Thực trạng về những ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với đời sống văn hóa người Việt ở Cà Mau hiện nay ..... Trong bức tranh chung của nền văn hóa Việt Nam, đạo đức Phật giáo đã thực
Trang 1- -
TRẦN GIAI THOẠI
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2- -
TRẦN GIAI THOẠI
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn của PGS TS Trương Văn Chung Nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trần Giai Thoại
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: NGUỒN GỐC, NỘI DUNG, TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 12
1.1 NGUỒN GỐC CỦA PHẬT GIÁO 12
1.1.1 Nguồn gốc kinh tế, chính trị, xã hội của Phật giáo 12
1.1.2 Nguồn gốc văn hóa, tư tưởng của Phật giáo 22
1.2 NỘI DUNG, TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 26
1.2.1 Nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo 26
1.2.2 Tính chất và đặc điểm cơ bản của đạo đức Phật giáo 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 56
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU HIỆN NAY 58
2.1 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU 58
2.1.1 Đặc điểm chung văn hóa vùng Tây Nam Bộ 58
2.1.2 Đặc điểm riêng vùng văn hóa ở Cà Mau 62
2.2 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC, TỔ CHỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU HIỆN NAY 67
2.2.1 Đạo đức Phật giáo trong văn hóa nhận thức 75
2.2.2 Đạo đức Phật giáo trong văn hóa tổ chức 88
2.2.3 Đạo đức Phật giáo trong văn hóa ứng xử 95
2.3 DỰ BÁO VỀ VIỆC KẾ THỪA, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NHẰM XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT Ở CÀ MAU TRONG THỜI GIAN TỚI 104
2.3.1 Thực trạng về những ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với đời sống văn hóa người Việt ở Cà Mau hiện nay 104
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 117
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 131
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện nay đang trong thời k quá độ lên chủ ngh a xã hội, xây dựng mô hình kinh tế thị trường có sự quản l của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ ngh a Sau ba mươi năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các l nh vực cơ bản của đời sống xã hội như: kinh tế, văn hóa, xã hội Đời sống vật chất và tinh th n của qu n ch ng nhân dân từng bước được cải thiện, chất lượng cuộc sống
ngày càng được nâng cao Những thành tựu trên đã được
kh ng định:
nhân dân
” [34, tr.4] Tuy nhiên, do quá trình hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thị trường thế giới, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường c ng bộc lộ những hiện tượng đáng lo ngại về lối sống và đạo đức Mặt trái của nền kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực đến các giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam Hiện nay, trong đời sống xã hội đã xuất hiện những hiện tượng tha hóa về đạo đức, tha hóa trong mối quan hệ giữa con người với con người, sự vô cảm, lối sống ích k , thực dụng, thậm chí là những hành vi nguy hại cho cộng đồng Những hiện tượng trên đã được đề cập đến:
”
Trang 7[34, tr.54] Do vậy, hơn l c nào hết, vấn đề xây dựng nền văn hóa mới và sự trở về với những giá trị cốt l i của văn hóa và đạo đức là hết sức cấp thiết
trong quá trình hội nhập kinh tế thị trường hiện nay, như trong
đã nhấn mạnh:
V
h
” [34, tr.70-71]
Trong bức tranh chung của nền văn hóa Việt Nam, đạo đức Phật giáo
đã thực sự trở thành một bộ phận trong đời sống văn hóa tinh th n của dân tộc, thấm sâu vào tiềm thức và trở thành một trong những giá trị văn hóa của người Việt Nam Vì vậy, đề tài về đạo đức Phật giáo mà tác giả nghiên cứu chính là việc trở về với những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của người Việt Nam, khơi dậy và làm sáng r nó nh m mục đích gi p con người
kh c phục những hạn chế, sự tha hóa về mặt đạo đức, lối sống góp ph n hoàn thiện nhân cách con người, hướng tới giá trị chân – thiện – m , xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản s c dân tộc
Phật giáo là một tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến truyền thống văn hóa của người Việt Nam, đặc biệt là cộng đồng người Việt ở Tây Nam Bộ nói
Trang 8chung và Cà Mau nói riêng Phật giáo đã đồng hành với người dân Nam Bộ ngay từ khi họ khẩn hoang, xây dựng tổ chức đời sống của họ và nó ảnh hưởng lớn đến đạo đức, lối sống của người Việt ở Tây Nam Bộ nói chung
và Cà Mau nói riêng C ng như cộng đồng người Việt trong cả nước, người Việt ở Cà Mau trong quá trình giao lưu và tiếp biến với văn hóa Phật giáo, đại đa số họ đều lựa chọn Phật giáo B c tông Đại thừa như là một phương pháp và phương tiện để thực hành giải thoát, chứng đ c Niết bàn cho tất cả
ch ng sinh, vạn vật
Trong Ngh quy t 24-NQ/TW c a B chính tr khóa VI, ban hành ngày
16 tháng 10 năm 1990 V ng công tác tôn giáo trong tình hình m i
đã xác định: Tôn giáo là v còn t n t ng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần c a m t b ph c tôn giáo có nhi u
u phù h p v i công cu c xây d ng xã h i m ” “ i và t ch c
o g n bó v i dân t c, có tôn chỉ m
u l phù h p v i lu c, có t ch c phù h p v i b máy nhân
s m b o t t v c hai m i sẽ c xem xét trong từng
ng h p c th cho ho ng” [36, tr.45-46] Vì thế, việc tìm hiểu đạo
đức Phật giáo c ng như ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa của người Việt ở Cà Mau hiện nay là c n thiết và có tính thực ti n
Do đó, trong Báo cáo t ng k 10 c hi n Ngh quy t H i ngh
y (khóa IX) v công tác tôn giáo, tỉnh Cà Mau đã đạt được
những thành tựu nhất định trong Công tác tôn giáo nói chung c ng như Phật
giáo nói riêng: Ch c s c hi n t t các phong tr y m nh các ho ng từ thi n, nhân
o, các chính sách an sinh xã h i c hi n
e H o, ho ng
e t c ” “ “ p
Trang 9””; tích c c tham gia các ho ng xã h i, y t , giáo d o từ thi n, góp phần th c hi n có hi u qu n kinh t –
xã h a bàn tỉnh, c ng c kh – i s ng, v t ch t và tinh thần c ng bào
c nâng lên” [76, tr.6, 9]
Trước sự phát triển của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế, mối quan hệ Phật giáo với xã hội đang có những thay đổi và đang đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức Trong mối quan hệ giữa đạo đức Phật giáo và đời sống văn hóa ở Cà Mau c ng là một trong những vấn đề quan tâm của hệ thống chính trị – xã hội ở Cà Mau Vì những lý do c n thiết trên, tác giả quyết định
chọn đề tài: c Ph t i s ng i Vi t Cà Mau hi n nay” làm luận văn thạc s Triết học của mình để mong làm rõ một
số vấn đề về đạo đức, về mối quan hệ, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Cà Mau hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Ngoài số lượng kinh, luật, luận của Phật giáo được tích l y hơn 2500 năm, c n có nhiều công trình nghiên cứu, sách, tài liệu, luận văn, luận án liên quan đến đề tài mà tác giả tìm hiểu Những công trình này s được liệt
kê cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo, luận văn này trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu về đạo đức Phật giáo c ng như ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh th n của người Việt, có thể chia làm bốn hướng nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến đề tài này như sau:
, các công trình nghiên cứu và tài liệu về lịch sử Phật giáo
trên thế giới và lịch sử Phật giáo Việt Nam:
Những công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam:
- Nguy n Lang với công trình , tập I, II,
III, Nxb Văn học, Hà Nội ấn hành năm 2008, tác phẩm đã phân tích các vấn
Trang 10đề cốt lõi của Phật học và ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh
th n ở Việt Nam một cách tự nhiên Trong một cố g ng chung nh m mạnh
m quay về với văn hóa dân tộc, tác giả đã tìm ra được một kết cấu hợp lý cho bức tranh sống thực của lịch sử Phật giáo Việt Nam từ nguồn gốc đến thế k XIX, góp ph n làm sống lại không khí c ng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo qua các thời đại
- Nguy n Tài Thư, L ch s Ph t giáo Vi t Nam, Nxb Viện Triết học, Hà
Nội – 1991 đã kh ng định r ng thực tế lịch sử đã minh chứng chủ trương g n đạo với đời, với đời sống văn hóa dân tộc là phù hợp với yêu c u của lịch sử
- Lê Mạnh Thát với tác phẩm L ch s Ph t giáo Vi t Nam, tập I, II,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh – 2001 đã cho ch ng ta cái nhìn toàn cảnh về quá trình truyền bá, du nhập và phát triển Phật giáo vào Việt Nam, đánh dấu
sự xuất hiện Phật giáo trên đất nước ta, cách thức tiếp thu tư tưởng và nhận thức Phật giáo của nhân dân ta, vai tr của Phật giáo đối với dân tộc, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và duy trì bản s c truyền thống văn hóa Việt Nam
- Thích Mật Thể 1960 , , Nxb Minh Đức,
Sài G n thuật qua lược sử đức Thủy tổ Phật giáo và tình hình duyên cách Phật giáo ở n Độ, rồi đến Phật giáo ở Trung Hoa; địa thế nước Việt Nam, nguồn gốc và tinh th n người Việt Nam v.v khảo xét Phật giáo từ khi mới
du nhập, l n lượt qua các triều đại cho đến hiện đại Qua đó, cung cấp cho độc giả cái nhìn toàn cảnh về lịch sử truyền bá Phật giáo c ng như sự tiếp biến văn hóa Phật giáo vào nền văn hóa của dân tộc ta
Những công trình nghiên cứu về Phật giáo thế giới:
- Andrew Skilton với quyển ch s Ph t giáo th gi i, Nguy n Văn Sáu d ch, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh – 2003 cung cấp
một cái nhìn tổng thể về lịch sử Phật giáo để làm cơ sở nghiên cứu xa hơn,
Trang 11dù là về giáo pháp hay về lịch sử, có thể mang lại lợi ích cho bất cứ ai muốn
có một hình ảnh toàn diện về lịch sử phát triển của Phật giáo
- P.V Bapat quyển 2500 t giáo, Nguy n Đức Tư và Hữu Song d ch, Nxb Văn hóa thông tin năm 2002 nhấn mạnh đến việc giới thiệu các phương diện khác nhau của Phật giáo như văn học Phật giáo, nền giáo dục Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo, thánh địa Phật giáo, tín đồ Phật giáo, các công trình nghiên cứu về Phật giáo; nguồn gốc của đạo Phật, bốn thời k biên tập Kinh điển Phật giáo, các trường phái Phật giáo, cho độc giả
có cái nhìn toàn diện hơn về nền văn hóa Phật giáo
- Thích Nguyên Tạng với quyển , Nxb Tu viện
Pháp Bảo – Tu viện Quản Đức – 2001 đề cập về xứ sở Phật giáo, nhân vật Phật giáo và các sự kiện Phật giáo kh p thế giới Quyển sách nhấn mạnh đến
sự ra đời và phát triển của Phật giáo ở 20 nước thuộc châu Âu, châu M và châu Úc, bên cạnh Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên, Thái Lan Giới thiệu các tổ chức, hội đoàn, các nhân vật Phật giáo nổi tiếng và các sự kiện Phật giáo quan trọng xảy ra trong suốt quá trình mà Phật giáo đã du nhập vào các nước có nền văn minh hoàn toàn xa lạ với đạo Phật, gi p độc giả có cái nhìn toàn cảnh về Phật giáo kh p thế giới
- của Nguy n Tuệ Chân, Nxb Tôn giáo – 2011
kh ng định với hoàn cảnh lịch sử có những điểm vừa giống, lại vừa khác với Trung Quốc, lịch sử Phật giáo Việt Nam trong các triều đại trước đã ấn chứng được bản s c của riêng mình, tuy vẫn ở trong vùng văn hóa Phật giáo Trung Quốc” tác phẩm nh m để bạn đọc nghiên cứu và tìm hiểu nét tương đồng của lịch sử Phật giáo Trung Quốc đối với Phật giáo và văn hóa Việt Nam
, các công trình nghiên cứu về giáo l Phật giáo:
- Thích Thiện Hoa với công trình gồm ba quyển:
quyển Một, quyển Hai và quyển Ba, Nxb Tôn giáo – 2013 với mục đích xây
Trang 12dựng cho tín đồ có căn bản về giáo l , hiểu biết Phật pháp từ thấp đến cao, thấy được ch qu báu của Đạo, để cho l ng tin được chân chính và vững bền Thông qua công trình này, ch ng ta có thể hiểu biết sâu s c hơn về Phật pháp không chỉ có tín đồ mà cho tất cả mọi người muốn tìm hiểu về Phật pháp
- Nguy n Duy C n với tác phẩm , Nxb Tr – 2015
trình bày kh c chiết, r ràng,gi p độc giả và các nhà nghiên cứu Phật học, các chư tăng, phật tử có dịp hiểu biết khái quát và tường tận về nguồn gốc ra đời, các thuyết lý chân phái của Tiểu thừa, Đại thừa Trong đó tất cả giáo lý của nhà Phật đều tập trung vào sự giải thoát cứu r i con người đi tới Đại Hùng, Đại Lực, Đại Bi – tức là sự giải thoát loài người khỏi mọi n i đau của nhân thế
- Thích Nhất Hạnh với tác phẩm , Nxb Tổng hợp Tp
Hồ Chí Minh – 2009 ghi lại những bài giảng về Phật pháp cơ bản, qua đó r t
ra bài học đạo l rất bổ ích cho tăng ni, phật tử và cả những người ngoại đạo
- Narada Thera (1980), c Ph t và Ph t Pháp, Phạm Kim Khánh
d ch (1998), Nxb Tp Hồ Chí Minh đề cập đến đời sống của Đức Phật và
Phật pháp, giáo l của Ngài, gi p độc giả tìm hiểu đời sống và giáo l căn bản mà Đức Phật đã ban truyền
, các công trình nghiên cứu về đạo đức Phật giáo:
- Thích Minh Châu cuốn của
nhiều tác giả, Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam – 1995 là những bài tham luận của nhiều tác giả nêu lên những cơ sở và nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo, phân tích r thêm nội dung của ch ng như giới, hạnh, nguyện, thiện, ác
- Thích Minh Châu với tác phẩm , Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2002 là một tuyển tập gồm 29 bài nghiên
cứu và thuyết giảng cho tăng, ni, phật tử nh m gi p con người đánh giá hành động; từ đó nhận r con đường để loại trừ những sai l m, khổ đau, tiến đến
Trang 13hạnh ph c tối hậu Đó chính là đạo đức học mang ngh a thực ti n nhất của giáo l Phật giáo
- Damien Keown với quyển , Thái n
dịch, Nxb Hồng Đức – 2016 cho thấy b ng cách nào tư tưởng Phật giáo có thể soi rọi ánh sáng mới lên những vấn đề mà các xã hội hiện đại tiếp tục thấy là khó khăn và gây chia r : từ quyền con người, phá thai, đến chiến tranh Đây là cuốn sách l tưởng cho bất cứ ai muốn tìm kiếm một t m nhìn khác về những chủ đề đạo đức nan giải trong đời sống hôm nay
, các công trình nghiên cứu về Phật giáo và đời sống văn hóa ở
Tây Nam Bộ nói chung c ng như Cà Mau nói riêng:
- Các công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa ở Tây Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng:
Tr n Ngọc Thêm , ,
Nxb Văn hóa – Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh – 2013 nh m bốn mục tiêu: Xây dựng một bức tranh tổng quan về các thành tố của văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử); Tìm hiểu hệ tính cách văn hóa đặc trưng để trên cơ sở đó nhận diện bản s c văn hóa vùng của khu vực Tây Nam Bộ cùng các hệ quả và hậu quả, các điểm mạnh và điểm yếu của nó trong quá trình đi vào toàn c u hóa và hội nhập; Giúp hiểu r hơn văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ và trên cơ sở đó giúp giải thích các vấn đề kh c m c nảy sinh trong muôn mặt đời sống văn hóa – xã hội hiện tại; Góp ph n thực hiện chương trình Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập ở khu vực Nam Bộ” Công trình này gi p cho việc nghiên cứu văn hóa vùng được thuận lợi hơn; hệ
thống các thành tố và tính cách văn hóa Tây Nam Bộ s giúp làm r hơn b n
s c m t vùng quan trọng của đất nước, trong đó có quá trình giao
lưu, tiếp biến với văn hóa Phật giáo
Trang 14Phan Thị Yến Tuyết với tác phẩm – , , Nxb Đại học Quốc gia Tp
Hồ Chí Minh – 2016 nghiên cứu về đời sống của cộng đồng ngư dân và cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ trên các bình diện xã hội, kinh tế, văn hoá và cả
an ninh, quốc ph ng Tác phẩm là một nghiên cứu nhân học nhận diện một cách khái quát văn hóa biển ở Nam Bộ, một phác thảo đ y thú vị về các mảng màu đa s c của các cộng đồng ngư dân, cư dân vùng biển Nam Bộ đ y tính năng động ứng phó với những thử thách để mưu sinh
Ngô Văn Lệ (2003), M t s v i Nam B và
Á, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh nghiên cứu về tộc
người và văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam c ng như các vấn đề
có liên quan đến văn hóa tộc người Tác phẩm kh ng định m i tộc người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, trong những điều kiện lịch sử, địa lý nhất định, đã sáng tạo ra một phức hợp văn hóa phản ánh s c thái riêng của mình Văn hóa của một tộc người luôn phát triển, một mặt do các yếu tố nội tại, một mặt do sự tiếp nhận các yếu tố văn hóa của các tộc người xung quanh Thông qua nghiên cứu, các tác giả đã r t ra những đặc điểm, tập quán, tính cách, văn hóa nói chung và riêng của các tộc người trong đó có người Việt ở Tây Nam Bộ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của họ về mặt văn hóa
- Công trình nghiên cứu về Phật giáo ở Cà Mau:
+ Tỉnh ủy Cà Mau (2014), Báo cáo t ng k 10 c hi n Ngh quy t H i ngh y (khóa IX) v công tác tôn giáo
+ Báo cáo số 80/BC-BTS T ng k t công tác Ph t s 2014 và
2015 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Ban Trị
sự tỉnh Cà Mau
+ Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau: Tôn giáo Cà Mau và
nh ng k t qu trong công tác từ thi n xã h 2014 – Tr n Thanh Liêm
Trang 15+ Bài báo Không khí t ch c l Vu Lan Cà Mau – Lê Thanh Liêm Bài viết Chùa Ph t T - Di tích l ch s p qu c gia – Phúc
Thịnh
Ngoài ra c n có rất nhiều luận văn, luận án liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu Tất cả những công trình nghiên cứu, sách, tài liệu, luận văn, luận án trên đều rất nghiên t c và đáng tin cậy, trân trọng ở khía cạnh
này hay khía cạnh khác Luận văn ” của tác giả mang tính chất chuyên
sâu hơn về mặt triết học Để nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở tìm hiểu, tổng hợp những công trình, tài liệu, các kinh văn, các tác phẩm, luận văn, luận án khác nhau như trên Đây là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng qu báu cho tác giả thực hiện luận văn này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- ng nghiên c u:
Đạo đức Phật giáo
Đời sống văn hóa của người Việt ở Cà Mau và mối liên hệ tác động của
đạo đức Phật giáo với văn hóa người Việt ở Cà Mau
- Ph m vi nghiên c u: Cộng đồng người Việt
+ Về không gian: Tỉnh Cà Mau
+ Về thời gian: Hiện nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- M u: Làm rõ ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo
trong các thành tố văn hóa của người Việt ở Cà Mau hiện nay
- Nhi m v nghiên c u: Trên cơ sở các tác phẩm kinh điển, tổng hợp
số liệu, điền dã, tham dự thực tế
+ Tổng hợp, nghiên cứu, phân tích các nội dung: Cơ sở xã hội, tiền đề tư tưởng, quan điểm cơ bản, tính chất, đặc điểm và giá trị của đạo đức Phật giáo
Trang 16+ Phân tích, chứng minh ảnh hưởng của Phật giáo trong các thành tố văn hóa của người Việt ở Cà Mau hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- C s lý lu n: Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ ngh a
duy vật biện chứng, chủ ngh a duy vật lịch sử, những quan điểm của chủ ngh a Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo
- u: Để làm r đối tượng nghiên cứu và thực
hiện những nhiệm vụ của đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ ngh a duy vật biện chứng và chủ ngh a duy vật lịch sử, trong đó tập trung vào các phương pháp: Văn bản học; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu; phương pháp lịch sử, logic; phương pháp phỏng vấn, điền dã; phương pháp tham dự thực tế,
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý c: Trên phương diện Triết học văn hóa đã làm r ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo đối với văn hóa người Việt góp ph n làm cơ sở
cho công tác tư tưởng, tôn giáo của tỉnh Cà Mau
- Ý c ti n: Từ việc phân tích và đánh giá về những nội dung:
Cơ sở xã hội, tiền đề tư tưởng, quan điểm cơ bản, tính chất, đặc điểm và giá trị của đạo đức Phật giáo c ng như ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong các thành tố văn hóa của người Việt ở Cà Mau hiện nay góp ph n gi p người làm công tác tôn giáo ở Cà Mau có cơ sở và tài liệu tham khảo tin cậy, đặc biệt là người làm công tác Phật giáo Đồng thời, làm tài liệu tin cậy cho những người làm công tác nghiên cứu tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo có cơ sở tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn về Phật giáo và mối quan hệ trong xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài ph n mở đ u, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 2 chương và 5 tiết
Trang 17Chương 1 NGUỒN GỐC, NỘI DUNG, TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM
CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1 NGUỒN GỐC CỦA PHẬT GIÁO
1.1.1 Nguồn gốc kinh tế, chính trị, xã hội của Phật giáo
Phương thức sản xuất châu Á – Nguồn gốc inh t – xã hội của Phật giáo Châu Á
P Á” là một khái niệm do Marx đề xướng
năm 1859 để biểu thị một số thiết chế đặc thù của xã hội phương Đông cổ
xưa, trong tác phẩm ầ ” (1859), ông
cho r ng: Về đại thể, có thể coi phương thức sản xuất châu cùng với cổ đại, phong kiến và tư bản hiện đại là những thời đại tiến triển d n d n của hình thái kinh tế xã hội Khi nghiên cứu về Phật giáo ở các quốc gia Châu Á, tác
giả của công trình nghiên cứu Á, S Bhalla đã cho r ng: Á Á” [86, tr.18] Ông l giải với l do sau: Phương
thức sản xuất châu là nền tảng kinh tế – xã hội chung của mọi trường phái Phật giáo ở các quốc gia Châu Tác giả c ng cho r ng, Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Cà Mau vừa là Phật giáo B c tông chủ yếu là du nhập từ Trung Quốc và cả Phật giáo Nam tông Phật giáo Theravada du nhập từ Campuchia do vậy ch ng rất khác nhau cả về giáo l , tư tưởng giải thoát, quan điểm xã hội và lối sống, song nó vẫn có nguồn gốc chung và những giá trị chung, trong đó có đạo đức Phật giáo chung cho cả trường phái Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Theravada Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chủ yếu nghiên cứu về Phật giáo B c tông c ng là tông phái Phật giáo chiếm đại đa số về quy mô trong cộng đồng người Việt ở Cà Mau hiện nay
Trang 18th c s n xu t châu Á là một hình thái kinh tế – xã hội mà chỉ
có ở thời sơ kì cổ đại của các nền văn minh phương Đông tồn tại giai cấp và nhà nước đã xuất hiện đ u tiên ở lưu vực các sông lớn của châu Phi và châu như sông Nin ở Ai Cập, sông Ơ-Phơ-rát và Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà, sông
n, sông H ng ở n Độ, sông Hoàng Hà ở Trung Hoa Về thời gian tồn tại, mở đ u khi xuất hiện giai cấp và nhà nước và kết thúc vào những năm cuối trước công nguyên, xã hội phương Đông đã chuyển sang giai đoạn phong kiến Những nét đặc thù của phương thức sản xuất châu Á thể hiện rõ
ở những đặc trưng sau:
, nền sản xuất nông nghiệp và chế độ tư hữu kép về ruộng đất , chế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ và bảo thủ của nó , nhà nước chuyên chế phương Đông nhà nước quân chủ tập
quyền, chi phối các th n dân trong hệ thống cộng đồng các làng xã qua tô thuế và lao dịch Vua là tối thượng, ở một số nước được th n thánh hóa Xã hội được tổ chức theo hệ thống đ ng cấp tôn ti T ng lớp thống trị là các tăng
lữ, v s hoặc quan lại Duy trì một hệ tư tưởng tôn giáo – triết học chính thống được nhà nước hóa Trong nhiều quốc gia, vương quyền đồng nhất với
th n quyền Truyền thống tập tục thức cộng đồng vượt trội, lấn át tinh th n luật pháp, thức cá nhân
Với những đặc trưng trên của phương thức sản xuất châu Á tất yếu dẫn đến sự tồn tại một cách kiên trì nhất và lâu dài nhất của thể chế nhà nước và cấu trúc, phân t ng đ ng cấp trong xã hội cổ ở phương Đông nói chung và n Độ cổ đại nói riêng” Đây c ng chính là cơ sở xã hội cho sự duy trì các hình thức triết học – tôn giáo cổ đại, sự th n thánh hóa thiên nhiên và các chuẩn mực đạo đức Chính phương thức sản xuất châu đã ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng, tính chất của triết học – tôn giáo phương Đông nói chung và n Độ nói riêng, cụ thể là:
Trang 19, đối tượng triết học – tôn giáo thiên trọng về con người, lý
tưởng, lối sống của con người (nhìn từ Phật giáo là: bản chất của n i khổ, phương pháp và con đường giải thoát n i khổ
, các vấn đề triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị g n bó không
thể tách bạch và là nội dung chủ yếu của các hệ thống tư tưởng triết học phương Đông nhìn từ Phật giáo vừa là hệ thống triết học thâm tr m sâu s c, vừa là một tổ chức tôn giáo (loại hình tôn giáo cứu thế))
, sự thiên trọng về giá trị tư tưởng hơn là chân l đ ng sai
, phương pháp mang tính kinh nghiệm, kế thừa hơn là phản biện
đi tìm cái mới
Cơ sở kinh t và vấn đề nhân chủng ở Ấn Độ
Cơ sở inh t – xã hội ở Ấn Độ
Đặc trưng về kinh tế – xã hội n cổ là một trong những cơ sở trực tiếp hình thành tư tưởng của đạo đức Phật giáo Đây là thời k chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng và chế độ công xã nông thôn đã khá phát triển Các quốc gia chiếm hữu nô lệ nhỏ, phân tán, nay có xu hướng tập trung và thống nhất lại Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là sự phát triển nông nghiệp Đây là bước ngoặt ra đời của thời đại đồ s t và việc ứng dụng k thuật canh tác mới vào trong đời sống lao động Do việc cải tiến các phương tiện sản xuất và việc mở mang các công trình thủy lợi, diện tích ruộng đất ngày càng tăng lên Nông nghiệp phát đạt với các ngành trồng trọt, chăn nuôi trù ph , hình thành nên một t ng lớp mới trong xã hội – điền chủ Việc chế tạo những công cụ lao động b ng s t là b ng chứng cho một cuộc cách mạng về nông nghiệp C ng từ đây, tư tưởng sở hữu bất động sản và tư tưởng địa chủ ra đời Bên cạnh ấy, ngành tiểu thủ công nghiệp và mậu dịch c ng được hình thành quy mô trong cả l nh vực sản xuất c ng như trao đổi, mua bán Thủ công nghiệp tách h n ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng, hình thành tổ chức
Trang 20đặc biệt như kiểu phường hội sau này và ngày càng phát đạt như: dệt bông đay và tơ lụa, luyện s t, làm gốm, đồ g và chế biến hương dược liệu Người ta tin r ng, một số động lực chính vừa nêu đã dẫn đến sự ra đời hệ thống tiền tệ ở n Độ cổ đại khi sự giao thoa giữa các địa phương khác nhau được thiết lập
Song song với những phát triển về kinh tế, thương mại của thời k này
là sự trù mật về dân số ở một số vùng có nền công, nông nghiệp phát triển cao Người ta đã tập trung về các nơi đó để định cư, sinh sống, tạo nên một vùng dân cư trù ph , thịnh vượng, đánh dấu mốc điểm của nền văn hóa thành thị Tiến trình thành thị hóa không phải phát triển một cách đột ngột và ng n hạn, mà là một quá trình lịch sử trong sự phát triển của lưu vực Gangã (sông
H ng) Thành thị hóa có thể được xem như là một ph n toàn vẹn trong sự phát triển tổng thể của xã hội Ph n lớn các thành phố chính ra đời là những kinh thành của các vương quốc và là trung tâm quyền lực của m i quốc gia Tuy thế, trong quá khứ, số thành phố ấy chỉ là các làng xã, nơi tr ngụ của giai cấp c m quyền địa phương Ch ng đã được giới thống trị ở đó xây dựng
và thiết kế nh m để phô trương tài sản và danh tiếng của họ Trong tiến trình thành thị hóa, các hạ t ng cơ sở ấy được nâng cấp quy mô nh m tương xứng với uy quyền và địa vị của giai cấp thống trị Thêm vào đó, giai cấp thống trị
xã hội n lực bành trướng sức mạnh, giành quyền sở hữu vật chất c ng như con người, khiến hố th m giàu nghèo m i ngày m i sâu hơn, tư tưởng phân biệt chủ tớ càng mãnh liệt hơn, tạo ra vô số bất công trong xã hội Tuy nhiên,
xã hội nô lệ n Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của chế độ công xã nông thôn, với nguyên t c quản l cổ truyền, thô sơ, chật hẹp, lạc hậu, làm cho nền kinh tế mang tính tự nhiên, tự cấp tự t c, đời sống xã hội trở nên trì trệ, chậm chạp Hơn nữa, xã hội n cổ c n chịu sự chi phối nặng nề của chế
độ phân biệt đ ng cấp hết sức kh c nghiệt, mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều
Trang 21n m trong tay giai cấp qu tộc, tăng lữ Các đ ng cấp thấp h n như tiện dân,
nô lệ và những người ngoài lề đ ng cấp bị khinh miệt và đói khổ Từ đây, làn sóng đấu tranh giai cấp, kiếm tìm trật tự mới cho xã hội manh nha và ngấm
ng m phát triển, trong đó có tư tưởng đạo đức của Phật giáo
ấn đề nh n chủng ở Ấn Độ
Theo Will Durant, vấn đề nhân chủng ở n Độ cổ đại c ng có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng đạo đức của Phật giáo Ch ng ta đều biết, gốc tích của người Aryan – một trong những bộ tộc xa xưa từ phía B c dãy
n i Caucase di cư xuống n Độ Bộ tộc Aryan theo chế độ công xã thị tộc mạt k , gồm nhiều bộ lạc du mục Họ có ngữ hệ chung là n – Âu, da sáng, vóc người cao, m i th ng, được gọi là giống người cao qu Người Aryan chia làm nhiều nhánh tiến xuống phía nam và đông nam xâm nhập miền tây
b c n Sau đó, họ tiến d n sang phía đông nam sông Indus và làm chủ lưu vực sông H ng, vào cao nguyên Deccan, đẩy lui các bộ tộc Dravidian vào những khu rừng h o lánh hoặc b t họ làm tù binh và biến thành những k tôi tớ, lập nên tiểu vương quốc đ u tiên Người Aryan là giống dân du mục, khỏe mạnh, dai sức, thô bạo, can đảm, quen cưỡi ngựa, biết chế tạo và sử dụng khí cụ b ng s t như búa, rìu, dáo mác, cung tên, chủ tướng thì mặc áo giáp, nên đại bộ phận thổ dân n Độ đều bị chinh phục Nhưng người
ryan còn thô lỗ quá, không bi t gi nhân gi rằng cai tr
Ấ khai hóa Ấ H chỉ mu n chi c nhi t cày, nhi u
ng cỏ cho bò, ng a, và khi ra tr n h hò hét không ph cao tinh thần dân t c, qu c gia gì c mà chỉ hô hào nhau: chi c nhi u bò” [85, tr.397] Sau một thời gian chung sống lâu dài, người Aryan và
người Dravidian đã đồng hóa với nhau Đặc biệt, do tiếp thu k thuật sản xuất của người Dravidian, do chiếm được những vùng đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc canh tác nông nghiệp, người ryan đã chuyển từ chăn
Trang 22nuôi du mục sang đời sống nông nghiệp định cư Họ học hỏi ở người Dravidian không chỉ tín ngưỡng, tôn giáo, văn minh k thuật, chính sách thuế khóa, mà còn học cả việc tổ chức quản lý chế độ cộng đồng làng xã
Từ đó, tạo ra một bước thay đổi quan trọng trong các quan hệ xã hội n Độ
cổ đại Jawaharlal Nehru đã đánh giá: Chúng ta có th nói rằng s t ng
h p và h p nh ầu tiên di n ra gi i Aryan m n và
i Dravidian, nh i có kh i di n c a n
ũ ừ s t ng h p và h p nh
ch ng t c Ấ và n c a Ấ , c u có nh ng y u
t riêng bi t” [50, tr.35] Hai bộ tộc này chính là chủ thể của văn hóa n cổ
có ảnh hưởng đến quan hệ xã hội và hình thành quan điểm đạo đức
Điều i n ch nh tr – Xung đột đẳng cấp ở Ấn Độ
Hệ thống đ ng cấp đã tồn tại ở n hàng nghìn năm trước và vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng sâu s c đến nhiều mặt đời sống của người dân n hiện nay Hệ thống đ ng cấp, có nguồn gốc từ Bàlamôn giáo Về sau hệ thống
đ ng cấp đã vượt ra khỏi Bàlamôn giáo và xâm nhập vào những tôn giáo khác nhau, bao gồm cả những tôn giáo có nguồn gốc bên ngoài n Độ
Đ ng cấp ở n đã trải qua nhiều thay đổi trước khi trở thành có hệ thống như hiện nay Chế độ đ ng cấp được đề cập đ u tiên trong Rig Veda
đã thuyết giáo cho chế độ đ ng cấp như sau: Thần sáng t o Brahmâ (hay thầ ) phân thân thành b ẳng c p Mi ng thầ ẳng
c p Brahmana, hai vai thầ ẳng c p Kshatriya, hai b ầ ẳng
c p Vaishya, hai bàn chân thầ ẳng c p Shudra” [93, tr.28]
Từ khởi đ u, sự phân chia cao thấp giữa các đ ng cấp được dựa theo
vị trí trên cơ thể của ỷ Đ ng cấp sinh ra từ miệng, do ở g n
đ u nhất, nên được xếp cao nhất; và ngược lại đ ng cấp sinh ra từ chân thì
Trang 23được coi là thấp nhất Như vậy theo Rig Veda, cả bốn đ ng cấp đều xuất phát từ một nguồn và có những liên hệ với th n linh
Qua đến thời Upanishad, hệ thống đ ng cấp được xác định lại: Chính Bàlamôn là ngu n g c c S l n uy t i cao,
v y cu i cùng ph thu c vào Bàlamôn vì là ngu n g c c t
c i nào làm t n h n công chính ngu n g c c a
i y V y ch u s t n h ng khi v y làm h i t ” [87, tr.38] Bàlamôn thậm chí được đồng nhất với Ph m thiên, c ng được
xem là nguồn gốc mà từ đó tất cả các đ ng cấp khác đã sinh ra Các đ ng cấp khác, đặc biệt là Sátđếlợi, phải có nhiệm vụ bảo vệ đ ng cấp Bàlamôn
Tính chất đặc biệt đó của chế độ nô lệ ở n Độ cổ đại đã tác động mạnh
m không chỉ đến đời sống vật chất mà còn ghi dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh th n, tư tưởng, tôn giáo của người n Độ cổ Nó đã hạn chế lý trí con người, biến con người trở thành công cụ ngoan ngoãn của sự mê tín tôn giáo,
cam chịu trước mọi hoàn cảnh Điều đó, như Marx đã viết: ũ
m t s ph n b t di, b t d ch do thiên nhiên quy o
ra s sùng bái thiên nhiên m t cách thô lỗ, mà s thoái hóa th hi c bi t
Trang 24chỗ i, kẻ làm ch thiên nhiên, l i ph i thành kính quỳ g c con khỉ H S ” [16, tr.175-176]
Chế độ phân biệt đ ng cấp gọi là chế độ varna”, đó là sự phân biệt về màu da, chủng tính, chủ yếu giữa người Aryan – k đi chinh phục có trình độ văn minh thấp hơn người Dravidian – k bị chinh phục, nên người ryan đã đặt ra chế độ phân biệt chủng tính, màu da, s c tộc để thống trị người bản địa Will Durant đã phân tích nguồn gốc đ u tiên của chế độ varna” như
sau: ũ i dân t i Aryan c m c s ng t c k t hôn
l n s ch ng ngo i k c k t hôn v i trong h gần ũ c k t hôn v i ngoài th t c” [85, tr.398] Theo
thánh điển của đạo Bàlamôn và theo bộ luật Manu phân chia thành bốn chủng tính lớn và đó c ng là bốn đ ng cấp chính (chantuvarna):
, đ ng cấp Brahmana (là những tăng lữ, tu s Bàlamôn);
, đ ng cấp Kshatriya Sátđếlợi: là những vương công, v s ; , đ ng cấp Vaishya (Phệxá: là những thương nhân, điền chủ, dân tự
do);
, đ ng cấp Shudra (Thủđàla: là những người lao động gồm đa số
tiện dân, nô lệ)
Ngoài bốn đ ng cấp trên, trong xã hội còn có những người ở ngoài các
đ ng cấp, đó là t ng lớp dân cùng đinh, hạ đ ng, ty tiện nhất gọi là Paria, như
bộ lạc thổ dân Chandala Rig Veda đã chia loài người ra làm hai hạng người: arya ngh a là cao qu , thiện) và dasya (ngh a là thấp h n, ác Đặc biệt, chế độ phân biệt đ ng cấp luôn được giáo lý Bàlamôm – tôn giáo chính thống của xã hội n Độ đương thời bảo vệ
Như vậy, chế độ phân biệt đ ng cấp ở n Độ là hết sức đặt biệt Nó không chỉ được giáo l đạo Bàlamôn biện hộ mà c n được pháp luật nhà nước bảo vệ Nó không chỉ phân biệt về địa vị, học vấn, sang hèn, giàu
Trang 25ngh o như kiểu phân biệt giai cấp ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây mà còn là sự phân biệt về màu da, chủng tính, nghề nghiệp, tôn giáo, chế độ hôn nhân, quan hệ giao tiếp và cả quan niệm về sự trong sạch thể hiện ngay trong đời sống h ng ngày Điều đó nói lên vì sao chế độ đ ng cấp
ở n Độ lại hết sức kh t khe, và đây có l là điểm khác biệt giữa chế độ
đ ng cấp ở n Độ cổ đại so với chế độ đ ng cấp ở các nền văn minh khác đương thời
Sự phân biệt đ ng cấp kh t khe và những xung đột giữa các đ ng cấp thống trị và đ ng cấp bị trị dẫn đến việc hình thành hai trường phái triết học đối lập nhau và đấu tranh với nhau: trường phái chính thống giáo (The Orthodox Systems) với trường phái phi chính thống giáo (The Heterodox Systems) trong cuộc đấu tranh trên l nh vực tư tưởng, vấn đề đạo đức là một trong những vấn đề khác biệt và mâu thuẫn, xung đột về hệ giá trị nh m phản ánh vị thế và lợi ích của các đ ng cấp trong xã hội n cổ Đạo đức Phật giáo có nguồn gốc từ trong cuộc đấu tranh tư tưởng đó
Trong khi trường phái chính thống giáo đứng đ u là Bàlamôn giáo ra sức củng cố bảo vệ chế độ đ ng cấp và lợi ích của giai cấp thống trị, đàn áp,
bóc lột giai cấp bị trị và nhân dân lao động nghèo khổ: H t th y nh ng gì
ũ u là v t s h u c i Bàlamôn” [89, tr.302], thì trường
phái phi chính thống giáo mà tiêu biểu là Phật giáo lại không ngừng đấu tranh trên l nh vực tư tưởng, đạo đức và hành động để bảo vệ cho hết thảy
chúng sinh, vạn vật c Ph t lầ ầ h y bỏ ch nô l
và k ch li t ph i h th ng giai c p h l c r sâu xa trên m nh
t Ấ e c Ph i tr thành kẻ h ti n hay cao quý không ph i do giòng dõi mà do hành vi c a mình Giai c p hay màu da không làm c n tr m i mu n tr thành m t Ph t t hay gia nh
i, kẻ rác, gái giang h , c n nh ng và
Trang 26nh i u t do gia nh p T c ng s i
x ẳ ũ c giao cho nh a v ng” [2,
tr.264-265] Tinh th n đó được biểu hiện sâu s c trong đạo đức Phật giáo, những quan điểm và học thuyết về Lục h a, Ng giới, khoan dung, đề cao, thương yêu người nghèo khổ, niềm tin vào sức mạnh của con người hiện thực, bác
bỏ sự chi phối của th n linh hay đấng sáng tạo
Namennais viết: T o hóa không sinh ra ai sang, ai hèn, ai thầy, ai
t , ai vua, ai tôi c T o hóa sinh ra toàn nh ẳng thôi” [79, tr.106] Tinh th n Lục hòa (bao gồm: Gi ng tu: H a đồng trên nguyên t c k luật; ng tr : H a đồng trên nguyên t c hành động; Kh u hòa vô tránh: H a đồng trên nguyên t c ngôn luận; L i hòa
ng huân: H a đồng trên nguyên t c quyền lợi; Ý ng duy t: Hòa đồng trên nguyên t c ý chí; Ki ng gi i: H a đồng trên nguyên t c
nhận thức là phương pháp, nghệ thuật đối xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến tinh th n, từ lời nói đến việc làm Hòa ở đây là h a với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn m , chứ không phải hòa một cách nhu nhược, thụ động Hòa ở đây c ng không phải
là phương tiện trong giai đoạn để rút th ng lợi về mình, rồi lại chiến Hòa ở đây nh m mục đích làm lợi cho tất cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bóng dáng tự và tha” không có so đo ta và người” Pàhàràda, phàm các con sông l Hằng, sông Yamurà, sông Aciravati, sông Mahì, các con sông y ch n bi n, li n bỏ tên h
c, tr thành bi n l ũ y, này Pàhàràda, có b n giai c p:
S l i, Bàlamôn, Ph xá, Th ừ bỏ t gia trong Pháp và Lu này, h từ bỏ tên và h c a h c,
h tr thành nh ng Sa môn Thích t ” [39, tr.562]
Trang 27Con đường đạo đức của Phật giáo là xây dựng cái tâm ổn định, bất hại,
an lạc, từ bi, h xả cho từng loại người nói riêng và chúng sinh nói chung, cho nên tự thân giáo lý Phật giáo nổi bật s c thái của từ bi, bất hại, bất sát, bất loạn động Đó c ng là s c thái của giáo lý hòa bình, an lạc và điều này được gói gọn trong lời dạy của Phật: từ bỏ mọi điều ác, làm mọi điều lành, giữ tâm ý trong sạch
1.1.2 Nguồn gốc văn hóa, tư tưởng của Phật giáo
Sự thống tr của văn hóa Bàlamôn và cuộc đấu tranh tư tưởng trên lĩnh vực đạo đức
Sự thống tr của văn hóa Bàlamôn
Trong sử thi Ramayana đã ghi lại r ng một người Kshatriya cực lực phản đối cuộc kết hôn của một thiếu nữ cao khiết” d ng chiến s với một
tu s Bàlamôn b m mép” Các kinh sách đạo Jaina c ng thừa nhận r ng
đ ng cấp Kshatriya là cao qu hơn cả, còn trong các kinh Phật cổ thì cho
r ng đ ng cấp Bàlamôn là hạng người ti tiện” nữa Nhưng d n d n khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, Khi người Aryan n m quyền lực trong xã hội, đã tổ chức và phát triển sản xuất canh nông, mở mang tri thức, sinh hoạt tôn giáo; đặc biệt việc cúng tế qua các nghi l tôn giáo mới có thể
gi p cho con người tiếp x c được với Thượng đế, th n linh, c u cho tai qua nạn khỏi, mùa màng bội thu, c n có một hạng người chuyên môn làm trung gian giữa người và qu th n, và đ ng cấp Bàlamôn đã được tôn vinh thực hiện mối liên hệ linh thiêng đó, vì vậy họ tập trung th n quyền trong tay, giàu có lên và được tôn sùng là đ ng cấp cao và được tôn trọng nhất Với quyền uy được th n thánh hóa, đ ng cấp Bàlamôn có nhiệm vụ chăn d t
ph n hồn – ph n tinh túy và cao quý nhất của con người
Will Durant đã viết: Lãnh nhi m v giáo d c thanh niên, h truy n
mi ng l i l ch s c và các lu t l c a giòng gi ng cho các th h
Trang 28sau; h có th tái t o l n b e ; h d y dỗ các th h m i, b t mỗi th i ph i tôn tr t cu c h t o
c uy tín cho t p c p h và lần lần h t lên trên các t p c p khác trong xã h i Ấ ” [85, tr.398-399] Họ bảo vệ tục lệ – nhưng nếu có lợi
cho họ thì họ không quên sửa đổi tục lệ – họ dạy d thanh niên, họ viết lách và chỉ họ mới là những nhà chuyên môn giải thích thánh kinh Veda
chứa những lời m c kh i”, được coi là những chân lý tuyệt đối Họ là
người duy nhất chủ trì các buổi tế l tiếp xúc với các đấng th n linh Theo
bộ luật cổ Manu thì người Bàlamôn được Thượng đế ban cho cái quyền đứng trên mọi người khác Từ đó, họ thành một nhân vật linh thiêng, không
ai được xâm phạm tới thân thể và của cải của họ H t th y nh ng gì trong
ũ r u là v t s h u c i Bàlamôn” [89, tr.302] Chính vai tr
thống trị tuyệt đối của người Bàlamôn mà toàn bộ đời sống văn hóa, tinh
th n xã hội n Độ cổ bị thao túng, ảnh hưởng và chịu sự chi phối của văn hóa Bàlamôn
Cuộc đấu tranh tư tưởng trong lĩnh vực đạo đức
Xung đột về đạo đức, về hệ giá trị trong các hệ thống triết học chính thống và phi chính thống ngày càng trở nên gay g t và quyết liệt hơn trên l nh vực tư tưởng Nhận xét về tình hình phát triển tôn giáo ở n Độ thời k cổ điển và vai trò của các trường phái triết học, tôn giáo thuộc hệ thống không
chính thống thời k này, Will Durant đã viết: Tri t lý cách m ng c a phái
m d t th i các Veda và Upanishad Nó gi m uy th c a các Bàlamôn và gây m t kho ng tr ng trong xã h i Ấ , cần có m t tôn giáo m l p kho ng tr c thuy t c p t c và
n nỗ ng phái tri t h c t thay th c tin trong các kinh Veda, thì l lùng thay, l u là nh ng tri t h c phi thần
lu n c C u thu hai
Trang 29u xu t phát không ph ẳng c Bàlamôn mà là trong ẳng c p chi ’ ph n ng v i ch ần h c và v i thói nghi th c câu n kh t khe trói bu i c a gi H
ng t nhiên không h n các giá tr i và d
v i nh ng gì ta coi là t t hay x u” [50, tr.153]
Tư tưởng đạo đức Phật giáo chống lại văn hóa thống tr Bàlamôn
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế k VI Tr CN ở miền b c n Độ, phía nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa n Độ và Nêpan bây giờ Ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đ ng cấp xã hội kh c nghiệt, đạo Phật với triết l đạo đức nhân sinh sâu s c đã trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong của phong trào đ i tự do tư tưởng và bình đ ng xã hội ở
n Độ đương thời
Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni Sakiyamuni Phật” theo tiếng Phạn gọi là Bouddha, tiếng Hán phiên âm là Phật đà” và tiếng Hán đọc âm là Phật” Phật có ngh a là Đấng giác ngộ và giác ngộ người khác (giác giả giác tha)
C ng như những nhân vật khác trong lịch sử, Thích Ca Mâu Ni với tư tưởng và tinh th n cải cách tích cực, khuyên nhủ con người sống từ, bi, h , xả (tức vô lượng tâm), lên án chế độ đ ng cấp kh c nghiệt, phê phán giáo lý
Trang 30Bàlamôn, nói lên tiếng nói khát vọng tự do, bình đ ng của qu n chúng lao động ở n Độ đương thời Cho nên, ngay từ khi ra đời, Phật giáo đã được mọi người biết đến và các tín đồ sùng kính tô điểm thêm cho cuộc đời Đức Phật
b ng những truyền thuyết bao phủ lên cái lõi có thật trong lịch sử
Trường bộ kinh (Dìgha Nikàya) ghi lời Đức Phật dạy các học trò của mình: Hỡi các T Khưu! Các người hãy đi kh c nơi mà truyền đạo, ở mọi chốn đó hãy nói lên r ng những k giàu và những người ngh o c ng ch ng khác nhau Tất cả các đ ng cấp trên xứ sở này c ng đều tan đi trong đạo của ta
như những dòng sông tan trong biển cả i ta không tr
i ta không tr thành Bà La Môn Tr thành Bà La Môn do hành vi (27)” [60, tr.455] Đức Phật c n nói: Chúng sanh tin giai c p S lỵ t i th A
c c T i th ng gi a Nhân, Thiên (32)” [32, tr.355] Vì thế, Đức Phật
không thừa nhận quan điểm cho r ng đ ng cấp Bàlamôn là cao quý nhất trong
xã hội Theo Thích Ca Mâu Ni, các n Bàlamôn, v c c
th y là có kinh nguy t, có mang thai, có sinh con, có cho con bú (3)” [32,
tr.348-349] như những người bình thường Tuy nhiên, các giai cấp được tạo điều kiện hình thành do quy luật tự nhiên về tái sinh và hạnh nghiệp, theo quy luật ấy, các hành động cố ý quyết định tính chất của đời sống trong kiếp sau Các tín đồ của Phật thuộc đủ loại, không phân biệt đ ng cấp, giàu nghèo, chủng tộc; từ vua ch a, vương h u, trưởng giả đến thợ thuyền, nông phu; từ các qu phi công ch a đến các cô gái thôn quê, k nữ
Sự ra đời của Phật giáo có những đóng góp tích cực, là tiếng nói tiến bộ trong làn sóng phủ nhận uy thế có tính truyền thống của kinh Veda, Upanishad
và giáo l đạo Bàlamôn, lên án chế độ phân biệt đ ng cấp xã hội hết sức kh c nghiệt, phản động; đ i tự do tư tưởng và bình đ ng xã hội C ng như các môn phái triết học tôn giáo tiến bộ khác của n Độ, Phật giáo cố g ng tìm cách
Trang 31góp ph n cải biến xã hội, xóa bỏ áp bức bất công đ nặng lên đời sống của nhân dân n Độ cổ, đưa ra những tư tưởng và phương pháp cải cách xã hội, giáo hóa đạo đức tinh th n con người, khuyên con người ta sống từ, bi, h , xả, bác ái Đó là sự thể hiện ý chí phản kháng của nhân dân lao động chống lại những bất công trong xã hội n Độ đương thời Do đó, triết l đạo đức nhân sinh của Phật giáo mang một tinh th n nhân văn sâu s c
1.2 NỘI DUNG, TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.2.1 Nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
H u hết các nhà nghiên cứu về Phật giáo đều thống nhất tiền đề tư tưởng của đạo đức Phật giáo là bốn học thuyết nhân sinh và được xem là nền tảng, là
cơ sở l luận của các nguyên l , đạo đức c ng như quan hệ và những vấn đề trong các l nh vực khác của văn hóa Phật giáo Bốn học thuyết đó bao gồm:
Học thuy t “Tứ di u đ ” (Catvari Arya Sastyani)
Tứ diệu đế” Catvari rya Sastyani hay Tứ thánh đế”, Tứ chân đế”, chân l cao thượng, ch c ch n, hiển nhiên Bởi theo tiếng Pàli sacca”, ngh a là chân l , là cái gì thật sự có, còn theo tiếng Sanskrit satya”, có ngh a
là sự thật hiển nhiên, không còn tranh luận Tứ diệu đế bao gồm:
- Khổ đế (Duhkha Satya): Là chân lý về những n i khổ của chúng sinh Theo triết lý Phật giáo, tất cả loài vật, dù hữu tình hay vô tình trong thế
giới đều ở trong khổ não Kinh Chuy n pháp luân trong kinh viết: H i này các Tỳ u v s Kh (dukkha-ariya-sacca, Kh ): Sanh là kh , già là kh , b nh là kh ,
ch t là kh , s ng chung v , xa lìa nh ng
i thân yêu là kh , mong mu c là kh , tóm l i, ch p thân
ũ n là kh ” [60, tr.57] Trong kinh Pháp cú, Ph m An l c c ng viết:
Trang 32Không l a nào bằng l a tham d c, không ác nào bằng ác sân h n Không
- Tập đế (Samudaya Satya): Là chân lý về nguyên nhân của n i khổ, bởi tập” ngh a là tích tập”, tập hợp”, góp chứa” Vậy do những gì tích tập, góp chứa lại mà tạo ra n i khổ của con người? Chân tướng của khổ não trong cuộc đời là gì? Theo triết lý Phật giáo, nguyên nhân trực tiếp của n i khổ là do con người ta có lòng tham lam (tham), giận dữ (sân), si mê (si), và dục vọng,
ham muốm danh, tật, s c, thực, thụy Trong kinh Chuy n pháp luân, Đức Phật nói: Bây gi , h i này các Tỳ u v Ngu n
G c c (dukkha-samudaya-ariyasacca, T p kh ) Chính
Ái D n s tái sanh (ponobhavika) Ái, h p v i tâm thi ( i s ng)” [60, tr.57] Kinh Pháp cú c ng viết: Không l a nào d bằng l a tham d c, không c ch p nào
b n bằng tâm sân gi i nào trói bu c bằ i ngu si, không
m chìm bằng sông ái d ” [52, tr.157] Từ ái d c sinh lo,
từ ái d c sinh s ; xa lìa h t ái d c, chẳng còn lo s ” [52, tr.137]
Muốn thoát khỏi khổ não, phải tận diệt ái dục, xóa vô minh Ðó là chân lý lớn thứ ba mà Đức Phật đưa ra
- Diệt đế (Duhkha Nirodha Satya): Là chân lý về diệt khổ; là giải thoát luận và c ng là l tưởng luận của Phật giáo Nó là phương pháp diệt trừ từ gốc đến ngọn (từ nhân cho tới quả) n i khổ, giải thoát con người khỏi nghiệp chướng luân hồi Theo triết lý Phật giáo, muốn vậy, phải tận diệt mọi ái dục (phải dập t t ngọn lửa dục vọng trong lòng m i người), dứt bỏ được vô minh, đạt tới sự sáng tỏ bản nhiên trong tâm con người, đưa ch ng sinh tới Niết
bàn thường trụ Kinh Chuy n pháp luân viết: Bây gi , h i các Tỷ e
ng v s di t kh xa lánh tr n v n và s t n di t
Trang 33chính cái tâm khát ái từ bỏ, s thoát ly và s tách r i khỏi tâm ái d c” [60, tr.58]
Để diệt khổ, đạt tới Niết bàn, Đức Phật đã đưa ra con đường, cách thức và phương pháp hay con đường để được giải thoát khỏi n i khổ, là con đường tu luyện đạo đức theo giới luật (sila), và tu luyện tri thức (jâna), trí tuệ
b ng thực nghiệm tâm linh”, trực giác” intuition Trong kinh Chuy n pháp luân, Đức Phật nói: Bây gi , h i này các Tỳ Thâm Di u v ng d n s Di t Kh (dukkha-nirodha-gamini- patipada-ariya-s o di t kh ) o: Chánh
Trang 34- Chính định (Samyak samàdhi): Kiên định, tập trung tư tưởng tâm trí vào con đường, đạo l chân chính, không để bất cứ điều gì làm lay chuyển tâm trí, đạt tới giác ngộ
Cùng với Bát chính đạo, đạo Phật c n đưa ra phép tu tổng quát cho tất
cả các hàng Phật tử, để ngăn ngừa việc gây ra những điều ác, thi hành những điều thiện, điều tốt cho người và cho mình, đó là Ng giới và Lục độ
Ng giới năm điều răn gồm:
- Bất sát sinh: Không sát sinh, để cho mọi vật được sống trọn kiếp của nó
- Bất đạo tặc: Không làm những điều tàn ác, xấu xa, gian dối, phi nhân ngh a
- Bất tà dâm: Không tà dâm, tích cực làm điều thiện, bỏ tâm tư dục
- Bất vọng ngữ: Không nói dối, không bịa đặt, không nói điều ác, điều xấu
- Bất ẩm tửu: Không uống rượu
Lục độ (sáu phép tu) gồm:
- Bố thí (dàna): Tự đem công sức, tài trí, của cải của mình ra cứu giúp người với lòng từ bi, bác ái Không phải là sự c u lợi, ban ơn, tích cực làm điều thiện bỏ tâm tư dục Bố thí có hai loại:
+ Tài thí: Tự mình đem tiền của ra gi p người, không kể ít hay nhiều, tùy khả năng của mình
Pháp thí: Đem tâm trí của mình ra gi p người, vô tư, trong sáng, không tính toán, vụ lợi;
- Trì giới (sila): Giữ nghiêm giới luật, là tích cực bỏ điều ác, nhiếp trì mọi thiện căn;
Trang 35- Nhẫn nhục (ksànti): Là sự kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng trong hành động, lời nói, ngh không oán hận, không nóng nảy, giận dữ, không tâm phục thù, gọi là sinh nhẫn và pháp nhẫn;
- Tinh tiến (virya): Là sự cố g ng, n lực vươn lên, học tập, tu luyện đạo pháp ngày một tốt hơn, chuyên tâm làm điều thiện, tránh điều ác;
- Thiền định (dhyâna): Là sự tập trung cao độ tâm trí vào một ch , để tâm được an trụ;
- Bát nhã (prâjnà): Là trí tuệ do thiền định phát sinh mà hiểu r được thực tướng của vạn pháp và thấu suốt chân bản tính của mình
Nếu xem xét Lục độ, theo Tam học thì: bố thí, trì giới và nhẫn nhục là môn tu luyện đạo đức theo giới luật; Tinh tiến và thiền định thuộc về môn tu thiền định; còn Bát nhã thuộc về môn tu luyện trí tuệ
Mới đ u, phương pháp tu luyện căn bản mà họ đưa ra là Bát chính đạo Sau đó, Đức Phật lại nói thêm các pháp như: Tứ niệm xứ, Tứ như t c,
Ng căn, Ng lực, Thất giác chi, chia ra tất cả 37 đạo phẩm Trong đó:
- Tứ niệm xứ gồm: thân niệm xứ, thụ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ;
- Tứ như t c gồm: dục như t c, niệm như t c, tinh tiến như t c, tuệ như t c;
- Ng căn và Ng lực gồm: tín, tiến, niệm, định, tuệ;
- Thất giác chi gồm: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tiến giác chi, h giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi
Học thuy t “ ô ngã” (Anatman)
Vô ngã (anatman), là một trong Ba pháp ấn (Tam Pháp n) của sự vật Chân lý Vô ngã là pháp ấn chỉ có trong Phật giáo, cho r ng, không có
một Ngã (ā ), một cái gì trường tồn, bất biến, cốt tủy, vững ch c, tồn tại
n m trong sự vật mà không phụ thuộc vào cái khác Ngh a là sự vật có mặt là
Trang 36do duyên sinh (tùy thuộc điều kiện) khởi phát, chứ sự vật không có quyền gì với sự sinh ra và sự hoại diệt của chính nó Như thế, theo đạo Phật, cái ngã,
cái "tôi" là không có mà chỉ là một tập hợp của Ng uẩn (pañcaskandha),
luôn luôn thay đổi, sinh diệt Chú ý thêm r ng: Vô Ngã là một trong 3 pháp
ấn Hai pháp ấn còn lại là Khổ và Vô Thường Cho dù, Đạo Phật có ra đời hay không, cho dù loài người có tồn tại hay không thì 3 pháp ấn này vẫn hiện diện trong v trụ như một chân lý: mọi pháp hữu vi (pháp có sinh thì có diệt) thì là Khổ, Vô thường, Vô ngã Pháp vô vi (pháp không có sự tạo tác nên không có sự diệt c ng là vô ngã Pháp vô vi không có tính chất Vô thường
và Khổ như pháp hữu vi Để d hiểu, c n nhớ câu này: cái gì có sinh thì phải
có diệt là vô thường; cái gì vô thường thì là khổ; cái gì khổ mà nó biến đổi
theo duyên sinh (không tùy thuộc vào ý muốn của nó) thì là vô ngã
Phật giáo cho r ng thế giới về bản chất chỉ là một vòng biến ảo vô thường, không do một vị th n nào sáng tạo ra cả Do vậy, trong thế giới không thực có vật, không thực có cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và v nh vi n Sở d v trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là
do vạn vật trong v trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả Cái nhân (hetu) nhờ có duyên trợ (pratiya) mà trở thành quả (phala); quả mới lại nhờ duyên trợ giúp mà tạo thành quả mới
Học thuyết Vô ngã chính là tiền đề tư tưởng của đạo đức học Phật giáo
và xem đạo đức chỉ là phương tiện để gi p con người nhận thức được bản
chất vô ngã của mình để thực hiện l tưởng cao nhất: giác ng
Học thuy t “Nghi p” (Karma)
Trong triết l đạo đức nhân sinh của Phật giáo, theo luật nhân quả thì nghiệp báo và tái sinh là hai phạm trù căn bản có liên quan mật thiết với nhau Tái sinh là hệ luận tự nhiên của nghiệp Từ trước thời Đức Phật, tư
Trang 37tưởng nghiệp báo và tái sinh đã được truyền bá rộng rãi ở n Độ Nhưng với triết lý Phật giáo, ch ng được phát triển hoàn thiện hơn
Nghiệp” tiếng Sanskrit là karma và tiếng Pàli là kamma , theo đ ng ngh a của danh từ này là hành động hay việc làm, và nghiệp” là tác cetanà Tư tưởng, lời nói, việc làm đều do ý muốn làm động cơ Phật giáo gọi ý muốn hay ý chí ấy là tác ý Vậy, nghiệp” là cái do hành động thiện hay bất thiện, cố ý hay không cố ý, qua thân, khẩu, ý của ta để thỏa mãn những ham muốn của ta mà thành Những hoạt động của ta gồm: thân nghiệp
là hậu quả do việc làm, hành động của thân thể ta gây ra; khẩu nghiệp là hậu quả do lời nói của ta gây ra; ý nghiệp là vô minh, không nhận thức được thực tướng của vạn pháp và chân bản tính của mình Tác ý là yếu tố quan trọng để tạo nghiệp Do nghiệp chi phối theo luật nhân quả nên vạn vật, chúng sinh mất đi ở ch này, thời gian này là để sinh ra ở ch khác, thời gian khác Đó chính là quá trình tái sinh luân hồi (samsana) Trong cuộc đời, m i người phải gánh chịu hậu quả của nghiệp ở kiếp sống này và từ các kiếp trước, sang kiếp sống sau Do vậy, nghiệp báo trong cuộc đời là sự tổng hợp kết quả của các nghiệp gây ra trong quá khứ, và nó quyết định đời sau tốt hay xấu Làm điều tốt, điều thiện thì có nghiệp tốt ứng báo điều tốt, điều thiện cho đời sau tái sinh Gây ra điều ác, điều xấu thì có nghiệp xấu ứng báo điều
ác, điều xấu cho đời sau tái sinh Trong kinh Trung A Hàm, Đức Phật nói: Các loài h u là ch c a nghi p vừa là thừa t c a nghi p, nghi p
là thai t ng, là quy n thu a Nghi p phân chia các loài
h u tình thành h ng h li ng” [30, tr.474]
Học thuyết nghiệp chính là cơ sở lý luận của đạo đức học Phật giáo thể hiện ở Ng giới cấm và Lục hòa Thực chất của việc tu hành làm điều tốt tránh điều ác chính là có được quả tốt trong tương lai
Trang 38Học thuy t “Ni t bàn” (Nirvana)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết l độc đáo về giải thoát của Phật giáo Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời Trạng thái này có thể đạt được khi c n đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết Vô dư Niết bàn) Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn – một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui
tr n thế Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn – một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại
Đạt tới cõi Phật là đạt tới Bát nhã trí tuệ, thấy được chân như, tâm không còn vọng động, không còn tham dục, luyến ái Đó là trạng thái Niết bàn (Nirvana), là cõi tịch diệt, thanh tịnh, v ng lặng tuyệt đối, an lạc, sáng tỏ bản nhiên; là trạng thái diệt được mọi dục vọng, chấm dứt mọi phiền não, luân hồi, nghiệp báo, tái sinh, không phải ở một cõi nào khác mà ở ngay trên thế gian này, ở chính tâm mình, nhờ sự n lực tu luyện nghiêm túc
Chữ Niết bàn” tiếng Nam Phạn là Nibbàna, và B c Phạn là Nirvana), gồm hai ph n ni” và vana” Ni” là hình thức phủ định, ngh a là không”, vana” có ngh a là dệt” hay ái dục” Vậy, gọi là Niết bàn vì Niết bàn là dứt bỏ, sự phủ định, tách rời (ni) ra khỏi ái dục (vana), là dứt bỏ sự thèm khát ái dục Niết bàn, theo cách giải thích khác, còn là sự dập t t ngọn lửa dục vọng, tham, sân, si luôn ng m chứa, luôn nhen nhúm, tr i dậy trong
l ng con người Kinh Pháp cú viết: Không l a nào bằng l a tham d c, không ác nào bằng ác sân h n, không khỗ nào bằng kh ũ n và không vui nào bằng vui Ni t bàn” [52, tr.129] Cho nên, Niết bàn là an lạc, là hạnh
phúc tối thượng, Niết bàn là sự diệt trừ tham ái đưa đến tái sinh Do vậy, Niết bàn không phải là hư vô, Niết bàn có thể thấu triệt được b ng nhãn quan
Trang 39tinh th n, như một trạng thái tinh th n, đạo đức do sự từ bỏ tất cả mọi luyến
ái bên trong đối với thế gian bên ngoài Và như thế, Niết bàn là một trạng thái không thể dùng ngôn từ và tư duy để định ngh a, mà phải b ng sự chứng ngộ trực giác
Như vậy, học thuyết Ni t bàn chính là mục đích tối cao của đạo đức
học Phật giáo bởi bản chất của Niết bàn là vứt bỏ, tiêu diệt được mọi tham vọng, dục vọng,
Những quan điểm đạo đức cơ bản của Phật giáo
uan điểm “Từ bi hỷ xả”
T ” (Sanskrit: ā ā ā , Pàli: catasso ññā ), là "bốn trạng thái tâm thức vô lượng", c n được gọi là T
ph ” (Sanskrit: ā ), "bốn cách an trú trong cõi Phạm"
hay gọi là “T ng tâm” và gọi t t là Từ bi hỷ x Là thuật ngữ chỉ một
phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn Thực hành hạnh Ba-la-mật-đa này, thiền giả s tái
sinh tại cõi Thiên (deva)
Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về phép thiền định này như sau: Có bốn
vô lượng Hỡi các T khưu, một người tràn đ y tâm từ (bi, hỉ, xả) s phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình Người đó phóng tâm đi kh p thế giới, chiếu rọi
kh p nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng v ng bóng sân hận và phiền não Bốn món tâm rộng lớn không lường được nói trên được gọi là Đại từ, Đại bi, Đại h , Đại xả”
Tâm Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác Tâm Bi” là khả năng làm vơi đi n i khổ đang có mặt Tâm H ” là
Trang 40niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới Tâm Xả” là thư thái nhẹ nhàng,
tự do, không k thị Đức Phật dạy người Phật tử phải tu tập Tứ vô lượng tâm
Từ vô lượng: Còn gọi là tâm từ, từ tâm, lòng từ tr m t nh trìu mến d
chịu phản ngh a là sân hận Tình yêu vô bờ bến to lớn đồng đều dành cho tất cả chúng sinh vạn vật chứ không vị k đối tượng, là chân thành ước mong tất cả bá tánh đều sống thật sự an lành, hạnh ph c Đức Phật dạy chỉ
có tâm từ mới dập t t được lòng sân Không những dập t t được lòng sân,
tâm từ còn diệt được các m m tư tưởng bất thiện Đức Phật dạy: Không
th l di t sân h n, chỉ có tâm Từ m i d p t t lòng sân” [60, tr.406], Hãy gi tâm luôn luôn trong s ch gi ầy thù h n”
[60, tr.412] Nhưng có l ng từ ái đối với người khác không có ngh a là phải quên mình
Bi vô lượng: Bi là sự thương xót, cảm thông vô hạn, là liều thuốc
chữa chứng bệnh hung bạo, độc ác, là động lực làm cho tâm người tốt rung động trước sự đau khổ của k khác, hay là cái gì xoa dịu niềm khổ đau của
người khác, là hy vọng s giúp chúng sinh thoát khỏi đau khổ
Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu, không ng n ngại hy sinh đến cả tính mạng Chính do nơi tâm bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha phục vụ k khác, giúp mà không bao giờ mong đền ơn, đáp ngh a Tâm bi phải bao trùm tất cả ch ng sinh đau khổ, rất bao la và bình đ ng K thù gián tiếp của tâm bi là âu s u, phiền não”
Tâm từ và tâm bi thường đi chung với nhau Trước hết phải dùng tâm bi
để trừ giùm đau khổ cho chúng sinh, rồi kế đó dùng tâm từ mà cho họ niềm vui Như thế, cái vui mới được hoàn toàn Vậy bi” là nhân mà từ” là quả Người sống có tâm từ bi, có tình thương thì mọi hận thù trên thế gian này s tiêu tan
Đức Phật dạy r ng: Ở th gian này, chẳng ph i h n thù trừ c h n thù, chỉ
có từ bi trừ c h nh lu t ngàn thu” [52, tr.21] Đức Phật