Với Khảo cổ học, hơn một thế kỷ qua, nhiều thế hệ học giả đã quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu khảo cổ học lịch sử Champa dưới những góc độ khác nhau: kiến trúc, thành cổ, cảng cổ, di chỉ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- - QUẢNG VĂN SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 3Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn nhân dân Thôn Định Thọ, Phú Hòa, Phú Yên đã tạo những thuận lợi, giúp đỡ nhiệt tình cho tôi tiếp cận tư liệu, và trong quá trình đi điền dã, khảo sát thực tế Cảm ơn cán bộ Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Trà Kiệu - Quảng Nam, Bảo tàng và Trung tâm Quản lý Di tích - Danh lam Thắng cảnh Khánh Hòa, Bảo tàng Phú Yên
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Phạm Đức Mạnh, người đã định hướng đề tài và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi trân trọng cảm ơn quý thầy, cô trong bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh như PGS.TS Đặng Văn Thắng, TS Phí Ngọc Tuyến… đã tận tình giảng dạy và trao đổi nhiều thông tin quý báu trong quá trình học tập của tôi tại trường Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các anh, chị, em đang công tác tại Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh; Thư viện Viện Khảo cổ học; Tôi xin cảm ơn ThS Nguyễn Văn Quảng, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Huế, Anh Phan Thanh Toàn, Viện Khảo cổ học Việt Nam, đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận các nguồn tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm luận văn của tôi
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn TS Thông Thanh Khánh, TS Trương Văn Món, cán bộ Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Chăm, Trung tâm Trao đổi Giáo dục với Việt Nam (CEEVN), cùng gia đình tôi đã động viên, giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học, cũng như bản luận văn này!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016
Tác giả luận văn
Quảng Văn Sơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan Các quan điểm trong luận văn mang tính độc lập, được hình thành trên cơ sở tư liệu mà tác giả luận văn tiếp cận được
Tác giả luận văn
Quảng Văn Sơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ VÀ CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ 5
DANH MỤC CÁC BẢN VẼ, BẢN ẢNH, BẢN DẬP HOA VĂN 7
DẪN LUẬN 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 14
5.1 Phương pháp nghiên cứu 14
5.2 Nguồn tài liệu 14
6 Những đóng góp của luận văn 15
7 Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THÀNH HỒ 17
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 17
1.1.1 Vị trí địa lý 17
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 18
1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu Thành Hồ 23
CHƯƠNG 2 DI TÍCH THÀNH HỒ QUA CÁC LẦN KHAI QUẬT 30
2.1 Đợt khai quật lần 1 30
2.1.1 Địa tầng 30
Trang 62.1.2 Kiến trúc 30
2.1.3 Di vật 31
2.2 Đợt khai quật lần 2 34
2.2.1 Địa tầng 34
2.2.1.1 Hố 04TH.H1 34
2.2.1.2 Hố 04TH.H3 34
2.2.2 Kiến trúc 35
2.2.3 Di vật 36
2.3 Đợt khai quật lần 3 38
2.4 Đợt khai quật lần 4 38
2.4.1 Địa Tầng 40
2.4.1.1 08TH.H1 40
2.4.1.2 08TH.H4 41
2.4.1.3 08TH.H5 42
2.4.1.4 08TH.H6 43
2.4.1.5 08TH.H7 43
2.4.1.6 08TH.H8 44
2.4.1.7 08TH.H9 44
2.4.1.8 08TH.H10 45
2.4.1.9 09TH.H11 46
2.4.1.10 09TH.H12 46
2.4.2 Kiến trúc 46
2.4.3 Di vật 47
2.5 Đặc trưng của di tích Thành Hồ qua tư liệu khai quật khảo cổ học 50
2.5.1 Cấu trúc bình đồ và thiết đồ 50
2.5.2 Hiện vật liên hệ 53
2.5.2.1 Vật liệu xây dựng 53
2.5.2.2 Vật liệu trang trí kiến trúc 59
2.5.2.3 Đồ gốm 71
Trang 72.5.2.4 Hiện vật đá 76
2.5.2.5 Một số hiện vật khác 77
2.6 Nhận thức mới về Thành Hồ qua các cuộc khai quật 78
2.6.1 Đợt khai quật lần thứ nhất 78
2.6.1.1 Từ kiến trúc đến di vật 78
2.6.1.2 Niên đại 79
2.6.1.3 Kết quả đạt được 82
2.6.2 Đợt khai quật lần thứ hai 83
2.6.2.1 Từ kiến trúc đến di vật 83
2.6.2.2 Niên đại 83
2.6.2.3 Kết quả đạt được 84
2.6.3 Đợt khai quật lần thứ tư 84
2.6.3.1 Từ kiến trúc đến di vật 84
2.6.3.2 Niên đại 85
2.6.3.3 Kết quả đạt được 86
CHƯƠNG 3 THÀNH HỒ VÀ CÁC THÀNH CỔ CHAMPA TRONG BÌNH DIỆN RỘNG HƠN 89
3.1 Giá trị Thành Hồ và các thành cổ khác trong văn minh Champa 89
3.1.1 Giá trị lịch sử quân sự 89
3.1.2 Giá trị văn hóa, đời sống xã hội 92
3.1.3 Giá trị kinh tế du lịch 94
3.2 Thành Hồ và thành cổ Champa trong đối sánh với di tích cùng loại và cùng thời ở Việt Nam và trong bình diện rộng hơn 95
3.2.1 Mối liên hệ giữa Thành Hồ và các di tích văn hóa Champa trên địa bàn Phú Yên 95
3.2.2 Mối liên hệ giữa Thành Hồ và các thành cổ Champa ở miền Trung Việt Nam 104
3.2.3 Mối liên hệ giữa Thành Hồ và thành cổ Việt Nam trong bình diện rộng hơn 145
KẾT LUẬN 155
TÀI LIỆU THAM KHẢO 159
PHỤ LỤC MINH HỌA 168
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TH: Thành Hồ H: Hố khai quật L: Lớp
QĐ: Quyết định BVHTT: Bộ Văn hóa và Thông tin BVHTTDL: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Nxb: Nhà xuất bản
PGS: Phó Giáo sư TS: Tiến sĩ Tr: Trang B.P: Trước Công nguyên A.D: Sau Công nguyên
Trang 9DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ VÀ CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Phụ lục 1: Các bảng thống kê, các đợt khai quật lần 1, 2, 4
Bảng 1: Các hiện vật qua đợt khai quật lần 1
1.1: Bảng thống kê đầu ngói ống
1.2: Bảng thống kê số lượng hiện vật gạch (Không thống kê gạch trong kiến trúc) 1.3: Bảng thống kê số lượng ngói
3.4: Bảng thống kê màu sắc ngói (%)
3.5: Bảng thống kê hoa văn ngói (%)
Trang 10Sơ đồ 1: Sơ đồ phân bố các trụ tại H1 và H5
Sơ đồ 2: Sơ đồ Thành Hồ của Võ Tấn Hoàng năm 2008
Sơ đồ 3: Sơ đồ thành Cao Lao Hạ, Quảng Bình
Sơ đồ 4: Sơ đồ thành Lồi
Sơ đồ 5: Sơ đồ thành Đồ Bàn
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢN VẼ, BẢN ẢNH, BẢN DẬP HOA VĂN
Phụ lục 4: Bản vẽ
Bản vẽ 1: Thành Hồ (H Parmentier, 1909)
Bản vẽ 2: Mặt cắt Thành Hồ (H10) của Võ Tấn Hoàng năm 2008
Bản vẽ 3: Vị trí các hố khai quật Thành Hồ của Võ Tấn Hoàng năm 2008 Bản vẽ 4: Mặt bằng hố 1
Bản vẽ 5: Mặt cắt địa tầng hố 1
Bản vẽ 6: Mặt bằng hố 4
Bản vẽ 7: Mặt cắt địa tầng hố 6
Bản vẽ 8: Mặt bằng hố 10 (L1-5)
Bản vẽ 9: Đầu ngói ống hình hoa sen
Bản vẽ 10: Đầu ngói ống hình mặt trời
Bản ảnh 2: Quan cảnh khai quật hố 1
Bản ảnh 3: Quan cảnh khai quật hố 4
Bản ảnh 4: Quan cảnh khai quật hố 5
Bản ảnh 5: Quan cảnh khai quật hố 6
Bản ảnh 6: Quan cảnh khai quật hố 7
Bản ảnh 7: Quan cảnh khai quật hố 8
Bản ảnh 8: Quan cảnh khai quật hố 9
Bản ảnh 9: Quan cảnh khai quật hố 10
Bản ảnh 10: Quan cảnh khai quật hố 11
Trang 12Bản ảnh 11: Quan cảnh khai quật hố 12
Bản ảnh 12: Hoa văn cánh sen trên mảnh bàn nghiền
Bản ảnh 13: Bình gốm hoa văn in ô vuông thế kỷ II-III
Bản ảnh 14: Đầu ngói ống mặt hề
Bản ảnh 15: Hạt chuỗi thủy tinh
Bản ảnh 16: Đầu ngói ống hoa sen
Bản ảnh 17: Linga bằng gốm
Bản ảnh 18: Chì lưới và dọi se chỉ
Bản ảnh 19: Hiện vật gốm
Bản ảnh 20: Ngói ống, gốm trang trí
Bản ảnh 21: Hoa văn trên ngói
Bản ảnh 22: Đầu ngói ống mặt hề ở Trà Kiệu 2003
Bản ảnh 23: Bình diện hố cắt bờ thành Trà Kiệu năm 2003
Bản ảnh 24: Một số bản ảnh về thành Cổ Lũy – Phú Thọ (Quảng Ngãi) Bản ảnh 25: Thành Khu Túc
Bản ảnh 33: Hoàng Thành Thăng Long
Phụ lục 6: Bảng dập hoa văn ngói
Trang 13DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Champa, một nền văn hóa, có nhiều thành tựu đóng góp quan trọng, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong lịch sử Văn hóa Champa chảy dài trên dải đất miền Trung Việt Nam và lan tỏa lên cao nguyên đại ngàn
Văn hóa Champa để lại dấu ấn từ thế kỷ II - XIX, sau đó hòa nhập vào nền văn hóa chung của cộng đồng Việt Nam Với không gian và thời gian dài, văn hóa Champa đã góp thêm một sắc thái độc đáo, tạo nên tính đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc ta trong lịch sử Chính vì vậy, văn hóa Champa từ lâu trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có Khảo cổ học
Với Khảo cổ học, hơn một thế kỷ qua, nhiều thế hệ học giả đã quan tâm tìm hiểu
và nghiên cứu khảo cổ học lịch sử Champa dưới những góc độ khác nhau: kiến trúc, thành cổ, cảng cổ, di chỉ cư trú… và một số công trình nghiên cứu đã được công bố, góp thêm những hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn về nền văn minh này
Mặc dù vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào kể cả khảo cổ học khát quát chung về tổng thể văn hóa Champa ở vùng đất Phú Yên
Phú Yên thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, một vùng đất phì nhiêu với hai đồng bằng chính là Tuy Hòa và Tuy An đã tạo nên một văn hóa Champa đặc sắc Đây là địa bàn phát triển khá dài trong lịch sử vương quốc cổ Champa Cũng là nơi nuôi dưỡng và phát triển văn hóa Champa Phú Yên để lại nhiều di tích quan trọng, góp phần dựng nên diện mạo văn hóa Champa trong lịch sử Trên vùng đất này, văn hóa Champa để lại di tích khá đặc sắc gồm nhiều loại hình, với số lượng phong phú trong thời gian dài Nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, chi tiết các di tích văn hóa Champa ở đây, cũng như di tích Thành Hồ
Thời gian đang từng ngày trôi đi, một số di tích Champa ở Phú Yên có khả năng
bị xâm hại Đặc biệt, Thành Hồ, những viên gạch, các di vật nằm trong lòng đất đang hoàn toàn biến mất trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước bởi
Trang 14sự khai phá của con người, nếu chúng ta những người làm văn hóa không quan tâm đến, chắc hẳn chục năm sau sẽ thành đóng hoang tàn
Sinh ra và lớn lên tại vùng đất mang đậm văn hóa Champa ở Ninh Thuận, một phần học viên cũng là người Chăm, nên tôi luôn ý thức rằng phải tìm hiểu về ngọn nguồn văn hóa của dân tộc mình, phải đi sâu vào nghiên cứu di sản văn hóa Champa với niềm đam mê thật sự Sau đợt tham gia khai quật khảo cổ Thành Hồ ở
Phú Yên, tôi đã nảy sinh ra đề tài “Thành Hồ - Phú Yên (Qua tư liệu khai quật
khảo cổ học)”, để làm luận văn Thạc sĩ cho mình Đó như một bước đầu hành trình
vào công việc nghiên cứu khoa học mà tôi đã chọn
Để từ đó, luận văn này như một bước đi ban đầu nhằm nhìn nhận lại vấn đề trên Với tài liệu khảo cổ hiện biết, chúng tôi thống kê khảo tả, hệ thống hóa di tích Thành Hồ nhằm cung cấp tư liệu tổng quát, toàn diện Định vị lại vai trò của Thành
Hồ trong tổng thể di tích văn hóa Champa Tìm hiểu những đóng góp của chúng vào tiến trình phát triển của văn hóa Champa trong lịch sử
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Thành Hồ ở Phú Yên là một vấn đề mới và khó khăn Vì vậy, công tác định hướng trong nghiên cứu luôn luôn được cân nhắc hơn bao giờ hết Ngoài
ra, cũng góp tư liệu nghiên cứu về thành cổ Champa từ việc nghiên cứu một di tích
cụ thể: Thành Hồ ở Phú Yên Với Luận văn này, chúng tôi xin đưa ra những nhiệm
vụ cần giải quyết như sau:
Thứ nhất, tổng quan về điều kiện tự nhiên và quá trình phát hiện Thành Hồ, trong đó nhấn mạnh đến việc nghiên cứu và phát hiện Thành Hồ
Thứ hai, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Thành Hồ qua những di tích và di vật tìm được trong các đợt khai quật, chú trọng đến những điểm nhấn di vật đặc trưng tại khu di tích này
Thứ ba, nhìn nhận và phân tích những mối quan hệ và ảnh hưởng của Thành Hồ với những thành cổ khác của Champa, thông qua những giá trị văn hóa vật chất (di vật) và văn hóa tinh thần trong lịch sử phát triển thành cổ Champa Ngoài ra còn so sánh mối liên hệ di tích cùng loại giữa Thành Hồ và các thành cổ Việt Nam
Trang 153 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về di tích Thành Hồ ở Phú Yên qua 4 lần khai quật, với những nhận thức mới từ những lần khai quật này
Trong quá trình nghiên cứu về di tích Thành Hồ, luận văn hướng vào khảo tả di tích, các di vật qua 4 lần khai quật Xem xét và đánh giá những di vật, từ đó thấy được sự tương đồng về di vật với những thành cổ khác của Champa dọc miền Trung Việt Nam; nêu bật giá trị di tích dạng này trong văn minh Champa và đối sánh chúng với thành cổ cùng thời ở Việt Nam và trong bình diện rộng hơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở những nghiên cứu khác về hệ thống thành cổ ở các tỉnh miền Trung Việt Nam thuộc văn hóa Champa, đề tài tập trung nghiên cứu Thành Hồ ở Phú Yên qua tư liệu của 4 lần khai quật, và có sự đối chiếu, so sánh với tư liệu thành cổ các vùng – miền văn hóa cùng thời khác để có những nhận thức về Thành Hồ một cách bao quát và toàn diện hơn
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phú Yên vùng đất Trung Bộ nằm trên bản đồ Việt Nam, là khu vực nắng, gió, cát, được thiên nhiên ưu đãi Nó tạo nên một nền văn hóa Champa đầy sức sống Bằng sự nỗ lực của nhiều thế hệ, với bàn tay và khối óc cần cù sáng tạo, dân tộc Chăm đã kiến tạo vùng đất này trở thành trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của đất nước trong nhiều thế kỷ
Vùng đất này như được thổi bừng lên sức sống mới, nhiều đền tháp, thành cổ Champa trong đó có Thành Hồ, trung tâm tôn giáo, văn hóa – xã hội và quân sự được xây dựng, nhiều tác phẩm điêu khắc được tạo tác… tất cả được tạo nên một gương mặt mới đầy sống động cho văn hóa Champa
Mặc dù có những bước thăng trầm, nhưng Thành Hồ ở đây, vẫn phát triển để khi địa bàn này hòa nhập vào dòng chảy của lịch sử Việt Nam Dấu tích Thành Hồ để lại vô cùng quý giá và trở thành đối tượng không thể bỏ qua với những người nghiên cứu về khảo cổ học Champa
Trang 16Như vậy, có thể chia lịch sử nghiên cứu thành hai giai đoạn:
Trước 1975
Thành Hồ được nhắc đến trong cuốn sách Đại Nam nhất thống chí như sau:
“Thành cổ An Nghiệp, huyện Tuy Hòa, chu vi 1400 trượng tương truyền do người Chiêm Thành xây, tục gọi là Thành Hồ… nay nền cũ vẫn còn” [40, tr.75]
Di tích Thành Hồ ở Phú Yên được biết đến rất sớm, ghi lại những dấu ấn sâu sắc Đặc biệt phải kể đến các học giả người Pháp H.Parmentier, Philip Stern, Boisselier là nền móng cơ bản cho việc nghiên cứu toàn diện về văn hóa Champa nói chung và di tích Thành Hồ nói riêng
Để có những công trình chuyên khảo này, phải kể đến công lao của một thế hệ học giả tiên phong đi vào nghiên cứu văn hóa Champa như E.Aymonier, L.Cadiere, J.Claeys, G.Coedes, A.Maybon… bằng công sức của mình, qua các cuộc khảo cứu, sưu tầm, họ đã công bố những tài liệu về văn hóa Champa, các di tích được mọi người biết đến Đặc biệt là H.Parmentier cùng những cộng sự của mình sau gần một thập niên khảo sát, tìm hiểu, Ông đã công bố danh mục và miêu tả hầu hết các di tích lịch sử Champa ở Trung Bộ cùng những ý kiến cơ bản của ông khi nghiên cứu di tích này Mặc dù, có một đôi điều cần làm sáng tỏ nhưng công trình của ông “Có một sự khảo tả tỉ mỉ kéo dài hàng tháng trời trước các di tích, mới làm cho ông H.Parmentier
có thể tập hợp và cung cấp cho bạn đọc được nhiều chỉ dẫn phong phú và quý báu”
và “không có công trình của ông H.Parmentier thì… công trình nghiên cứu này ắt cũng không thể có được” như Philip Stern đã viết như vậy trong công trình nghiên cứu của mình Giá trị của công trình này, đặt cơ sở cho việc đi sâu vào nghiên cứu văn hóa Champa trên từng lĩnh vực Tất nhiên mỗi giai đoạn có bổ sung thêm những tài liệu mới được phát hiện
Ngoài những công trình nghiên cứu chung, các di tích còn được các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu từng lĩnh vực cụ thể: kiến trúc tháp, điêu khắc, tôn giáo, lịch sử Những bài được công bố trên tạp chí chuyên ngành, hay giới thiệu trong các sách địa chí, danh thắng của địa phương Phú Yên là địa bàn không kém phần quan trọng
Trang 17trong lịch sử Champa, nhiều cuộc sưu tầm tìm kiếm được tiến hành, các di tích văn hóa Champa ở đây được biết đến khoảng đầu thế kỷ XX
Do sự biến động của lịch sử, việc nghiên cứu văn hóa Champa nói chung và di tích trên địa bàn Phú Yên nói riêng bị gián đoạn
Nhìn chung, công cuộc nghiên cứu văn hóa Champa được tiến hành khá đồ sộ, liên tục nhiều thập kỷ và đạt được nhiều thành tựu nhất định
Sau 1975
Đất nước thống nhất, cùng với sự đẩy mạnh việc nghiên cứu các nền văn hóa trong lịch sử các dân tộc, thì công cuộc nghiên cứu văn hóa Champa được chú trọng bởi vị trí đặc biệt và những đóng góp của nó trong lịch sử nước nhà
Việc tìm hiểu văn hóa Champa từ 1975 trở lại đây được tiến hành đồng bộ với nhiều ngành khoa học tham gia, trên toàn bộ các di tích Chăm hiện đang còn Cùng với việc kế thừa thành tựu của các giai đoạn trước, việc nghiên cứu văn hóa Champa được đẩy mạnh toàn diện trên các lĩnh vực như: kiến trúc đền tháp, điêu khắc, văn tự, bia ký, thành cổ, các ngành sản xuất thủ công…
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu đã giới thiệu khái quát văn hóa Champa trong các công trình của mình như Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp “Văn hóa Champa” Ngô Văn Doanh “Văn hóa cổ Champa”, “Tháp Chăm sự thật và huyền thoại”… Hay đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh của văn hóa Champa như Cao Xuân Phổ “Điêu khắc Champa”, Trần Kỳ Phương “Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chàm” Trong những năm gần đây còn xuất bản hàng loạt các chuyên khảo nghiên cứu
về văn hóa Champa như: Lê Đình Phụng “Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Champa”,
“Văn hóa Champa ở Thừa Thiên Huế”… Lương Ninh “Lịch sử vương quốc Champa” Trần Bá Việt “Đền tháp Champa bí ẩn xây dựng” Nguyễn Duy Hinh
“Người Chăm” Hay cuốn sách mới nhất của nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh:
"Thành cổ Champa - Những dấu ấn của lịch sử"… đã đóng góp ít nhiều thông tin mới nhất cho việc nghiên cứu văn hóa Champa
Mới đây, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Tường Vi (2014), viết về Thành Hồ ở Phú Yên, cũng chỉ dừng lại ở giá trị và vai trò của Thành Hồ trong lịch
Trang 18sử của vùng đất này Tác giả cũng nêu lên thực trạng và phương hướng bảo tồn cho
di tích Thành Hồ, nhưng theo chúng tôi nghĩ, nhiệm vụ này để chính những người quản lý văn hóa nên làm [62]
Những công trình này, với nhiều ý kiến khoa học có giá trị góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu văn hóa Champa dần dần thêm một bước trong giai đoạn mới
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất và quy mô là một luận văn nghiên cứu khoa học nên phương pháp nghiên cứu luôn được quan tâm Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở lý luận được sử dụng nhằm đem lại kết quả khoa học tốt nhất, và mang tính khách quan với sự phát triển hợp quy luật
- Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và những phương pháp đặc trưng của chuyên ngành Khảo cổ học như: tiếp xúc trực tiếp hiện vật, miêu tả, đo đạc hiện vật; phân tích, liên hệ, so sánh, đối chiếu các phong cách nghệ thuật của các hiện vật; trình bày bản ảnh, bản vẽ hiện vật…
5.2 Nguồn tài liệu
Nghiên cứu thành cổ Champa vốn đã là quá trình khó khăn thì việc nghiên cứu Thành Hồ ở Phú Yên lại càng khó khăn bội phần Nguồn tài liệu nghiên cứu về văn hóa Chăm nhiều, song hầu như lại ít đề cập tới thành cổ, nếu có chỉ thoáng qua chục dòng, không mang tính chuyên sâu
Luận văn này đã khai thác hầu hết các nguồn tư liệu từ mọi trang thông tin: từ thư tịch cổ cho đến sách, tạp chí, báo và các ấn phẩm trong và ngoài nước đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, chủ yếu là trên các website chuyên dùng uy tín Chẳng hạn: “Đại Nam nhất thống chí”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử lược”…; các công trình nghiên cứu thông
sử Việt Nam như “Vương quốc Champa” (Maspero), “Vương quốc Champa” (Lương Ninh), “Văn hóa cổ Champa” (Ngô Văn Doanh)…; các bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên sâu như tạp chí Khảo cổ học, tạp chí Dân tộc học, tạp
Trang 19chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Văn hóa Dân gian, tạp chí Khoa học Xã hội, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật ; hay trên cổng thông tin điện tử: www.phuyen.org.vn, www.khoahoc.com.vn, www.chamunesco.com Trên cơ sở các nguồn tư liệu đó, chúng tôi còn kết hợp với nguồn tư liệu từ quá trình điền dã tại Bảo tàng Phú Yên, Bảo tàng Bình Định, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại khu di tích Thành Hồ, khu đền tháp Mỹ Sơn… tuy những nguồn tư liệu này còn khá khiêm tốn, song cũng góp phần trong việc khẳng định tính khoa học của luận văn mà chúng tôi nghiên cứu
6 Những đóng góp của luận văn
Tập hợp tương đối đầy đủ và có hệ thống những tư liệu về di tích Thành Hồ mà từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách hoàn chỉnh Bằng nguồn tư liệu mới thuộc di tích này, luận văn bước đầu được phác dựng diện mạo Thành Hồ, và vai trò của Thành Hồ ở vùng (tiểu quốc) Phú Yên trong quá trình phát triển của nó trên vùng đất Phú Yên
Kế thừa thành tựu của những người đi trước có bổ sung thêm một số tư liệu mới phát hiện, góp phần tìm hiểu lịch sử và văn hóa Champa trên vùng đất Phú Yên, và những đóng góp của chúng vào tiến trình phát triển văn hóa các dân tộc Việt Nam trong lịch sử Kết quả nghiên cứu của luận văn này ít nhiều cung cấp những tài liệu khoa học, giúp cho các ngành văn hóa địa phương trong việc bảo tồn và phát huy di sản lịch
sử quý giá của người Chăm, trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục ảnh, phụ lục bản vẽ Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Điều kiện tự nhiên và quá trình nghiên cứu Thành Hồ Chương này giới thiệu chung về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình phát hiện và nghiên cứu Thành Hồ
Chương 2: Di tích Thành Hồ qua các lần khai quật Chương này giới thiệu về các đợt khai quật lần 1, 2, 3 và lần 4, địa tầng, kiến trúc, các di vật và nhận định mới
về cấu trúc bình đồ, thiết đồ trong hệ thống di tích này
Trang 20Chương 3: Thành Hồ và các thành cổ Champa trong bình diện rộng hơn Chương này giới thiệu về giá trị Thành Hồ và các thành cổ khác trong văn minh Champa Và cuối cùng là Thành Hồ và thành cổ Champa trong đối sánh với di tích cùng loại và cùng thời ở Việt Nam và trong bình diện rộng hơn
Trang 21CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ QUÁ TRÌNH
NGHIÊN CỨU THÀNH HỒ 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Thành Hồ thuộc thôn Định Thọ, thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, cách thành phố Tuy Hòa 13.455m theo đường chim bay về hướng tây nam và cách cửa sông Đà Rằng 14.993m theo đường chim bay về hướng tây nam Nơi cao nhất trong xóm Cổ Đạo/Thổ Gạch (khu vực có nhiều hố khai quật) có tọa độ 13001’097”
vĩ độ Bắc và 109012’307” kinh độ Đông Theo “Bản đồ địa hình xã Hòa Định Đông, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên” và “Bản đồ địa hình xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên” tỉ lệ 1: 10.000 thì Thành Hồ nằm bên tả ngạn sông Đà Rằng, chỗ mặt sông đi ngang chia cắt thành hai nhánh, từ bờ Bắc sang bờ Nam rộng 850m theo hướng bắc nam Mùa nước lũ (tháng 09 đến tháng 10 âm lịch), dòng sông rộng lớn, mùa cạn có cù lao giữa sông, rộng khoảng 500m Dòng sông bờ Bắc xói lở một đoạn
bờ thành Nam Bên trong phía tây thành có Hòn Mốc, kề núi Dinh Ông, tọa độ
13001’153” vĩ độ Bắc và 109012’091” kinh độ Đông Đối diện bên kia sông là núi Dinh Bà cao 40.7m, tọa độ 13000’296” vĩ độ Bắc và 109012’227” kinh độ Đông, cao 40.7m cách Hòn Mốc 1500m về hướng nam lệch đông 200 (độ) Khu vực dân cư, cư trú trong thành cao 12 – 13m và khu vực khác cao 11m so với mực nước biển
Qua khảo sát thực địa, nghiên cứu bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích Thành Hồ, kết hợp với quan sát, đo đạt từ ảnh vệ tinh có thể nhận diện Thành Hồ khá rõ Bản
vẽ mặt bằng Thành Hồ về cơ bản giống với bản vẽ của H.Parmentier công bố năm
1909 Thành có hai phần, phần gần hình vuông và phần gần hình thang vuông, quay chính hướng đông tây nam bắc Góc vuông bắc có tọa độ 13010’26.69” vĩ độ Bắc và
109012’38.23” kinh độ Đông; góc tây bắc có tọa độ 13001’28.22” vĩ độ Bắc và
109012’14.20” kinh độ Đông; góc tây nam có tọa độ 13000’57.63” vĩ độ Bắc và
109012’08.90” kinh độ Đông và góc đông nam đã bị lở có tọa độ 13000’57.64” vĩ độ
Trang 22Bắc và 109012’38.06” kinh độ Đông Bờ thành Đông dài 909m, đã bị lở mất một đoạn, phần còn lại dài 810m; bờ thành Tây bên trong dưới chân Hòn Mốc, hơi lõm vào trong, dài 944m; bờ thành Tây bên ngoài đến đoạn xéo, dài 685m, đoạn nối xéo góc tây bắc từ thành ngoài đến thành trong dài 345m; bờ thành Tây dài 345m, bờ thành Nam dài 905m, đã bị xói lở một đoạn, phần còn lại dài 336m; bờ thành Bắc dài 757m Trên bờ thành phía đông và bắc có những mô đất có kích thước lớn hơn
bờ thành và cao hơn thành mà người dân địa phương gọi là Hòn Mô, trên đó có những tháp canh Những mô đất ở góc thành và giữa thành lớn hơn các mô còn lại, giữa mô tạo thành thế đăng đối Ở bờ thành Đông có 7 mô đất, mỗi mô cách nhau khoảng 150m, có một mô góc đông đã bị lở xuống sông, bờ thành Bắc có 5 mô đất, mỗi mô cách nhau khoảng 170m Thành có 3 cửa: bờ thành Nam có một cửa rộng 20m nằm gần khoảng giữa bờ thành Tây bên trong và bờ thành Tây bên ngoài, cách góc tây nam 70m; bờ thành Bắc có 2 cửa, mỗi cửa rộng 15m, cửa góc tây bắc 123m
đi vào sẽ gặp Rộc Lác, cách cửa này 74m sẽ có cửa thứ hai và cũng là cửa mở ngay
mô đất Trong thành có Rộc/Rạch nước nối với sông Đà Rằng, đoạn chảy ngang thành từ góc tây nam cho tới góc tây bắc và vì vậy tạo ra 3 cửa, gọi là cửa nước, 1 ở
bờ Tây bên ngoài, cách góc thành Tây Nam 198m; 1 ở bờ thành Tây bên trong, cách
bờ thành Nam 243m và 1 ở bờ thành Đông, cách thành Đông Bắc 146m
Phần phía nam của thành là phần đất cao, có nhiều dấu vết di tích cổ, chỗ cao nhất 13.2m so với mực nước biển, các chỗ khác thấp hơn chỉ cao khoảng 11.4m [56, tr.4-5]
Từ trên đỉnh Hòn Mốc (nơi có dấu tích tháp), chúng ta có thể nhìn thấy toàn cảnh Thành Hồ và các vùng phụ cận Đối diện với sông Đà Rằng, bên bờ Nam, trên núi Bà còn phế tích kiến trúc tháp nằm theo trục bắc nam với Thành Hồ; cách 12km về phía đông là tháp Nhạn Các di tích Chăm này đều nằm dọc ven hai bờ sông Đà Rằng Điều này cho thấy vị trí quan trọng của con sông này trong đời sống cư dân Chăm [35, tr.4]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Phú Hòa có diện tích tự nhiên 263.24km, phía bắc giáp huyện Tuy An, phía nam giáp huyện Tuy Hòa, phía tây giáp huyện Sơn Hòa, phía đông giáp thành phố Tuy
Trang 23Hòa Huyện Phú Hòa có 8 xã và 1 thị trấn: Hòa Định Đông, Hòa Định Tây, Hòa Trị, Hòa Thắng, Hòa An, Hòa Quang Bắc, Hòa Quang Nam, Hòa Hội và thị trấn Phú Hòa Thành Hồ nằm ở vị trí hết sức quan trọng: phía tây là Đèo Dinh Ông, phía nam đối diện Hòn Bà, phía đông là Gành Đá và cửa sông Đà Rằng, phía bắc là Núi Sầm
Đi ngang qua Thành Hồ là quốc lộ 25 từ Tây Nguyên về đồng bằng Thành Hồ được coi là cửa ngõ của Châu Thượng Nguyên thời bấy giờ
Sông Đà Rằng là con sông lớn nhất tỉnh Phú Yên có vai trò quan trọng trong
việc hình thành đồng bằng Tuy Hòa và là cơ sở xây dựng Thành Hồ Sách Đại Nam
nhất thống chí ghi chép về sông Đà Diễn như sau: “Sông Đà Diễn ở phía nam huyện Tuy Hòa, có tên nữa là sông Đà Lãng, phát nguyên từ trong Man động về phía tây núi Phước Sơn, chảy về phía đông làm sông Thạch Hãn (sông có nhiều đá ngăn cản, nên gọi thế) ngoặt về phía nam đến phía nam xã Thạch Thành có sông Hương Sơn, nguồn ra từ núi Bình Yên chảy về phía đông bắc chừng 2 dặm thì hợp vào; lại chuyển sang phía đông đến thôn Bảo Tháp có sông Bảo Tháp, nguồn ra từ núi Phú Cốc (có tên nữa là núi Bảo Tháp) chảy phía nam mà hợp vào, lại chảy về phía đông 96 dặm rồi đổ ra cửa biển Đà Diễn Sông này rộng 133 trượng, trong sông có nhiểu bãi, đầu đời Gia Long liệt vào điển thờ” [40, tr.84]
Sông Đà Rằng bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, cao trên 1500m thuộc địa phận tỉnh Kon Tum Từ thượng nguồn tới gần An Khê sông chảy theo hướng tây bắc đông nam qua địa phận núi non hiểm trở, lòng sông hẹp và nhiều gềnh thác Từ An Khê đến Cheo Reo lòng sông mở rộng và hạ thấp dần nhận thêm nước từ hạ lưu Ayunpa đổ vào bên phải tại Cheo Reo Từ Cheo Reo đến thị trấn Củng Sơn sông chảy theo hướng đông bắc tây nam, nhận thêm nước của các phụ lưu sông Kraong Năng tại ranh giới Gia Lai - Phú Yên, Sông Hinh tại Đức Bình đổ vào bên phải, hai sông Cà Lúi đổ vào bên trái Đoạn cuối cùng sông chảy theo hướng gần như tây đông nhưng từ Đồng Bò ra tới cửa biển sông chuyển hướng hơi lệch về phía bắc và
đổ ra cửa Đà Diễn Sông Đà Rằng không những là con sông lớn của tỉnh Phú Yên
mà còn là con sông lớn khu vực miền Trung, có diện tích lưu vực 13.220km2 chủ yếu tập trung ở Gia Lai Phần diện tích ở Phú Yên 2.420km2, chiếm 18.3%, phần
Trang 24qua địa phận Phú Yên dài 90km, chiếm 25% Vào mùa nước lũ mực nước sông Ba dâng cao, vào mùa hè nước sông Ba cạn nước chỉ còn dưới lòng sông Đồng bằng Tuy Hòa cũng là đồng bằng màu mỡ nhất, do sông Đà Rằng chảy qua các vùng đồi bazan ở thượng lưu, đã mang về hạ lưu phù sa gồm nhiều hạt mịn và nhiều phì liệu, nhất là kali, manhê [58, tr 220]
Sông Đà Rằng có đập Đồng Cam Tọa độ N: 130 02' 348", và E: 1090 05' 181" Đập Đồng Cam là dạng đập tràn Một phần nước tràn qua đập, một phần nước chảy theo kênh chính bắc, một phần nước chảy theo kênh chính nam dẫn nước tưới cho đồng bằng Tuy Hòa, chính vì thế mà mùa cạn vẫn có nước Trong khu vực Thành
Hồ có kênh chính Bắc chảy từ đập Đồng Cam mang nước dọc theo quốc lộ 25 cắt ngang khu vực Thành Hồ mang nước về tưới cho cánh đồng Phú Hòa phía bắc, tả ngạn sông Đà Rằng
Không những sông Đà Rằng có vị trí địa lý quan trọng trong lịch sử hình thành
và phát triển tỉnh Phú Yên mà còn là tiềm năng kinh tế, mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng Tuy Hòa, là nơi cư trú các loài thủy hải sản: mùa xuân những loại cá đến sinh sống: thài bai, bóng cát, bóng trắng, bóng mú, bóng tượng, bóng lá, bóng đá, cá nghạnh, trắng chỉ, trắng mương, cá cháo, cá nhét Vào mùa hạ cá ở nước mặn lên vùng sông Ba sinh sản như cá úc, cá lăng… và một số cá nuôi bị vỡ hồ sinh sống lẫn lộn như cá chép, cá sóc lát, cá vầy, cá sãnh, cá lăn Vào mùa hè: cá chình lịch, bóng tượng, trắng trâu, cá trắng Đầu đông: nhờ nước lũ, cá đi ngược dòng lên sinh sản như: cá trê, cá tràu, cá chốt, rô phi… kình ngư của sông này là cá trắm cỏ, có con nặng 50 ký
Bao quanh tường thành Tây Thành Hồ là một dãy núi rất cao gọi là Hòn Mốc, phía bắc là núi Sầm, theo dân địa phương, có rất nhiều đá vôi Về mặt điều kiện tự nhiên ở khu vực Thành Hồ rất thuận lợi, có cả các yếu tố: sông, núi, đồng bằng… tạo cho Thành
Hồ trở thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa Champa trên vùng đất Phú Yên Dọc theo sông, suối lớn, ven biển và các đầm hồ đều có cuội, sỏi, cát, đất phù sa Dựa vào các đặc điểm Thạch học, địa mạo và vị trí phân bố thì ở thượng nguồn Sông Đà
Trang 25Rằng thành phần gồm: cuội, sỏi, cát, bột, độ mài từ trung bình đến tốt Điều này thấy rõ qua các lớp của các hố khai quật, các hiện vật tìm thấy trong quá trình khai quật
Đất phù sa chiếm 98% diện tích tự nhiên được hình thành do sự bồi đắp phù sa con sông Đà Rằng làm tốt và giàu chất dinh dưỡng (do sông Đà Rằng chảy qua nhiều vùng đất đỏ Tây Nguyên kéo đất về bồi đắp) Qua khai quật tại các lớp thì Thành Hồ có các loại đất phù sa, đất sét, sạn, sét vàng, sét pha cát có tầng loang lổ,
đỏ vàng tạo thành vùng đồng bằng màu mỡ ở phía đông nam tây bắc, vùng đồng bằng rộng lớn này chủ yếu trồng lúa
Đất xám chiếm 6.9% diện tích tự nhiên phân bố từ địa hình trung gian nối giáp với đồi núi và vùng thấp Qua các hố khai quật và phân tích trữ lượng đá ở các hiện vật thì khu vực Thành Hồ trữ lượng đất sét khá dày bao gồm đất sét, sét pha cát, sét sạn Đất có màu nâu, màu xám và màu đen, ở khu vực phía bắc có đá vôi
Do đặc điểm cấu trúc địa chất các hoạt động magma, kiến tạo xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau dẫn đến sự hình thành các khoáng sản rất đa dạng và phong phú Trong đó có những loại khoáng sản có tiềm năng kinh tế lớn và giá trị kinh tế cao:
Đá xây dựng, sét gạch ngói ngoài ra, còn có trường quặng Trảng Sim Nưng diện tích nhỏ, trữ lượng thấp
Ở phía bắc Thành Hồ, có núi đá vôi ở núi Sầm Qua khai quật thành phía bắc ở độ 2m tìm thấy đá mà theo người dân địa phương thì người Chăm lấy đá vôi ở Núi Sầm về đắp thành Ở khu vực phía tây Thành Hồ có mỏ nước khoáng Phú Sen, suối nước nóng
Ở Thành Hồ còn có những cuội đá các loại hay những khối đá nhỏ, được khai thác trong thiên nhiên xung quanh Thành Hồ, sử dụng trong việc xây dựng thành Chẳng hạn như: việc gia cố nền móng trong kiến trúc (đá cuội + đất sét) Đặc biệt là việc sử dụng đá vôi + đất sét để tạo móng vững chắc cho bờ thành không bị sạt lở Đoàn khai quật đã chọn 31 mẫu và nhờ Trung tâm Phân tích Thí nghiệm thuộc Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam phân tích Ngày 14-4-2009, cho kết quả như sau:
9 mẫu là đá Ryolit porphur (Hố 3 có 3 mẫu, Hố 4 có 5 mẫu, Hố 10 có 1 mẫu)
3 mẫu là đá Felsit porphyr (Hố 3 có 2 mẫu, Hố 4 có 1 mẫu)
4 mẫu là đá Granite biotit hạt vừa (Hố 1 có 1 mẫu, Hố 3 có 1 mẫu)
Trang 26 1 mẫu là đá Granite biotit dạng porphyr (Hố 1)
5 mẫu là đá Tuf ryolit (Hố 1 có 2 mẫu, Hố 3 có 1 mẫu, Hố 4 có 2 mẫu)
1 mẫu là đá Tuf dacit (Hố 3)
4 mẫu là đá thạch anh (Quarzit) (Hố 1 có 2 mẫu, Hố 3 có 1 mẫu, Hố 4 có 1 mẫu)
1 mẫu là đá Greisen (Hố 3)
1 mẫu là đá sừng thạch anh – cordierit – sericit – biotit (Hố 3)
2 mẫu là cát bột kết (Hố 1 có 1 mẫu, Hố 4 có 1 mẫu)
Điều chúng tôi lưu ý nhất là mẫu của Hố 10, hố khai quật cắt ngang thành, loại
đá mà dân địa phương gọi là đá vôi đáng lẽ phải là đá Limestone, thì được phân chất là đá Ryolit porphur có thành phần khoáng vật sau: Hạt vụn 43% (Plagioclas 4-5%; thạch anh 5-7%; Felspat kali 3-4%; Biotit ít-1%); Khối nền 57% (Thạch anh – Felspat; Khoáng vật sét – sericit; Biotit, chlorit ít; Khoáng vật quặng ít) Có lẽ đây
là loại đá đã bị phong hóa [56, tr.7]
Phú Yên một năm có hai mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa khô thường từ tháng
1 đến tháng 8 dương lịch, có gió nóng tây nam (gió Nồm), mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, có gió đông bắc (gió Bất), và khu vực Thành Hồ cũng nằm trong vùng khí hậu đó Mùa khô lượng mưa ít, dòng sông suối lượng nước ít, lưu lượng dòng chảy thấp Mùa mưa lượng nước nhiều, dòng chảy các con sông hung
dữ Chế độ mưa nắng như vậy chi phối đến hoạt động của vùng đất này Khu vực Thành Hồ đất phù sa chiếm 9.8% diện tích đất tự nhiên, các nguồn nước mạch và nước ngầm khá dồi dào nhờ hệ thống kênh mương phát triển nằm cạnh sông Đà Rằng, lượng nước mưa hàng năm khá lớn
Ở Phú Yên, thực vật tự nhiên rất phong phú và đa dạng phân bố trên các đồi núi với mật độ và số lượng loài khác nhau, cấu kết không gian thực vật gồm nhiều tầng: tầng trên, tầng giữa và tầng dưới và các thảm tươi, cây tái sinh, cây bụi, dây leo, các loại gỗ quý dùng để làm nhà và đóng thuyền: cây sao, cây gõ, cây hương, cây sân, cây xay, cây trâm, cây sến, cây chò, cây kiền kiền, cây liêm, cây bằng lăng (mằn lăng), cây tra xanh loại một, cây sọ thưởng, cây mít mài, cây xoài nước, cây huỳnh đăng, cây cổng tàng, cây hồng thị, cây hồng tía, cây cầy, cây nhãn, cây là bó, cây
Trang 27bạch đàn tía, cây bạch đàn trắng, cây bạch đàn keo, cây hồng đào… Ngoài thực vật
tự nhiên, thực vật trồng cũng rất phong phú: cây lương thực, thực phẩm, cây làm thuốc, cây cảnh, cây công nghiệp, cây trồng theo dự án
Do đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, địa chất khoáng sản và thổ nhưỡng ở khu vực Thành Hồ góp phần tạo cho Thành Hồ tồn tại và phát triển một thời rực rỡ nền văn hóa Champa trên vùng đất Phú Yên
1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu Thành Hồ
Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, trong phần
trình bày về Đạo Phú Yên có giới thiệu về Thành Hồ như sau: “Thành cổ An Nghiệp
ở phía bắc sông Đà Diễn, thuộc xã An Nghiệp huyện Tuy Hòa, chu vi 1400 trượng 1 ; tương truyền do người Chiêm Thành xây, tục gọi Thành Hồ Năm Mậu Dần (1578) đời Thái Tôn bản triều, Quận công Lương Văn Chánh đánh lấy được thành này Nay vẫn còn nền cũ”, [40, tr.87] Sách “Đại Nam nhất thống chí” cũng có ghi chép
về Lương Văn Chánh như sau: “Lương Văn Chánh người huyện Tuy Hòa, đầu bản
triều làm chỉ huy sứ, đánh được nước Chiêm Thành thăng Phụ quốc Thượng Tướng quân, sau làm Tham Tướng dinh Trấn Biên, có công chiêu tập dân phiêu tán khai khẩn ruộng hoang, chết tặng Quận công, phong phúc thần” [40, tr.93-94]
Năm Tân Hợi (1611), Nguyễn Hoàng mở rộng lãnh thổ, lấy đất từ đèo Cù Mông đến núi Đá Bia (Thạch Bi), lập phủ mới là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân
và Tuy Hòa thuộc dinh Quảng Nam “Đại Nam thực lục” ghi về sự kiện này như sau: “Tân Hợi, năm thứ 54 (1611), bắt đầu đặt phủ Phú Yên Bấy giờ quân Chiêm
Thành xâm lấn biên giới Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được (đất ấy), bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa
lệ thuộc vào Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy” [41, tr.36]
Năm 1909, Henry Parmentier đã công bố việc khảo sát di tích Thành Hồ trong
công trình “Thống kê khảo tả các di tích Chăm ở Trung kỳ” Ngoài phần mô tả, ông
còn thực hiện bản vẽ thành, theo mô tả của H.Parmentier: Thành Hồ nằm bên tả ngạn sông Đà Rằng, cách cửa sông Đà Rằng độ 15km Tòa thành hình vuông, cạnh
1
1 trượng khoảng 4m, 1.400 trượng x 4m = 5.600m
Trang 28600m được xây chính hướng, mặt thành nam bị mất một phần do sông xói lở Khoảng tam giác nằm giữa ngọn núi được bảo vệ bởi một bức tường thành xuyên dọc sườn đồi Thành có hào rộng 30m bảo vệ mặt tường bắc và đông khá cao, mặt tường còn lại rộng 3 – 5m Chỉ mặt được núi bảo vệ là không có tháp canh Mặt thành phía bắc có 6 tháp canh, mặt thành phía đông có 7 tháp canh, kể cả tháp ở góc Mặt nam đã bị sụp lở, vẫn còn giữ ở góc tây hai cái ụ, trong đó có môt cái ụ khá quan trọng, ở góc thành, có thể được làm chòi cảnh giới mặt sông Về cửa thành, mặt đông gần chỗ xẻ để nước vào, trông như là có 1 cổng, mặt bắc có 2 cổng,
ở hai đầu mặt tây của tòa thành chính hình vuông có hai cổng, ở dãy rào bên ngoài mặt tây gần góc tây nam có 1 và có thể là 2 cổng Gạch xây thành rất lớn, dày hơn 0.10m, màu đỏ thẫm có khi tím Công trình được bổ sung hoàn chỉnh bằng di tích Phước Tịnh, nằm trên trục bắc nam bên kia sông Đà Rằng và bằng một ngọn tháp, nằm trên trục đông tây, ở trên quả đồi tiếp theo bức tường xiên, vị trí này được nhận
ra nhờ nhiều gạch vỡ đổ [22, tr.10-11], [69]
Năm 1965, Nguyễn Đình Tư trong sách “Non nước Phú Yên” có đề cập đến
Thành Hồ Theo Nguyễn Đình Tư, “thành được xây thành hai lớp: thành ngoại và thành nội Thành ngoại hình chữ nhật, chiều ngang hướng đông tây, khoảng 1000m, chiều dài hướng bắc nam, khoảng 1500m Thành Hồ nằm dựa lưng vào chân núi, với cái thế phòng thủ rất kiên cố Phía bắc và phía đông giáp ruộng vườn, phía tây giáp núi rừng hiểm trở, phía nam giáp sông Đà Rằng rộng lớn Bờ thành xây bằng gạch Chàm, như gạch xây các tháp, theo hình thang, dưới chân rộng khoảng 30m, trên mặt rộng độ 10m hay 15m, cao khoảng 6-7m Trên mặt thành có lối đi ở giữa, rộng khoảng 3-4m, sâu xuống ngang lưng quần, quân lính, xe ngựa có thể đi lại trên đường này, trông thấy địch quân, mà định quân không thấy Trên mặt thành tại 4 góc và cứ cách nhau khoảng 200-300m, lại được xây cao lên như pháo đài, có lẽ là những chòi canh Ngày nay những ụ đất này vẫn còn Những cụ già 60-70 tuổi cho biết: khi các cụ mới 9-10 tuổi đã lên chơi trên thành và còn đùa chạy trong lòng rãnh ấy Cũng theo các cụ già kể lại, thì mỗi phía thành có mở hai cửa ra vào, gọi là cửa sinh và cửa tử Cửa sinh là cửa dành cho quân lính ra vào hàng ngày, không có
Trang 29gì là nguy hiểm, nhưng lại được canh gác cẩn mật Trái lại cửa tử là cửa để quân địch vào và lẽ tất nhiên, sẽ bị những bẫy đã được bố trí sẵn làm thiệt mạng Cửa này canh gác sơ sài, cố ý đánh lừa địch quân Kể là khi Lương Văn Chánh đánh Thành
Hồ, viên tướng Cao Các đã vào thành bằng cửa tử nên đã tử trận Hiện nay, trên tỉnh
lộ số 7 bên sườn núi có đền thờ Cao Các, thường gọi là Dinh Ông” Và cho đến nay, trong dân gian còn có câu ca:
"Nhìn lên trên núi Dinh Ông
Thiên hạ xào xáo em không thấy chàng!
Tóc dài bỏ xõa rối ngang
Tay buồn lược gỗ, miệng ngôi than bóng đèn."
“Thành ngoại cách thành nội khoảng 150m Thành nội xây bằng đất, cũng hình chữ nhật, trên mặt thành không có đường rãnh và không có pháo đài Mỗi mặt thành nội cũng có cửa sinh và cửa tử Ở giữa thành nội có một cái hồ hình mặt nguyệt Ở góc thành nội phía Tây Bắc có Hòn Mốc, trên có một cái sân khá rộng, lát toàn gạch vuông,
có đường tam cấp đi xuống thành Trên núi có tảng đá lớn, phẳng, khắc bàn thờ, hiện còn Vì sông lở nên một phần thành nội và ngoại bị đổ xuống sông và còn tìm thấy những cổ vật Chàm Khi đắp đập Đồng Cam (từ năm 1924 đến năm 1929), người Pháp cho đào mương chảy qua Thành Hồ Rồi con đường số 7 được đắp và cắt qua thành Trong khi làm đường và đào mương, đã tìm thấy các cổ vật” [61, tr.106-112]
Năm 1994, PGS.TS Ngô Văn Doanh trong sách “Tháp cổ Champa sự thật và
huyền thoại” có đề cập đến Thành Hồ Ông cho biết năm 1980 đã đến nghiên cứu
Thành Hồ và thấy Thành Hồ là một thành mang tính quân sự rất kiên cố và lớn của người Chăm Thành Hồ có bình đồ gần chữ nhật với bốn chòi canh ở 4 góc “Tường thành phía nam chạy dọc theo sông Đà Rằng dài 852m, tường thành phía tây dài 940m, tường thành phía đông dài 732m, tường thành phía bắc dài 738m Trong khu thành có bức tường thứ 5 dọc theo hướng bắc nam, chia thành hai khu đông và tây Khu tây là thành nội, cao, có mỏm sân cờ Song song về phía tây là bức thành thứ sáu xây hẳn trên sườn núi dài 360m Ngoài bốn chòi canh ở bốn góc thành, tại tường phía đông, cách góc đông nam 300m, có thêm một chòi canh thứ năm Các
Trang 30chòi canh đều có bình đồ vuông, mỗi cạnh dài 11m và cao hơn mặt thành 3m Tất cả các tường thành và chòi canh đều bằng đất và được ốp ở mặt ngoài và mặt trong bằng lớp tường dày 1.5m, khoảng giữa bằng đất rộng 4m Như vậy, tường thành rộng 7m, chân tường thành được đắp choãi ra Gạch xây thành là loại gạch lớn 40cm x 20cm x 10cm; hoặc 38cm x 18cm x 9cm Thành có tám cổng: hai cổng phía nam, một cổng phía bắc, một cổng phía đông, hai cổng phía tây, hai cổng nối thành nội và thành ngoại Trong và ngoài thành có dấu vết các hào nước rộng và ba hồ
lớn” [5, tr 135-36] Năm 2001, PGS.TS Ngô Văn Doanh trong bài viết “Thành Hồ
- Cửa ngõ Châu Thượng Nguyên (Tây Nguyên) của Champa” có đề cập về niên đại
xây dựng Thành Hồ Sau khi so sánh những hiện vật vật chất như gạch ngói ở Thành Hồ và các di tích quanh vùng như tháp Núi Bà, Tháp Nhạn, tháp Đông Tác, Ngô Văn Doanh cho rằng Thành Hồ được xây dựng vào thế kỷ XII và được sử dụng liên tục cho đến cuối thế kỷ XVI [84, tr.55-56] Năm 2011, PGS TS Ngô Văn
Doanh trong sách "Thành cổ Champa - Những dấu ấn của thời gian", tác giả cũng
đề cập lại niên đại Núi Bà và Thành Hồ Từ những hiện vật được phân tích và tìm thấy tại địa điểm Núi Bà và Thành Hồ, tác giả lại có nhận định mới về niên đại Thành Hồ được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIII - XVI [10, tr.294]
Tháng 07 năm 2001, GS Trần Quốc Vượng dẫn đầu đoàn khảo sát Thành Hồ
Qua khảo sát đoàn nhận thấy bờ Nam bị sạt lở, chỗ bến sạn Ba Long có thể ứng với
mô thứ năm của bờ thành Đông theo bản vẽ của H Parmentier Bờ thành Nam còn lại rõ nhất là chỗ cồn Mô Giao thông, tức góc tây nam của thành Góc tây nam từ cồn Mô Giao thông chạy xéo qua mương nước hiện nay về phía tây Hòn Mốc Lác đác có cấu trúc gạch trên nền đá gốc, có thể là Granite biến chất tạo ra từ đông bắc xuống tây nam mà nhân dân gọi là Ghềnh Ông Phía đối diện bên kia sông là Ghềnh
Bà (tức chùa Phước Tịnh) Phía tây nam có một cửa nước đổ trực tiếp ra sông Đà Rằng Phía tây bắc có một cửa nước Nước được dồn xuống rộc chảy xuống bàu (Bàu Tròn, Bàu Đục) và đổ ra sông Thành có hai phần, được phân cách bằng một lũy thành tương đối thẳng chạy từ bắc xuống nam, về phía đông của Hòn Mốc Dân gian gọi phía tây là thành nội và phía đông là thành ngoại Dòng chảy từ cửa (nước)
Trang 31tây bắc sang tây nam chia thành hai phần Thành Hồ có hình thể dựa theo thế núi, thế sông Phía dưới cột cờ, phía bờ thành Tây, đoàn đã phát hiện một số mảnh gốm Chăm cổ, gốm thô, mềm và bở, đất khá đen Có nhiều khả năng, đây là địa điểm Chăm sớm Tại địa điểm Thổ Đạo hay Hưng Đạo, bờ thành Đông, đoàn đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm như vò kendi, cà ràng… Một số bình, vò có thân trang trí văn in
ô vuông, sóng nước, hồi văn, xương cá… Những hiện vật gốm này khá giống các loại hình gốm Chăm ở tầng văn hóa trên của di chỉ Trà Kiệu, Cẩm Phô và một số di tích Chăm khác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi… Nhìn chung, bộ sưu tập này nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ III đến thế kỷ V Tại xóm Thổ Gạch hay xóm Thành Lòi/ Lồi, phía bờ thành Nam, trong khi đào đất, nhân dân đã tìm thấy một số điêu khắc đá Một tượng Nữ Thần đứng bằng đá đã được thu giữ về Bảo tàng (đã bị mất) Trong đợt này đoàn tìm thấy và thu giữ một đầu tượng bị vỡ dọc thành hai mảnh, mũi và miệng đã bị vỡ Ngoài ra, còn tìm thấy nhiều gốm Chăm cổ Rất có thể nơi đây cũng là một điểm cư trú lâu đời [22, tr.13-16]
Năm 2010, Nguyễn Danh Hạnh trong bài "Thành Hồ chứng tích của một nền
văn hóa cổ" cũng có ghi nhận về Thành Hồ như sau: “Thành Hồ có bình đồ gần với
hình chữ nhật Các bờ thành nằm đúng với các hướng đông - tây - nam - bắc Trong
đó, mặt phía nam giáp sông Đà Rằng; phía tây giáp núi; phía đông và phía bắc giáp đồng ruộng bằng phẳng Ngoài ra, còn có một bờ thành thứ năm chạy theo hướng bắc - nam chia Thành Hồ làm hai phần: phần phía đông gọi là thành ngoại; phần phía tây gọi là thành nội Trong phạm vi khu vực thành nội có một hòn núi nhỏ gọi
là Hòn Mốc cao khoảng 60m, trên đỉnh Hòn Mốc có nhiều vật liệu của một công trình kiến trúc đã bị sụp đổ Một số phần của di tích Thành Hồ còn có thể quan sát
rõ là bờ thành Đông, có chiều dài 719m, mặt thành rộng 5-7m, chân thành rộng từ 30-40m, bờ thành cao khoảng 4-5m Bờ thành Bắc có chiều dài 726m, chiều rộng
và chiều cao giống như bờ thành Đông Bờ thành Nam một phần đã bị đổ xuống sông, chỉ còn một phần ở góc tây - nam dài 250m Bờ thành Tây chạy vòng qua Hòn Mốc và được phân thành hai đoạn: đoạn thứ nhất từ góc tây - nam đến chân phía tây của Hòn Mốc có chiều dài 600m; đoạn thứ hai chạy xéo ở góc tây - bắc nối
Trang 32bờ thành Tây với bờ thành Bắc Bờ thành thứ năm là bờ thành Giữa dài 920m Phía bắc bờ thành này đã bị phá một đoạn để làm mương dẫn nước Trên các bờ thành hiện nay còn dấu tích của các chòi canh Bờ thành Bắc có dấu tích 6 chòi; bờ thành Đông có dấu tích 5 chòi Phía ngoài bờ thành Bắc và bờ thành Đông còn dấu tích của hào nước như là hệ thống phòng thủ hỗ trợ bờ thành Cuối năm 2008, Bảo tàng Phú Yên tiếp tục khai quật thành Hồ trên một diện tích khoảng 500m2 và cũng đã phát hiện thêm nhiều dấu tích của nền móng các công trình kiến trúc kết nối liên hoàn Trong đó đáng chú ý là dấu tích của các hố đất nện hình tròn mà trong phạm
vi hố khai quật đã xuất lộ thành 2 dãy Đường kính của các hố đất nện dao động khoảng 1m Khoảng cách giữa các hố khoảng 3m và khoảng cách giữa 2 hàng khoảng 4m Đây có thể là phần gia cố móng cột của một công trình kiến trúc Ngoài những cổ vật tìm thấy trong đợt khai quật, nhiều cổ vật trong phạm vi di tích thành
Hồ cũng đã tìm thấy trong các đợt khảo sát Năm 2006, tại khu vực Hòn Mốc đã phát hiện được 6 pho tượng bằng sa thạch Những pho tượng này có niên đại vào khoảng thế kỷ VII đến thế kỷ X Đây là những tác phẩm mang giá trị lịch sử và nghệ thuật cao Một số nhà nghiên cứu cho rằng những pho tượng này thuộc vào giai đoạn sớm nhất của nghệ thuật điêu khắc Champa Kết quả thu được qua các lần khảo sát, khai quật đã cho thấy Thành Hồ đã được xây dựng từ rất sớm, có thể từ thế kỷ I, II và tồn tại trong khoảng 14 thế kỷ cho đến khi người Việt vào đến vùng đất này sinh sống vào thế kỷ XV” Những kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định giá trị nhiều mặt của di tích Thành Hồ [90, tr.26-28]
Như vậy, công cuộc nghiên cứu Thành Hồ mới chỉ được coi là những bước khởi đầu, nhưng giữa các nhà nghiên cứu đã có những quan điểm khác nhau trong việc định niên đại cho di tích Thành Hồ Những ý kiến của các nhà nghiên cứu đều dựa vào các căn cứ vật chất (hiện vật) mà họ tìm được trong quá trình khảo sát hay dựa vào các nguồn thư tịch cổ Đến nay, vấn đề niên đại có hai quan điểm như sau:
Quan điểm cho rằng Thành Hồ có niên đại sớm, từ thế kỷ II đến thế kỷ thứ V,
thuộc vào giai đoạn đầu của việc hình thành nhà nước Champa
Trang 33 Quan điểm cho rằng Thành Hồ có niên đại muộn hơn, khoảng thế kỷ XII và được
sử dụng kéo dài đến thế kỷ XVI, thuộc nữa cuối của sự tồn tại nhà nước Champa
Những ý kiến đã nêu, cần có những kết quả khai quật khảo cổ tiếp theo mới làm sáng tỏ được
Trang 34CHƯƠNG 2
DI TÍCH THÀNH HỒ QUA CÁC LẦN KHAI QUẬT
2.1 Đợt khai quật lần 1
Năm 2003, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Phú Yên tiến hành khảo
sát, khai quật Thành Hồ Phụ trách khai quật: TS Lê Đình Phụng2, theo “Báo cáo
khai quật khảo cổ học di tích Thành Hồ (Phú Hòa – Phú Yên)”, đợt khai quật này
có mở hai hố với tổng diện tích 46.5m2 và thực hiện lát cắt tường thành nhờ việc mở con đường trung tâm huyện cắt ngang bờ thành Đông Qua khai quật đã tìm thấy các di tích kiến trúc, đồ gốm gia dụng, đồ gốm trang trí kiến trúc, dọi se chỉ, bàn mài Từ kết quả thu được, những người khai quật đưa ra nhận xét:
- Các dấu vết kiến trúc đều nằm dưới, cách mặt đất từ 20cm đến 1m (QVS)
- Các vết tích kiến trúc phát hiện được, đều được xây bằng gạch theo kiểu xếp chập khối, không có chất kết dính
2
Đoàn công tác gồm có: TS Lê Đình Phụng (Trưởng đoàn), Phạm Văn Triệu (Viện Khảo cổ học, Hà Nội); Phan Đình Phùng, Trần Thùy Nhiên, Nguyễn Danh Hạnh, Bùi Nhật Sinh, Nguyễn Đính, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Vũ Hiếu, Trần Thị Cúc, Trương Thị Thu Thủy (Bảo Tàng Phú Yên) Khai quật được tiến hành theo Quyết định số 3582/QĐ-BVHTT ký ngày 15/10/2003 của Bộ Văn hóa Thông tin [35, tr.2]
Trang 35- Cùng sử dụng một loại vật liệu là gạch, đó là những viên gạch có màu đỏ, không có hoa văn trang trí, có kích thước trung bình 38cm x 18cm x 8cm, bên trong thường bị lõi có màu đen nhạt Gạch được tận dụng, họ sử dụng những viên gạch vỡ
để xây dựng các công trình kiến trúc
- Những công trình kiến trúc này, một số đều chưa quan sát được bình đồ mặt bằng, nhưng có khả năng chúng đều có hình tứ giác (vuông hay hình chữ nhật) Những loại hình kiến trúc này mang ý nghĩa tôn giáo
2.1.3 Di vật
Di vật như gạch có kích thước lớn, ngói âm dương, đầu ngói ống trang trí mặt
hề, mặt sư tử, mặt kala, cánh sen…, đồ đất nung có chất liệu hình dáng kế thừa từ
đồ gốm Sa Huỳnh, đồ gốm như bình, vò, chậu…chủ yếu là hoa văn in ô vuông
Đầu ngói ống: là loại hình lợp mái kiến trúc đảm nhận vị trí trang trí diềm
mái của công trình kiến trúc, cho nên đây là những di vật được trang trí hoa văn cầu
kỳ và đẹp nhất trong các di vật tìm được Trong đợt khai quật lần này, có tổng số hiện vật trên 100 mảnh với nhiều loại hình trang trí Màu sắc thường là đỏ nhạt,
hanh nhạt thuộc gốm mịn chắc (xem bảng 1.1)
Con tiện gốm: là một loại hình trang trí kiến trúc, được tạo tác khá đẹp, với
những khúc tiện tròn thắt nấc dùng để trang trí thành phần bờ nóc hoặc bờ xiên nóc
mái kiến trúc (Bản ảnh 24)
Gạch: là vật liệu khác phổ biến dùng để xây dựng các công trình kiến trúc
Tất cả các móng kiến trúc tìm thấy qua khai quật đều được xây bằng gạch với kỹ thuật mài chập khối liên kết vững chắc Gạch có đặc điểm: màu đỏ tươi, chất liệu thô, pha nhiều sản sỏi, mắt thường nhận thấy được, độ nung thấp, dễ bở dời khi gặp nước, đều bị lõm giữa có màu đen nhạt, chúng đều không có hoa văn trang trí Kích
thước gạch trung bình: 36cm x 18cm x 8cm (Bảng 1.2)
Ngói: là vật liệu kiến trúc dùng để lợp mái được sử dụng phổ biến trong các
công trình kiến trúc ở đây Chất liệu khá mịn, chắc; màu sắc chủ yếu đỏ nhạt, trắng hồng và có hoa văn chải ở mặt trên, cũng có những mảnh ngói màu xám ở dạng sành, đường rãnh chải sắc, có độ nung và độ cứng rất cao (số lượng những mảnh
Trang 36ngói dạng này rất ít) Tiến sĩ Lê Đình Phụng cho rằng loại ngói này mang từ nơi
dùng trong sản xuất (dọi se sợi) và gốm trang trí kiến trúc
- Chất liệu: các di vật gốm ở đây thuộc loại gốm thô, bở, xốp lẫn nhiều sản sỏi
và bã thực vật
- Kỹ thuật chế tác: bên cạnh đồ gốm làm bằng bàn xoay còn có một số đồ gốm làm bằng tay Với những hiện vật tìm thấy ở đây, chúng ta có thể biết được thợ thủ công đã dùng bàn xoay để chế tác đồ gốm, người thợ xoay quanh bàn xoay Đồ gốm được miết láng một lớp áo ở ngoài, phần lớn đã bị bong tróc Ngoài ra cũng tìm thấy
di vật gốm làng bằng tay như dọi se sợi, các hiện vật gốm trang trí kiến trúc, với những hiện vật có hình khối và hoa văn phức tạp Những người thợ thủ công còn sử
dụng kỹ thuật ghép rán, tiêu biểu là những viên ngói ống có đầu ngói trang trí
- Hoa văn: nghèo nàn về loại hình, không có các mô típ trang trí cầu kỳ Chủ yếu hoa văn mang yếu tố kỹ thuật văn thừng (được tạo ra trong quá trình chế tác đồ gốm), kể cả hoa văn mang ảnh hưởng của yếu tố Hán Một số ít mảnh gốm có trang trí hoa văn mang tính thẩm mỹ, đó là hoa văn khắc vạch hình sóng nước, được
người thợ thủ công vẽ lên đồ gốm sau khi hoàn thiện kiểu dáng [35]
- Trong đợt khai quật này, có các loại hình miệng như sau:
+ Kiểu 1: miệng loe xiên, thành miệng thẳng, mép miệng bẻ cuộn ra ngoài;
thuộc loại gốm chắc mịn, không có hoa văn trang trí Xương gốm dày từ trên xuống dưới, đây là loại hình chậu nhỏ
+ Kiểu 2: miệng loe hơi cong vào, thành miệng thấp, có vai khum rộng, không có
hoa văn trang trí, thuộc loại gốm mịn, chắc Đây là kiểu miệng của loại hình bình hay vò
Trang 37+ Kiểu 3: miệng khum, thành miệng cong, mép miệng vuông, có màu nâu
Xương gốm dày đều, khá mịn, nhưng bở, không có hoa văn trang trí, đây là kiểu miệng thuộc loại hình bát bồng
+ Kiểu 4: miệng loe, thành miệng hơi cong và dày, mép miệng được vuốt nhọn,
bên trong thành miệng ưỡn ra, bên ngoài có gờ nổi, gờ có trang trí hoa văn in ấn hình vỏ sò Gốm có màu đỏ, xương màu trắng nhạt, đây là loại hình chậu
+ Kiểu 5: miệng loe ngửa, thành miệng xiên thẳng, mép miệng vuốt nhọn, cổ
bóp vào, thân cong đều xuống dưới, không có hoa văn trang trí, xương gốm thô, màu đen, bở Đây là loại hình nồi, vò
+ Kiểu 6: miệng loe ngửa, thành miệng cong, cổ cao bóp vào, mép miệng vuốt
nhọn, vai xuôi Đây là miệng của loại hình nồi
+ Kiểu 7: miệng thẳng, thành miệng cong và thấp, mép miệng ve tròn, cổ tháp,
vai rộng khum trang trí hoa văn in ô vuông, mép miệng ve tròn, một số nhà nghiên cứu cho rằng đồ gốm này được mang trực tiếp từ Trung Quốc sang Đây là miệng của loại hình nồi, vò [35, tr.21-25]
+ Kiểu 8: miệng nhỏ, mép miệng ve tròn, thành miệng thấp (sát với vai), vai
khum phình rộng Đây là loại hình vò, lọ vai phình rộng, thon nhỏ dần xuống phía dưới, không có chân đế
+ Kiểu 9: miệng loe rộng, mép miệng vuốt nhọn, thành miệng phía trong ưỡn, có
gờ ở ngoài Gốm mịn, xương lõi giữa màu đen nhạt, đây là miệng của loại hình đĩa
+ Kiểu 10: miệng loe ngửa hẳn ra, thành miệng phía trong ưỡn, mép miệng vuốt
nhọn, đáy bằng Đây là miệng thuộc loại hình âu
+ Kiểu 11: miệng loe ngửa, thành miệng cao bóp vào, thành miệng phía trong
ưỡn cao, mép miệng ve tròn, sáp mép miệng được ve một đường lõm xuống Đây là miệng loại hình bình hay lọ hoa
+ Kiểu 12: miệng loe ngửa xiên, thành miệng cong ưỡn vào trong, mép miệng ve
tròn, bên trong sát mép miệng có hoa văn trang trí bằng những chấm hình tứ giác thành
hang từ trên xuống Xương gốm dày, thô nặng, đây là miệng thuộc loại hình chậu nhỏ
Trang 38+ Kiểu 13: miệng loe khum, mép miệng vuốt nhọn, thành thấp cong, lòng phẳng,
xương gốm thô, không có hoa văn trang trí Đây là miệng thuộc loại hình đĩa nhỏ
+ Kiểu 14: miệng loe rộng, mép miệng vuốt nhọn hoặc được bẻ vuông, cổ cao
thành ưỡn vào trong, phần sát đáy gãy vào đột ngột, loại miệng này thuộc dạng hiện vật đặc trưng ở Thành Hồ, là miệng thuộc loại hình nồi nhỏ [35]
2.2 Đợt khai quật lần 2
Năm 2004, Bảo tàng Phú Yên tiếp tục phối hợp với Viện Khảo cổ học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) tổ
chức khai quật Thành Hồ lần thứ hai Phụ trách khai quật: TS Lê Đình Phụng3,
thời gian tiến hành từ tháng 11-12 năm 2004 Theo “Báo cáo khai quật khảo cổ học
di tích Thành Hồ (Phú Hòa – Phú Yên) lần thứ II” thì đợt khai quật này mở rộng
diện tích 25m2 ở hai đầu của hố khai quật năm 2003, như vậy tổng diện tích hai lần khai quật của hố này là 5m x 10m = 50m2, thuộc khu đất của ông Trần Văn Lớ Hiện vật tìm được gồm gạch, ngói, đầu ngói ống, gốm trang trí kiến trúc, đinh gốm,
đồ gốm như nồi gốm, nắp, núm, vòi ấm, bát chân cao, mảnh cà ràng… Từ kết quả thu được, những người khai quật đưa ra nhận xét:
Trang 39- Lớp một: dày 0.3m-0.4m, đất màu xám nâu nhạt, do quá trình canh tác Hiện vật lớp này gồm nhiều loại khác nhau như: gạch, ngói, sành, sứ
- Lớp hai: dày 0.9-1m, đất màu vàng nhạt, gạch nhiều đổ lận lỗn, không có quy luật nào
- Lớp ba: đất màu vàng nhạt lẫn sỏi đầu ruồi màu đen liên kết khá chắc
- Lớp sinh thổ: đất màu vàng nhạt, có độ kết dính cao khá thuần nhất
- Lớp ba: dày 0.2m-0.3m, có nhiều cát sỏi hạt thô màu vàng nhạt, hầu như không
có hiện vật Đây có thể là lớp cát bồi của mùa mưa lũ khá lớn trong lịch sử và có thể
là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của kiến trúc
- Lớp bốn: xuất hiện dấu vết kiến trúc, kiến trúc được xây thành khối gạch hình hộp chữ nhật, nằm đề lên một lớp nền được đầm kỹ bằng gạch vỡ khá phẳng, với độ dày 0.55m, làm nền xây dựng khối kiến trúc bên trên
- Lớp sinh thổ: đất màu vàng nhạt, có độ kết dính cao khá thuần nhất
Địa tầng ở vách bắc có các lớp tương tự như vách phía đông Mặt bằng của lớp cuối cùng cho thấy, toàn bộ đáy hố có một lớp bê tông gạch đầm lèn chặt màu đỏ sẫm vững chắc phía trên có kiến trúc xây dựng đè lên [18]
2.2.2 Kiến trúc
Các công trình kiến trúc tìm được có khả năng là các công trình liên quan đến tôn giáo, được trang trí mỹ thuật đẹp Ở hố một (H1) đã tìm thấy hệ thống máng dẫn nước được xây bằng gạch, những dấu vết kiến trúc có hình vuông, lòng được lát gạch khá phẳng Hai bên xếp tường thành chạy dọc tạo nên khe dẫn nước rộng 0.26m, cao 12cm
Hố một (H1) có kiến trúc ở phía đông là một khối hộp gạch hình chữ nhật không đều nằm theo hướng đông tây Toàn bộ viên gạch này được xây bằng các viên gạch
có kích thước khác nhau, và khá lớn, kích thước trung bình: 37cm x 18cm x 9cm, xây
Trang 40vuông vức quy chỉnh, các viên gạch xây câu móc với nhau tạo nên sự liên kết ổn định vững chắc Những viên gạch có sử dụng đất sét mịn màu trắng nhạt làm chất kết dính Khối gạch này nằm chìm dưới lớp ngói vật trang trí kiến trúc đổ phủ dày lên trên Đây có khả năng là phần dưới của kiến trúc có bộ mái lớp phía trên đã bị sụp đổ Riêng khối hộp kiến trúc với hai hố đen, có đường kính 0.53m và 0.5m, tìm được trong lòng hộp có khả năng là dấu vết liên quan đến táng tục – tục hỏa táng?
2.2.3 Di vật
Các hiện vật liên quan như kendi, hệ thống máng dẫn nước, gạch, đầu ngói ống, ngói âm dương, đinh gốm, các họa tiết trang trí mặt sư tử, mặt hề, hoa sen…có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ
Gạch: là loại vật liệu xây dựng khác phổ biến, do thời gian cùng với những
biến động khác, ngoài những viên gạch còn nguyên tại kiến trúc, cuộc khai quật này còn thu được trên một ngàn viên gạch các loại Gạch có màu vàng nhạt, xương lẫn nhiều hạt sạn sỏi, nhỏ trắng thường có kích thước lớn, độ nung già, độ cứng cao Gạch được xây với kỹ thuật câu móc vào nhau, theo kỹ thuật đan cài gối nhau tạo nên sự vững chắc Để đảm bảo tính ổn định, gạch được xây sử dụng đất sét mịn màu vàng nhạt làm chất kết dính (xem bảng 2.1)
Ngói âm dương: tổng số mảnh ngói thu được tại cuộc khai quật lần này là
5022 mảnh, gồm nhiều kích thước màu sắc khác nhau Ngói ở đây là ngói âm dương, đa phần là ngói bản âm Chất liệu ngói màu đỏ hoặc vàng nhạt, xương khá cứng mịn và chắc, dày từ 0.7cm-2.5cm Ngói có xương dày đều được pha cát hoặc
bã thực vật Lòng ngói có dấu hiệu miết tay, mặt ngói có hoa văn trang trí gồm 5 loại: hoa văn in ô vuông, hoa văn nan đập chéo, hoa văn vạch thẳng song song chạy dọc toàn thân, hoa văn vạch song song cách quãng, hoa văn in ô vuông lồng nhau
Kỹ thuật tạo hoa văn chủ yếu là khắc vạch chìm vào xương ngói Hoa văn ngoài chức năng trang trí còn có chức năng làm xương ngói cứng hơn Ngói được chia ra làm hai nhóm: ngói bản âm và ngói bản dương Sự phân biệt này là do độ uốn cong lòng mo của các viên ngói Ngói âm độ uốn cong lòng mo ít, độ cong nhẹ đặt trên
bộ mái Ngói dương có độ uốn lòng mo cao một nửa vòng tròn, thường chia làm hai