Tôi cũng chân thành cảm ơn Ban Xóa đói giảm nghèo - tăng hộ khá của thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đã giúp tôi trong quá trình tìm kiếm và mượn
Trang 1TRẦN THỊ CHÂU
ĐẢNG BỘ QUẬN THỦ ĐỨC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Trang 2thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học và viết luận văn tốt nghiệp tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến thầy PGS.TS Võ Văn Sen, người trực tiếp hướng dẫn nhiệt tình, giúp đỡ tôi về kiến thức và phương pháp để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng chân thành cảm ơn Ban Xóa đói giảm nghèo - tăng hộ khá của thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đã giúp tôi trong quá trình tìm kiếm và mượn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè, cùng với nỗ lực của bản thân, tôi đã
hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo thực
hiện công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997 - 2013” Dù tôi đã cố gắng để
luận văn được hoàn chỉnh về cả nội dung và hình thức nhưng không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự góp ý của thầy cô và đồng nghiệp
Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4
Nguồn: http://diaoconline.vn/ (Theo trang web Thành Phố Hồ Chí Minh)
Trang 5
- Cơ quan phát triển Liên hợp quốc: UNDP
- Bảo hiểm xã hội: BHXH
- Bảo hiểm y tế: BHYT
- Đại học: ĐH
- Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: ĐHQGTPHCM
- Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn: ĐH KHXH&NV
- Lao động Thương binh và Xã hội: LĐTB&XH
- Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em: UBDSGĐ&TE
- Ủy ban nhân dân: UBND
- Xóa đói giảm nghèo: XĐGN
- Xóa đói giảm nghèo và việc làm: XĐGN&VL
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.2 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Cơ sở lý luận 7
5.2 Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn 7
5.3 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Dự kiến đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM QUẬN THỦ ĐỨC 9
1.1 Lịch sử hình thành quận Thủ Đức 9
1.2 Đặc điểm tự nhiên và dân cư quận Thủ Đức 11
1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 12
1.3.1 Trên lĩnh vực kinh tế 12
1.3.2 Về đầu tư xây dựng cơ bản 17
1.3.3 Về văn hóa – xã hội 18
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của Đảng bộ Quận Thủ Đức 22
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 29
2.1 Khái niệm nghèo đói và các tiêu chí xác định nghèo đói 29
2.1.1 Khái niệm về nghèo đói 29
2.1.2 Xác định chuẩn nghèo 31
2.2 Quan niệm về xóa đói giảm nghèo 35
2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xóa đói giảm nghèo 36
Trang 72.4 Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh về xóa đói giảm nghèo 46
Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ QUẬN THỦ ĐỨC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 52
3.1 Khái quát quá trình Đảng bộ huyện Thủ Đức lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo trong những năm 1986-1996 52
3.2 Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo công tác giảm hộ nghèo giai đoạn 1997 - 2008 53
3.2.1 Quan điểm và công tác chỉ đạo 53
3.2.2 Thực trạng giảm hộ nghèo 57
3.3 Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo công tác giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 2009 – 2013 76
3.3.1 Quan điểm và công tác chỉ đạo 76
3.3.2 Thực trạng giảm nghèo, tăng hộ khá 77
3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn xóa đói giảm nghèo 94
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC SỐ LIỆU 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam một mặt đã đem lại nhiều cơ hội thay đổi chất lượng cuộc sống cho người nghèo, song cũng đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến người nghèo Theo quy luật phân tầng xã hội, song song với tăng trưởng kinh tế sẽ có một bộ phận dân
cư giàu lên, song cũng sẽ có một bộ phận dân cư chậm phát triển hơn sẽ trở thành người nghèo – đây chính là một thách thức lớn đối với Việt Nam khi xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhận thức được tầm quan trọng của xóa đói giảm nghèo (XÐGN), Việt Nam luôn coi XÐGN là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân Công cuộc XÐGN được chính thức phát động và đẩy mạnh vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước Hàng loạt chương trình XÐGN đã và đang được triển khai Vào những năm đầu thế
kỷ 21, Nhà nước Việt Nam đã đặt vấn đề giải quyết đói nghèo trong chiến lược phát triển bền vững, chính sách XÐGN được đặt trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và
sự vươn lên của chính người nghèo…, tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của Nhà nước thực hiện hiệu quả công tác có ý nghĩa xã hội sâu sắc này, kết quả tích cực của công cuộc xóa đói giảm nghèo đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội cho người dân đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, người nghèo ở Việt Nam vẫn còn gặp không ít bất cập: người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các nguồn lực, nguy cơ tái nghèo cao,… Vì thế, việc nghiên cứu để hoàn thiện chính sách vì người nghèo ở Việt Nam vẫn là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
Hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, Xóa đói giảm nghèo đã trở thành phong trào, thành chương trình hành động ở tất cả các tỉnh, thành phố Quận Thủ Đức, với vai trò là cửa ngõ Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, lại đang
Trang 9trên con đường đô thị hóa nên vấn đề xóa đói giảm nghèo được xem là một trong những nhiệm vụ cơ bản, quan trọng để tạo động lực cho kinh tế - xã hội phát triển bền vững Mặc dù, kể từ khi quận Thủ Đức được thành lập (1997) cho tới nay chưa phải là quảng thời gian đủ dài nhưng Đảng bộ và nhân dân quận Thủ Đức đã gặt hái được nhiều thành tích đáng phấn khởi, tự hào nhất là ngành thương mại dịch vụ, song song với nhiệm vụ kinh tế thì vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân cũng rất được chú trọng, đặc biệt đối với nhóm người đặc biệt khó khăn Tính đến hết năm 2013, chương trình Xóa đói giảm nghèo đã và đang trải qua 3 giai đoạn (1992-2003, 2004-2010 và 2009- 2015) với 6 lần nâng mức chuẩn nghèo theo quy định của Thành phố Từ 3.911 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 12,08% tổng số hộ dân vào thời điểm chia tách quận (01/4/1997), với thu nhập bình quân 2,5 triệu đồng/người/năm thì đến nay Thủ Đức cơ bản hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn 12 triệu đồng/người/năm, về đích trước 2 năm so với Đề án chương trình mục tiêu giảm nghèo- tăng hộ khá của thành phố giai đoạn 2009- 2015
và trước 1 năm so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội IV của Đảng bộ quận Thủ Đức (nhiệm kỳ 2010 - 2015) Đây là bước tiến mạnh mẽ, vững chắc trong chương trình giảm nghèo - tăng hộ khá của Thủ Đức, làm cơ sở để Thủ Đức giảm nghèo nhanh, bền vững Có được thành quả đó là nhờ vào sự nỗ lực đồng bộ và toàn diện của Đảng bộ, các cơ sở, ban ngành và nhân dân quận Thủ Đức Đồng thời nó cũng phản ánh tính hiệu quả cao của các chính sách cấp quốc gia nói chung, cấp thành phố và cấp quận nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo, điều hành và thực hiện xóa đói giảm nghèo trên địa bàn vẫn còn mắc phải nhiều khó khăn, hạn chế, cần phải có những giải pháp phù hợp để khắc phục nhằm vươn tới mục tiêu xây dựng “Thủ Đức giàu đẹp - văn minh - hiện đại - nghĩa tình” mà hướng đi đã được Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận nhiệm kỳ IV khẳng định bằng Nghị quyết và sự nỗ lực quyết tâm để đạt được kết quả cao, chuẩn bị về tới đích
Với tất cả lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Đảng bộ quận Thủ Đức
lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997 - 2013” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình
Trang 102 Tổng quan nghiên cứu
Nghèo đói hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc, là sự thách thức, cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, khu vực và toàn bộ nền văn minh nhân loại Chính vì vậy, trong những năm gần đây nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã quan tâm tìm các giải pháp nhằm hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảng cách phân hoá giàu nghèo trên phạm vi toàn thế giới Ở Việt Nam, xoá đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không còn là một đề tài mới, tuy nhiên tính hấp dẫn của nó vẫn còn, bởi cho đến nay vẫn chưa có một giải pháp toàn diện nào
có thể xóa bỏ hết nạn đói nghèo trên thế giới Sau đây là một số công trình chủ yếu
mà tác giả đã tham khảo, kế thừa, chọn lọc những nội dung có liên quan:
Đối với công trình nghiên cứu của nước ngoài, tác giả đã tham khảo báo cáo
của Ngân hàng thế giới (WB) (2000), Báo cáo về tình hình phát triển thế giới tấn
công nghèo đói, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Báo cáo đề cập đến kết quả xóa
đói giảm nghèo của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa xóa đói giảm nghèo với các lĩnh vực khác như tăng trưởng kinh
tế, thể chế chính trị, giáo dục, y tế
Đối với công trình nghiên cứu trong nước:
Trước hết là các công trình nghiên cứu về đói nghèo của Việt Nam nói
chung, gồm có: Đánh giá chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và
chương trình 135 (2004), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức (2011), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Trần
Thị Hằng (2001), Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay, Nxb Thống Kê, Hà Nội; GS.PTS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên (1999), Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia Hà Nội; Chu Tiến Quang chủ biên (2001), Đói nghèo ở Việt
Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội; Lê Quyết (2002), Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo, Nxb Lao động, Hà Nội
Trang 11Tác giả cũng tham khảo các công trình liên quan tới vấn đề nghèo đói và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Thủ
Đức nói riêng đã được công bố như: Phạm Viết Muôn, Trần Du Lịch (1998), Tiềm
năng phát triển kinh tế -xã hội vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb Thống kê, Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh (2000), Thành phố Hồ Chí Minh
tự giới thiệu (tập 2) - Các quận huyện trên đường đổi mới và phát triển, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh; Thành phố Hồ Chí Minh (2000), 25 năm xây dựng, đổi
mới và phát triển, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Cành (1996), Nghiên cứu thực trạng phân hóa giàu nghèo phân hóa giàu nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường,
Nguyễn Quang Vinh (2001), Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở thành
phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Mạc Đường (2004), Nghèo đô thị và cuộc chiến chống đói nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội; Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh (2005), Đô thị
hóa và vấn đề giảm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh: lý luận và thực tiễn, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Thị Cành chủ biên (2001), Diễn biến
mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Lao động – Xã hội, Tp Hồ Chí Minh; Đảng bộ quận Thủ Đức (2003), Lịch sử truyền thống Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Thủ Đức, tập 1
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: TS.Nguyễn Khánh Mậu (2005), Xóa đói giảm
nghèo vùng nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp, Tp.HCM; Luận án tiến sĩ: Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015; Luận văn thạc sĩ: Phạm
Trang 12Thị Vẹn (2014), Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 1997-2000, mã số 60.22.56, Trường ĐH KHXH&NV- ĐHQGTPHCM; Phạm
văn Hải ((2013), Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói
giảm nghèo (1997-2010), mã số 60.22.56, Trường ĐH KHXH&NV-
ĐHQGTPHCM; Phạm Văn Phương (2010), Quá trình lãnh đạo thực hiện chính
sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Huyện Nhà Bè năm 1997 đến 2008, mã số
60.22.56, ĐH KHXH&NV- ĐHQGTPHCM
Bên cạnh các công trình tiêu biểu nêu trên, trên các báo, tạp chí cũng đã có
nhiều bài viết liên quan đến công tác XĐGN như: TS Trần Du Lịch, Ấn tượng
thành phố Hồ Chí Minh: Xóa đói giảm nghèo (30/4/2003), Báo Người Lao động;
Nguyễn Phương Nam, Toàn cầu hóa và vấn đề xóa đói giảm nghèo, phát triển bền
vững trong những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Khoa học - Xã hội, số 2 (66) -
2004; Nguyễn Hải Hữu, Hướng tới giảm nghèo toàn diện, bền vững, công bằng và
hội nhập, Tạp chí Cộng sản số 9, ra tháng 5 - 2006; Hồng Quân (1999), Xóa đói giảm nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Sài Gòn giải phóng; Trần Văn Phong, Tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với sự phân hóa xã hội ở nước ta,
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 4, 2006
Nội dung chính của các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu giải quyết
những vấn đề sau: Thứ nhất, vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc khái niệm hóa và
đo lường tình trạng nghèo khổ Thứ hai, khái quát về phương pháp và các chỉ báo
về thu nhập Ví dụ: đề cập tới phương pháp và kỹ thuật trong việc nghiên cứu đề tài: Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề tăng trưởng kinh tế, di dân và đô thị hóa; Khả năng cải thiện mức sống của tầng lớp
có thu nhập thấp; Điều tra nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh về những chỉ báo
về nghèo khổ ngoài thu nhập (sức khỏe, giáo dục, di dân, mạng lưới văn hóa, di động) Trong đó đề cập tới những vấn đề như: nghèo khổ, cấu trúc và đặc điểm nhân khẩu học của từng hộ gia đình tại thành phố, phân tích tác động của đô thị hóa đối với dân cư ngoại thành Đặc biệt, một số tác phẩm đi vào phân tích tình trạng nghèo với cách tiếp cận mới là cách tiếp cận nghèo đa chiều Ngoài ra, nhiều tác giả
Trang 13không chỉ phản ánh kết quả nghiên cứu mà còn thể hiện những phương pháp và kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu và thực hiện chương trình xóa đói giảm
nghèo ở nhiều nước như (Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Philipine ) Thứ
ba, một số công trình trên đã cung cấp một tầm nhìn tổng thể về tình hình kinh tế -
xã hội của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và của từng khu vực, địa phương cụ thể, trong đó có địa bàn tác giả nghiên cứu là quận Thủ Đức Tuy nhiên, các công trình chưa đi sâu vào nghiên cứu về đói nghèo và sự lãnh đạo của Đảng bộ quận Thủ Đức về vấn đề này Vì thế, tác giả chỉ kế thừa có chọn lọc một số nội dung có tính liên ngành liên quan
Nhìn chung các bài viết nêu trên đề cập khá nhiều vấn đề xóa đói giảm nghèo nói chung và công tác xóa đói giảm nghèo tại một số vùng trong cả nước Tuy nhiên, đi sâu vào nghiên cứu công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận Thủ Đức thì chưa có một công trình nào, do đó đề tài của chúng tôi không trùng lắp với những đề tài trên Tuy vậy, những công trình đó cũng là nguồn tài liệu quí giá
để tác giả chọn lọc, tham khảo, kế thừa ở một mức độ nhất định, hợp lý những vấn
đề liên quan đến đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ quá trình vận dụng và triển khai thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Thành phố Hồ Chí Minh về xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ quận Thủ Đức trên địa bàn quận từ năm 1997 đến năm 2013 Qua đó, phân tích đánh giá thực trạng và nguyên nhân nghèo, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các định hướng giải pháp chủ yếu cho chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá trên địa bàn quận Thủ Đức trong giai đoạn cách mạng tiếp theo
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 14Thứ nhất, luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình chỉ đạo, điều
hành công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ quận Thủ Đức từ năm 1997 đến năm 2013
Thứ hai, rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo
xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ quận Thủ Đức trên địa bàn
Thứ ba, đề xuất các định hướng giải pháp chủ yếu cho chương trình giảm
nghèo, tăng hộ khá trên địa bàn Quận trong giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn quận Thủ Đức
- Về thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2013
- Về nội dung: Quá trình Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta, chủ trương của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, của Đảng bộ quận Thủ Đức về xóa đói giảm nghèo Đồng thời có sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài
+ Hồ Chí Minh toàn tập, các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, của Đảng bộ Quận Thủ Đức liên quan đến đói nghèo và thực hiện xóa đói giảm nghèo
+ Các công trình nghiên cứu, các bài viết, tài liệu khoa học liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
Trang 155.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ công tác chỉ đạo, quá trình thực hiện công tác
xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ quận Thủ Đức từ năm 1997 đến 2013
Thứ hai, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên
cứu hay phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát lịch sử hình thành và đặc điểm quận Thủ Đức
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và quan điểm, chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo
Chương 3: Đảng bộ quận Thủ Đức lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM QUẬN THỦ ĐỨC
Trước khi thực dân Pháp chiếm Miền Đông Nam Kỳ, địa bàn vùng đất Thủ Đức ngày nay tương ứng với phần lớn huyện Ngãi An thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa và tổng Long Vĩnh Hạ thuộc huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa Huyện Ngãi An bao gồm 5 tổng với 51 thôn: An Bình (10 thôn), An Điền (9 thôn), An Thổ (10 thôn), An Thủy (14 thôn), Chánh Thiện (8 thôn) Đến năm
1862, huyện Ngãi An đã giải thể, địa bàn gia nhập vào huyện Bình An cùng Phủ
Sau khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ, chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ các đơn vị hành chính phủ, huyện, phân chia lại toàn bộ cõi Nam Kỳ thành lập các hạt thanh tra, về sau đổi thành các hạt tham biện Trên địa bàn tỉnh Gia Định cũ, chính quyền Pháp thành lập tuần tự các đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có Khu
thanh tra Sài Gòn và thành phố (Ville) Sài Gòn Ngày 29/10/1866, khu thanh tra Sài
Gòn nhận thêm phần đất của huyện Ngãi An cũ Khi gia nhập vào Sài Gòn thì huyện Ngãi An cũ chỉ còn bốn tổng trực thuộc: An Bình, An Điền, An Thổ, An
Trang 17Thủy Đến ngày 9-10-1868, huyện Ngãi An tách ra lập khu thanh tra độc lập, mang tên gọi là khu thanh tra Thủ Đức; nhưng đến ngày 30-12-1868 lại tái nhập vào khu thanh tra Sài Gòn
Trải qua nhiều đổi thay về lãnh thổ và hành chính, ngày 24 tháng 8 năm
1876, hạt Sài Gòn đổi tên thành hạt Bình Hòa Ngày 16 tháng 12 năm 1885, hạt Bình Hòa đổi tên thành hạt Gia Định Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Gia Định trở thành tỉnh Gia Định Từ 1/1/1911, tỉnh Gia Định chia thành 4 quận: Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp và Nhà Bè Vào năm
1940 quận Thủ Đức gồm 06 tổng: An Bình, An Điền, An Thành (tổng này giải thể
từ ngày 25/11/1945), An Thổ, An Thủy và Long Vĩnh Hạ
Bước sang thời Cộng Hòa (1955-1975) quận Thủ Đức vẫn tiếp tục là một quận của tỉnh Gia Định
Sau ngày 30-4-1975, sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận, ngày 3/5/1975 thành phố Sài Gòn – Gia Định được thành lập Theo quyết định ngày 9/5/1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao Động Việt Nam thành phố Sài Gòn – Gia Định, huyện Thủ Đức được thành lập trên cơ sở toàn bộ quận Thủ Đức cũ thời Việt Nam Cộng hòa
Ngày 2/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa
VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố
Hồ Chí Minh Huyện Thủ Đức trở thành huyện trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh
Huyện Thủ Đức tồn tại cho đến năm 1997 thì Chính Phủ ban hành Nghị định
số 03-CP (ngày 06-01-1997) về việc giải thể huyện Thủ Đức cũ và ban hành thành lập các quận, phường mới thuộc thành phố Hồ Chí Minh và căn cứ vào Quyết định
số 119/QĐ-UBND ngày 18-03-1997 của UBND thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04-1997, quận Thủ Đức được thành lập (huyện Thủ Đức chia tách thành 3 quận: Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức)
Trang 1801-1.2 Đặc điểm tự nhiên và dân cư quận Thủ Đức
Quận Thủ Đức thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Linh Đông, Linh Trung, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh, thị trấn Thủ Đức, 55 ha diện tích tự nhiên và 366 nhân khẩu của các xã Hiệp Phú; 298 ha diện tích tự nhiên và 3.188 nhân khẩu của xã Tân Phú; 367 ha diện tích
tự nhiên và 6.651 nhân khẩu của xã Phước Long, thuộc huyện Thủ Đức và thành lập
12 phường mới, gồm: Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Trường Thọ, Bình Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình; 73 khu phố, 865 tổ dân phố Như vậy, tổng diện tích đất tự nhiên của quận Thủ Đức có 4.726,5 ha và dân số là 163.394 nhân khẩu (1997) - hiện nay là 463.368 nhân khẩu (số liệu điều tra dân số năm 2011) [18, tr.5]
Quận nằm trong vùng địa hình phần lớn là bằng phẳng thấp, có xen thêm dạng đất gò cao lượn sóng, có độ dốc không đều đổ từ hướng Bắc về hướng Tây Nam Một số phường nằm ven sông Sài Gòn như Hiệp Bình Phước có nhiều kênh rạch
Khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo, với nhiệt độ trung bình là 27,5oC, thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10), mùa nắng (tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
Về vị trí địa lý, Thủ Đức là quận vùng ven ở phía Đông thành phố Hồ Chí Minh Phía Bắc giáp huyện Thuận An và huyện Dĩ An của tỉnh Bình Dương Phía Nam tiếp giáp Quận 2 Sông Sài Gòn bao bọc ở phía Tây, ngăn cách với Quận 12, Quận Gò Vấp và Quận Bình Thạnh Phía Đông giáp Quận 9
Với vị trí chiến lược tại cửa ngõ phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, Quận có các tuyến đường lớn quan trọng đi qua như: Xa lộ Hà Nội; Quốc lộ 1A (còn gọi là Xa lộ Trường Sơn); Quốc lộ 13 và đường Kha Vạn Cân (tức Quốc lộ 1 cũ) Là địa bàn giáp ranh cả hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy với các Quận 2, Quận 9, Quận Bình Thạnh của thành phố Hồ Chí Minh, các thị
xã Dĩ An, Thuận An của tỉnh Bình Dương Bao bọc 3 mặt Thủ Đức là hai con sông lớn, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, có
Trang 19điều kiện lý tưởng xây dựng một số cảng sông Đây cũng là lý do Thủ Đức được lựa chọn làm nơi thành lập chợ Đầu mối Nông sản Thực phẩm để cung cấp khối lượng lớn rau, củ, quả cho Quận và toàn khu vực phía Nam
Đồng thời Quận là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) lớn như KCX Linh Trung I, KCX Linh Trung II, KCN Linh Chiểu, ngoài còn nhiều công ty hàng đầu thành phố như: công ty cổ phần Kinh Đô, nhà máy Coca Cola Việt Nam
Quận cũng tập trung nhiều cụm các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) và trung học chuyên nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh như ĐH Quốc gia Tp.HCM,
ĐH Ngân hàng, ĐH An Ninh, ĐH Cảnh sát, ĐH Nông Lâm, ĐH Sư phạm Kỹ thuật,
CĐ Công nghệ Thủ Đức, CĐ Công thương, CĐ Xây dựng số 2, Trung cấp Đại Việt, Ngoài ra, Thủ Đức còn là nơi tập trung nhiều khu vui chơi giải trí và khá nhiều đình chùa, nhà thờ của nhiều tôn giáo khác nhau nên Thủ Đức được xem là một trong những địa bàn trọng điểm về các vấn đề xã hội, an ninh - quốc phòng của Thành phố và Khu vực
Tóm lại, Thủ Đức là quận đang trong quá trình phát triển và chỉnh trang đô thị Kể từ khi tách quận cho tới nay, Thủ Đức không ngừng nỗ lực xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cùng thành phố Hồ Chí Minh từng bước hình thành
đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình
Sức sống mới của Thủ Đức được thể hiện qua những thành tựu trên các lĩnh vực phát triển kinh tế chính trị, văn hoá - xã hội và an ninh quốc phòng Phát huy những thế mạnh và tiềm năng sẵn có về vị trí, đất đai, lao động kết hợp với những chính sách phù hợp đã làm cho Thủ Đức có những bước chuyển biến toàn diện về mọi mặt theo hướng văn minh, hiện đại Sau đây là khái quát sự phát triển đó của Quận từ trước năm 1997 cho đến năm 2013 trên các lĩnh vực sau:
1.3.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Kể từ ngày thành lập Quận cho đến nay, tình hình kinh tế trên địa bàn khá ổn định, giữ vững tốc độ tăng trưởng và từng bước chuyển dịch cơ cấu theo hướng
Trang 20công nghiệp hóa hiện đại hóa, đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu chủ yếu do Thành phố giao cũng như các chỉ tiêu phấn đấu do Quận đề ra
- Về cơ cấu kinh tế:
Quận Thủ Đức ở vị trí của ngõ phía Đông Bắc Thành phố, tập trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng của Thành phố và khu vực, nhiều khu công nghiệp lớn, các khu dịch vụ - du lịch ven song Sài Gòn, khu đại học Quốc gia - trung tâm đào tạo lớn của cả nước, các khu dân cư mới phục vụ giản dân từ nội thành ra và xây dựng đô thị mới của Thành phố
Trên cơ sở đó, cơ cấu kinh tế kể từ năm 1997 cũng như hiện nay và hướng phát triển lâu dài, được xác định chủ yếu là Công nghiệp – Thương mại – Dịch vụ
và phần sản xuất nông nghiệp (đã chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất dạng nhà vườn, hoa kiểng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao và đảm bảo môi trường sinh thái)
Nhìn chung, qua quá trình phát triển, cơ cấu kinh tế Quận tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, với cơ cấu GDP (Tổng sản phẩm quốc nội theo tính toán năm
2011 là: Khu vục CN-TTCN chiếm 75,6%, dịch vụ 23,8% và khu vực nông nghiệp 0,6% [18, tr.48]
- Sản xuất Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN)
Có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, đầu tư nâng cao hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều sản phẩm được thị trường tín nhiệm Từ đó, giá trị sản xuất CN – TTCN do Quận quản lý tăng trưởng nhanh qua các năm Cụ thể:
Giá trị tổng sản lượng năm 1995 (theo giá so sánh năm 1989) huyện Thủ Đức đạt 117 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1991-1995 đạt 21,9% (Đại hội
VI đề ra 11 -13%, hội nghị giữa nhiệm kỳ nâng lên 14%) [40, tr.11] Sau khi tách quận (1997), giá trị sản xuất của quận Thủ Đức trong 9 tháng cuối năm là 211 tỉ đồng (giá so sánh 1994) đạt 110% kế hoạch, tăng 14% so cùng kỳ Các ngành có tốc độ tăng trưởng khá là ngành sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, sản phẩm từ giấy, chế biến thực phẩm [63, tr.9] Tình hình kinh tế trên địa bàn tiếp tục ổn định trong những năm tiếp theo, năm 2000, đạt tổng giá trị sản xuất 385 tỷ đồng (giá so
Trang 21sánh năm 1994), tăng bình quân 18,6% [64, tr.25] Năm 2005 đạt tổng giá trị sản xuất 1.670 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994) tăng bình quân 24,6% [65, tr.25] Đến năm 2010, kinh tế trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng, nhưng có chậm lại do bị ảnh hưởng tác động từ tình hình suy thoái kinh tế chung của cả nước trong năm
2008 -2009 Tốc độ tăng bình quân ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm
2010 là 12, 3% [66, tr.19] Cuối năm 2011 giá trị sản xuất CN-TTCN (theo giá so sánh 1994) đạt 3.344 [18, tr.51] Theo Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh quận Thủ Đức năm 2013, giá trị sản xuất CN- TTCN năm 2013 ước thực hiện 4.010 tỷ đồng (giá so sánh 1994), so với cùng kỳ tăng 6%, đạt 98,26% kế hoạch năm (4.081 tỷ đồng) [122]
Trong 16 năm qua, bên cạnh các cơ sở sản xuất với nguồn vốn đầu tư trong nước phát triển nhanh, các dự án đầu tư lớn thuộc TW - Thành phố quản lý về sản xuất công nghiệp đã được xây dựng và đi vào hoạt động, như: Khu chế xuất Linh Trung 1 và Linh Trung 2 với qui mô 120 ha tại phường Linh Trung và Phường Bình Chiểu, khu Công nghiệp Bình Chiểu 28 ha, các xí nghiệp có quy mô lớn tại Phường Hiệp Bình Phước, Linh Trung, Tam Bình đã góp phần lớn vào thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn
Về mặt cơ cấu giá trị nội ngành CN-TTCN của Quận: Phát triển chủ yếu ở khu công nghiệp chế biến trong 14 ngành sản xuất, trong đó 6 ngành sản xuất có giá trị cao, nhất là ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm và ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị chung Riêng khu vực công nghiệp khai thác chiếm tỷ trọng rất nhỏ; một số ngành có xu hướng giảm như chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ do khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường cạnh tranh gay gắt, sản xuất dễ gây ô nhiễm môi sinh môi trường, phải thu hẹp sản xuất để phù hợp với định hướng phát triển đô thị hóa trên địa bàn
Nhìn chung, ngành CN -TTCN vẫn là ngành kinh tế chủ yếu và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng giá trị của nền kinh do Quận quản lý
Trang 22- Về Thương mại – Dịch vụ:
Hoạt động thương mại – dịch vụ trên địa bàn quận Thủ Đức phát triển sớm
và khá nhanh Năm 1997, doanh thu ngành TM-DV của Quận đạt 753 tỉ đồng Năm
2000 đạt 1.193 tỉ đồng, tăng bình quân 14,9% [64, tr.25] Năm 2005, doanh thu đạt 2.400 tỷ đồng tăng bình quân 19,20% [19, tr.25] Về sau, tình hình kinh doanh của các đơn vị ngành thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định và phát triển Tổng doanh thu ngành TM - DV năm 2011 đạt giá trị 15.177 tỷ đồng (giá hiện hành), mức tăng bình quân trong vòng 15 năm qua đạt 23,9%, với quy mô số lượng cơ sở từ 6.012
cơ sở năm 1997 đến năm 2011 đã có trên 21.578 cơ sở TM - DV (trong đó có trên 1.1.23 doanh nghiệp) [18, tr.52] Đến năm 2013, doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ ước thực hiện cả năm là 22.610 tỷ đồng, tăng 21,74% so với cùng kỳ năm 2012 và đạt 101,85% so với kế hoạch năm (22.000 tỷ đồng) [122]
Về mặt nội ngành thương nghiệp (bán lẻ) và ăn uống phát triển nhanh; ngành dịch vụ nói chung còn chậm phát triển Đồng thời, trong năm 2004-2005, Chợ đầu mối Nông sản Thực phẩm Thủ Đức (quy mô 20 ha) đã đi vào hoạt động ổn định tạo điều kiện phát triển thương mại, tăng tỷ trọng buôn bán trên địa bàn Ngoài ra, Quận cũng đã thực hiện công tác lập quy hoạch các ngành nghề dịch vụ nhạy cảm trên địa bàn
- Về tình hình sản xuất nông nghiệp:
Thủ Đức trước ngày giải phóng là vùng ngoại thành hoang vu gọi là “vành đai trắng”, là vùng chịu sự tàn phá nặng nề của Mỹ, ngụy, vì thế quá trình khôi phục sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn để biến vùng đất hoang hóa trở thành những cánh đồng lúa xanh ngút tầm mắt Tuy nhiên, đất sản xuất lúa của Thủ Đức ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa nhanh và dành cho phát triển công nghiệp, thương mại Trong điều kiện đất nông nghiệp bị thu hẹp nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn duy trì được nhịp độ tăng, do chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, cho nên số đất chuyển đổi ấy mang lại hiệu quả kinh
tế gấp nhiều lần so với trồng lúa Có thể nói người dân Thủ Đức đã và đang biến từng tấc đất thành tấc vàng
Trang 23Năm 1997, tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt được 2.486 ha, đạt 95% so với kế hoạch [63, tr.10] Năm 2000, tuy diện tích đất canh tác giảm 250 ha, nhưng vẫn đạt mức giá trị sản lượng là 43 tỷ đồng, bằng 106% chỉ tiêu và có bước chuyển dịch tích cực về cơ cấu cây trồng vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế [64, tr.25] Năm 2005, diện tích đất nông nghiệp giảm 420 ha so với năm 2000 và hiện còn khoảng 1.400 ha, song do có sự chuyển đổi về cơ cấu vật nuôi, cây trồng nên giá trị bình quân hàng năm vẫn đạt từ 38 - 40 tỷ đồng, đạt 117% [19, tr.26] Trong giai đoạn tiếp theo (2005 -2010) diện tích đất canh tác tiếp tục giảm trên 356 ha, tuy nhiên, Quận đã có biện pháp chỉ đạo tiếp tục chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng theo hướng tăng giá trị và chất lượng hàng hóa (theo cây hoa kiểng và lan cắt cành
và 2 con là bò sữa và cá cảnh), tập trung các chương trình đầu tư hệ thống giao thông, cấp nước, thủy lợi, vì vậy giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bình quân hàng năm vẫn đạt mức 30 tỷ đồng một năm [65, tr.20] Tính đến cuối năm 2009, sản xuất nông nghiệp chỉ còn tỷ trọng dưới 1% [65, tr.21] Năm 2011 diện tích đất canh tác trong nông nghiệp còn khoảng 1.060 ha (bao gồm đất trồng cây hàng năm là 350 ha
và đất trồng cây lâu năm, cây kiểng 710 ha) Từ trong điều kiện diện tích đất thu hẹp nhưng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp hàng năm chỉ giảm 3,5%, với giá trị sản xuất đạt từ 23 – 25 tỷ đồng/năm [18, tr.53] Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và xã hội ở khu vực nông thôn và đời sống nông dân từng bước được cải thiện và đổi mới
Về cơ cấu nội ngành: cho đến nay ngành trồng trọt đã có giá trị cao trong giá trị sản xuất chung (70%) [18, tr.53], phù hợp với xu thế trong quá trình đô thị hóa, ngành trồng trọt hoa kiểng, cây con giống đang có xu hướng phát triển ổn định; ngành chăn nuôi khó khan về ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và giá thành sản phẩm tiêu thụ cao khó cạnh tranh trên thị trường
Những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã giúp nhiều hộ nông dân vươn lên thoát nghèo, đời sống khá giả hơn, giải quyết một lượng lao động nông nghiệp đáng kể
Trang 241.3.2 Về đầu tư xây dựng cơ bản
Nhiều năm qua, nhất là từ khi Thủ Đức trở thành quận, nhiều tuyến đường trong Quận được mở, nâng cấp, toàn bộ cầu khỉ được thay bằng cầu bê tông Những con đường mới, những cây cầu đã nối vùng Gò Đồi với vùng Bưng, tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, qua đó thúc đẩy sản xuất công – nông nghiệp cùng phát triển Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Thủ Đức nói riêng cũng như khu vực phía Đông thành phố Hồ Chí Minh nói chung đang nổi lên nhờ những làn sóng đầu tư mạnh mẽ về hạ tầng cũng như các công trình tiện ích trong khu vực như khu đô thị Thủ Thiêm, hầm Thủ Thiêm, tuyến Xa lộ Hà Nội mở rộng… Riêng đối với Thủ Đức, ngoài hệ thống hạ tầng giao thông hiện hữu như quốc lộ 1, quốc lộ 13, Quận Thủ Đức còn được hưởng lợi từ các công trình giao thông trọng điểm như tuyến Tân Sơn Nhất - Bình Lợi, mở rộng lộ giới quốc lộ 13 lên 60m và cầu Hiệp Bình, tuyến đường sắt Metro Điều này trở thành động lực làm tăng sức hút lên thị trường bất động sản khu vực
Đường sắt quốc gia chạy qua quận Thủ Đức đang được nâng cấp, kể cả ga Bình Triệu, ga Sóng Thần, tạo cho Thủ Đức thêm một lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội
Thu ngân sách nhà nước hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu pháp lệnh thành phố giao, năm sau cao hơn năm trước đảm bảo chi ngân sách quận trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi xây dựng cơ bản và giao thông theo kế hoạch đề ra
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung, khối lượng ước thực hiện 263,4 tỷ đồng, đạt 109,2% kế hoạch năm 2013 (241,1 tỷ đồng, không tính vốn bồi thường giải phóng mặt bằng) [122]
Với mức đầu tư lớn từ ngân sách Thành phố, Quận đã tập trung hoàn thành
và đưa vào sử dụng trên 600 công trình, trong đó đã triển khai thực hiện nhiều công trình trọng điểm quy mô lớn theo chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận: Nâng cấp mở rộng đường Tô Ngọc Vân, hệ thống đê bao Rạch Gò Dưa, xây dựng Trung tâm Giáo dục Chính trị Quận, Trường THCS Bình Thọ, bệnh viện Quận, nâng cấp
mở rộng tượng đài chiến tháng Bắc Thủ Đức, Trường Kỹ thuật Công nghiệp Thủ
Trang 25Đức, nâng cấp và chỉnh trang đường Võ Văn Ngân, đường Linh Đông và nâng cấp tuyến đường Đặng Văn Bi, Hiệp Bình và Kha Vạn Cân…
Trong những năm qua, Quận đã tập trung đầu tư cho các ngành, các lĩnh vực trọng điểm như: Năm 2011 chương trình bê tông hóa ở các phường là 254 công trình, với hơn 40km đường Xây dựng mới 01 bệnh viện Quận (500 giường), và 12 trạm y tế phường; Xây dựng hoàn chỉnh Nhà Thiếu nhi Quận, 04 khu văn hóa và nhà bia ghi danh anh hùng liệt sĩ, xây dựng thư viện Quận, xây dựng 23 trường học
và xây dựng trên 450 phòng học mới cho các trường còn lại, hoàn chỉnh trụ sở làm việc cho 12 phường và trên 73 khu phố [18, tr.56]… Tiếp tục vận động nhân dân thực hiện bê tông hóa đường hẻm, mở hẻm làm đường theo phương châm Nhà nước
và nhân dân cùng làm, trong năm 2013 đã vận động thực hiện 142 công trình, kinh phí hơn 21,281 tỷ đồng, nhân dân đã hiến 105 m2 đất, trị giá 1,2 tỷ đồng [122]
Theo định hướng phát triển chiến lược đến năm 2025 của thành phố Hồ Chí Minh, Quận Thủ Đức thuộc vào nhóm các quận được tập trung phát triển các khu
đô thị mới có quy mô lớn, đồng bộ về hạ tầng xã hội nhằm hướng đến vai trò là khu
đô thị mở rộng, đón nhận xu hướng giãn dân từ khu vực trung tâm trong hiện tại và tương lai
Như vậy, Thủ Đức ngày nay đã có những thay đổi rất lớn, với tính cách đô thị hóa ngày càng đậm nét Lý do chính của hướng phát triển đó là do Thủ Đức ngày nay đã trở thành quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh Trong tương lai, chắc chắn vùng Thủ Đức sẽ còn phát triển nhiều hơn về mọi mặt, đặc biệt là hướng công nghiệp hóa
1.3.3 Về văn hóa – xã hội
- Về hoạt động văn hóa
Trong những năm qua, các phong trào vận động quần chúng tại quận Thủ Đức ngày càng đi vào chiều sâu, mang lại nhiều hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao đời sống nhân dân Nét đẹp văn hóa, văn minh đô thị dần hình thành qua phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Chương trình vì người
nghèo; Phong trào đền ơn đáp nghĩa Qua đó phát động nhiều cuộc vận động với sự
Trang 26tham gia đông đảo cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân như: xây dựng gia đình văn hóa; khu phố văn hóa; phường văn hóa (phường đạt chuẩn văn minh đô thị); công sở văn minh – sạch đẹp – an toàn; trường học có đời sống văn hóa tốt; chợ đạt chuẩn văn minh thương nghiệp; nhà trọ văn hóa… tạo sự chuyển biến về chất lượng trong cộng đồng dân cư
Công tác quản lý trên lĩnh vực văn hóa luôn được chú trọng, các hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực văn hóa diễn ra hết sức sôi động, phong phú nhưng cũng rất phức tạp Do đó, các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở chấn chỉnh và xử lý các trường hợp vi phạm, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường văn hóa cơ sở, lập lại trật tự kỷ cương nếp sống văn minh đô thị Đồng thời duy trì thực hiện tốt chương trình mục tiêu ba giảm nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Trong những năm qua Quận Thủ Đức đã đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa như nhà Thiếu nhi, Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Thể dục thể thao, Thư viện, Nhà Bia ghi danh liệt sỹ… Các thiết chế văn hóa đi vào hoạt động tạo sân chơi giải trí văn hóa lành mạnh cho người dân
- Về công tác giáo dục đào tạo và dạy nghề
Thủ Đức là khu vực tập trung khá nhiều trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh như hệ thống trường Đại học Quốc gia, Đại học Nông Lâm, Đại học Ngân hàng, Đại học An Ninh, Cao đẳng Công thương, Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, Cao đẳng xây dựng số 2, hay các trường trung cấp như Trung cấp Đại Việt, Trung cấp An ninh Hàng năm hệ thống các trường này thu hút một số lượng lớn sinh viên trong cả nước đến học tập và đào tạo
ra hàng ngàn nhân lực chất lượng cao cho đất nước mỗi năm Bên cạnh đó là hệ thống các trường trung học phổ thông, trung học cơ sở, mầm non ngày càng được chú trọng cả về chất lượng dạy, học cũng như cơ sở vật chất, kỹ thuật
Đối với tình hình dạy và học ở các trường trên địa bàn Quận được chỉ đạo tổ chức nghiêm túc, đúng qui định, chủ yếu tập trung nâng cao chất lượng dạy và học Riêng năm học 2012 - 2013: Hiệu suất đào tạo ổn định với 99,2% ở bậc tiểu học và 90,5% bậc trung học cơ sở Hoạt động xóa mù chữ và phổ cập giáo dục được quan
Trang 27tâm duy trì thực hiện, 12/12 phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập bậc trung học, trung học cơ sở và tiểu học [122]
Về công tác phát triển cơ sở trường lớp: xây dựng mới đưa vào sử dụng trường THCS Nguyễn Văn Bá, THCS Trường Thọ, tiểu học Đỗ Tấn Phong; khởi công xây dựng mới trường mầm non Hiệp Bình Chánh, mầm non Bình Chiểu, trường tiểu học Linh Đông, tiểu học Bình Chiểu, THPT Đào Sơn Tây và khởi công xây dựng mở rộng Trung tâm giáo dục thường xuyên Quận; thực hiện nâng cấp, sửa chữa trong hè năm 2013 tại 20 trường học với tổng kinh phí đầu tư và mua sắm thiết bị trên 25,5 tỷ đồng (trong đó xây dựng mới và sữa chữa nâng cấp là 19 tỷ đồng, mua sắm trang thiết bị là 6,5 tỷ đồng) [122]
Cùng năm, công tác đào tạo nghề tiếp tục được duy trì và phát triển Các trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh đào tạo 17.806 học viên, đạt 161,87% kế hoạch năm, riêng trường Trung cấp nghề đã tuyển sinh 10.810 học viên đào tạo sơ cấp và duy trì đào tạo hệ Trung cấp nghề và Cao đẳng liên thông Ngoài
ra, Quận đã giới thiệu cho 366 học sinh thực tập tại các xí nghiệp [122]
- Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe
+ Công tác khám và điều trị: đảm bảo công tác khám chữa bệnh, trong năm
2013 bệnh viện Quận đã khám và điều trị cho 886.370 lượt người, đạt 136% kế hoạch năm [122]
+ Công tác dân số: tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền về dân số
kế hoạch hóa gia đình như: Tháng hành động quốc gia về Dân số, kỷ niệm 51 Ngày Dân số Việt Nam; duy trì hoạt động điểm tư vấn Kế hoạch hóa sinh sản tiền hôn nhân; ra mắt câu lạc bộ sức khỏe tiền hôn nhân tại phường Linh Xuân; hướng dẫn chuyên trách Dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp cận kho dữ liệu điện tử chuyên ngành; Tuyên truyền chủ trương chính sách về công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình
+ Công tác phòng chống dịch bệnh: từ đầu năm 2013, Trung tâm Y tế dự phòng đã có biện pháp quản lý, giám sát phòng chống các dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn và chỉ đạo Trạm Y tế 12 phường khảo sát các vùng nguy cơ,
Trang 28điểm nguy cơ, đồng thời có biện pháp xử lý lăng quăng, phun hóa chất diệt muỗi, khống chế không để dịch bệnh bùng phát tại địa phương; đặc biệt là sốt xuất huyết, tay chân miệng, số ca mắc so cùng kỳ giảm (tay chân miệng 131 ca, giảm 72,8%; sốt xuất huyết 216 ca, giảm 69,8% so năm 2012) [122]
- Thực hiện chính sách xã hội
+ Công tác giải quyết việc làm: Trong năm 2013 đã giới thiệu, giải quyết việc làm cho 14.832 lao động, đạt 114,09% kế hoạch năm; giải quyết kịp thời 08 cuộc tranh chấp lao động tập thể dẫn đến ngừng việc tập thể/3.460 lao động [122]
+ Công tác chăm lo diện chính sách và bảo trợ xã hội được duy trì tốt; đảm bảo công tác chi trả cho trên 2.389 trường hợp chính sách, trợ cấp 1 lần cho 543 đối tượng và chi trợ cấp thường xuyên cho 4.342 đối tượng bảo trợ xã hội chính sách với tổng kinh phí trên 23,829 tỷ đồng Ngoài ra đã thăm tặng quà nhân dịp tết, lễ cho 39.792 lượt đối tượng gia đình chính sách, hộ nghèo… trên địa bàn quận và một số vùng căn cứ cách mạng cũ của Thủ Đức/15.977.067.000 đồng [122]
+ Công tác giảm nghèo, tăng hộ khá được tập trung triển khai thực hiện nhiều giải pháp thực hiện lộ trình giảm nghèo và vận động các nguồn quỹ hỗ trợ người nghèo Từ năm 2009 đến năm 3013, tổng số tiền vận động được là 2.728,841 triệu đồng, đạt tỷ lệ bình quân 121,28% kế hoạch [95, tr.2] Công tác giảm nghèo- tăng hộ khá theo lộ trình đã đưa 6.406 hộ vượt chuẩn nghèo giai đoạn 3 (2009- 2013) với mức thu nhập trên 12 triệu đồng/người/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 0,64% so với tổng số hộ dân toàn quận Cuối năm 2013, Thủ Đức đã hoàn thành mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo mức thu nhập 12 triệu đồng/ người/ năm trở xuống trước thời gian 2 năm theo Đề án chương trình giảm nghèo tăng hộ khá của Thành phố giai đoạn 2009- 2015 và trước 1 năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ quận lần thứ IV [95, tr.2]
+ Công tác phòng chống tệ nạn xã hội: tình hình quản lý người sau cai nghiện tại địa phương theo Nghị định 94/NĐ-CP của Chính phủ từ đầu chương trình đến nay là 303 người, biến động giảm 159 người Hiện quản lý 144 người, trong đó 69 người đã có việc làm ổn định, đạt tỷ lệ 47,91% Quản lý người nghiện
Trang 29cư trú trên địa bàn Quận: phát hiện 253 người (Tăng 14,47% so với cùng kỳ năm 2012), trong đó, nghiện mới 171 người, tái nghiện 82 người, đã lập hồ sơ đưa vào
cơ sở chữa bệnh 175 người Tập trung 204 đối tượng người lang thang, xin ăn và đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn vào các cơ sở (giảm 14,35% so với cùng năm 2012) [122]
+ Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em: cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho
5272 trẻ; duy trì phát 155 suất học bổng do Hội Partage tài trợ; đã thực hiện hỗ trợ, miễn giảm học phí cho 2.543 học sinh, sinh viên/ 1.427,643 triệu đồng; chăm lo đầu năm học 2013-2014 cho trên 1200 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nhập cư có hoàn cảnh khó khăn với kinh phí gần 900 triệu đồng; qua các đợt lễ, tết đã chăm lo cho 3.188 trẻ/514 triệu đồng Xét đề nghị Sở LĐTB&XH thành phố công nhận 9/12 phường phù hợp với trẻ em [122]
+ Công tác Bình đẳng giới: duy trì điểm tư vấn sức khỏe sinh sản – tiền hôn nhân cho 346 ca tại điểm tư vấn phường Linh Trung; tổ chức truyền thông 12 buổi trong trường học và cộng đồng, với sự tham dự của 2.326 học sinh THCS, nam - nữ công nhân nhà trọ, khu lưu trú; tổ chức 11 buổi/547 người đến dự chuyên đề, truyền thông lồng ghép về các nội dung sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình [122]
- Hoạt động bảo hiểm xã hội (BHXH)
Hiện cơ quan BHXH đang quản lý thu BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc và tự nguyện, BHYT học sinh là 173.869 đối tượng Trong đó, tham gia BHXH, BHYT bắt buộc là 1.962 đơn vị với 42.232 lao động, ước thu đến 31/12/2013 là 553 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch, tăng 17% so với cùng kỳ [122]
Về công tác chi trả, đã chi thường xuyên lương hưu và trợ cấp BHXH cho 84.986 lượt đối tượng/280,06 tỷ đồng; chi chế độ ốm đau, thai sản và trợ cấp nghỉ dưỡng sức 19.396 lượt đối tượng/ 30,8 tỷ đồng; thẩm định chi BHYT 140 hồ sơ/287,17 triệu đồng; xét duyệt hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH 01 lần 6.348 hồ sơ/100,5 tỷ đồng và truy trả theo Nghị định 83/CP 864 hồ sơ/4,39 tỷ đồng [122]
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của Đảng bộ quận Thủ Đức
Trang 30Khoảng đầu thế kỷ XX, huyện Thủ Đức với diện tích 25.0000 héc ta, chia làm 2 vùng (gò và bưng), trên 20.000 dân lúc đầu (do tình trạng tản cư do chiến tranh, thời chống Pháp khoảng 80.000, thời chống Mỹ 200.000), đa số là nông dân, chỉ có một số ít làm nghề thủ công (dệt lụa, đồ gốm, lu, gạch ngói, sành sứ và các lò đường, xóm nhang, xóm gióng…) [17, tr.13]
Sự ra đời của giai cấp công nhân được hình thành từ đầu thế kỷ XX với việc xây dựng hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, xây dựng cầu Gành, cầu Bình Lợi, đề - pô xe lửa Dĩ An (trong năm 1902 đã có 500 công nhân) Cùng với việc xây dựng các công trình trên, bọn thực dân Pháp và bọn địa chủ còn cướp đất của nông dân, lập nên các đồn điền cao su (Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Bình An, Linh Xuân, Long Thạnh Mỹ, Long Bình) Nông dân không có tư liệu sản xuất, một số xin làm việc trong các hầm mỏ, đồn điền trở thành những công nhân Theo thống kê của Pháp đến năm 1906, số lượng công nhân đã có trên 5.000 người [17, tr.14]
Cùng với sự cùng khổ bị áp bức bóc lột, sưu cao thuế nặng, bị cướp đất, giai cấp nông dân và công nhân cùng chung số phận, phải lao động nặng nhọc từ 10 đến
12 giờ, bị đòn roi, phạt vạ với nhiều lý do hết sức vô cớ, nên liên tục có nhiều phong trào tự phát đứng lên chống lại, đòi tăng lương, giảm giờ làm Phong trào lúc đầu mang tính tự phát, về sau dần dần mang tính tự giác, công nhân đã có nhiều cuộc tham gia đấu tranh cùng công nhân Ba Son và các xí nghiệp nội thành
Giai cấp công nhân Thủ Đức đã bắt đầu tiếp thu và tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác –Lênin và cách mạng vô sản Cuối năm 1928, Kỳ bộ Nam kỳ thực hiện chủ trương “Vô sản hóa”, các nhà máy xí nghiệp trên địa bàn Thủ Đức cũng được hội viên Thanh niên cách mạng đồng chí hội tuyên truyền, một số công nhân
ưu tú được tổ chức huấn luyện Tháng 8-1929, phong trào công nhân phát triển mạnh ở thành phố, các tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” không đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào, do đó nhiều tổ chức Đảng Cộng sản ra đời
Tại Đa Kao (Sài Gòn), đồng chí Châu Văn Liêm đã tổ chức một chi bộ Đảng, trong đó có đồng chí Nguyễn Đức Thiệu và một số đồng chí khác Tháng 12-
1929, đồng chí Nguyễn Đức Thiệu được cử lên nhà máy xe lửa Dĩ An để xây dựng
Trang 31cơ sở đảng và lãnh đạo phong trào Với tính chất quan trọng của nhà máy xe lửa Dĩ
An, Xứ ủy vẫn quyết định cho thành lập chi bộ dự bị do đồng chí Nguyễn Đức Thiệu làm Bí thư (thuộc chi bộ An Nam Cộng sản Đảng)
Tháng 2/1930, sau khi ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Ngô Gia Tự về phụ trách Xứ ủy Nam Kỳ, đã trực tiếp lên đề-pô xe lửa Dĩ An chỉ đạo phong trào công nhân và xây dựng cơ sở Đảng Đồng chí nhận thấy tầm quan trọng của phong trào công nhân ở đây, trong khi tổ chức cơ
sở đảng còn yếu vẫn phải tập trung củng cố Đầu tháng 3-1930, Xứ ủy đã cử hai đồng chí Nguyễn Văn Ánh và Hùng (tức An) về tăng cường xây dựng chi bộ đảng
do đồng chí Nguyễn Đức Thiệu làm Bí thư Chi bộ đã nhất trí tiến hành xây dựng các tổ chức quần chúng trong công nhân để đi đến thành lập công hội đỏ
Trung tuần tháng 3-1930, nhiều tổ chức quần chúng được thành lập trong xí nghiệp, lấy tên là Hội tương tế đã tạo điều kiện để xâm nhập vào quần chúng, chi bộ
đã thành lập các nông hội trong thôn xã Một tổ chức quần chúng rộng rãi được thành lập cả ở trong xí nghiệp và ngoài xí nghiệp, được gọi chung là Công nông liên hiệp hội
Cuối tháng 3-1930, các công hội đỏ được thành lập trong các Equipe (phân xưởng) trong đề - pô xe lửa Dĩ An để tuyên truyền, vận động và lãnh đạo quần chúng
Sự kiện chi bộ Đảng Cộng sản ra đời đã đánh dấu một giai đoạn mới, giai đoạn giai cấp công nhân và nhân dân Thủ Đức có chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, có đường lối đúng đắn Nó đánh dấu từ giai đoạn tự phát sang tự giác
Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ra đời ở Thủ Đức là kết quả tất yếu của truyền thống đấu tranh yêu nước của nhân dân Thủ Đức trong tình hình mới của lịch sử, là sự kết hợp tất yếu của phong trào công nhân với chủ nghĩa Mác-Lênin và truyền thống đấu tranh yêu nước lâu đời của dân tộc
Nhìn lại chặng đường lịch sử hơn 100 năm, từ khi thực dân Pháp đặt chân lên mảnh đất “Bến Nghé” Gia Định (1859), nhân dân quận Thủ Đức với truyền
Trang 32thống yêu nước của mình đã chiến đấu chống lại ngoại xâm không mệt mỏi Từ những năm chưa có Đảng “Đất nước trong màn đêm đen tối như không có đường ra”! Vậy mà phong trào yêu nước của nhân dân Thủ Đức vẫn bùng lên theo Trương Định, “tạo nên hào khí Đồng Nai” Tiếp theo là những năm đầu của thế kỷ 20 các phong trào “Đông Du”, “Thiên địa hội” và đến “Nguyễn An Ninh”… đều thể hiện một tinh thần yêu nước vô bờ Truyền thống yêu nước ấy đã dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động Thủ Đức tìm được lối đi đúng đắn, đến với Đảng, đội tiền phong của giai cấp công nhân, tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin
Từ khi có Đảng, chi bộ đầu tiên ra đời ở đề-Pô xe lửa Dĩ An, bằng thực tiễn đấu tranh 15 năm liên tục “1930-1945”, chi bộ Đảng, giai cấp công dân và nhân dân Thủ Đức đã chứng minh hùng hồn về truyền thống yêu nước, yêu quê hương Truyền thống ấy thật quý báu như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, mỗi lần quê hương bị xâm lăng thì truyền thống ấy lại bùng cháy lên như ngọn lửa thiêu đốt quân thù, mười lăm năm ấy nhân dân Thủ Đức luôn một lòng, một dạ sắc son đi theo Đảng
Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, đó là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh của toàn Đảng và nhân dân cả nước Kết quả đó gắn liền với sự đấu tranh
và hy sinh của nhân dân địa phương, và sự lãnh đạo tài giỏi chi bộ Đảng bộ huyện Thủ Đức Nhờ vậy mà phong trào cách mạng ở Thủ Đức từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đã tiến kịp với nhịp độ của phong trào cách mạng cả nước
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, cũng là quá trình Huyện Đảng bộ Thủ Đức vừa chiến đấu, vừa xây dựng Đảng Đội ngũ đảng viên đã được thử thách, sàng lọc trong ngọn lửa của cuộc chiến tranh cách mạng Từ vài đảng viên về lãnh đạo cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám, đến tháng 10-1946 đã thành lập huyện ủy đầu tiên với ba chi bộ (Tân Đông hiệp, Tam Bình và Tăng Nhơn Phú) Đến năm 1950 đã có trên 900 đảng viên, hàng chục chi đảng bộ cơ sở Đội ngũ cán
bộ đảng viên có phẩm chất và kinh nghiệm, có tổ chức từ huyện xuống xã Đó là vốn quí nhất để lại cho huyện bộ và nhân dân Thủ Đức tiến hành đấu tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi sau này
Trang 33Vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân huyện Thủ Đức cùng với nhân dân thành phố Sài Gòn, nhân dân miền Nam và cả nước phải tiến hành ngay cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã đương đầu với một kẻ thù mạnh nhất, tàn bạo nhất, xảo quyệt nhất và thâm độc nhất của phe đế quốc chủ nghĩa có cuồng vọng làm bá chủ toàn cầu Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và dưới
sự lãnh đạo của tỉnh ủy Gia Định, của khu ủy Sài Gòn- Gia Định (hiện nay là Thành
ủy thành phố Hồ Chí Minh) Đảng bộ và nhân dân đã chiến đấu rất anh dũng, ngoan cường và sáng tạo, hoàn thành suất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần vào thắng lợi chung của thành phố và của cả nước, đó là kết thúc 21 năm chống Mỹ cứu nước bằng chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh vĩ đại Ngày 30-4-1975 nhân dân Thủ đức cùng với nhân dân miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà được thống nhất
và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Khu Sài Gòn – Gia Định, trong đó có huyện Thủ Đức đã được vinh dự trở thành thành phố mang tên Bác – thành phố Hồ Chí Minh
Bước vào thời kỳ xây dựng, khôi phục và phát triển nền kinh tế, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra, quận Thủ Đức gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh
tế trình độ thấp; thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi; tình hình và thế giới diễn biến hết sức phức tạp; kinh tế thế giới và khu vực đan xen những biểu hiện suy thoái, phục hồi và phát triển… Trong hoàn cảnh đó, toàn bộ Đảng và nhân dân quận Thủ Đức đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách; giữ vững ổn định chính trị; kiện toàn tổ chức bộ máy; quốc phòng an ninh được tăng cường; kinh tế văn hóa xã hội có bước phát triển, tiến bộ; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt, nhất là đối với diện chính sách, dân nghèo Những thành tựu đạt được đến nay đã tạo niềm tin và động lực đưa Đảng bộ Quận hướng tới những nhiệm vụ, mục tiêu to lớn trong thời gian tới
Trang 34Tiểu kết chương 1
Quận Thủ Đức trải qua nhiều đổi thay cả về lãnh thổ lẫn hành chính trong lịch sử phát triển Đến năm 1997, thì quận Thủ Đức mới chính thức được hình thành cùng với Quận 2, Quận 9 từ huyện Thủ Đức
Trong những cuộc chiến đấu của quân và dân ta, Thủ Đức cũng không kém những đóng góp lớn lao từ những sự biến đổi của nó Với địa hình tự nhiên, đất đai rộng lớn, dân cư tập trung đông đúc, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất lớn và các cụm trường đại học lớn Là một vị trí chiến lược quan trọng, là một trong địa bàn giáp cả hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy với nhiều quận…Nhiều sông ngòi bao phủ, thuận lợi cho việc thông thương hàng hóa và điều kiện để phát triển, nổi lên sự đầu tư mạnh mẽ về hạ tầng cũng như các công trình tiện ích trong khu đô thị, làm động lực tăng sức hút cho thị trường bất động sản khu vực
Như vậy, Thủ Đức thuộc vào nhóm các quận được tập trung phát triển khu
đô thị mới có quy mô lớn, đồng bộ về hạ tầng, xã hội nhằm hướng đến vai trò là khu đô thị mở rộng, đón nhận xu hướng giãn dân từ khu vực trung tâm trong hiện tại và tương lai Với những thay đổi rất lớn ngày càng đậm nét và phát triển theo hướng công nghiệp hóa
Chính trong điều kiện như vậy thì Thủ Đức đã có lịch sử hình thành đảng bộ tương đối sớm Sự ra đời của giai cấp công nhân hình thành từ đầu thế kỷ XX, từ tự phát lên tự giác đến việc tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản từ đó nhiều tổ chức đảng cộng sản ra đời Sự kiện đảng cộng sản ra đời đánh dấu một giai đoạn mới, giai đoạn của giai cấp công nhân và nhân dân Thủ Đức
có chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, có đường lối đúng đắn Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và của tỉnh ủy Gia Định và của khu ủy Sài Gòn-Gia Định (Tỉnh ủy thành phố Hồ Chí Minh) Đảng bộ và nhân dân chiến đấu rất anh dũng ngoan cường và sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ của mình góp phần thắng lợi chung của cả nước
Trang 35Bước vào thời kỳ xây dựng khôi phục và phát triển kinh tế đặc biệt là thời kỳ đổi mới ngoài những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra thì quận cũng gặp không ít khó khăn thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế thấp, dịch bệnh, tình hình diễn biến rất phức tạp…trong hoàn cảnh đó, đảng bộ và nhân dân quận Thủ Đức đã nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, kiện toàn tổ chức bộ máy quốc phòng an ninh được tăng cường, kinh tế, văn hóa-xã hội có bước phát triển tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt, nhất là đối với diện chính sách, dân nghèo Những thành tựu đạt được đã tạo niềm tin và động lực đưa Đảng bộ quận Thủ Đức hướng đến những nhiệm vụ, mục tiêu to lớn trong thời gian tới Như vậy có thể nói với những nỗ lực và hoạt động xuyên suốt thì quận Thủ Đức đã phát triển một cách toàn diện
Trang 36
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 2.1 Khái niệm nghèo đói và các tiêu chí xác định nghèo đói
2.1.1 Khái niệm về nghèo đói
Nhìn chung bản chất nghèo đói ở bất kỳ quốc gia nào cũng như nhau, nhưng biểu hiện của nó lại khác nhau do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội và văn hóa quy định, vì vậy có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói Tuy nhiên, có một quan niệm được nhiều bên thừa nhận, đó là tại hội nghị về chống nghèo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, đã đưa ra định nghĩa về nghèo như
sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương” [120] Khái niệm về nghèo này xuất phát từ việc tiếp cận thỏa mãn các
nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh, nhà ở ; sự thiếu hụt một hoặc một số các nhu cầu đó được coi là nghèo Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo
như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi
ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nghèo đói là: “Cá nhân hay hộ gia đình
không có khả năng để đạt được mức sống tối thiểu, được đo bằng những nhu cầu cơ bản hoặc nhu cầu cá nhân cần thiết để thỏa mãn những nhu cầu đó” [34, tr.71]
Trang 37Bản thân nghèo đói cũng bao hàm mức độ nghèo khác nhau Với cách tiếp cận khác nhau về thiếu thốn sẽ phân định ngưỡng nghèo khác nhau Khi xét trên
phương diện mức độ nghèo, các chuyên gia còn phân chia nghèo đói ra thành nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa
mãn các như cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu các nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và như cầu hàng ngày gồm: văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại
Nghèo tương đối là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình
của cộng đồng trên một địa bàn và trong thời điểm đang xem xét
Tuy nhiên, nếu phân tích khái niệm nghèo đói thành hai khái niệm riêng biệt
“nghèo” và “đói” thì có thể thấy khái niệm này vừa có sự khác biệt, vừa có mối quan hệ mật thiết với nhau Thực ra nghèo và đói là hai vấn đề khác nhau Ở Việt Nam thường được chia làm hai khái niệm riêng biệt
“Đói là một khái niệm dùng để biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no,
không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, do đó họ không đủ sức lao động và tái sản xuất sức lao động
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần
những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện “Là tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ chi đủ cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có Ngoài ra các nhu cầu khác như ở, mặc, y tế, văn hoá, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng được một phần ít ỏi” [117, tr.16]
Như vậy, quan niệm về đói nghèo của từng quốc gia, từng vùng hay từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người trong cuộc sống hàng ngày Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Trang 38Trên đây là những định nghĩa khác nhau về đói nghèo Như vậy, đói nghèo không có một tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung nào cho tất cả các quốc gia Đói nghèo là một khái niệm động, nó còn thay đổi theo thời gian và không gian để định nghĩa ngày càng hoàn thiện hơn
2.1.2 Xác định chuẩn nghèo
2.1.2.1 Phương pháp xác định chuẩn nghèo
* Ý nghĩa của việc xác định chuẩn nghèo: Chuẩn nghèo (hay còn gọi là
đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo) là một thước đo để xác định ai nghèo, ai không nghèo, điều đó cũng có nghĩa quan trọng cho việc:
- Xác định đối tượng cần trợ giúp phù hợp;
- Hoạch định chính sách và các giải pháp trợ giúp;
- Tổ chức thực hiện giúp đối tượng tiếp cận với các chính sách trợ giúp
* Có hai phương pháp xác định chuẩn nghèo:
Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu: để đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội
- Bước một là xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (nhu cầu
ăn uống để tồn tại) Để xác định được nhu cầu này người ta xác định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày một người có được 2100 Kcal, rổ hàng hoá khoảng 40 mặt hàng (rổ hàng hoá tính cho Việt Nam cũng 40 mặt hàng và xếp thành 16 nhóm hàng hoá: gạo các loại; lương thực khác quy gạo; thịt các loại; mỡ, dầu ăn; tôm cá; trứng gia cầm các loại; đậu phụ; đường, mật, sữa, bánh, kẹo, mứt; nước mắm; chè, cà phê; rượu, bia; đồ uống khác; đỗ các loại; lạc, vừng; rau các loại; quả chín); từ rổ hàng hoá này người ta xác định được số tiền cần thiết chi tiêu cho lương thực, thực phẩm Tuy nhiên, giá cả của rổ hàng hoá ở thành thị, nông thôn và các vùng rất khác nhau,
vì vậy người ta phải lấy giá trị trung bình của rổ hàng hoá này
- Bước hai là xác định nhu cầu chi tiêu phi lương thực thực phẩm (7 nhu cầu
cơ bản còn lại) Thông thường chi cho lương thực, thực phẩm chung của dân cư chiếm khoảng 60% tổng tiêu chí, còn 40% là nhu cầu phi lương thực thực phẩm
Trang 39Đối với nhóm giàu tỷ lệ tương ứng là 50% và 50%; đối với nhóm nghèo 70% chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, còn 30% chi tiêu cho phi lương thực thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội)
- Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực thực phẩm
Tổng chi tiêu = Chi tiêu cho LTTP + Chi tiêu cho phi LTTP
+ Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu được gọi là đường nghèo chung hay còn gọi là chuẩn nghèo cao Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho LTTP là đường nghèo lương thực thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp
Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình: Lấy chuẩn nghèo bằng 1/2 hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong 1/2 hay 1/3 mức thu nhập bình quân; nước phát triển (nước giàu) thu nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy mức 1/2 thu nhập bình quân đầu người, nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3 thu nhập bình quân đầu người; nước đang phát triển có thể lấy ở khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người
Như vậy, chuẩn nghèo biến đổi theo không gian và thời gian Về không gian
nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, chẳng hạn, đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi Về thời gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử
2.1.2.2 Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn
Ở Việt Nam nghèo đói được phân theo chuẩn nghèo quốc gia, nghĩa là dựa vào thu nhập bình quân khẩu/tháng
Trang 40* Giai đoạn 1995 – 1997:
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng
- Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng
* Giai đoạn 1997 – 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH):
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55.000 đồng)
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương đương 70.000 đồng)
- Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
* Giai đoạn 2001 – 2005 (Quyết định số 143/2000/QĐ-LĐTBXH):
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm)
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm)
* Giai đoạn 2011 – 2015 (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg): Ban hành
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: