1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học ở tỉnh vĩnh long hiện nay

131 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế thị trường đã đem lại những điều "kỳ diệu" trong sự phát triển kinh tế-xã hội, tuy nhiên nó cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, n

Trang 1

HUỲNH THỊ NHIỀU

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở

TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyên Văn Dựa Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong các công trình nào khác Các số liệu, tài liệu được trích dẫn, sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan

và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Huỳnh Thị Nhiều

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 01

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM 10

1.1 QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 10

1.1.1 Quan niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức 10

1.1.2 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản cần được giáo dục cho sinh viên hiện nay 35

1.2 TÍNH TẤT YẾU, SỰ CẦN THIẾT PHẢI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 49

1.2.1 Khái quát về đặc điểm tầng lớp sinh viên Việt Nam 49

1.2.2 Vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay 53

Kết luận chương 1 59

Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY 62

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH LONG VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY 62

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội tỉnh Vĩnh Long hiện nay 62

2.1.2 Khái quát về đặc điểm đạo đức của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long 65

2.2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY 72

2.2.1 Những thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay 72

Trang 5

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở TỈNH VĨNH

LONG HIỆN NAY 94

2.3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay 94

2.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay 101

Kết luận chương 2 115

KẾT LUẬN CHUNG 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, dân tộc ta đã tạo ra nhiều giá trị đạo đức truyền thống mà mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải tự hào, trân trọng, giữ gìn và làm phong phú thêm Những giá trị đạo đức truyền thống là kết quả của quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ của dân tộc Việt Nam Đồng thời cũng là kết quả của sự tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm cho những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống [16, tr.56] Về thực chất, đây chính là những chuẩn mực đạo

lí tốt đẹp của người Việt Nam từ ngàn xưa đến nay, có vai trò định hướng, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của mỗi người Việt Nam Cùng với thời gian, những giá trị này đã trở thành dòng tư tưởng chủ đạo xuyên suốt và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành sức mạnh và bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [51, tr.310] Tổ quốc và nhân dân ta mong muốn xây dựng đó là con người phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, có lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội Do vậy, nhiệm vụ giáo dục hiện nay của nước ta là làm sao để đào tạo ra được những con người có đầy đủ cả hai mặt: đức và tài Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành hữu quan cần phải quan tâm chăm lo giáo dục về mọi mặt, trong

Trang 7

đó giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay là công việc vô cùng quan trọng

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu đáng tự hào Về cơ bản, chúng ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội

và đã có sự tăng trưởng về kinh tế, phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại, tình hình kinh tế chính trị cơ bản là ổn định, quốc phòng

an ninh được tăng cường, thế và lực ngày càng được củng cố và phát triển

Nền kinh tế thị trường đã đem lại những điều "kỳ diệu" trong sự phát triển kinh tế-xã hội, tuy nhiên nó cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày, từng giờ làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống, nhiều giá trị đạo đức ngày càng bị mai một đi Quá trình đô thị hoá đạt được những kết quả to lớn, bên cạnh một số sinh viên sống có hoài bão, có ý thức trách nhiệm công dân, có trí tuệ, tài năng, dám nghĩ dám làm Còn một bộ phận không nhỏ sinh viên suy thoái về đạo đức, sống buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội Với lối sống vụ lợi, thực dụng, cá nhân, vị kỷ, thiếu văn hóa làm xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, chẳng hạn như tình trạng sống thử trong sinh viên hiện nay diễn ra phổ biến ở các trường Cao đẳng, Đại học đã làm mất đi giá trị truyền thống, nét thuần phong mỹ tục của con người Việt Nam Như văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã viết: “Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan

hệ thầy trò, bạn bè, môi trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ăn chơi, nghiện ma túy ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc

Trang 8

coi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và các bộ môn chính trị, khoa học xã hội

và nhân văn” [16, tr.47] Trong bối cảnh đó vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên ở các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết

Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng giữa sông Tiền-sông Hậu, nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng

là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế-khoa học kỹ thuật-văn hóa-quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời

kỳ mở cửa hội nhập Mặt khác Vĩnh Long là vùng có truyền thống đất học với nhiều danh nhân trí thức cùng với sự hình thành đô thị sớm nhất trong vùng và ngày nay là nơi tập trung các viện trường của Trung ương và của tỉnh như Trường Đại học Cửu Long, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, Trường Cao đẳng Cộng đồng, Trường Cao

đẳng Sư phạm Vĩnh Long, Trường Cao đẳng Kinh tế-tài chính Vĩnh Long

Tổng số sinh viên đang theo học ở các trường hơn 10.000, với số lượng sinh viên đông như thế, Vĩnh Long là một trong những tỉnh đào tạo đội ngũ trí thức rất lớn, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Vĩnh Long nói riêng và cả nước nói chung Đây là lực lượng thích ứng nhanh với những biến đổi của thời đại Chính vì thế mà đôi khi sinh viên ở các trường chưa ý thức hết được giá trị của việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống trong bản sắc văn hóa của dân tộc Một số sinh viên chạy theo lối sống thực dụng, chưa có ý thức trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống mới, nhiều giá trị đạo đức xã hội bị đảo lộn và xuống cấp Không ít sinh viên thiếu tích cực trong học tập và rèn luyện, không chịu phấn đấu, thiếu niềm tin, lý tưởng sống Đã xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong sinh viên như mê tín dị đoan, uống rượu say, tiêu cực trong thi cử, cờ bạc, nghiện hút, ham mê văn hóa phẩm đồi

Trang 9

trụy, quan hệ tình dục trước hôn nhân Những thực trạng trên đang đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức sinh viên cần phải nghiên cứu, giải quyết

Trong những năm qua, công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên cả nước nói chung và sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực với nhiều hình thức đa dạng và phong phú phù hợp với sinh viên Tuy nhiên, những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Vĩnh Long trong những năm qua, nhất là quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế, đã tạo nên những biến động mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ Những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có ảnh hưởng tiêu cực và làm thay đổi các quan điểm về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng không tốt đến lối sống của một bộ phận sinh viên Nâng cao chất lượng và góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay là việc làm

cấp bách và cần thiết Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức cho sinh

viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay” làm đề tài

luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên là một trong những vấn đề quan trọng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Đi sâu tìm hiểu các công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về đạo đức và giáo dục đạo đức, có thể theo 3 hướng chính sau:

Hướng thứ nhất, đó là các công trình, sách báo nghiên cứu những vấn

đề lý luận về đạo đức và vai trò của đạo đức Về hướng nghiên cứu này có

các công trình sau:

Công trình nghiên cứu do Giáo sư Phạm Minh Hạc chủ biên: “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc

Trang 10

gia, Hà Nội, 1996 Công trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về truyền thống; cơ sở hình thành cùng những nội dung cốt lõi của truyền thống Việt Nam, về phát huy vai trò của giá trị truyền thống trong nhân tố con người Việt Nam để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công trình “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” do GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc đồng

chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 đã nói về những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức của con người Việt Nam hiện nay Đồng thời, tác giả đã đề cập đến vai trò của đạo đức trong mối quan hệ với tài năng, của đạo đức kinh doanh và của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong kinh tế thị trường

Công trình “Toàn cầu hóa và tác động của nó đối với các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Trần

Hoàng Phong, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2012 đã nêu lên quan niệm về đạo đức và đạo đức truyền thống Việt Nam, đồng thời đã phân tích các hệ giá trị cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam Bên cạnh đó, công trình đã đưa ra những giải pháp kế thừa

và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong giai đoạn hiện nay trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục

Hướng thứ hai, đó là những bài viết, những tác phẩm của các nhà nghiên cứu về vấn đề đạo đức cho thanh niên Việt Nam Về hướng nghiên

cứu này có các công trình sau:

Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Giáo sư Trần

văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Công trình này được ông trình bày và phân tích khá cụ thể các giá trị truyền thống một cách có hệ thống, theo các chương tiết Nội dung chủ yếu của tác phẩm tập trung phân tích những cơ

sở, quá trình phát triển và biểu hiện những giá trị tinh thần truyền thống của dân

Trang 11

tộc Việt Nam Đồng thời, khẳng định giá trị to lớn của những giá trị truyền thống đó đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta, kể cả trong quá khứ đến hiện tại và tương lai

Công trình “Giáo dục đạo đức cho thanh niên trong quá trình toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Hồ Thể Giao,

2014, bước đầu đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về thế hệ trẻ Việt Nam,

về vai trò và đặc điểm phát triển đạo đức và những thay đổi trong sự phát triển đạo đức, lối sống của họ trong điều kiện mới Đồng thời công trình này còn nêu lên những giải pháp giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học của Trần

Sỹ Phán, Học viện chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tác giả giải quyết vấn đề khái niệm giáo dục và giáo dục đạo đức Qua đó khẳng định vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức đối với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam nói chung, đồng thời tác giả đưa ra một

số giải pháp nhằm đẩy mạnh giáo dục đạo đức sinh viên

Hướng thứ ba, đó là những tài liệu, sách báo và công trình đánh giá, tổng kết về công tác giáo dục đạo đức của sinh viên ở tỉnh Vĩnh Long Về

hướng nghiên cứu này có các công trình sau:

Công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường Cao đẳng, Đại học tỉnh Vĩnh Long hiện nay, Luận văn Thạc sĩ của Trần Minh Hoàn,

Học viện chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2015 đã khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở tỉnh Vĩnh Long, về công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các trường Cao đẳng, Đại học trong tỉnh

Trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Vĩnh Long lần thứ IX, nhiệm kỳ 2012-2017 và Văn kiện Đại

Trang 12

hội đại biểu Hội Sinh viên tỉnh Vĩnh Long lần thứ II, nhiệm kỳ 2013-2018 đã

báo cáo tổng kết về công tác giáo dục truyền thống sinh hoạt chính trị và giáo dục đạo đức, lối sống của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học tỉnh Vĩnh Long Từ đó vạch ra phương hướng và các giải pháp nhằm bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, lý tưởng, lòng yêu nước và đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh cho sinh viên hiện nay

Bên cạnh các cuốn sách, những công trình nêu trên, còn có nhiều bài báo, tạp chí tập trung vào việc tìm hiểu vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống

cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay như: Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội, Tạp chí Triết học của Mai Xuân Lợi, 2001; Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện hiện nay, Tạp chí Triết học của Cao Thu Hằng, 2003; Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dạy và Học ngày nay của Phan

Thị Hà, 2012 Các bài viết này tập trung vào việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên khi đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng giao lưu quốc tế

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở nước ta Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay Do đó, việc thực hiện đề tài này là sự kế thừa và phát triển trong nghiên cứu những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích:

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo

dục đạo đức cho sinh viên; luận văn tập trung phân tích thực trạng và đưa ra

Trang 13

những phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn đi sâu nghiên cứu tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long, từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Ngoài ra, tác giả luận văn còn tham khảo, kế thừa thành tựu của các công trình nghiên cứu đã

được công bố có liên quan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp diễn dịch-quy nạp, phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê xã hội học…

Trang 14

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay, đặc biệt làm rõ thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long

Ý nghĩa thực tiễn:

- Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và nguyên nhân đạt được cũng như các phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long mà luận văn rút ra sẽ góp phần làm tư liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, các ban ngành, lãnh đạo các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Vĩnh Long đưa ra những hoạch định, biện pháp nhằm giáo dục tốt đối với đạo đức sinh viên hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Cao đẳng, Đại học trong tỉnh Vĩnh Long hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC

ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM

1.1 QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 1.1.1 Quan niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Đạo đức là một hiện tượng lịch sử Xuất hiện vào những trình độ hình thành ban đầu của xã hội loài người, đạo đức được phát triển trong tiến trình biến đổi các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội khác, trong tiến trình tiến bộ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của loài người Bên cạnh những yếu tố chung cho loài người, đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, những lý tưởng có tính chất nhất thời về lịch sử

và có tính chất giai cấp

Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hội hoặc của các giai cấp biểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh giá đã được mọi người thừa nhận và đã hình thành một cách tự phát, được củng cố bằng sức mạnh của tấm gương quần chúng, của thói quen, phong tục, dư luận xã hội Cho nên, những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn phận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả, nhưng không chịu sự ra lệnh của ai cả Những yêu cầu này là có tính chất tương đối bền vững Chúng khác phong tục đơn giản hoặc truyền thống đã được duy trì bởi sức mạnh của một trật tự đã ổn định, ở chỗ chúng có cơ sở tư tưởng dưới hình thức những quan niệm về việc con người phải sống và phải cư xử như thế nào [66, tr.156-158]

Trang 16

Trong lịch sử phát triển tư tưởng của nhân loại cùng với sự biến đổi về điều kiện tự nhiên, lịch sử xã hội, trải qua những giai đoạn khác nhau, đã hình thành nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức ở cả Phương Đông và Phương Tây

Quan điểm về đạo đức ở phương Đông: Theo quan điểm của các nhà

triết học phương Đông, đạo là con đường, đường đi, đường sống của con người trong xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, đạo nghĩa Và đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà

con người phải tuân theo

Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xưa, rực

rỡ, phong phú nhất của nền văn minh nhân loại Cùng với triết lý nhân sinh đặc sắc, các trường phái triết học rất quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức của con người

Tiêu biểu cho những trường phái này là Phật giáo Ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, trong làn sóng đòi tự do

tư tưởng và bình đẳng xã hội, Phật giáo một mặt phủ nhận những giáo lý, lễ nghi khắt khe của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắt nghiệt; mặt khác kế thừa những tư tưởng, những yếu tố của nó, đề cao lòng nhân ái, từ bi rộng mở, với mục đích tối cao là “giải thoát” con người khỏi bể khổ của cuộc đời bằng sự tu luyện đạo đức, tu luyện trí tuệ, thiền định Vì thế, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn

cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại [8, tr.197]

Cũng như các môn phái triết học tôn giáo tiến bộ khác của Ấn Độ, Phật giáo cố gắng tìm cách góp phần cải biến xã hội, xóa bỏ áp bức, bất công đè nặng lên đời sống của nhân dân Ấn Độ cổ, đưa ra những tư tưởng và phương pháp cải cách xã hội, giáo hóa đạo đức tinh thần con người, khuyên con người

ta sống từ, bi, hỉ, xả, bác ái Đó là sự thể hiện ý chí phản kháng của nhân dân lao động chống lại những bất công trong xã hội Ấn Độ đương thời [8, tr.177]

Trang 17

Phật giáo quan tâm đến đời sống con người, đặc biệt là giá trị tinh thần đạo đức con người, sáng tạo và xây dựng những chuẩn mực đạo đức, những

ý tưởng sống tốt đẹp cả trong quan niệm lẫn trong hành vi đạo đức của con người Phật giáo còn đề xuất các phương pháp để rèn luyện đạo đức và giáo dục con người hướng đến chân, thiện, mỹ Do đó, triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo mang một tinh thần nhân văn sâu sắc

Nói đến Phương Đông thì không thể không nói đến Trung Quốc, là một trong hai nền tư tưởng lớn của phương Đông, Trung Quốc có một vai trò rất lớn trong quá trình phát triển tư tưởng văn hoá vùng châu Á

Tiêu biểu về quan điểm đạo đức ở Trung Quốc là Nho giáo mà người đại diện là Khổng Tử Dưới thời Khổng Tử, chiến tranh liên miên, trật tự xã hội và lễ nghĩa bị đảo lộn, đạo đức bị băng hoại, yêu cầu đặt ra là phải giáo hóa con người, phải ổn định trật tự xã hội, phải biến con người thành đức nhân để xã hội có trật tự có đạo

Khổng Tử đã khái quát toàn bộ xã hội thành các quan hệ xã hội cơ bản nhất, một quan hệ xã hội gọi là một luân, khái quát thành ngũ luân: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, huynh-đệ, bằng hữu Trong đó mỗi quan hệ đều có một chuẩn mực đạo đức theo chính danh: vua huệ-tôi trung, cha từ-con hiếu, chồng tình nghĩa-vợ thuận tòng, anh lương-em kính; bằng hữu giữ chữ tín Những nguyên lý đạo đức căn bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là: nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng Trong những phạm trù đạo đức ấy, Khổng Tử lấy chữ “nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình, có thể lý giải bằng hai căn nguyên: thứ nhất, về mặt lý luận, theo Khổng Tử, do sự chi phối của “thiên lý”, của “đạo” các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ luôn biến hóa không ngừng Sự sinh thành, biến hóa ấy của vạn vật bao giờ cũng nhờ sự “trung hòa” giữa âm-dương, trời-đất “Trung” là cái gốc lớn của thiên hạ, mọi vật đều do nơi đó mà nảy sinh, tiến hóa “Hòa”

Trang 18

là đạo thông đạt của thiên hạ, mọi vật đều nhờ đó mà thông hành Con người

là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm-dương, trời-đất mà sinh thành, tuân theo

“thiên lý”, hợp với đạo “trung hòa”, đạo sống của con người là phải “trung dung”, “trung thứ”, nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với người-đó chính là chữ “nhân” Khổng Tử chọn chữ “nhân” là nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của ông còn do nguyên nhân thứ hai, đó là do yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội Xã hội thời Xuân thu là thời kỳ đang trải qua những biến động lịch sử sâu sắc nên yêu cầu lịch sử đặt ra là phải ổn định và cải biến xã hội đó Khổng Tử đã chủ trương dùng nhân đức để giáo hóa con người, cải tạo xã hội, biến xã hội từ “vô đạo” thành “hữu đạo”

Người muốn đạt đức “nhân”, theo Khổng Tử phải là người có “trí” và

“dũng” Có thể có người “trí” mà không có “nhân”, nhưng không thể là người “nhân” mà thiếu “trí” Với Khổng Tử, người muốn đạt “nhân” chỉ có

“trí” thôi chưa đủ, mà cần phải có “dũng” nữa Ông nói: “kẻ nhân tất hữu dũng, nhưng người dũng chưa chắc có nhân-Nhân giả tất hữu dũng, dũng giả bất tất hữu nhân" Người có dũng ở đây theo Khổng Tử không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người nhân

có dũng phải là người “có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao” khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn Người nhân có dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa, “lập nhân” và “đạt nhân” [8, tr.270]

Trên cơ sở đó, Khổng Tử đã đề xuất đường lối “đức trị”- đường lối trị nước bằng đạo đức mang đậm dấu ấn độc đáo của ông Ông không tách rời đạo đức và chính trị, ông đã đạo đức hóa chính trị Và tất cả triết lý chính trị của ông gồm trong danh từ đức trị, mà danh từ này có nghĩa là người trị dân, phải trị dân bằng đức chứ không bằng bạo lực Như vậy, đối với Khổng Tử, “đức trị” là đường lối “dù không ra lệnh dân cũng theo”, là

Trang 19

đường lối có sức mạnh vạn năng Đó là cách trị quốc bình thiên hạ mà các bậc trị nước phải nên làm

Là một người theo trường phái triết học của Khổng Tử, Mạnh Tử-nhà chính luận đã kế thừa phát huy quan điểm duy tâm chủ nghĩa trong triết học của ông, xây dựng hệ thống triết học của Nho gia nổi tiếng thời Chiến quốc

Tư tưởng chủ yếu nhất trong học thuyết của Mạnh Tử là vấn đề triết lý nhân sinh, mà trọng tâm của nó là học thuyết về “tính thiện” Mạnh Tử cho rằng: “Bản tính con người ta là thiện Còn như người ta có làm những điều bất thiện, chẳng qua là họ theo tự dục của mình, chứ không phải bản tính con người ta là vậy” [8, tr.326] Tính thiện của con người được biểu hiện ở bốn đức lớn: nhân, nghĩa, lễ, trí Bốn đức lớn đó bắt nguồn ở “tứ đoan”, bốn đầu mối của thiện: Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng u tố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi (biết phải trái) Lòng thương xót là đầu mối của nhân, lòng thẹn, ghét là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí

Hơn nữa, theo Mạnh Tử, tính thiện của con người ta đều bắt nguồn từ

“tâm” của mỗi con người “Tâm” là cái chủ tể trong tinh thần, là cái thần minh trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, nhờ tâm mà ta phân biệt mọi điều phải trái, thiện ác đủ để ứng phó với vạn vật, vạn sự, cho nên còn gọi

là “lương tâm” Vì tâm là cơ quan chủ tể trong tinh thần của con người, nên Mạnh Tử chủ trương phải “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính” “Tồn tâm dưỡng tính” đó là sự giữ gìn, bồi dưỡng, không làm tổn hại hay làm mất thiên tâm, thiên tính trời phú cho ta Mạnh Tử cho rằng, những người không tồn tâm dưỡng tính là những người “nói không phải lễ nghĩa, gọi là tự hại mình Thân không ở nhân, không theo điều nghĩa gọi là tự bỏ mình” Trong con người, cùng với “tâm”, “tính” hay tinh thần còn có phần “khí” “Khí” lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại thành hình nên mới có vạn vật và con người

Trang 20

Nhờ có khí lưu hành trong cơ thể, mà con người mới có sự sinh trưởng Nhưng “khí” tồn tại không tách rời “tâm” Khí và chí, vật chất và tinh thần tồn tại liên hệ với nhau làm thành một cơ thể sống [9, tr.390]

Để bảo tồn và phát triển tâm tính của con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người Trong giáo dục đạo

lý, nhân nghĩa, theo ông, cần phải có chuẩn mực Chuẩn mực ấy không có gì khác hơn là đức độ, đạo lý của thánh hiền gọi là “pháp tiên vương”

Như vậy, trong học thuyết về luân lý đạo đức, Mạnh Tử đã lý giải, khẳng định bản tính thiện của con người; từ đó đưa ra các phương pháp để giáo hóa con người và cải biến xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Đó chính là tính nhân bản trong tư tưởng của Mạnh Tử [8, tr.331]

Đó là những quan điểm về đạo đức ở giai đoạn đầu thời Nho Mạnh Giai đoạn thứ 2 là thời Hán Nho, người đại diện tiêu biểu là Đổng Trọng Thư, là nhà Nho lớn thời Tây Hán

Khổng-Trên cơ sở những quan điểm triết lý đạo đức do Khổng Tử và Mạnh Tử

đề xướng, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hóa thành hệ thống các phạm trù đạo đức thể hiện những mối quan hệ cơ bản giữa người với người trong xã hội, trở thành nội dung, tiêu chuẩn cho sự giáo hóa đạo đức phong kiến Đó là các phạm trù “tam cương”, “ngũ thường” Theo Đổng Trọng Thư, đây là những tri thức có tính “tiên thiên” hay “thiên lý”, trời sinh ra đã có ở con người

Nghĩa đen của chữ “cương” là dây, dây chính của lưới, từ đó mọi sợi dây kết dính vào Từ thời Tiên Tần, các Nho gia đã vạch ra năm mối quan hệ

cơ bản trong xã hội, đó là mối tương quan giữa vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè Đổng Trọng Thư đặc biệt chú ý đến ba mối quan hệ cơ bản nhất giữa người với người: “quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương”, gọi là “tam cương” Tất cả những mối quan hệ trên, theo Đổng Trọng Thư, đều do ý chí của trời quy định, là đạo trời hay “lý trời” Cùng với

Trang 21

quan điểm “tam cương” là học thuyết “ngũ thường” mà Nho gia luôn đề cao

“Thường” có nghĩa chỉ tất cả những gì bất biến, thường hằng “Ngũ thường”

là năm đức tính căn bản luôn luôn cần phải có của con người, là nhân, nghĩa,

lễ, trí, tín

Với học thuyết “tam cương”, “ngũ thường” ông đã thần bí hóa trật tự

lễ nghĩa của xã hội phong kiến và quan điểm đạo đức luân lý của Nho gia

Nó đã trở thành nguyên tắc đạo đức khắt khe chi phối đời sống xã hội Trung Quốc suốt thời kỳ phong kiến [9, tr.187-189]

Bước sang giai đoạn thứ 3, thời kỳ Nho Tống Minh mà người đại diện

là Chu Hy Ông là nhà tư tưởng, nhà giáo dục, nhà bác học uyên thâm có nhiều ảnh hưởng ở xã hội phong kiến hậu kỳ Chu Hy đã kế thừa và phát huy quan điểm của các nhà triết học trước đó, đưa hệ thống triết học của Nho giáo đạt tới sự phát triển khá hoàn hảo

Trong quan điểm về luân lý đạo đức, khi luận về tính của con người, Chu Hy cho rằng: “tính là lý”, người ta sinh ra đã có sẵn “thiên lý”, như có sẵn cái lý “tam cương, ngũ thường” trong tâm chẳng hạn Theo Chu Hy, cũng như mọi sự vật, cá biệt khác xuất hiện và tồn tại, tâm của con người là

sự nhập thế của “lý” trong “khí” Sự phân biệt giữa “tâm” và “tính” là ở chỗ

“tâm” là cụ thể, mà “tính” thì có tính chất trừu tượng “Tâm” có thể có những hoạt động như suy nghĩ, cảm giác còn “tính” thì vô hình, “không có tình ý tạo tác” “Tính” người là nhân, nghĩa, lễ, trí nhưng ta không thể sờ thấy, nhìn thấy Những đạo lý đó trong tâm của ta qua thái độ, tình cảm như thương xót, xấu hổ, khiêm nhường, phải trái

Theo Chu Hy “tam cương, ngũ thường” của Nho giáo và thể chế xã hội phong kiến chính là sự thể hiện của “lý” hay thiên lý lưu hành, “không chỗ nào thích đáng mà không có” “Lý” trị nước ấy, theo Chu Hy “nó chỉ là vậy, tự là vật hằng cổ hằng kim, thường tại bất diệt Tuy một ngàn năm trăm

Trang 22

năm nay bị người phá hoại, mà vẫn không diệt nó” “Đạo vốn không nghỉ, chỉ có người tự nghỉ mà thôi”

Theo quan điểm mỗi vật đều có thái cực, mỗi người đều có thái cực, thái cực là căn bản của toàn thể vũ trụ, thái cực bản thân nó bao hàm “lý” và

“khí” Trong đó: “Lý là hình nhi thượng, là gốc của vạn vật, khí là vật hình nhi hạ, cái cụ thể của vạn vật”, lý ở ngoài không gian và thời gian, bất sinh

và bất diệt, hoàn mỹ chí thiện, Chu Hy đã quả quyết rằng: “Lý là bản nguyên tạo nên phẩm chất khẳng định, tức đạo đức thiên lý chí thiện của những dục vọng xấu xa, cái ác của con người, điều đó có nghĩa là “thiên mệnh chi tính”

và cái trực tiếp bắt nguồn từ “lý” của thái cực, là đạo đức thiên lý, chí thiện hoàn mỹ Về sau trong hiện thực, con người tiếp nhận cái “khí” có thanh, trọc, chính, tà nên có thiện và ác Đó là khí âm dương giao cảm mà ra, tức là

“khí bẩm chi tính” Con người tùy theo sự bẩm thụ “khí” thanh, trọc khác nhau mà phần thiện, ác khác nhau giống như nước vốn trong sạch đổ vào hai chậu, một chậu sạch, một chậu bẩn, sẽ có bên đục bên trong Chu Hy viết:

“Có lý ấy thì sau có khí ấy, có khí ấy tức có lý ấy Kẻ bẩm thụ khí trong là thánh nhân, tính họ như hạt châu báu trong nước mát, kẻ bẩm thụ khí độc là ngu, là bất hiếu, tính họ như hạt châu ở trong nước đục”

Như vậy, nếu như Mạnh Tử trong học thuyết về tính thiện đã nhấn mạnh “thiên mệnh chi tính” và Hàn Dũ trong thuyết “tính tam phẩm”, nhấn mạnh tính khí chất thì Chu Hy đã tổng hợp hai mặt mâu thuẫn đó, thống nhất làm một trong học thuyết về nhân tính của mình [9, tr.70-71]

Về giáo dục đạo đức thì Nho gia lấy giáo dục làm phương tiện chủ yếu

để đạt tới xã hội lý tưởng “đại đồng”, mà Khổng Tử là người có ảnh hưởng rất lớn Nền giáo dục của ông chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người, mà chuẩn mực gốc là “nhân” Những chuẩn mực khác như: lễ, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu, đều là những biểu hiện của nhân Theo Khổng Tử,

Trang 23

“nhân” là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người, nên “nhân” chính là đạo làm người Đạo làm người hết sức phức tạp, phong phú, nhưng theo ông, chung quy lại chỉ là những điều sống đối với mình và đối với người Khổng Tử coi “tu thân” là một nguyên tắc trong phương pháp giáo dục của mình Giáo dục con người theo Khổng Tử là dạy học “đạo lý”, để tạo ra con người có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, hiếu bằng văn chương và lục nghệ Ông không dạy mọi người về những vấn đề như quái dị, bạo lực, phản loạn và

mê tín quỷ thần Trong việc giáo dục đạo đức, nhân nghĩa cho con người, Khổng Tử chủ trương “hữu giáo vô loại” Đây chính là quan điểm, là ý hướng tiến bộ, là đóng góp hữu ích của ông vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo đức cho nhân loại [9, tr.295-297]

Với những quan điểm tiến bộ như thế, các nhà triết học trên xứng đáng là những nhà tư tưởng đại diện cho phương Đông Còn những nhà tư tưởng phương Tây thì sao? Họ quan niệm như thế nào về đạo đức và giáo dục đạo đức?

Quan điểm của các nhà tư tưởng phương Tây trước Mác về đạo đức

và giáo dục đạo đức

Khác với phương Đông, theo quan điểm của các nhà triết học ở phương Tây thời kỳ cổ đại, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris có nghĩa là phong tục, tập quán Đạo đức còn có gốc tiếng của

Hy Lạp cổ là ethicos, cũng có nghĩa là thói quen, tập quán Và khi nói đến đạo đức là nói đến những thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng xử của con người trong cộng đồng, trong xã hội Mục đích của những cách ứng xử này

là làm cho con người cảm thấy hạnh phúc hơn Một trong những quan điểm

đó là của Aristote, ông cho rằng đạo đức là làm cho con người ta hạnh phúc

Hạnh phúc là lợi ích cao nhất đối với con người Điều kiện của hạnh phúc,

do đó là sự phát triển của khả năng suy luận Đạo đức tùy thuộc vào sự suy

Trang 24

luận chính xác, sự kiểm soát tinh thần, sự quân bình của lòng ham muốn Đó không phải là những đức tính của những người thường mà là kết quả của sự tập luyện và kinh nghiệm trong những người hoàn toàn trưởng thành Con đường đi đến mục đích đó là ý niệm trung dung Con người là sinh vật xã hội luôn hướng tới sự hoàn thiện lý tưởng Đức hạnh-khái niệm cơ bản trong đạo đức, theo Aristote là sự trung dung giữa hai thái cực Chính sự trung dung thể hiện năng lực lựa chọn và nghệ thuật xử thế của con người Chẳng hạn hào phóng là sự trung dung giữa keo kiệt và sự hoang phí, can đảm là sự trung dung giữa hèn nhát và liều lĩnh Sự sáng suốt và tính thực tế là hai tiêu chuẩn của hoạt động con người Con người khác với con vật là ở chỗ ý thức được cái thiện và cái ác, công bằng và bất bằng [63, tr.35]

Thời kỳ trung cổ, nét nổi bật nhất trong đạo đức là xã hội và con người được xem xét không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để thực hiện những mệnh lệnh của tôn giáo Đạo đức gắn liền với thần học, nó thâm nhập vào học thuyết của tôn giáo Đạo đức Thiên chúa giáo có nhiệm vụ là dạy cho con người biết coi khinh cuộc sống trần thế để chuẩn bị cho cuộc sống ở thiên đường, bằng cách quy phục mệnh lệnh của thượng đế tiêu biểu là quan điểm về đạo đức của Tômát Đacanh

Đối với những nhà khai sáng, đặc biệt là C.Henvetiuyt thì kết nối đạo đức với lợi ích và cho rằng lợi ích cá nhân được hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức Cố nhiên, đó là lợi ích được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật và công lý của xã hội tư bản Lợi ích ấy, trong nhiều trường hợp, đối lập với lợi ích của nhân dân lao động Đạo đức được rút ra từ nguyên tắc lợi ích đó là thứ đạo đức bị giới hạn bởi lợi ích giai cấp Mặc dù vậy, việc thừa nhận mối liên hệ giữa lợi ích và đạo đức được xem là một bước tiến trong nhận thức về đạo đức

Trang 25

Xét đạo đức từ quan điểm lợi ích và hệ thống quy tắc chuẩn mực, G.Bandzeladze-nhà nghiên cứu đạo đức học nổi tiếng người Nga đã viết: “đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội Nơi nào không có những hành động tự nguyện, tự giác của con người thì nơi ấy không có nhân phẩm, không thể thực sự có đời sống xã hội Đặc trưng của đời sống con người, và của bản thân tính người là ở đạo đức và nội dung của đạo đức chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và của toàn thể xã hội” [1, tr.48-49] Suy cho cùng, hành

vi có đạo đức là hành vi mang tính tự nguyện, tự giác, là hành động vì lợi ích của người khác, của xã hội chứ không phải vì mình và cho mình

Đối với Hêghen-nhà triết học nổi tiếng thời kỳ Cổ điển Đức, cho rằng cội nguồn và cơ sở của tất cả những hiện tượng tự nhiên và xã hội là một bản nguyên tinh thần, lý tính được ông gọi là ý niệm tuyệt đối Ý niệm này tự vận động, phát triển và thể hiện ra thành toàn bộ những hiện tượng tự nhiên

và xã hội Tuân thủ lôgic đó, Hêghen cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Cũng như ý niệm tuyệt đối, ý niệm pháp lý vận động, phát triển, hay là tự nhận thức bản thân mình theo xu hướng đi từ trừu tượng đến cụ thể Bởi thế, điểm xuất phát hay là bậc thứ nhất của ý niệm pháp lý chính là pháp luật trừu tượng Đây là cơ sở khách quan của quan hệ giữa con người với con người Bậc tiếp theo trong sự phát triển của ý niệm pháp lý là pháp luật chủ quan, được Hêghen gọi là luân lý Sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan, sự thể hiện cụ thể của sự thống nhất này trong gia đình,

xã hội và quốc gia chính là bậc phát triển thứ ba của ý niệm pháp lý, được Hêghen gọi là đạo đức

Như vậy, ở Hêghen, luân lý với tư cách là phương diện chủ quan của hành vi và đạo đức với tư cách là phương diện khách quan của hành vi đều

Trang 26

là biểu hiện của ý niệm pháp lý và ý niệm pháp lý lại là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Đạo đức tuy là một hiện tượng xã hội, biểu hiện trong các quan hệ gia đình, xã hội, quốc gia, nhưng về bản chất lại là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, có nguồn gốc từ ý niệm tuyệt đối [14, tr.64-65]

Khác với quan điểm trên, Phoiơbắc không đi tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức ở những sức mạnh siêu nhân nào đó bên ngoài con người và xã hội Ông cho rằng, đạo đức chỉ tồn tại ở đâu có mối quan hệ giữa người với người Nhưng Phoiơbắc quy mọi quan hệ người vào quan hệ đạo đức và cho rằng, nguyên tắc cơ bản của đạo đức là sự thương yêu lẫn nhau giữa mọi người Từ đó, ông tuyên truyền cho một tình yêu phổ biến và kêu gọi mọi người phải biết “hạn chế mình một cách phổ biến” Đối với ông, vươn tới một thứ “đạo đức tình yêu như vậy”, con người có thể khắc phục được mọi bất công, mọi đau khổ với tính cách là những ngẫu nhiên đi chệch khỏi bản chất đích thực của con người

Mặc dù thấy được đạo đức trong quan hệ người, nhưng Phoiơbắc không thấy được tính quy định của các quan hệ kinh tế-xã hội đối với đạo đức Vì thế, rốt cuộc, đạo đức đối với Phoiơbắc cũng chỉ là một năng lực bẩm sinh, trừu tượng, bất biến và xét tới cùng cũng chỉ là một sức mạnh từ bên ngoài gán vào cho xã hội và con người [14, tr.66-67]

Như vậy, trước Mác, tất cả các nhà triết học dù có những tư tưởng hợp lý nhất định về đạo đức nhưng nhìn chung họ không giải quyết được một cách khoa học Cho đến khi chủ nghĩa Mác đưa ra quan điểm về đạo đức, khắc phục được những hạn chế đó

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về đạo đức và giáo dục đạo đức

Phạm trù đạo đức dưới quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là một bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển của xã hội nói chung và đạo đức học nói riêng

Trang 27

Với sự phân tích khoa học có chọn lọc, chủ nghĩa Mác-Lênin đã rút ra được rằng đạo đức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là một trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử phát triển của

xã hội loài người Sự xuất hiện của ý thức đạo đức do nhu cầu khách quan của sự phát triển nhận thức, đời sống con người, trước hết là do nhu cầu phối hợp hành động trong sản xuất, trong phân phối sản phẩm, trong đấu tranh xã hội Trong Lời tựa “Góp phần phê phán khoa kinh tế-chính trị”, C.Mác đã viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt

xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [44, tr.15]

Ngay từ thuở hoang sơ nhất của mình, con người đã biết thiết lập các mối quan hệ với nhau, biết kết hợp, tương trợ, giúp đỡ nhau trong việc săn bắt, hái lượm Điều này làm nảy sinh nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng Đây chính là những biểu hiện đầu tiên của chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức Sự xuất hiện của ý thức đạo đức trong xã hội nguyên thủy còn hết sức thô sơ, “mờ nhạt”, chưa được phân xuất thành một hình thái

ý thức xã hội riêng biệt Với tính cách là một hình thái riêng biệt của ý thức

xã hội, ý thức đạo đức xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp Đồng thời, cùng với sự phát triển của sản xuất, của xã hội, điều chỉnh hành vi con người sao cho phù hợp với những yêu cầu, chuẩn mực xã hội

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, phù hợp với kinh tế săn bắt, hái lượm là những chuẩn mực đạo đức nguyên thủy, giản đơn, thiết thực, cụ thể, trực quan, sơ khai tồn tại ở dạng tập quán, thói quen, kinh nghiệm… Đối với người nguyên thủy, do tính chất bầy đàn đã tạo cho họ tính hợp tác, công bằng, thông cảm và tương trợ lẫn nhau, đồng thời trong quan hệ giữa một cá nhân đối với bộ tộc họ thể hiện tính thẳng thắn, trung thực, kiên cường, dũng

Trang 28

cảm theo đúng nghĩa của nó Để đánh giá thiện ác thì căn cứ vào hành động đối với cộng đồng Những hành động nào có lợi cho cộng đồng được coi là thiện và có đạo đức Ngược lại bị cho là ác, là vô đạo đức, cần được loại trừ

Có thể thấy rằng trong xã hội nguyên thủy, đạo đức có vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh hành vi của con người Chính nhờ những chuẩn mực đạo đức giản dị đó mà người nguyên thủy đã có một sức mạnh vô cùng to lớn để chống chọi lại với những thử thách của tự nhiên như bệnh tật, thiếu thức ăn

và cả những cuộc chiến bộ tộc

Chuyển sang giai đoạn thứ hai-xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội có sự phân chia về giai cấp do sự tăng nhanh về tư liệu sản xuất Xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo, kẻ bóc lột và người bị bóc lột Sự xuất hiện hai giai cấp cơ bản, điển hình: chủ nô và nô lệ Theo đó, về phương diện đạo đức, tính đối kháng của đạo đức xuất hiện với hai nền đạo đức cơ bản đối lập nhau là đạo đức của số đông (đạo đức của những người nô lệ) và đạo đức của

số ít kẻ thống trị (đạo đức của chủ nô) Ph.Ăngghen coi đây là một bước

“thụt lùi” của đạo đức Nguyên tắc công bằng, bình đẳng bị vi phạm, tình trạng bạo lực, tham lam, sự gian trá và cả động cơ thấp hèn ngày càng tăng trong xã hội chiếm hữu nô lệ lúc bấy giờ Vị thế của đạo đức trong đời sống

xã hội giảm xuống, pháp luật của giai cấp thống trị thay cho đạo đức, sự phục tùng thay thế các chuẩn mực đạo đức cũ Chính nhờ sự chuyển dịch về

tư tưởng nói chung và đạo đức nói riêng đã tạo nên một bước chuyển lớn về sản xuất, khối lượng của cải ngày càng nhiều hơn so với trước đó, kéo loài người ra khỏi thời kỳ mông muội, dã man Tuy nhiên, cũng do tình trạng sa sút về mặt đạo đức đã đẩy con người đến sự đối kháng của đạo đức rõ rệt, báo hiệu cho sự suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ

Chuyển sang giai đoạn thứ ba-xã hội phong kiến, thân phận con người

có phần được cải thiện hơn, ít nhất là giai cấp phong kiến không có quyền

Trang 29

công khai và tùy tiện giết họ như những người nô lệ trước đó Những khác biệt trong quan điểm giai cấp được thu hẹp, những yếu tố tương đồng được

mở ra, quan hệ giữa hai giai cấp đối lập trong xã hội phong kiến: địa chủ và nông dân có vẻ ít xung đột hơn Nhờ vậy, nền kinh tế của xã hội phong kiến phát triển hơn so với xã hội chiếm hữu nô lệ Tuy nhiên, những yếu tố cơ bản của đạo đức trong xã hội phong kiến với thói gia trưởng, háo danh đã trói buộc con người, kiềm hãm sự phát triển của xã hội, góp phần làm cho xã hội phong kiến đi đến sự diệt vong

Từ trong “tổ kén” của tầng lớp thị dân thời phong kiến, một giai cấp mới hình thành và phát triển dần lên, đó là giai cấp tư sản Khi mới xuất hiện, giai cấp tư sản đóng vai trò cách mạng, tiến bộ trong lịch sử với cuộc cách mạng tư sản thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhưng khi quan hệ tiền tệ, hàng hóa thâm nhập vào đời sống xã hội thì giai cấp tư sản đề cao tính vị kỷ, vị lợi Chủ nghĩa cá nhân trở thành nguyên tắc đạo đức đặc trưng, cơ bản của giai cấp thống trị-giai cấp tư sản Khẩu hiệu “tự do, bình đẳng” chỉ còn là danh nghĩa cho nhân dân lao động Trên cơ sở quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho sự tha hóa nghiêm trọng của đạo đức xã hội Sự tha hóa đó thâm nhập vào mọi mặt là nguyên nhân đưa đến tình trạng phản tiến bộ của xã hội tư sản Xã hội tư sản đang tích lũy những yếu tố tự phủ định nó để bước lên một chế độ mới cao hơn về kinh tế cũng như đạo đức

Sự bế tắc của xã hội tư bản đã đưa tới cách mạng vô sản Một nền đạo đức mới được thiết lập, đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản Đó là thành quả phát triển cao trong lịch sử tiến hóa lâu dài của đạo đức Lênin đã khẳng định: “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang

Trang 30

sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [40, tr.369] Đạo đức cách

mạng được xây dựng trên cơ sở sự bình đẳng, sự đoàn kết, sự nương tựa giúp

đỡ lẫn nhau giữa người với người trong xã hội mới Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản nâng con người lên đúng vị trí làm người

Không dừng lại ở tính lịch sử, chủ nghĩa Mác-Lênin còn đi sâu lý giải tính dân tộc của đạo đức và cho rằng mỗi dân tộc có những giá trị đạo đức truyền thống được hình thành trên cơ sở lịch sử, văn hóa, tập quán, tâm lý dân tộc nhất là những quan hệ kinh tế, trong đó người ta tiến hành sản xuất và trao đổi, đồng thời họ cũng có các quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong một số phạm trù đạo đức Ph.Ăngghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác

đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [45, tr.135]

Bên cạnh tính thời đại và tính dân tộc, Ph.Ăngghen đặc biệt chú ý đến tính giai cấp của đạo đức Trong các xã hội có giai cấp, ý thức đạo đức luôn mang tính giai cấp Từ xã hội cổ đại đến xã hội hiện đại, từ giai cấp chủ nô đến giai cấp địa chủ phong kiến, từ giai cấp tư sản đến giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có nền đạo đức riêng của mình Ph.Ăngghen cho rằng, trong xã hội có phân chia giai cấp, mỗi hệ thống đạo đức đều biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Không có đạo đức chung chung, đứng trên mọi sự phân biệt giai cấp

Thừa nhận tính giai cấp, tính dân tộc, chủ nghĩa Mác cũng không hề phủ nhận giá trị phổ biến toàn nhân loại của đạo đức Những giá trị đạo đức phổ biến toàn nhân loại như lòng nhân ái, sự công bằng, trung thực, tôn trọng chính nghĩa thì dân tộc nào, thời đại nào cũng coi trọng và nội dung lớn nhất, phổ quát nhất mà mọi thuyết đạo đức cần phải hướng tới là lòng nhân đạo, nhân ái và sự tự do, giải phóng của con người Đó chính là cơ sở của nền đạo đức vô sản

Trang 31

Nền đạo đức vô sản là một nền đạo đức mà bấy lâu con người tìm kiếm và chờ đợi Đó là nền đạo đức mới-đạo đức cộng sản chủ nghĩa Nền đạo đức ấy thật sự có tính nhân văn, trong đó dĩ nhiên bao hàm cả tính nhân loại phổ biến Nền đạo đức ấy có sự kế thừa và phát triển tất cả những gì tốt đẹp nhất mà nhân loại đã sáng tạo ra trong lịch sử Đó là nền đạo đức của tương lai, là một sự tiến bộ trong lịch sử của con người

Với sự đấu tranh không ngừng cho lợi ích của giai cấp vô sản và hạnh phúc của nhân dân lao động, chủ nghĩa Mác-Lênin, với những luận chứng về đạo đức, đã xây dựng nên cơ sở nền tảng cho những tư tưởng cách mạng và khoa học cho nhân loại Đó là một bước phát triển trong lĩnh vực đạo đức và xã hội

Về phương diện giáo dục đạo đức: Các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng

sản khoa học cho rằng giáo dục là biện pháp hàng đầu có ảnh hưởng đến việc phát triển nhân cách, đến tiến trình của tiến bộ xã hội Khẳng định về vai trò của giáo dục, Ph.Ăngghen đã nói: “Giáo dục cho phép con người trẻ nắm

vững trên thực tế toàn bộ hệ thống sản xuất” [45, tr.296]

Đóng góp lớn lao nhất của C.Mác về mặt giáo dục là đã phát hiện ra bản chất xã hội của con người Đó chính là quy luật của sự phát triển và giáo dục nhân cách con người trong xã hội loài người, đó là sự khác biệt giữa con người và con vật C.Mác đã tiếp thu tất cả những quan điểm duy vật của nhân loại về con người và bản chất người C.Mác cũng thừa nhận rằng con người là một thực thể tự nhiên, là một thực thể sinh vật do quá trình biến đổi của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội Luận đề của C.Mác về bản chất xã hội của con người là cơ sở lý luận để các nhà giáo dục hiểu rõ bản chất, động lực, các quy luật của quá trình giáo dục, dạy học xã hội chủ nghĩa Chỉ có quán triệt sâu sắc luận đề bản chất xã hội của con người mới có thể giải thích được tất cả những hiện tượng giáo dục vô cùng phức tạp đã xảy ra trong xã hội loài người

Trang 32

Theo tinh thần của C.Mác, con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa, và con người phát triển toàn diện

là người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới theo khả năng của bản thân

Trong các lĩnh vực giáo dục, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến giáo dục đạo đức Các ông quan niệm rằng bằng cách này hay cách khác đều hướng vào cái tiêu chuẩn quan trọng nhất phát triển toàn diện nhân cách Xét đến cùng thì mỗi phương hướng giáo dục, mỗi bộ phận hợp thành của nó cũng như toàn bộ quá trình giáo dục đều phục vụ cho quá trình phát triển toàn diện nhân cách

Phát triển từ tư tưởng của C.Mác, Lênin cũng cho rằng nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo những người lao động phát triển toàn diện, đồng thời chỉ

rõ quá trình đào tạo con người lý tưởng Người nhận định rằng cần giáo dục đào tạo những thế hệ trẻ có bản lĩnh chính trị, có tình cảm đồng chí, có lòng yêu nước, có tri thức cần thiết, có tư duy sáng tạo, am hiểu thực tiễn và sẵn sàng tham gia có hiệu quả vào công cuộc lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoạt động chính trị xã hội nhằm giải phóng quần chúng cần lao

Về biện pháp giáo dục, rèn luyện đạo đức, Lênin nhấn mạnh vai trò tình cảm trong hành vi xã hội của đạo đức; đòi hỏi đánh giá đạo đức phải thống nhất giữa động cơ tốt và hiệu quả tốt, phải rèn luyện đạo đức trong sự nghiệp cách mạng, trong chiến đấu và sản xuất Đi đôi với đó phải luôn đấu tranh khắc phục ảnh hưởng đạo đức của giai cấp bóc lột, những tàn dư đạo đức cũ, những phong tục tập quán lỗi thời Ngoài ra, còn phải thông qua quan hệ gia đình, tình yêu, tình bạn, công việc; phải tự cải tạo trong hoạt động hàng ngày; phải sử dụng dư luận xã hội trong giáo dục đạo đức; giáo

Trang 33

dục bằng những tấm gương sinh động và truyền thống đạo đức tốt đẹp; phát huy vai trò của các tổ chức trong giáo dục đạo đức

Theo quan điểm của Lênin, con người toàn diện không phải từ trên trời rơi xuống mà đó là sản phẩm của toàn bộ quá trình tác động xã hội, giáo dục của nhà trường, gia đình, đoàn thể và tự rèn luyện của thế hệ trẻ Lênin khẳng định giáo dục lòng yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế

vô sản có một ý nghĩa cực kỳ to lớn trong việc hình thành phẩm chất nhân

cách con người xã hội chủ nghĩa

Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức

Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin và truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển, hình thành nên những tư tưởng đạo đức của mình, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới

Nếu như trước kia, đạo đức trong xã hội cũ được xem là công cụ phục

vụ cho sự nắm quyền của giai cấp thống trị, triệt tiêu khả năng phản kháng của con người thì với Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là phương tiện phục

vụ cho lợi ích của nhân dân, của dân tộc và nhân loại Người viết: “Đó là đạo đức cách mạng Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích

chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [48, tr.252]

Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, trước hết Hồ Chủ tịch nói về Đảng, và vấn đề đạo đức đã được đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật

sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô

tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân [53, tr.498]

Trang 34

Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, hơn nữa Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định Từ đó, Người đã khái quát thành những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới Nói cách khác, đó là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam Những phẩm chất chung, cơ bản nhất đó là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng Và để xây dựng một nền đạo đức mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng, cũng như cho việc rèn luyện của mỗi người đó là nguyên tắc nói

đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời

Hồ Chủ tịch đã nêu rõ, con người phải có bốn đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính, so sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, nếu thiếu một đức thì không thành người Bác nói:

“Trời có bốn mùa: Xuân-hạ-thu-đông;

Đất có bốn phương: Đông-Tây-Nam-Bắc;

Người có bốn đức: Cần-kiệm-liêm-chính

Thiếu một mùa thì không thành trời;

Thiếu một phương thì không thành đất;

Thiếu một đức thì không thành người” [48, tr.631]

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giữ một vai trò to lớn như là thước đo sức mạnh, sự tiến bộ về tinh thần của một dân tộc Người nói: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [49, tr.642] Vì vậy cần, kiệm, liêm, chính được Người xem là nền tảng, là cốt lõi của đạo đức xã hội mới

Trang 35

Hồ Chí Minh xem đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng nói riêng cũng như của con người nói chung, chính vì vậy, ngay từ phần mở đầu của tác phẩm “Đường cách mệnh”- tác phẩm đầu tiên phục vụ cho công tác bồi dưỡng cán bộ, Đảng viên trong nước, Người đã đề cập đến vấn đề “Tư cách một người cách mệnh” và nhấn mạnh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy

cũng không lãnh đạo được nhân dân” [48, tr.252] Theo Người, lãnh đạo

không phải là ra lệnh mà chủ yếu bằng lôi kéo, thuyết phục Để lôi kéo, thuyết phục con người trước hết phải có cái tâm, cái đức của con người, phải miệng nói, tay làm, phải đầu tàu, gương mẫu

Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin, Hồ Chí Minh luôn xây dựng đạo đức cách mạng trên lập trường giai cấp công nhân, tất cả vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Hồ Chí Minh cũng nói rõ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chắc chắn sẽ bị chống phá từ nhiều phía, bọn tư bản đế quốc cũng như chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người đều là những kẻ thù nguy hiểm Vì vậy, Người xác định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi

đầu” [50, tr.289] Trong chiến đấu cũng như lao động sản xuất, Hồ Chí Minh

rất coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân, vì vậy, theo Người củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng có ý nghĩa sống còn đối với nền độc lập dân tộc Do đó, trong mọi hoạt động của Đảng viên, người luôn nhắc nhở: “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin

quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” [50, tr.290]

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh xem xét đạo đức một cách toàn diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư tới việc công, từ lao

Trang 36

động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hằng ngày Đồng thời, Người cũng bàn đến đạo đức ở mọi phạm vi từ gia đình đến ngoài xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến quốc tế Đây là cái nhìn mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời sống xã hội và mỗi con người

Mặc dù đề cao vai trò của đạo đức, song, Hồ Chí Minh cho rằng lấy đạo đức làm gốc không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, xem nhẹ mặt tài Đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng

để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Về phương diện giáo dục đạo đức: Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng cho rằng mục tiêu của giáo dục là đào

tạo những con người mới vừa có đức, có tài, những công dân biết làm chủ để đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng giáo dục một cách toàn diện, trong đó nhấn mạnh đến giáo dục đạo đức bao gồm giáo dục và tự giáo dục

Giáo dục đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh là hoạt động của

cá nhân và thiết chế xã hội nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ổn định, những nhu cầu, niềm tin, tình cảm, thói quen trong hành vi đạo đức trên cơ sở nhận thức lý tưởng đạo đức và những nguyên tắc đạo đức xã hội Thông qua giáo dục đạo đức, các khái niệm, giá trị đạo đức được nhận thức sâu sắc hơn, những hành động của con người sẽ phù hợp hơn với các chuẩn mực xã hội, làm cho con người có khả năng tự đánh giá và điều chỉnh hành

vi Giáo dục đạo đức góp phần to lớn trong việc chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người

Trang 37

Trong nội dung giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh cho rằng: cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn đề cao “trung” và “hiếu”, coi đây là những phẩm chất quan trọng đối với cuộc sống đạo đức của con người Trong truyền thống Việt Nam và các nước phương Đông, trung là trung với vua, hiếu là với cha mẹ, ngày nay tư tưởng

“trung” và “hiếu” của Hồ Chí Minh đã hoàn toàn khác trước, không chỉ bó hẹp là “trung với vua, hiếu với cha mẹ” mà là “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [52, tr.351] Tư tưởng ấy không chỉ kế thừa mà còn vượt qua những hạn chế của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Câu nói

đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người dân không chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước kia

và hiện nay mà còn lâu dài về sau Bên cạnh đó những phạm trù nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng của Nho giáo cũng đã được Người kế thừa, phát triển một cách sinh động và tinh tế

Trong việc xây dựng con người mới cùng với những yêu cầu về đạo đức, Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải có sự toàn diện cả “tài” Tài ở đây là giỏi

về kiến thức chuyên môn và giỏi về phương pháp vận dụng kiến thức đó vào hoạt động thực tiễn Tài không có nghĩa là kiến thức hoàn chỉnh, tuyệt đối, khép kín mà là một kiến thức mở, luôn được bổ sung và phát triển qua thực tiễn cách mạng sinh động Tài và đức ở tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất biện chứng với nhau, Người nói: “Thanh niên phải có đức, có tài Có tài

mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người” [50, tr.172] Có thể nói,

Trang 38

nếu đạo đức là tiêu chuẩn cho đạo lý làm người thì tài là phương tiện thực hiện mục đích đó, thông qua tài thì đức mới thực sự được biểu hiện và thực thi trong đời sống cho nên nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng là lời nói đi đôi với việc làm, lý luận và thực tiễn phải thống nhất với nhau Trong mối quan hệ giữa tài và đức, Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là cái gốc, là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng con người mới, xã hội mới

Cùng với việc nâng cao nhận thức các giá trị đạo đức, giáo dục đạo đức góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây dựng những quan điểm phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục Giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực vào việc khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu Để quá trình giáo dục đạo đức thành công, Người đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc như dựa trên truyền thống và chuẩn mực đạo đức của dân tộc, phải kết hợp với giáo dục pháp luật, kết hợp với giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội

Trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm về đạo đức và giáo dục đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng

ta đã tiếp tục vận dụng vào trong các văn kiện và nghị quyết về đạo đức và giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay

Các văn kiện và nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục

và giáo dục đạo đức

Trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng ta từ Đại hội VI cho tới nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ thường xuyên được nhấn mạnh như là vấn đề trung tâm, cốt lõi và chiếm vị trí hàng đầu trong nhiệm vụ xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta ý thức một cách đầy đủ chủ trương "giáo dục là quốc sách hàng đầu", là một trong những động lực

Trang 39

quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Việc phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọng người hiền tài càng trở nên có ý nghĩa, tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, tôn trọng sự sáng tạo trên cơ sở, nền tảng đạo đức trong sáng Trong những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa Đảng ta đã nêu rõ: "Quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ

Có chính sách trọng dụng người tài" [16, tr.81-82]

Hiện nay trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương hội nhập kinh tế thế giới, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, nhưng giữ vững độc lập tự chủ, giữ vững chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, vì hòa bình, độc lập và phát triển Chính vì thế, cần phải tranh thủ nắm bắt thời cơ, tận dụng vận hội, vượt qua mọi thử thách, đẩy lùi mọi nguy cơ để đưa đất nước đi lên Điều đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải có một sự nỗ lực phi thường Sự nỗ lực ấy trước hết tập trung vào việc nâng cao hai mặt trí và đức của mỗi người, cũng như nâng cao mặt bằng trí đức của toàn xã hội Phải có cái trí ngang tầm thời đại và cái đức theo gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta mới thực hiện được thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức

mà Người đã nêu ra [32, tr.366-367]

Để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giàu mạnh và văn minh, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo công tác giáo dục, đào tạo, rèn luyện cho lớp người trẻ tuổi để kế tục sự nghiệp cách mạng Cũng chính vì thế mà Luật Giáo dục năm 2005 của nước ta được Quốc hội thông qua đã

Trang 40

xác định rất rõ mục tiêu giáo dục đào tạo là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [43, tr.8] Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định tại Đại hội lần thứ XI của Đảng ta: “coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [20, tr.216]

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và tính thống nhất giữa đức và tài, trước hết cần nhận thức và xây dựng con người với hai yếu tố đức, tài gắn bó mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Chúng ta đề cao, nhấn mạnh vai trò đạo đức, nhưng không phải tuyệt đối hóa đạo đức, xây dựng chủ nghĩa xã hội đạo đức Nội dung chủ nghĩa xã hội phải đầy đủ các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới phải thể hiện vừa có đức, vừa có tài; đức và tài hòa quyện, quan hệ biện chứng; trong đức có tài, trong tài có đức Đức tính hàng đầu xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới-như Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII đã nêu: “có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có

ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu ” là sự thống nhất biện chứng giữa đức và tài [62, tr.393-394]

1.1.2 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản cần đƣợc giáo dục cho sinh viên hiện nay

Đứng trước sự tác động của các thế lực thù địch, mặt trái của nền kinh

tế thị trường nên việc giáo dục đạo đức sinh viên hiện nay đang là vấn đề cấp thiết, được toàn xã hội quan tâm Vì vậy, những chuẩn mực đạo đức luôn

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w