cộng đồng mà chỉ có thầy tín ngưỡng dân gian Họ có cách tính lịch riêng không phải là loại lịch Saka của Ấn Độ hoặc Jawi của Islam để thực hiện lễ nghi cúng tổ tiên và các lễ nghi dân gian khác
- Chăm Ahier (Chăm Akaphir hoặc Chăm matai cuh): Đây là danh từ dùng
để chỉ Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo
Với điều kiện địa lý thuận lợi, Champa dễ dàng tiếp thu và ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài Hầu hết các tác giả người Pháp mà tiêu biểu là G Maspero và
J Boisselier cho rằng, ngay từ thế kỷ II-IV, Ấn Độ giáo đã ảnh hưởng vào
4 Jat (Skrt Jati): gốc, nguồn gốc
Trang 27Champa Điều này được biết qua bia đá Võ Cạnh khắc bằng chữ Sanskrit được phát hiện tại Khánh Hòa Tuy nhiên mãi đến thế kỷ VII- VIII, Ấn Độ giáo mới định hình rõ nét qua công trình kiến trúc tôn giáo ở thánh địa Mỹ Sơn [50, tr.88] Hiện nay, Bàlamôn giáo là một trong những tôn giáo lớn của người Chăm ở Ninh Thuận Cộng đồng Chăm theo Bàlamôn giáo sinh sống chủ yếu ở các làng như làng Mỹ Nghiệp, làng Chung Mỹ, làng Vĩnh Thuận, làng Hiếu Thiện, làng
Vũ Bổn, làng Hậu Sanh, làng Hữu Đức, làng Như Bình, làng Hoài Trung, làng Chất Thường, làng Hiếu Lễ, làng Phước Đồng, làng Thành Ý, làng Phú Nhuận Mặc dù bị ảnh hưởng bởi Ấn Độ giáo nhưng Bàlamôn giáo của người Chăm có nhiều khác biệt so với bên Ấn Độ
Nhóm cộng đồng người Chăm này là những tín đồ kiêng ăn thịt bò, khi chết
đi làm đám thiêu, lấy 9 miếng xương trán làm lễ nhập Kút, thờ cúng tổ tiên (muk kei); các vị thần linh dân tộc như Po Nagar, Po Klaong, Po Romé; làm lễ Raja, lễ hội Katé, tôn thờ một số thần linh ở đền tháp Chăm (thần Siva) và thờ luôn cả Allah [50, tr 68] Kinh tế chủ yếu của họ vẫn là nghề nông Tuy nhiên trong những năm gần đây, ngày càng nhiều người được đi học nên thành phần nghề nghiệp cũng đa dạng hơn, chẳng hạn như nghề giáo viên, bác sĩ, ngân hàng,…
- Chăm Awal (Chăm Bàni, Bini, Beni hoặc Chăm matai dar): dùng để chỉ Chăm ảnh hưởng Islam
Sau thế kỷ XV, văn hóa Ấn Độ suy tàn ở Đông Nam Á, kéo theo sự suy tàn của các quốc gia ảnh hưởng văn minh Ấn Độ và nhường chỗ cho sự bành trướng của đạo Islam vào Đông Nam Á Thời điểm Islam du nhập vào Champa được đề cập ở nhiều nguồn tư liệu khác nhau bắt đầu từ thế kỷ X-XVIII Cũng từ những nguồn tư liệu này, đầu tiên các nhà nghiên cứu ghi nhận, giai đoạn đầu, trước thế
kỉ XV trở đi, Champa có thể tiếp thu Islam trực tiếp từ Trung Đông (Ả Rập) Sau thế kỉ XV, Islam vào Champa do những thủy thủ Mã Lai mang đến hoặc người Chăm đến học đạo trực tiếp từ người Mã Lai Đọc qua văn bản Chăm còn lưu lại
Trang 28ở vùng Chăm hiện nay cho ta thấy rõ điều này Hầu hết vua, tướng lĩnh Chăm vùng Panduranga (Ninh – Bình Thuận) như Po Klaong Garai, Po Romé, Po Tang Ahaok, Po Haniim Par… khi lên ngôi đều đến thánh địa Makah-Kelantan (Mã Lai) để học đạo [50, tr 97]
Hiện cộng đồng người Chăm này sống chủ yếu ở các làng như làng Văn Lâm, làng Lương Tri, làng An Nhơn, làng Phước Nhơn, làng Tuấn Tú, làng Thành Tín Một số khác sống xen kẽ trong các làng của cộng đồng Chăm Bàlamon (như trường hợp làng Phú Nhuận) Họ là những tín đồ kiêng ăn thịt heo, làm lễ cắt tóc đặt tên (Kareh, Katat), lễ cưới (ndam likhah), đám tang (Ndam padhi), lễ Ramawan (Ramadan) nhưng họ không thờ duy nhất một Allah
và cầu nguyện mỗi ngày năm lần mà họ thờ cúng tổ tiên, thờ các vị thần dân tộc như Po Nagar, Po Klaong, Po Romé và làm lễ Raja và một số lễ khác liên quan đến nông nghiệp Cũng giống như người Chăm Bàlamôn, người Chăm Bàni chủ yếu sống bằng nghề nông, một số được học hành nên tham gia các ngành nghề khác của xã hội như giáo viên, bác sĩ, y tá
- Chăm Islam (hoặc Chăm Jawa): danh từ dùng để chỉ Chăm Hồi giáo (Islam) chính thống
Qúa trình du nhập Islam vào Champa diễn ra trong thời gian dài nhưng chỉ
từ sau những năm của thế kỷ XVIII-XIX là định hình rõ nét nhất Do chiến tranh
ly tán, người Chăm di cư đến miền Tây Việt Nam và sang Campuchia Họ tiếp xúc với người Campuchia, Thái Lan và Jawa cho nên họ đã cải biên thành Islam chính thống
Nếu như người Chăm Bàni khi tiếp nhận Islam vẫn một phần lưu giữ tín ngưỡng bản địa, tục thờ cúng các vị thần linh, thờ cúng tổ tiên và thực hiện những lễ nghi cộng đồng thì người Chăm Islam khi tiếp nhận đạo Islam đã bỏ qua tín ngưỡng bản địa, tục thờ cúng các vị thần linh, thờ cúng tổ tiên và những nghi lễ cộng đồng Người Chăm Islam chỉ lưu lại một vài nghi lễ một cách mờ
Trang 29nhạt như một tàn dư của tín ngưỡng bản địa người Chăm như tục đi tảo mộ trong những ngày đầu lễ Ramadan, khi chết thi hài được chôn đầu hướng về phía bắc, thực hiện lễ cầu an ở nhà
Cộng đồng Chăm Islam ở Việt Nam này hiện nay có số dân khoảng 30.000 người, sinh sống ở nhiều địa phương khác nhau như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Tp Hồ Chí Minh [50, tr 110] Riêng tín đồ Chăm Islam ở Ninh Thuận có khoảng 2.484 người [78] Họ sống chủ yếu bằng nghề nông và tập trung chủ yếu tại ba làng là Văn Lâm, An Nhơn, Phước Nhơn Họ sinh hoạt như Islam chính thống và có quan hệ với các tổ chức Islam ở thành phố Hồ Chí Minh
và một số tổ chức Islam trên thế giới Đây chính là cộng đồng tôn giáo Chăm mà chúng tôi sẽ nghiên cứu trong luận văn này
1.2 Islam du nhập vào Việt Nam
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Islam
Hồi giáo gọi theo tiếng Ảrập là đạo Islam, có nghĩa là phục tùng hay vâng phục Hồi giáo xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào đầu thế kỷ thứ VII-SCN Sự ra đời Hồi giáo đã được thúc đẩy bởi một loạt nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền [62, tr 417]
Vào đầu thế kỷ VI, tại vùng bán đảo Ảrập nằm giữa Châu Phi và Châu Á với diện tích bằng 1/3 Châu Âu, nơi mà cư dân chủ yếu là người Ảrập Bêdoanh (Bêdoanh gốc chữ Ảrập là Bedaoni có nghĩa là dân sa mạc) sống bằng nghề chăn nuôi, đã diễn ra những biến đổi quan trọng Đó là việc hình thành con đường buôn bán Đông – Tây giữa vùng Địa Trung Hải với Ấn Độ, Trung Quốc đi qua bán đảo Ảrập Sự giao lưu đó đã tạo ra sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, hình thành một số trung tâm kinh tế, văn hóa lớn như Mecca, Medina, Taif
Trang 30ngày nay thuộc Ảrập Xêút Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm tan rã
cơ cấu xã hội của người Ảrập Những quan hệ cũ – quan hệ thị tộc, bộ lạc cũng như quan hệ công xã lỗi thời được thay bằng quan hệ mới dựa trên sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản và sự khác biệt về giai cấp – quan hệ chủ nô và nô lệ
Đến đầu thế kỷ thứ VII, con đường buôn bán Đông – Tây này chuyển sang vùng vịnh Ba Tư thuộc quyền kiểm soát của đế quốc Ba Tư Việc mất con đường buôn bán quá cảnh này ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế trong vùng Các thành phố lớn như Mecca, Medina, Taif bắt đầu suy tàn Bọn chủ nô mất đi nguồn lợi lớn đã chuyển sang cho vay nặng lãi và bóc lột lao động của nô lệ ngày càng thậm tệ hơn Mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải quyết cấp bách Trong khi đó, bán đảo Ảrập lại đứng trước nguy cơ bị xâm lược của Bizăngxơ từ phía Tây và của Ba Tư từ phía Đông
Trước tình hình trên trong xã hội, những thủ lĩnh bộ lạc sớm nhấn thấy cần thiết phải có một chính quyền tập trung vững mạnh, có khả năng thống nhất các
bộ lạc, đảm bảo nền độc lập dân tộc, để tiếp tục thống trị, bóc lột, đồng thời để khôi phục con đường buôn bán Đông – Tây phát triển kinh tế và tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phục ra bên ngoài
Những tín ngưỡng và tôn giáo cũ của các bộ lạc, chủ yếu là thờ đa thần, không những không đáp ứng mà còn cản trở khuynh hướng trên Trong hoàn cảnh đó vũ khí tư tưởng thích hợp phải là một tôn giáo mới, tôn giáo thờ nhất thần Hồi giáo – một tôn giáo nhất thần đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy
Xét về mặt tư tưởng, Hồi giáo ra đời trên cơ sở tư tưởng của Do Thái giáo, Kitô giáo và tín ngưỡng Hanif – hình thức tín ngưỡng nhất thần đầu tiên của người Ảrập Trước khi Hồi giáo ra đời, ở các thành phố vùng Yêmen, Medina,
đã có một số bộ lạc theo Do Thái giáo qua tiếp xúc với người Do Thái di cư từ
Trang 31đế quốc La Mã sang Vùng bắc Yêmen, Nejda đã có người theo Kitô giáo qua tiếp xúc với những thương nhân từ Châu Âu sang Đặc biệt ở Medina đã có những người tuyên truyền ý niệm thờ nhất thần và sự khắc khổ, được gọi là những người theo chủ nghĩa Hanif
Nói đến Hồi giáo thì phải nhắc đến Muhamad – người khai sáng Hồi giáo (người ta còn gọi tôn giáo này là Muhamaedamism (tức là đạo Muhamad)) Muhammad, tên đầy đủ là Muhammad bin Abdullah bin Abdul Montalib bin Abdul Manaf bin Hasim Al Koreichite, sinh vào khoảng năm 570 trong một gia đình quyền quý dòng họ Hasim, thuộc bộ lạc Koreichite là bộ lạc có thế lực nhất
ở Mecca lúc đó Ông sớm mồ côi cha mẹ và suốt thời niên thiếu sống trong cảnh nghèo khổ và đi làm thuê Năm 25 tuổi ông lấy bà Khadi Jah, vợ góa của một thương nhân giàu có, lớn hơn ông 15 tuổi Cuộc hôn nhân này đã giúp ông có chỗ dựa và tiền bạc trong buổi đầu đấu tranh cho một đức tin mới Theo truyền thuyết, ông thường hay một mình lánh vào hang núi Hira ở ngoại vi Mecca Tương truyền vào khoảng tháng 9 (Ramadan) năm 610, khi Muhammad gần 40 tuổi, ông lần đầu tiên nghe được lời khải thị của đức Allah thông qua Thiên thần Jibrael (Sau này, tháng 9 trở thành tháng ăn chay của tín đồ Islam) Sau vài lần như vậy, Muhammad bắt đầu truyền đạo, ông tuyên bố chỉ có một Thượng đế duy nhất là Allah và tự xưng là sứ giả của Allah, cũng như Musa (Môsê), Giêsu, Abraham đã được Allah cử xuống cho loài người trước đó Trong thời gian đầu chỉ có những người thân trong gia đình và một nhóm nhỏ những người thuộc tầng lớp dưới ở Mecca tin theo ông Còn các tầng lớp trên thì chống lại và tấn công, mặc dù sự xuất hiện của Hồi giáo không có gì mâu thuẫn với lợi ích lâu dài của quý tộc Mecca, nhưng trước mắt lại đe dọa trực tiếp tới đặc quyền và thu nhập kinh tế của họ, hơn nữa họ không muốn quy phục một con người không có địa vị xã hội gì như Muhammad Bị cô lập và thù gét ở Mecca, ngày 16-07-622
Trang 32Muhammad cùng các đồng đạo buộc phải dời đến Yathrib, một thành phố ở về phía bắc Mecca [57, tr.8]
Khi Muhammad đến Medina, bằng một loạt các biện pháp hữu hiệu, Muhammad đã thực sự thống nhất được Medina và sơ bộ xây dựng được một chính quyền hợp nhất chính giáo lấy hình thức là Uma (có nghĩa là dân tộc, quốc gia) Để củng cố chính quyền và truyền bá Hồi giáo, Muhammad còn tổ chức một đội quân Hồi giáo, đưa ra khẩu hiệu chiến đấu "vì đạo của Allah" và quan niệm rằng những người tử vì đạo sẽ được lên thiên đàng Năm 633, Muhammad sau khi thực hiện các cuộc hành hương chính thức duy nhất trong đời đến Ka'aba, đã chết vì bệnh tật ở Medina Lúc đó mặc dù Hồi giáo chưa bao trùm được cả bán đảo Ảrập nhưng cũng đã khẳng định được vị trí vững chắc của mình
ở Hedjaz (vùng phía tây bán đảo Ảrập)
Từ đầu thế kỷ VII đến giữa thế kỷ thứ XI, Hồi giáo tiếp tục bành trướng vào sâu trong lục địa Châu Phi, mở rộng sang Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Á, Trung
Á Thời kỳ này, trung tâm Hồi giáo chuyển từ Đamát sang Bátđa, vai trò của người Ba Tư vượt lên lấn lướt vai trò của người Ảrập, Hồi giáo được bổ sung nhiều yếu tố của văn hóa Ba Tư
Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII, Hồi giáo phải đương đầu với hai thế lực:
ở phía Tây là cuộc thập tự chinh kéo dài hai thế kỷ từ năm 1096 đến năm 1270 của Giáo hội Công giáo và thế lực phong kiến Châu Âu; ở phía Đông là quân Mông – Nguyên hùng mạnh và thiện chiến Tuy nhiên, kết cục thế lực Hồi giáo không những không bị suy giảm mà lại được củng cố và mở rộng Thời kỳ này vai trò của người Ảrập và người Ba Tư lu mờ dần Vận mệnh của Hồi giáo chuyển sang tay người Thổ Thế kỷ XV, một dòng người Thổ ở Tiểu Á đã tiêu diệt đế quốc Bizăngxơ lập nên đế quốc Ốttaman hùng mạnh tồn tại hơn ba thế
kỷ, kéo theo nhiều nước theo Hồi giáo Trong ba thế kỷ XIV, XV, XVI, Hồi giáo
Trang 33đẩy mạnh việc truyền giáo sang Indonesia, Malaysia và các nước khác vùng Đông Nam Á
Từ thế kỷ XVIII trở đi, phương Đông nói chung, các nước Hồi giáo nói riêng đứng trước sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây Năm 1798, Napoleon chiếm Ai Cập mở đầu cho việc chinh phục thế giới đạo Hồi, đồng thời chấm dứt hơn 10 thế kỷ bành trướng của Hồi giáo Điều đáng quan tâm là trong cuộc đụng độ với chủ nghĩa đế quốc và văn minh phương Tây, Hồi giáo đóng vai trò tích cực với tư cách là ngọn cờ chống xâm lược Tuy nhiên trong quá trình này Hồi giáo nảy sinh xu hướng dân tộc hóa và thế tục hóa Đặc biệt, người Ả-rập đã lấy lại vị trí của mình trong thế giới Hồi giáo tuy không còn được như trước nữa
Thế kỷ XX đa số các nước Hồi giáo là các nước đang phát triển Sau khi giành được độc lập dân tộc ở những mức độ khác nhau, Hồi giáo được coi là động lực cho sự phát triển, tùy theo xu hướng chính trị được lựa chọn mà Hồi giáo ở những nước này mang màu sắc khác nhau Bước sang thế kỷ XXI, Islam
đã trở thành một tôn giáo tầm cỡ thế giới với 1,55 tỷ người (chiếm 23% dân số toàn cầu), có mặt trên 50 quốc gia của tất cả các châu lục [53, tr 57] Hiện nay
có nhiều tổ chức Islam quốc tế khác nhau về cơ cấu, mục đích, mức độ đại diện, hình thức và phạm vi hoạt động Trong đó có thể phân chia thành 3 loại hình chủ yếu sau: các tổ chức liên quốc gia ở cấp chính phủ, các tổ chức liên quốc gia ở cấp phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, mà đại diện tham gia không phải là các nước mà là các cộng đồng Islam riêng lẻ
Đặc điểm nổi bật nhất của đạo Islam là sự kết hợp chặt chẽ giữa đạo và đời, giữa tôn giáo và chính trị Khi Muhammad qua đời, trong thượng tầng xã hội Islam bấy giờ đã diễn ra một cuộc tranh giành quyết liệt quyền lãnh đạo tối cao về mặt tôn giáo và chính trị Cuộc tranh giành đã dẫn tới sự phân liệt tôn
Trang 34giáo tạo nên những giáo phái khác nhau, trong đó có 3 giáo phái chính đồng thời
là các giáo phái hình thành sớm nhất là Haridjit, Shi'i và Sunit Hiện nay Sunit là giáo phái lớn nhất của đạo Islam
Người theo đạo Islam (Muslim) có các đức tin cơ bản như sau: tin duy nhất có một thượng đế Allah, tin có các vị Rasullullah (sứ giả của Thượng đế), tin vào các thiên thần Malaika, tin vào ngày phán xét cuối cùng Akhirat, tin vào quyền mệnh của Allah, tin vào thiên khải và các kinh sách (Kinh Qur'an)
Ngoài việc lấy nội dung kinh Qur'an và các Hadith làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động tín ngưỡng của mình, 5 nền tảng (5 cột trụ) được tín đồ Islam xem như căn bản nhất là: biểu lộ đức tin (Sahadah), cầu nguyện (Sam bayang), nhịn chay (trong tháng Ramadan), thực hiện bố thí (Zakat), hành hương (Haji)
1.2.2 Con đường du nhập Islam vào Đông Nam Á
Dân cư vùng ven biển bán đảo Malacca và Bắc Sumatra là những người chịu ảnh hưởng của Islam sớm nhất ở Đông Nam Á Từ năm 1250, đã thấy xuất hiện ở Bắc Sumatra những vương quốc Islam nhỏ Nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, khi Malacca nổi lên như một trung tâm thương mại lớn và tiểu vương Malacca theo Islam thì đạo Islam mới thực sự truyền bá rộng rãi ở Đông Nam Á
Thủ lĩnh đầu tiên của Malacca – Parameswara là người theo Ấn Độ giáo Năm 1414, Parameswara lấy con gái của thủ lĩnh vương quốc Islam Pasey (Bắc Sumatra) và chuyển sang theo Islam Người kế vị ông là Sri Maharaja (1424-1444) theo Ấn Độ giáo và tôn giáo chính thức của Malacca vẫn là Ấn giáo, mặc
dù thời kỳ này Malacca đã hình thành một tầng lớp tín đồ Islam tương đối đông đảo và có uy tín Chỉ đến thời Mudzafar Shah (1445-1458), con trai của Sri Maharaja với một phụ nữ gốc Ấn theo Islam, thì địa vị của Islam mới thực sự
Trang 35được xác lập ở Malacca Dưới thời cai trị của ông này, Islam được coi là tôn giáo chính thức Cuối thế kỷ XV, Malacca trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á, đủ sức đương đầu với Xiêm La (nay là Thái Lan) Thành phố Malacca thành điểm trung chuyển lớn nhất ở phương Đông lúc đó, tàu bè ra vào tấp nập thu hút ngày càng nhiều các thương nhân Islam Đặc biệt quan trọng là mối giao thương của Malacca với Gujerat (Ấn Độ) Chính các thương gia người Ấn từ Gujerat đã đóng vai trò quan trọng trong công việc Islam hóa Malacca
Tiếp theo người Ấn Độ, người Melayu ở Malacca là những người truyền giáo hăng hái ở khu vực Đông Nam Á Khi Malacca thống nhất các tiểu quốc khác nhau, đạo Islam cũng nối gót thâm nhập các tiểu quốc này Từ Malacca đạo Islam làn rộng lên phía Bắc xuyên qua bán đảo Melayu (Mã Lai) vào miền nam Thái Lan Vương quốc Pattani ở miền nam Thái Lan được Islam hóa vào nửa sau thế kỷ XV
Cũng từ Malacca, đạo Islam lan sang Java Từ năm 1498 ở đảo này đã có những hải cảng của tín đồ Islam Tuy vậy khi người Bồ Đào Nha đến quần đảo lần đầu tiên (1509) thì chính quyền Java vẫn nằm trong tay những người theo Ấn giáo Sau sự sụp đổ của vương quốc Majapahit vào năm 1515, đảo bị chia thành những tiểu quốc và dần dần theo Islam Đến cuối thế kỷ XVI, không còn một tín
đồ Ấn giáo nào ở Java nữa ngoại trừ phần cực đông của đảo, kể cả Bali Đồng thời miền bắc Kalimantan bao gồm cả Brunei nằm trong thành phần của vương quốc Malacca cũng được Islam hóa Từ đây Islam tiếp tục lan sang các đảo Sulu
và Mindanao của Philippin (thế kỷ XIV-XV) Các đảo Molucca theo Islam vào khoảng cuối thế kỷ XV, thông qua cuộc giao thương với Java
Dưới ảnh hưởng của Malacca các tiểu quốc ở bờ biển Sumatra đối diện với Malacca cũng theo Islam trong khoảng thế kỷ XV Việc người Bồ Đào Nha
Trang 36chiếm Malacca (1511) đã chấm dứt vai trò trung tâm truyền giáo của Malacca Tuy nhiên quá trình Islam hóa trong khu vực vẫn tiếp tục với những trung tâm mới làJava và Sumatra
Từ Java tôn giáo mới tiếp tục thâm nhập vào miền nam Sumatra (thế kỷ XVIII-XIX), miền nam Kalimantan (thế kỷ XVI-XVII) và từ miền tây Sumatra sang đảo Sulawesi, rồi đến đảo Luzon ở miền nam Philippin (thế kỷ XVII)
Riêng ở Myanmar, Islam được truyền bá trực tiếp từ Bengal (Ấn Độ) sang vùng Arakan vào thế kỷ XV-XVIII, khi Arakan là chư hầu của các tiểu quốc Islam ở Bengal
Sự xuất hiện của các thực dân phương Tây, bắt đầu từ người Bồ Đào Nha (thế kỷ XV) rồi đến người Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và Pháp trong các thế kỷ tiếp theo đã làm chậm lại quá trình Islam hóa Đông Nam Á Việc phân chia lãnh thổ Đông Nam Á giữa các nước thực dân phương Tây đã tạo ra những ranh giới ngăn cản các mối quan hệ giao thương trước kia trong khu vực và cô lập đa số các cộng đồng Islam địa phương Đồng thời diễn ra cuộc cạnh tranh với một tôn giáo mới là Thiên chúa giáo do họ đem theo từ phương tây Mặc dù vậy, quá trình Islam hóa ở khu vực vẫn tiếp tục và kéo dài cho đến tận ngày nay
Tóm lại, do các mối quan hệ kinh tế giữa các nước và đặc tính mềm dẻo,
dễ thích nghi của đạo Islam mà đạo Islam đã được du nhập vào Đông Nam Á từ thế kỷ XIV và đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong các thế kỷ XV, XVI Lịch sử phát triển bành tướng tôn giáo Islam trên thế giới nói chung và ở các quốc gia Đông Nam Á nói riêng có tác động đáng kể đến việc hình thành, phát triển tôn giáo Islam của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận cũng như người Chăm Islam ở Việt Nam
Trang 371.2.3 Qúa trình du nhập đạo Islam vào Việt Nam
Nhắc đến Islam Việt Nam là nhắc đến dân tộc Chăm bởi lẽ ở Việt Nam quá trình Islam hóa được giới hạn trong cộng đồng người Chăm Cho nên nói lịch sử du nhập Islam vào Việt Nam cũng có nghĩa là lịch sử du nhập Islam vào cộng đồng người Chăm ở Việt Nam
Đạo Islam du nhập vào vương quốc Champa bằng nhiều con đường và nhiều thời điểm khác nhau Có học giả như S.Q.Fatimah dẫn từ nguồn tư liệu của
Ba Tư và Ảrập cho biết rằng vào thế kỷ thứ VIII đã có những tín đồ Islam định
cư ở trung tâm đô thị Champa [57, tr 46]
Có một số tác giả đưa ra giả thuyết rằng vào thế kỷ X đạo Islam đã hiện diện trên địa bàn nước Champa Đầu tiên, tư liệu Trung Hoa, chủ yếu tư liệu sử nhà Tống ghi chép về câu kinh đọc để tế trâu của triều đình Champa là "Allo Akbar" (câu kinh nhật tụng của Hồi giáo đề cao Thượng đế vĩ đại) vào thế kỷ X [50, tr 96] Bên cạnh đó văn bản Chăm cũng ghi chép về biên niên sử vua Champa ghi Po Awlual (Allah) là triều đại đầu tiên của Champa tương ứng với năm 1000 [81]
Năm 1922, P Ravaisse xác định hai bia ký tìm thấy ở vùng biển Phan Rang là bia mộ của người Ảrập, ghi niên đại khoảng 1025-1039 Từ đó, tác giả xác định có sự tồn tại của một cộng đồng Islam ở Champa vào thế kỷ XI Điều này không chắc chắn cho lắm bởi vì bia ký này chỉ là bia mộ của người Ảrập gác đường bên bờ biển Champa, chứ không phải là mộ của dân Champa theo đạo Islam [50, tr 96]
Như vậy, đã có một số chứng cứ liên quan đến việc xuất hiện của đạo Islam thế kỷ VIII và XI Tuy nhiên những chứng cứ ấy vẫn còn rời rạc và ít ỏi, không cho biết có thật chăng chính cộng đồng người Chăm có tiếp thu đạo Islam hay đó chỉ là những nhóm người không phải bản xứ?
Trang 38Đi theo dòng lịch sử, về sau, có nhiều sự kiện và dữ liệu liên quan đến đạo Islam tại vương quốc Champa Đó là sự kiện vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) có một người vợ là công chúa Java (ngoài Huyền Trân công chúa), sự kiện vua Chế Năng, trong mâu thuẫn với Đại Việt đã liên kết Java để chống lại và nhất là những trao đổi thương mại giữa vương quốc Champa và Java được ghi trong lịch sử Ngoài ra, mối quan hệ giữa Champa với Java và đạo Islam còn được thể hiện trong văn học của Jawa, Mã Lai (Sejarah Jawa, malay), theo đó
kể lại một sự tích công chúa Champa (Patri Campa) với ba dị bản ghi bằng tiếng Java và Sunda với các tên Serat Kanda, Babad Tanah Jawi và Serajah Banten Các dị bản này có nhiều tình tiết khác nhau nhưng đều có chung một chủ đề là vua Champa tiếp nhận một lữ khách theo đạo Islam có tài là Raja Pandita Mustakim hay Pandita Arifin Lữ khách này đã truyền bá đạo Islam cho vua và
cả dân Champa Sau này quốc vương xứ Majapahit (ở Java) lấy con gái vua Champa, một tín đồ Islam làm vợ Lữ khách Ảrập kia thì lại cưới người em gái của công chúa Champa nói trên và có một đứa con trai là Raden Rahmat Khi chàng trai này lớn lên đã sang Java thăm bác (chị của mẹ) và được vua Majapahit ban cho một lãnh địa có tên là Ampel, gần Surabaya Ở lãnh địa này, Raden Rahmat đã truyền bá đạo Islam cho dân chúng Sau này cháu rể của Raden Rahmat đã lập nên Hồi quốc (Sultanat) Demak Đáng lưu ý là trong truyện Serat Kanda có ghi một số niên đại như: Sultanat Demak được lập vào năm 1326 saka (1404 công lịch), công chúa Champa (vợ vua xứ Majapahit) mất năm 1320 saka (1398 công lịch) [35, tr 52] Tất cả những sự kiện trên chứng tỏ giữa vương quốc Champa và Java đã có một mối quan hệ mật thiết và từ đó thâu nhận ảnh hưởng của Islam
Sau thế kỷ XV, với sự du nhập ngày càng nhiều đạo Islam vào Champa, bên cạnh việc xuất hiện trong hoàng tộc, một bộ phận người dân Chăm đã tiếp nhận đạo Islam Với truyền thống Ấn giáo lâu đời, những người theo đạo Islam
Trang 39đã vấp phải sự chống phá mạnh mẽ của người Chăm Bàlamôn Quá trình truyền đạo cũng như các cuộc chiến tranh tương tàn giữa đạo Chăm Bàlamôn và đạo Chăm Bàni còn được lịch sử Champa ghi lại qua các truyện thơ, sử thi của người Chăm như Ariya Nai Mai Mang Kah (Truyện kể về công chúa Mã Lai sang Champa truyền đạo Islam, yêu say đắm hoàng tử Champa) [43], Um Marup (kể
về cuộc chiến tranh tương tàn để cải đạo sang Islam giữa Hoàng tử và Vua Cha) [44] Để giải quyết mâu thuẫn giữa hai tôn giáo, vua Po Rome (1627-1651) đã dung hoà giữa tín ngưỡng bản địa, Bàlamôn và Hồi giáo thành hai bộ phận tín ngưỡng, tôn giáo chính trong vương quốc Champa, đó là: đạo Chăm Ahier (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn) và Chăm Bàni/Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo) Lịch sử về vua Po Rome cũng nhắc đến việc ông có một người vợ theo đạo Chăm Bàni ở làng Văn Lâm (thuộc Ninh Thuận ngày nay) Do đó có thể coi sự tồn tại của cộng đồng Chăm Bàni/Awal được nhắc đến trong lịch sử Champa chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự xuất hiện và ảnh hưởng của Islam trong đời sống của người Chăm từ thế kỷ X- XVII
Bước sang thế kỉ XVIII, bức tranh về tín đồ Islam đã rõ ràng và chi tiết hơn Do những biến động của lịch sử, có nhiều đoàn người Chăm đã rời quê hương mình sang Chân Lạp (Campuchia ngày nay), Java, Hải Nam, Xiêm La (Thái Lan ngày nay), Malacca, để sinh sống ở nhiều đợt khác nhau trong những thời điểm khác Nhóm người Chăm di cư đến Mã Lai và Campuchia có điều kiện tiếp xúc với người Mã Lai Sự gần gũi về mặt dân tộc, ngôn ngữ giữa người Chăm với người Mã Lai là nguyên nhân dẫn đến người Chăm cộng cư và hội nhập rất nhanh vào cộng đồng sở tại Thông qua quá trình cộng cư và hội nhập này, người Chăm Bàlamôn/Ahier và người Chăm Bàni/Awal đã tiếp nhận
và cải đạo của mình sang đạo Islam chính thống Sau đó, từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, do bị vương quyền Campuchia lúc bấy giờ bạc đãi, cho nên một số nhóm của cộng đồng Chăm Islam ở Campuchia theo chúa Nguyễn trở về
Trang 40Việt Nam Bộ phận Chăm Islam này được đưa đến sinh sống tại vùng đồng bằng Nam Bộ, dọc theo sông Hậu, đoạn từ Tân Châu đến cù Lao Katambong, nay thuộc tỉnh An Giang (trước đó thuộc Châu Đốc) với mục đích để làm phên dậu cho cương vực của Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn trong kế hoạch "tàm thực" của Nguyễn Cư Trinh
Sang thế kỉ XX, một số nhóm Chăm Islam ở vùng An Giang di chuyển về sinh sống ở Tp Hồ Chí Minh Đến năm 1972 trước sự khủng bố người Chăm của chính quyền Lon Nol, Campuchia, một vài nhóm Chăm Islam Campuchia chạy về khu vực Đồng Nai của Việt Nam để lánh nạn Sau năm 1975, một nhóm người Chăm Islam ở Campuchia cũng chạy về Tây Ninh lánh nạn, trốn thoát sự diệt chủng của chế độ Pôn Pốt [29, tr 38-41] Như vậy, sang thế kỷ XVIII - XX, cộng đồng Chăm Islam đầu tiên đã được định hình ở Nam Bộ Đây là cộng đồng Chăm Islam chính thống theo dòng Sunit, chứ không giống như người Chăm Bàni - Chăm ảnh hưởng Islam Từ Nam Bộ, cộng đồng Chăm Islam phát triển,
mở rộng ảnh hưởng trong mối quan hệ đồng tộc của mình ở khu vực người Chăm Ninh Thuận và một số tỉnh khác cho đến ngày nay
Như vậy, có thể thấy rằng Islam du nhập vào Champa được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ I (từ thế kỷ X-XV), Champa tiếp nhận Islam thông qua các thương gia và nhà truyền giáo Ảrập Thời kỳ này Islam chưa thật sự tìm được chỗ đứng của mình trong đời sống tôn giáo của người Chăm, chủ yếu nó chỉ là tôn giáo của người nước ngoài đến sinh sống, làm ăn ở đất Champa và của một
số người trong hoàng tộc Thời kỳ II (từ sau thế kỷ XV-XX), Champa tiếp nhận Islam qua người Mã Lai thông qua con đường thương mại và chính trị ở những thời điểm khác nhau Đến thế kỷ XVIII - XX, cộng đồng Chăm Islam bắt đầu xuất hiện và bước đầu định hình và phát triển ở Việt Nam Đây chính là nhân tố khách quan tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển cộng đồng Chăm Islam ở Ninh Thuận