Vốn là một trong những khu công nghiệp trọng điểm của Tỉnh, khu công nghiệp Sóng Thần II đã thu hút 109 doanh nghiệp đầu tư với sự đa dạng của các ngành nghề như: may mặc, chế biến gỗ, t
Trang 1NGUYỄN THỊ HÀ DIỄM
TÍNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN NHÌN TỪ KHÍA CẠNH VĂN HÓA (Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sóng Thần 2,
Dĩ An, Bình Dương)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2****************
NGUYỄN THỊ HÀ DIỄM
TÍNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN NHÌN TỪ
KHÍA CẠNH VĂN HÓA
(Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sóng Thần 2,
Dĩ An, Bình Dương)
Chuyên ngành: Dân Tộc Học
Mã số: 60.22.70 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN THỊ HỒNG XUÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá học tập và rèn luyện tại trường ĐHKHXH &NV TP HCM Tôi
đã nhận được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô khoa nhân học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về lý thuyết
và phương pháp nghiên cứu nhân học
Trong thời gian làm luận văn tôi đã gặp nhất nhiều khó khăn là vừa mang thai, vừa sinh con, em bé không được khỏe mạnh nhưng nhờ có sự giúp đỡ rất lớn từ người thầy vĩ đại Phó Giáo Sư- Tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân Tự đáy lòng mình tôi gửi lời tri ân sâu sắc đến Cô người đã thắp lên trong tôi ngọn lửa của tri thức và trái tim của người Thầy
Bên cạnh đó tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, những người thân yêu đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt em Hà Thị Thanh Luyến, sinh viên khoa nhân học,Thạc sỹ Lê Thị Ngọc Giàu, Thạc sỹ Hồ Thị Thủy trưởng ban nghiên cứu dư luận xã hội thành ủy TPHCM, Ông Trần Văn Quang đại diện Ban Quản Lý Khu công nghiệp Bình Dương tại khu công nghiệp Sóng Thần 2, Anh Nguyễn Bá Dương trưởng ban An Toàn lao động của công ty Uni – Pressident Bạn Phạm Thị Hiền công nhân công ty Esin Vina
Mặc dù đã nổ lực hết sức cùng sự quan tâm của mọi người nhưng do thời gian và kiến thức hạn hẹp nên tác giả không tránh khỏi những thiếu sót trong cách hiểu, lỗi trình bày Ai đó đã nói “ Kiến thức như đại dương mênh mông mà sự hiểu biết của con người chỉ là giọt nước”.Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu, bạn bè và tất cả những ai quan tâm đến luận văn này
Xin được tri ân tất cả
Nguyễn Thị Hà Diễm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Phan Thị Hồng Xuân Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 8 năm 2016
Người cam đoan
Nguyễn Thị Hà Diễm
Trang 5MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12
7 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn thời gian nghiên cứu 12
8 Bố cục 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN II, DĨ AN, BÌNH DƯƠNG 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Thao tác hóa khái niệm 15
1.1.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu 22
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 24
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 24
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội 27
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HÀNH VI CHẤP HÀNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN II, DĨ AN, BÌNH DƯƠNG 32
2.1 Đặc điểm lực lượng lao động 32
2.1.1 Về số lượng nguồn lao động 33
2.1.2 Chất lượng nguồn lao động 35
2.2 Thực trạng việc chấp hành kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân ở các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương 43
2.2.1 Khái quát tình hình tai nạn lao động tại khu công nghiệp Sóng Thần II 43
2.2.2 Thống kê việc chấp hành kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân tại Khu công nghiệp Sóng Thần II 48
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp hành kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân 55
2.3.1 Yếu tố khách quan 55
2.3.2 Yếu tố chủ quan 63
Trang 6CHƯƠNG 3: CÁC KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO
ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN 69
3.1 Nâng cao vai trò của yếu tố quản lý đối với việc tuân thủ kỷ luật lao động của công nhân 70
3.1.1 Yếu tố quản lý của các cấp chính quyền 70
3.1.2 Vai trò của Công đoàn 73
3.1.3 Vai trò của Ban quản lý khu công nghiệp 76
3.2 Vai trò của các doanh nghiệp đối với việc tuân thủ kỷ luật của công nhân 79
3.2.1 Hoàn thiện nội quy lao động, kỷ luật lao động trong doanh nghiệp, trang bị cơ sở vật chất, cải thiện môi trường lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho công nhân 79
3.2.2 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững mạnh 84
3.3 Nâng cao nhận thức cho công nhân 88
KẾT LUẬN 92
Tài liệu tham khảo 95
PHỤ LỤC 1 : BẢNG HỎI ĐỊNH LƯỢNG 101
PHỤ LỤC 2 :TRÍCH MỘT SỐ BIÊN BẢN PHÓNG VẤN 114
PHỤ LỤC 3 :MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN Ở KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN 2 148
PHỤ LỤC 4 TRÍCH NHẬT KÝ ĐIỀN DÃ 156
Trang 7DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hằng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên toàn thế giới và 2,3 triệu người chết liên quan đến tai nạn lao động Thiệt hại do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới Đồng thời các nghiên cứu tình hình tai nạn lao động hằng năm trên thế giới cũng cho thấy ở các nước đang phát triển, tầng xuất tai nạn lao động chết người là 30 – 40 người/ 100.000 lao động [5]
Cũng như nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam tai nạn lao động luôn là một trong những vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong năm 2015 trên toàn quốc xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động, trong đó có 629 vụ (tăng 911 vụ tương ứng với 13,6% so với năm 2014) làm chết 666 người, bị thương nặng 1.704 người Con số năm sau luôn cao hơn năm trước và nguyên nhân của tai nạn lao động theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì trên 48% tai nạn lao động xảy ra là do người sử dụng lao động
và người lao động vi phạm kỷ luật an toàn lao động [14] Như vậy điểm mấu chốt trong vấn đề an toàn lao động chính là tính kỷ luật Do đó muốn giảm thiểu tai nạn lao động thì nhất thiết phải nâng cao tính kỷ luật của người lao động
Bình Dương là một trong những tỉnh năng động, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, toàn tỉnh có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD Theo đó số lượng các khu công nghiệp trên địa bàn tăng lên nhanh chóng, tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh Bình Dương có 28 khu công nghiệp, trong
đó 24 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với gần 718.000 công nhân làm việc (trong đó lao động nữ chiếm gần 70%, lao động ngoài tỉnh chiếm khoảng 85%) Với
sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ và thành phần cư dân phức tạp mà Bình Dương cũng là một trong bốn tỉnh phía nam có số vụ tai nạn lao động nhiều nhất cả nước với 474 vụ làm bị nạn 483 người năm 2015 tăng 46 vụ so với năm 2014 Khu công nghiệp Sóng Thần II - Thị Xã Dĩ An là một trong những khu công nghiệp được
Trang 8nhắc đến nhiều trong những vụ tai nạn lao động ở Bình Dương Vốn là một trong những khu công nghiệp trọng điểm của Tỉnh, khu công nghiệp Sóng Thần II đã thu hút 109 doanh nghiệp đầu tư với sự đa dạng của các ngành nghề như: may mặc, chế biến gỗ, thức ăn thủy sản, cao su, vật liệu, hóa chất, xây dựng, thực phẩm…do đó
đã thu hút một lượng lớn công nhân lao động, đa số là lao động ngoài tỉnh vì vậy việc xác định và nâng cao tính kỷ luật của công nhân là rất khó khăn
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công nhân nói chung và công nhân ở tỉnh Bình Dương nói riêng, tuy nhiên đa số các nghiên cứu đều hướng về sự phát triển của các khu công nghiệp, bảo hộ lao động, đời sống công nhân, … mà ít có đề tài đề nào cập đến tính kỷ luật trong công nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn lao động
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tính kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân nhìn từ khía cạnh văn hóa” (Nghiên cứu tại Khu công nghiệp sóng thần II, Thị Xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học Đề tài hướng đến giải quyết các mục tiêu sau: Ý nghĩa tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động thông qua việc đánh giá hành vi chấp hành kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động trên các phương diện đặc điểm nguồn lao động, thống kê tình hình tai nạn lao động và việc chấp hành kỷ luật lao động của công nhân làm việc tại khu công nghiệp Sóng Thần II; Chứng minh văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động Từ đây sẽ phân tích, tìm hiểu những yếu tố tác động đến tính kỷ luật của công nhân, xác định yếu tố nào là quan trọng nhất để có những giải pháp thích hợp Bởi
lẽ việc chấp hành nề nếp kỷ luật không chỉ ổn định sản xuất cho doanh nghiệp mà còn ổn định công việc trong công nhân, giảm thiểu tai nạn lao động, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế xã hội
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến giải quyết các mục tiêu sau:
- Tìm hiểu ý nghĩa tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động
Trang 9- Chứng minh văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động
- Tìm hiểu những yếu tố tác động đến tính kỷ luật của công nhân
- Đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động
3 Lịch sử nghiên cứu
Sau khi khi thực hiện chính sách mở cửa năm 1986, Chính phủ Việt Nam bắt đầu việc kêu gọi đầu tư và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, từ đó song hành với sự gia tăng đầu tư nước ngoài chính là sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,… theo đó mà lực lượng công nhân lao động làm việc trong những khu vực này cũng ngày càng tăng lên Bình Dương là một tỉnh có nhiều khu công nghiệp, và do đó lực lượng công nhân làm việc ở đây khá cao (hàng năm, các doanh nghiệp đã giải quyết việc làm mới cho gần 12.000 lao động, nâng số lao động đang làm việc trong các KCN lên gần 240.000 lao động năm 2015 [2]) Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tiếp cận một số đề tài nghiên cứu về công nhân, trong đó có công nhân tại tỉnh Bình Dương, cụ thể
Nghiên cứu về công nhân, lao động di cư và các khu công nghiệp
Trong quyển sách“Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 2003,
tác giả Bùi Thị Thanh Hà đã cung cấp một cái nhìn đầy đủ về hình ảnh đội ngũ công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp quốc doanh trong giai đoạn đầu của thời
kỳ đổi mới tại Việt Nam, từ những vấn đề về số lượng, chất lượng, cho đến điều kiện lao động, các mối quan hệ trong quá trình lao động như là mối quan hệ giữa công nhân với doanh nghiệp, công nhân với công nhân, … hay vai trò của công đoàn, cơ hội đào tạo, thăng tiến trong công việc, khía cạnh giới,…Tuy nhiên tác phẩm chưa nghiên đi vào nghiên cứu một bộ phận công nhân làm việc cho các doanh nghiệp trong nước tại các khu công nghiệp, khu chết xuất,…đồng thời cũng chưa làm rõ tính kỷ luật của công nhân hay tình trạng tai nạn lao động của doanh nghiệp - một vấn đề rất được xã hội quan tâm hiện nay
Trang 10Quyển sách “Thay đổi tâm lý của thanh niên công nhân xuất thân từ nông thôn”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 2011, do Lã Thị Thu Thủy chủ biên
nghiên cứu thanh niên công nhân có xuất thân từ nông thôn đến làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Biên Hòa Nhóm tác giả
đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát khá cụ thể đối với những thay đổi về nhu cầu nhà ở, nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần và nhận thức của một bộ phân thanh niên công nhân đến từ nông thôn, đồng thời phản ánh sự thích nghi của họ với lối sống đô thị, tác phong công nghiệp và một vài vấn đề liên quan đến hoạt động nghề như là sự năng động, mức độ hài lòng với công việc, mức độ gắn bó với nghề, cũng như ý định định cư lâu dài trên thành phố Tuy nhiên tác phẩm chưa đề cập đến những thay đổi về tính kỷ luật của công nhân trong quá trình lao động cũng như chỉ nghiên cứu những thay đổi về nhận thức của công nhân dưới một góc nhìn của chính họ thì chắc hẳn vẫn còn một vài yếu tố chưa được khách quan
Trong luận văn Thạc sĩ lịch sử - chuyên ngành lịch sử Việt Nam với đề tài
“Sự phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến 2003”, Tác giả Nguyễn Thị Nga đã khái quát các giai đoạn phát triển công nghiệp
của Bình Dương (đặc biệt chú trọng giai đoạn từ năm 1997 trở đi), chủ trương và chính sách của Trung ương và của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp, trong đó
có việc các chính sách và tình hình phát triển các khu công nghiệp, công tác xây dựng khu tái định cư và nhà ở cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, quá trình thu thút đầu tư và lao động,…
Trong luận án Tiến sĩ Lịch sử “Những chuyển biến Kinh tế - Xã hội của tỉnh Bình Dương từ 1945 đến 2005” tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã tập trung nghiên cứu
những chuyển biến trên hai lĩnh vực chính là kinh tế và xã hội của tỉnh Bình Dương
từ 1945 đến 2005 Trên lĩnh vực kinh tế, luận án tập trung nghiên cứu về cơ cấu kinh tế, sự phát triển của các ngành kinh tế, sự chuyển dịch của các thành phần kinh
tế Trên lĩnh vực xã hội, luận án đi sâu nghiên cứu về cơ cấu dân cư, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân, hiện trạng và những vấn đề xã hội gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Bình Dương Từ đó tác giả tìm ra
Trang 11những nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự chuyển biến tích cực về kinh tế xã hội của tỉnh, đồng thời tìm ra những tồn tại, những hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để Bình Dương phát triển toàn diện và bền vững hơn Do đó luận án đã phần nào khái quát nguyên nhân xuất hiện các khu công nghiệp ở Bình Dương, hiện trạng phát triển chúng trong giai đoạn đầu, những chuyển biến về đời sống vât chất và tinh thần của một bộ phận công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, … để từ đó tác giả khẳng định rằng “Thời gian qua các khu công nghiệp đã góp phần tạo nên diện mạo và vị thế mới cho Bình Dương,…”
Trong luận văn Thạc sĩ Lịch sử - chuyên ngành lịch sử Việt Nam của Huỳnh
Đức Thiện với đề tài “Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Bình Dương (1993 – 2003)” đã phục dựng bức tranh tương đối hoàn chỉnh về toàn
bộ quá trình hình thành và phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương Đồng thời nêu bật lên những tác động của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, để từ đó kiến nghị về công tác quy hoạch và quản lý khu công nghiệp đảm bảo cho các khu công nghiệp ở Bình Dương phát triển ổn định và bền vững
Hai luận văn Thạc sĩ kinh tế, năm 2002, chuyên ngành Quản trị kinh doanh
của Phạm Sơn Khanh với đề tài “Thực trạng và giải pháp chiến lược phát triển khu công nghiệp tỉnh Bình Dương (đến năm 2010) và Bùi Minh Trí với đề tài “Xây dựng giải pháp phát triển các khu công nghiệp ở Bình Dương (đến năm 2010)” Cả
hai luận văn đều có những đóng góp trong việc khái quát tình hình phát triển các khu công nghiệp trên các lĩnh vực như: thu hút vốn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và tầm quan trọng của quản
lý nhà nước đối với các khu công nghiệp, song những đóng góp này chỉ gói gọn trong khuôn khổ sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp – một trong những
cơ sở để phát triển mà chưa đề cập đến vai trò của người lao động - công nhân, đối tượng đóng vai trò là chủ thể trong sự phát triển công nghiệp
Phạm Thị Thu Hương trong luận văn thạc sĩ - Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, 2008, với nhan đề: “Công nhân tỉnh Bình Dương với sự nghiệp
Trang 12công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã nêu rõ vị trí, sứ mệnh của công nhân Bình
Dương khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trong luận án Tiến sĩ Y học năm 2011 với nhan đề “Một số yếu tố nguy cơ
và tác hại nghề nghiệp ở công nhân ngành may công nghiệp tại một số tỉnh phía Nam”, tác giả Trịnh Hồng Lân cho rằng: Vấn đề lao động nói chung và điều kiện
lao động nói riêng luôn là sự quan tâm của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là đối với những ngành như: Bảo hộ lao động, y học lao động, vệ sinh môi trường, vệ sinh dịch tễ,… Đồng thời tác giả cũng khẳng định, trong lao động sản xuất, dù sử dụng công cụ thô sơ hay máy móc hiện đại, dù quy trình có đơn giản hay phức tạp thì đều
có những yếu tố nguy hiểm, độc hại có thể gây suy giảm cho sức khỏe, gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho công nhân lao động
Đỗ Hồng Quân trong Luận văn Thạc sĩ Xã hội học năm 2012, “Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thụ hưởng an sinh xã hội của gia đình công nhân di dân tại Khu công nghiệp Sóng Thần hiện nay” đã khái quát được những yếu tố ảnh hưởng
vấn đề an sinh, chăm lo cho đời sống của công nhân tại khu công nghiệp Sóng Thần
Nguyễn Đức Lộc trong bài viết “Mạng lưới thân thuộc trong chiến lược ứng phó rủi ro của người công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương” đăng trên tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 18, số X5, 2015,
tập trung phân tích chiến lược ứng phó của người công nhân công cuộc mưu sinh tại
Trang 13các khu công nghiệp, khu chế xuất vốn đầy ắp những khó khăn và rủi ro Tác giả cho rằng một trong những chiến lược kiểm soát rủi ro của người công nhân đó là liên kết những người đồng hương, họ hàng bởi trong điều kiện sống hiện tại, nguồn vốn xã hội này của công nhân là mạnh nhất (Nguyễn Đức Lộc, 2015, tr 119 -131)
Trong ấn phẩm Khoa học Lao động và Xã hội số 45, quý IV/2015 do Viện
Khoa học Lao động và Xã hội phát hành có đăng tải bài viết “Cải thiện điều kiện văn hóa tinh thần và cho phát triển lối sống công nhân công nghiệp hiện đại” của
tác giả Nguyễn Bá Ngọc Trong bài viết này, tác giả đưa ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế chính sách và tăng cường nguồn lực nhằm nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho công nhân (Nguyễn Bá Ngọc, 2015, tr 16 – 21) Cũng
trong ấn phẩm này, bài viết “Thực trạng đời sống của lao động nam và nữ di cư tới khu công nghiệp ở Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy và Hoàng
Thúy Hằng cũng đã góp phần cung cấp thông tin, cơ sở thực tiễn và đánh giá thực trạng việc làm, đời sống lao động nam và nữ di cư đang làm việc tại các khu công nghiệp Trên cơ sở đó xây dựng các khuyến nghị chính sách nhằm hỗ trợ ổn định việc làm, đời sống của người lao động nói chung, thu hẹp khoảng cách giới về trước mắt cũng như lâu dài (Nguyễn Thị Bích Thủy, Hoàng Thúy Hằng, 2015, tr 31 – 43)
Năm 2011, Gloria O.Pasasilla tác giả của bài viết “Social Security and Labor Migration in ASEAN” đã khái quát về các chính sách được đưa ra trong
thông cáo chung tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 12 của các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được tổ chức tại Cebu, Philippines (năm 2007) Tác giả nhận định, chính sách này đã đưa ra cái nhìn sơ bộ về sự thuyên chuyển an ninh xã hội trong khu vực ASEAN, đặc biệt là người già, chế độ hưu trí, và các phúc lợi thiết yếu Bên cạnh
đó, tác giả thảo luận về sự phát triển của lao động di cư ở các nước ASEAN, khắc phục những vấn đề chung như những lợi ích an sinh xã hội đã bị mất đi như thế nào thông qua việc di cư và sự đánh giá về việc thuyên chuyển an sinh xã hội của các nước ASEAN để từ đó cung cấp các kiến nghị về chính sách (Gloria O.Pasasilla,
2011, Social Sercurity and Labor Migration in ASEAN, ADBInstitute)
Trang 14Sau đó, vào năm 2012, Gloria O.Pasasilla hợp tác với Manolo Abella trong
tác phẩm “Social Protection for Migrant Workers in ASEAN”, cũng trình bày về
các xu hướng di cư của lao động ở ASEAN, các cực và nguồn gốc của di cư lao động trong ASEAN, sự phân bố không đều của lao động trong khu vực; hệ thống bảo trợ xã hội cho người di cư tại ASEAN, những hệ thống an sinh xã hội và khả năng di chuyển trong ASEAN và việc thực thi tuyên bố chung tại hội nghị thượng đỉnh CEBU Tuy nhiên bài viết được mở rộng hơn khi bàn về các xu hướng di cư chung ở Đông Á, bài học từ các tập đoàn kinh tế khác trong khu vực như là EU, CARICOM, MERCOSUR,…( Gloria O.Pasasilla, Manolo Abella, 2012, Social
Protection for Migrant Workers in ASEAN, CESifo Working Paper No 3914)
Bên cạnh đó còn có nhiều bài báo, tạp chí khác viết về công nhân tại các khu
công nghiệp như: Phạm Công Nhất (2014, 2015) với tác phẩm “Để giai cấp công nhân Việt Nam thực sự là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”[32] và tác phẩm “Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam theo tinh thần nghị quyết đại hội XI của Đảng”[33] Nguyên Tôn Phương Du (2016), với tác phẩm “Nhà ở cho công nhân tỉnh Bình Dương, thực trạng và giải pháp”[10] Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Tú Hoa (2013) với tác phẩm “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”[39] Quốc Hưng (2014) với tác phẩm “Bảo vệ quyền lợi công nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[19],… Các tác phẩm trên một phần nào đó
nói lên sự phát triển giai cấp công nhân qua các giai đoạn, các vấn đề xoay quanh cuộc sống của họ từ đó nêu lên những giải pháp nhằm nâng cao cuộc sống và phát triển giai cấp công nhân
Nghiên cứu về kỷ luật lao động
Ở Việt Nam, ngay sau khi giành độc lập, năm 1957 Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã kêu gọi tăng cường kỷ luật lao động “Các xí nghiệp, các cơ quan, các trường học, đoàn thể phải tăng cường kỷ luật lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống mọi hành động tự do chủ nghĩa và dân chủ quá trớn”[42] Từ đó mà vấn đề
kỷ luật lao động được quan tâm nhiều hơn và ngày càng trở thành vấn đề quan trọng
Trang 15của mọi tầng lớp xã hội
Trong tác phẩm “Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa”, Nhà xuất bản Lao
Động, Hà Nội, 1982, tác giả M.Ia Xônin cho rằng tính kỷ luật trong an toàn lao động chính là chìa khóa để xây dựng nề nếp, kỷ cương ở công ty, nhà máy, xí nghiệp cũng là nguyên tắc cơ bản ổn định xã hội Do đó ngay trong buổi đầu đi lên Chủ nghĩa xã hội, Xônin đã dày công phân tích một cách hệ thống lý luận và thực tiễn về kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa, xem xét nó như một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và hoàn thiện đạo đức cách mạng của con người lao động mới Đồng thời tác phẩm cũng nêu vai trò của công đoàn trong việc đấu tranh bảo vệ kỷ luật lao động cũng như cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt cho công nhân
Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của Ngô Minh
Khang với đề tài “Xây dựng kỷ luật lao động của giai cấp công nhân – một nhiệm
vụ quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã đi sâu phân
tích yếu tố chính trị - xã hội tác động đến quá trình xây dựng kỷ luật lao động, của giai cấp công nhân và nguyên nhân chủ yếu của thực trạng tiêu cực trong kỷ luật lao động, chứng minh hiện tượng lao động bị tha hóa trong công nhân Tuy nhiên đề tài chưa thoát ra khỏi tư tưởng của nhà nước, còn bao cấp và không phù hợp với thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngày nay
Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả, là nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài xoay quanh các vấn đề về công nhân, lao động di cư, khu công nghiệp và kỷ luật lao động, dưới các góc nhìn khác nhau đều giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều, khách quan và toàn diện về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các vấn đề có liên quan nhằm hoàn thành luận văn của mình hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp định tính:
Quan sát – tham dự: Là phương pháp đặc thù của ngành Dân tộc học - Nhân
học, đòi hỏi người nghiên cứu phải thâm nhập, quan sát và khảo sát cộng đồng
Trang 16nghiên cứu trong khoảng thời gian tương đối Mục đích khi sử dụng phương pháp này là tự mình quan sát, cảm nhận và nắm bắt các thông tin trực tiếp từ các buổi tiếp xúc với công nhân tại một số nhà máy, xí nghiệp, và ghi chép lại thông tin thu nhận được trong nhật ký điền dã
Phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin qua các cuộc phỏng vấn được sắp xếp trước Phương pháp này được dùng để phỏng vấn công nhân và chủ doanh nghiệp, bộ phận an toàn lao động giám sát công nhân tại xưởng sản xuất, công ty Thông qua các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi hy vọng có thể hiểu được nguyên tắc thực hành, các suy nghĩ, cảm nhận, niềm tin và những yếu tố ảnh hưởng việc chấp hành kỷ luật của công nhân Thông tin có được từ các cuộc phỏng vấn này sẽ được dùng khi phân tích và trích dẫn để tăng tính khách quan cho đề tài, bên cạnh những nhận định của người viết
So sánh đối chiếu: Được dùng để so sánh các hành vi chấp hành kỷ luật lao động giữa công nhân lâu năm với công nhân mới vào nghề, trình độ học vấn, công nhân ở các vùng miền khác nhau, nhằm làm rõ những nét tương đồng và khác biệt, những yếu tố ảnh hưởng đến tính kỷ luật trong lao động của công nhân Cũng so sánh các định chế giữa các công ty khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến việc chấp hành kỷ cương trong lao động của công nhân
Thu thập và xử lý thông tin hình ảnh: Là phương pháp thu thập thông tin bằng các thiết bị như máy ảnh, máy quay phim, các thông tin bằng hình vẽ vv… Những thông tin này được dùng để lý giải và chứng minh cho các phân tích và nhận định của chúng tôi
Nghiên cứu tài liệu: Qua nghiên cứu tài liệu, người viết có thể trang bị cho mình những vấn đề lý luận cần thiết để thực hiện đề tài Có những định hướng cơ bản, nhìn và giải quyết vấn đề toàn diện hơn Nhất là những tài liệu có liên quan đến vấn đề kỷ luật của công nhân
* Phương pháp định lượng :
Trang 17Tác giả chọn 302 phiếu khảo sát tương đương 10 % số lượng công nhân tại khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương Trong đó dựa vào phân chia ngành nghề, doanh nghiệp trong nước và ngoài nước đd63 chọn mẫu 50 phiếu cho công
ty Uni President ( Đài Loan ) , 30 phiếu công ty Esinvina ( Hàn Quốc ), 50 Phiếu công ty gỗ Scan com, 30 Phiếu công tySun Duck Vina, 50 Y TEC, 30 phiếu công
ty tôn Hoa Sen, 30 phiếu công ty Crestec Việt Nam còn lại chia đều các phiếu trong các lĩnh vực
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Từ khía cạnh văn hóa, những yếu tố nào tác động trực tiếp đến tính kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân?
Câu hỏi 2: Văn hóa doanh nghiệp và ý thức chấp hành kỷ luật của công nhân
giữ vai trò như thế nào trong an toàn lao động?
Giả thuyết nghiên cứu
Đa số công nhân làm việc trong khu công nghiệp Sóng Thần II là người ngoài tỉnh, họ là những người di cư đã trưởng thành và đến thành phố nhằm mục đích tìm kiếm việc làm Do đó, thói quen, hành vi và tính kỷ luật của họ đã được hình thành ngay từ nhỏ, trong gia đình và ảnh hưởng bởi địa phương mà họ sống trước đó Khi đến thành phố, họ sống chung với gia đình, với những người di cư cùng quê hoặc những người di cư từ những tỉnh thành khác đến và cùng làm việc trong khu công nghiệp, đồng thời trong quá trình làm việc họ buộc phải tuân thủ và làm quen với những nguyên tắc, quy định của công ty nơi họ làm việc nên tính kỷ luật cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những yếu tố này Từ những ý kiến trên chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng tập quán truyền thống của công nhân ở vùng miền khác nhau thì mức độ chấp hành kỷ luật cũng khác nhau Đồng thời văn hóa doanh nghiệp, ý thức tự giác của người công nhân cũng ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn lao động
Trang 186 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học : Đề tài phản ánh một thực trạng của xã hội trong vấn đề
lao động, do đó thông qua đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể tổng luận và thao tác hóa lại các khái niệm có liên quan đến đề tài như là khái niệm “tính kỷ luật trong
an toàn lao động”,… Đồng thời thông qua đề tài, chúng tôi muốn làm rõ thuyết hành vi của Bordieu áp dụng trong việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành nên tính
kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân Lý thuyết cấu trúc chức năng, áp dụng trong việc xem xét vai trò cũng như những ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp trong việc hình thành nên tính kỷ luật trong lao động của công nhân
Ý nghĩa thực tiễn: Với tầm quan trọng của vấn đề an toàn lao động đối với
công nhân nói riêng và tổ chức doanh nghiệp nói chung Luận văn hy vọng sẽ góp phần làm rõ mức độ ý thức chấp hành kỷ luật trong công nhân, sự ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến việc tuân thủ kỷ luật lao động của công nhân Từ đó góp phần giúp lãnh đạo các cơ quan hữu quan địa bàn nghiên cứu cụ thể là khu công nghiệp Sóng Thần II có thêm chính sách thực tiễn tìm ra hướng giải quyết thích hợp
để giảm thiểu các vấn đề gây ra tai nạn lao động Luận văn nghiên cứu ở quy mô nhỏ, nhưng hy vọng một phần nào đó đề tài có thể ứng dụng ở các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Dương và là nguồn tài liệu tham khảo ở các khu vực khác trong cả nước trong việc xây dựng nề nếp, kỷ cương trong lao động nhằm đem lại sự ổn định trật tự của công ty, tăng năng xuất trong lao động góp phần giảm thiểu tai nạn lao động
7 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tính kỷ luật của công nhân trong
bối cảnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa hiện nay, do đó đối tượng nghiên cứu của
đề tài là công nhân (đối tượng nghiên cứu chính), chủ doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sóng Thần II
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi khu công
nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương
Trang 19Giới hạn thời gian:
Về thời gian nghiên cứu: Việc tìm hiểu tập quán, truyền thống vùng miền của công nhân chấp hành kỷ luật lao động trong nhà máy, xí nghiệp đã bắt đầu từ năm
1996 khi nước ta chuyển sang thời kỳ đổi mới, đẩy nhanh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Về thời gian khảo sát: Đề tài sẽ được thực hiện trong thời gian 1 năm, từ năm
2013 đến năm 2016
Do chỉ tiếp cận theo nghiên cứu trường hợp nên kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ có giá trị trong không gian khảo sát, không có giá trị khái quát cho cả tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, với cách chọn điểm nghiên cứu tiêu biểu như trên, chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu có thể có giá trị tham khảo hữu ích về vấn đề tinh thần kỷ luật của công nhân trên phạm vi không gian rộng lớn hơn
8 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm có ba chương với nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ
An, Bình Dương
Nội dung chính của chương này là giải thích các khái niệm được sử dụng trong luận văn, đưa ra hướng tiếp cận nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu, cuối cùng là tổng quan về địa bàn nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Đánh giá hành vi chấp hành kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân ở các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương
Trong chương này, tác giả sẽ tập trung phân tích những đặc điểm của công nhân làm việc tại khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương cả về số lượng và chất lượng Đồng thời, khái quát tình hình chấp hành kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động ở các doanh nghiệp thông qua việc thống kê tai nạn lao động, việc chấp hành kỷ luật lao động của công nhân, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp hành kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động
Trang 20Chương 3: Những kiến nghị và giải pháp nâng cao tính kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân
Từ những phân tích ở chương 2, tác giả đưa ra những kiến nghị và giải pháp
để tăng cường tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động như: nâng cao vai trò của yếu tố quản lý, trong đó có vai trò của các cấp chính quyền, của Công đoàn,
và của Ban quản lý khu công nghiệp Bên cạnh đó cần nâng cao vai trò của doanh nghiệp cũng như sự hiểu hiết cho công nhân về mọi mặt
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
SÓNG THẦN II, DĨ AN, BÌNH DƯƠNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Thao tác hóa khái niệm
- Khái niệm “an toàn lao động”
Khoản 2, điều 3 trong Luật an toàn, vệ sinh lao động nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam giải thích ngữ nghĩa cụm từ “An toàn lao động” như sau: “An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm
bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.” (trang 1)
- Khái niệm “vệ sinh lao động”
Khoản 3, điều 3 trong Luật an toàn, vệ sinh lao động nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam giải thích ngữ nghĩa cụm từ “Vệ sinh lao động” như sau: “Vệ
sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.” (trang 1)
- Khái niệm “bệnh nghề nghiệp”
Luật an toàn, vệ sinh lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại
khoản 9, điều 3, giải thích ngữ nghĩa cụm từ “Bệnh nghề nghiệp” đồng nhất với
định nghĩa về bệnh nghề nghiệp tại khoản 1, điều 143 Bộ Luật Lao động, tuy nhiên trong điều luật này có đề cập đến danh mục các bệnh nghề nghiệp và hướng xử lý
khi mắc phải bệnh nghề nghiệp như sau:
(1) Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động
Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động
(2) Người bị bệnh nghề nghiệp phải được điều trị chu đáo, khám sức khỏe định
kỳ, có hồ sơ sức khỏe riêng biệt
Trang 22Khái niệm “tai nạn lao động”
Khoản 8, điều 3 trong Luật an toàn, vệ sinh lao động nước Cộng Hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam giải thích ngữ nghĩa cụm từ “Tai nạn lao động” đồng nhất với
định nghĩa về an toàn lao động tại khoảng 1, Điều 142, Bộ luật lao động Tuy nhiên tại điều luật này của Bộ Luật lao động có quy định thêm về xử lý tai nạn lao động khoảng 2 và khoảng 3 như sau:
(1) Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Quy định này được áp dụng cả với những người học nghề, tập nghề và thử việc
(2) Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo (3) Tất cả các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các sự cố nghiêm trọng tại nơi làm việc đều phải được khai báo điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ
Nguyễn Đình Tài (2009) trong Giáo trình – bài giảng “An toàn lao động” định nghĩa khái niệm tai nạn lao động ba nội dung sau (1) Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động; (2) Do tác động đột ngột từ bên ngoài là chết người hay tổn thương hay phá hủy chức năng một bộ phận nào đó của cơ thể con người; (3) Khi bị nhiễm độc đột ngột thì có thể gọi là nhiễm độc cấp tính, có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc hủy hoại chức năng nào đó của cơ thể con người thì cũng được gọi là tai nạn lao động
Như vậy, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đều là những quy định của Nhà nước liên quan đến việc đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chế độ bảo hộ lao động khác Đây là những vấn đề quan trọng mang tính cấp thiết, được xã hội quan tâm, do đó chúng được quy định khá rõ ràng và đầy đủ trong chương IX - An toàn lao động, vệ sinh lao động của bộ Luật Lao động (2012) và Luật An toàn, vệ sinh lao động (2015) Những khái niệm này luôn đi kèm với nhau, cho thấy giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, vì vậy
Trang 23muốn nghiên cứu về an toàn lao động thì nhất thiết phải đề cập đến vấn đề vệ sinh lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Khái niệm “điều kiện lao động”
Tác giả Bùi Thị Thanh Hà trong quyển sách “Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới” có nêu khái niệm điều kiện
lao động như sau: “Điều kiện lao động của công nhân được hiểu bao gồm cả điều kiện vật chất và điều kiện xã hội Điều kiện vật chất là các yếu tố môi trường lao động tự nhiên của công nhân như trang thiết bị máy móc và công nghệ, nhà xưởng, đất đai, an toàn vệ sinh môi trường: tiếng ồn, độ ẩm, khí độc, nhiệt độ,… Điều kiện
xã hội, gồm các yếu tô liên quan đến tình trạng xã hội theo quy định của bộ luật lao động như: Hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ bồi dưỡng
làm thêm giờ, thêm ca,…”( Bùi Thị Thanh Hà, 2003, Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học xã hội, tr
59)
Như vậy, có thể thấy rằng điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh tế, tổ chức thực hiện quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất Hơn nữa, điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động Đối với quá trình công nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ, lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn đến người lao động Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức khỏe người lao động
Khái niệm “kỷ luật lao động”
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, kỷ luật lao động được hiểu là “chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc đúng đắn của mỗi cấp, mỗi
Trang 24nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động Tạo ra sự hài hòa trong hoạt động của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất”[48]
Khoản 1, Điều 82, Bộ luật lao động (1994) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động
Nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác Doanh nghiệp thể hiện từ 10 lao động người trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản.”
Tiếp đó trong Bộ luật Lao Động (2012), kỷ luật lao động được quy định trong điều 118 như sau: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân thủ theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.”
Như vậy, qua hai Bộ luật Lao động (năm 1994 và năm 2012), có thể thấy rằng kỷ luật lao động ngày càng có vai trò quan trọng, bởi khái niệm này năm 1994 chỉ được quy định trong một khoản nhỏ của một điều luật thì năm 2012 đã được sửa đổi trở thành một điều luật hoàn chỉnh Nhưng nội hàm của khái niệm này không thay đổi, vẫn chủ yếu xoay quanh quan hệ lao động và sự ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy có thể hiểu khái niệm kỷ luật lao động trong Bộ Luật lao động chỉ áp dụng trong phạm vi doanh nghiệp
Trong Tạp chí Luật học số 9/2006, bài “Khái niệm và bản chất pháp lí của khái niệm Kỷ luật lao động” Trần Thúy Lâm cho rằng: “Kỷ luật lao động không
phải là một thuật ngữ mới mẻ và cũng không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại Càng không phải đến khi có các hoạt động sản xuất công nghiệp, có sự chuyên môn hóa mới có kỷ luật và cần đến kỷ luật Kỷ luật lao động xuất hiện rất sớm, từ khi con người biết lao động, có hoạt động chung với nhau.” Do đó nội hàm của khái niệm này được hiểu khác nhau theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Theo tác giả thì chính những quy tắc, những trật tự của một gia đình hay bộ tộc trong quá trình con người biết săn bắt, hái lượm, chống chọi với thiên nhiên,… chính là những biểu hiện đầu tiên của kỷ luật lao động Tuy nhiên kỷ luật trong thời này chủ yếu dựa trên nền tảng đạo đức, ý thức tự giác là chủ yếu, mà chưa có sự can thiệp của
Trang 25bất kỳ công quyền hay giới nào Đến khi xã hội phát triển, môi trường lao động được mở rộng, ở đâu có sự hợp tác thì ở đó cần có sự quản lý và kỷ luật lao động để mọi người cùng tham gia có thể điều hòa mối quan hệ lẫn nhau và hướng đến mục đích chung là năng xuất, chất lượng và hiệu quả lao động Do đó dù xem xét dưới góc độ xã hội hay (con người), góc độ kinh tế (năng xuất, chất lượng, hiệu quả), hay góc độ kỹ thuật (sự đa dạng hóa của hệ thống các ngành nghề) đều đòi hỏi cần có thiết lập kỷ luật lao động
Trong tác phẩm “Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa”, Nhà xuất bản Lao
Động, Hà Nội, 1982, tác giả M.Ia Xônin đưa ra những tiểu loại của kỷ luật trong quá trình lao động như sau:
Kỷ luật lao động đòi hỏi tất cả những người tham gia sản xuất phải tuân theo chính xác quy trình công việc đã định: bắt đầu và kết thúc công việc đúng lúc, theo đúng những giờ quy định nghỉ ăn trưa, giải lao, hoàn thành chính xác mọi trách nhiệm giao cho công nhân, hoàn thành vô điều kiện những mệnh lệnh và những chỉ thị của người lãnh đạo
Kỷ luật quy trình công nghệ đòi hỏi tuân theo chính xác các chế độ kỹ thuật của công việc, các trình tự nhất định trong thao tác sản xuất, tuân theo các biện pháp
và phương thức nhất định để chế tạo vật liệu và lắp ráp thành phẩm
Kỷ luật sản xuất đòi hỏi xác định rõ ràng những nhiệm vụ sản xuất, tuân theo các quy tắc bảo hộ lao động và kỹ thuật an toàn, đảm bảo đúng thời hạn cung cấp những bản vẽ, những bản đồ kỹ thuật, vật liệu và dụng cụ cho các bộ phận lao động
M.Ia Xônin cho rằng về mặt lý luận thì việc phân định ranh giới các tiểu loại
kỷ luật lao động là tuyệt đối cần thiết nhưng trong thực tiễn lại khó tách bạch những cái đó với nhau Bên cạnh đó tác giả kết luận rằng, kỷ luật lao động là cơ sở của kỷ luật sản xuất và kỷ luật quy trình công nghệ vì việc tuân theo kỷ luật sản xuất và kỷ luật quy trình công nghệ phụ thuộc trực tiếp vào việc hoàn thành những chức năng lao động của mỗi công nhân riêng biệt và của tập thể sản xuất nói chung Phụ thuộc vào nhịp điệu lao động, vào sự phối hợp nhịp nhàng các hoạt động trong quá trình sản xuất (M.Ia Xônin, 1892, tr 24 – 26)
Trang 26Như vậy, qua việc thao tác hóa khái niệm ở trên có thể thấy rằng, kỷ luật lao động có vai trò quan trọng cả về kinh tế chính trị và xã hội, bởi thông qua việc duy trì kỷ luật lao động, người sử dụng có thể điều hòa và kiểm soát người lao động nhằm tăng năng xuất và chất lượng lao động, ổn định đời sống người lao động Đồng thời kỷ luật lao động cũng đóng một vai trò nhất định trong việc rèn luyện nề nếp người lao động, và duy trì trật tự nề nếp của một doanh nghiệp, hạn chế đến mức tối đa việc xảy ra tai nạn lao động
Khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp”
Trong giáo trình “Văn hóa kinh doanh” do Nguyễn Thị Liễu chủ biên (2011)
có nêu rằng: “Vào những năm 1970, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật
và đặc biệt đã thành công vang dội trên đất Mỹ, các công ty Mỹ bắt đầu đi nghiên cứu và quan tâm đến văn hóa doanh nghiệp” Sau đó “Vào đầu thập kỷ 90 người ta bắt đầu đi nghiên cứu và tìm hiểu sâu về văn hóa doanh nghiệp Đặc biệt vào những năm gần đây, khái niệm văn hóa doanh nghiệp ngày càng sử dụng phổ biến, văn hóa doanh nghiệp đã và đang được nhắc tới như là một “tiêu chí” để đánh giá doanh nghiệp” Do đó đã có nhiều khái niệm văn hóa doanh nghiệp được đưa ra, tuy nhiên hiện nay chưa có khái niệm nào được công nhận chính thức Tác giả đã dẫn ra một vài khái niệm về văn hóa doanh nghiệp như là: định nghĩa của Tổ chức lao động quốc tế: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt cá giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” Hay định nghĩa của Edgar Shein “Văn hóa công
ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các môi trường xung quanh”,… sau
đó tác giả rút ra khái niệm như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp” (Nguyễn Thị Liễu chủ biên, 2011, tr 232 - 243)
Trong luận văn Thạc sĩ Kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh, 2006, Tác giả Đỗ Thị Thanh Tâm đưa ra khái niệm văn hóa doanh nghiệp như sau: “Văn
Trang 27hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.”[40]
Xét từ góc độ Quản trị tác nghiệp, Nguyễn Mạnh Quân đưa ra định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như sau: “Văn hóa doanh nghiệp bao gồm một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, các nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong một tổ chức cùng thống nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến nhận thức và hành động của từng thành viên.”[35]
Như vậy, dù xét ở góc độ nào thì nội hàm của văn hóa doanh nghiệp vẫn bao gồm: hệ thống các giá trị văn hóa của doanh nghiệp và chúng chi phối/tác động/ảnh hưởng đến mọi hành động của thành viên trong doanh nghiệp
Khái niệm “kỷ luật”
Trong từ điển tiếng Việt, (Viện Ngôn ngữ học, 2006) kỷ luật được định nghĩa là “1.Tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức Kỷ luật nhà trường Kỷ luật lao động Phạm kỷ luật Kỷ luật sắt (hết sức chặc chẽ) 2 Hình thức phạt đối với người quy phạm kỷ luật Bị kỷ luật đình chỉ công tác Thi hành kỷ luật.”[53]
Trong tác phẩm “Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa”, Nhà xuất bản Lao
Động, Hà Nội, 1982, tác giả M.Ia Xônin đưa ra khái niệm kỷ luật như sau: “Kỷ luật theo nghĩa rộng là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống và hoạt động của bất
kỳ tổ chức nào của con người (tổ chức nhà nước, tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội và các tổ chức khác) Kỷ luật tạo cơ sở để thống nhất hoạt động của con người nhằm mục đích thực hiện những nhiệm vụ đã đề ra một cách có hiệu quả nhiều nhất.” (M.Ia Xônin, 1982, tr 17 - 18)
Khái niệm “tính kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân”
Đây là một khái niệm mới chưa có định nghĩa chính thức Tuy vậy, thông
Trang 28qua các khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, điều kiện lao động, kỷ luật lao động, văn hóa doanh nghiệp và khái niệm kỷ luật ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động như sau: Tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động chính là việc tuân thủ và thực hiện theo các nội quy nhằm đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,… xây dựng ý thức, tác phong làm việc an toàn, xây dựng các quy tắc các chuẩn mực ứng xử với các thành viên có liên quan trong quá trình sản xuất nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động
1.1.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu về tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động có thể dưới góc độ Lịch sử, Xã hội học, Luật,… tuy nhiên dưới góc nhìn Dân tộc học, Nhân học văn hóa, để nghiên cứu vấn đề toàn diện, so sánh, đối chiếu, chúng tôi sử dụng các
lý thuyết: thuyết hành sử và thuyết chức năng
Thuyết hành sử
Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn gốc quê quán với việc hình thành tính kỷ luật của công nhân thì không thể không đề cập đến thuyết hành xử của Pierre Bourdieu Bởi đa số công nhân tại các khu công nghiệp ở Bình Dương là
người di cư đã trưởng thành mà “habitus (tập tính) là toàn thể các tâm thế hành vi
được học hoặc thẩm thấu vào cá nhân Cá nhân có xu hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy bằng cách kích hoạt các khung hành vi và thích ứng chúng với các điều kiện hay hoàn cảnh mà họ sống trong đó.”(Pierre Ansart, André Akoun (dir.), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert Lê Seuil, 1999 Trang 253, dẫn theo Trịnh Anh Tùng, 2009, tr.88)
Bourdieu phân biệt tập tính (habitus) khác với tập quán (habitude) ở chỗ
“tập tính, như điều này nói lên, là cái mà người ta đã sở đắc Tập quán được lập tức xem như cái gì lập đi lập lại, máy móc, tự động và là cái tái sản xuất ra Nhưng tôi muốn nhấn mạnh ý tưởng tập tính là cái gì có sức mạnh sản sinh ra” (Pierre Bourdieu, 1980, tr 134; dẫn theo Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012, tr 2) Do đó “nói đến tập tính là cho rằng cái gì là cá thể, và cả cái riêng tư, chủ quan là cái xã hội, là cái
Trang 29tập thể Tập tính là tính chủ thể bị xã hội hóa” (Bourdieu, 1992, tr.101; dẫn theo Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012, tr.3) Bourdieu cũng cho rằng, những cá nhân sống trong cùng một nhóm, một giai cấp xã hội, vì đã qua quá trình xã hội hóa giống nhau, nên có những tương đồng về cách suy nghĩ, cảm nhận mà hành động Ngoài
ra Bourdieu cũng nêu lên độ trễ cũng như tính chuyển vị của tập tính, có nghĩa là trong nhiều trường hợp cá nhân vẫn giữ tập tính cũ mặc dù bối cảnh xã hội đã thay đổi Và tập tính có thể chuyển vị từ một hoạt động này sang một hoạt động khác (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012, tr.3)
Áp dụng lý thuyết này trong nghiên cứu tính kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động Theo đó tính kỷ luật của công nhân được hình thành bởi hai yếu tố sau: (1) Tập tính của con người cũng hình thành từ nhỏ, chúng thẩm thấu qua thời gian trong môi trường sống do đó rất khó có thể thay đổi khi lớn lên (2) Đa số công nhân là những người di cư nông thôn – đô thị với mục đích là “đa dạng hóa các rủi ro” và “kiếm được nhiều tiền hơn cho gia đình”, về bản chất họ không giàu có về mặt kinh tế, do đó họ bị chi phối và hành động theo “cái lợi” trước mắt mà họ nhìn thấy được
Thuyết chức năng
Trong việc nghiên cứu mối quan hệ của doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp với tính kỷ luật của công nhân, thì việc tìm hiểu chức năng của chúng là điều tất yếu Bởi theo A R Radcliffe-Brown, hệ thống xã hội là một cơ chế hợp nhất, trong đó tất cả các bộ phận đều có chức năng tạo nên sự hài hoà của cái toàn thể Theo ông, để tìm ra quy luật, cơ chế vận hành của cơ cấu văn hóa – xã hội, cần phải tiến hành so sánh nhưng là so sánh một cách có hệ thống chứ không phải so sánh từng yếu tố riêng lẻ Ông cũng cho rằng cần căn cứ vào yếu tố văn hóa, coi đó là tiêu chí chung nhất để so sánh các tổ chức xã hội, như tổ chức thân tộc, tổ chức kinh
tế, tổ chức chính trị, tôn giáo… Ông gọi đó là cơ cấu xã hội và xác định rằng chức năng của các bộ phận đều quan hệ với cái toàn thể
Malinowski lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phân tích thiết chế Theo ông, thiết chế là những cách thức chung và tương đối ổn định để tổ chức các hoạt
Trang 30động của con người trong xã hội nhằm đáp ứng hay thoả mãn những nhu cầu hay yêu cầu cơ bản của xã hội Những đặc trưng chung nhất của mọi thiết chế bao gồm: điều lệ (charter), con người tham gia, chuẩn mực, cơ sở vật chất, hoạt động, chức năng Phân tích thiết chế là phân tích 6 khía cạnh đó trong sự vận hành của chúng (cấu trúc và quá trình) Đối với Malinowski, ở cấp độ cấu trúc (xã hội) có 4 yêu cầu
cơ bản mang tính phổ quát: sản xuất và phân phối vật phẩm tiêu dùng, kiểm soát và điều chỉnh hành vi, giáo dục (xã hội hóa), tổ chức và điều hành các quan hệ quyền lực Những yêu cầu này được đáp ứng bởi những thiết chế tương ứng
Áp dụng lý thuyết vào đề tài nghiên cứu, chúng tôi cho rằng mỗi một doanh nghiệp đều phải có một tổ chức quản lý theo cấu trúc từ trên xuống dưới và có các thiết chế để duy trì sự thống nhất và hài hòa Mỗi một đơn vị tổ chức và thiết chế đều có chức năng riêng và chúng có mối quan hệ với nhau Văn hóa doanh nghiệp được coi là một thiết chế và do đó nó có một chức năng nhất định trong việc xây dựng tính kỷ luật trong an toàn lao động của công nhân
Như vậy, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuyết hành vi của Pierre Bourdieu để lý giải cho việc hình thành tính kỷ luật của công nhân Bên cạnh
đó, lý thuyết chức năng để chứng minh rằng văn hóa doanh nghiệp có tác động đến tính kỷ luật của công nhân đặc biệt là trong vấn đề an toàn lao động
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Thị xã Dĩ An là một khu vực có nhiều thay đổi về mặt địa giới hành chính Trong lịch sử, vùng đất này lần đầu tiên trở thành một đơn vị hành chính cấp quận, huyện vào năm 1957, theo Nghị định số 40- BNV/HC/NĐ ngày 3 – 5 – 1957 của chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Biên Hòa gồm 4 quận Chân Thành, Long Thành, Tân Uyên và Dĩ An
Ngày 11 – 3 – 1977, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 55/1977/QĐ – CP quyết định hợp nhất hai huyện Dĩ An và Lái Thiêu thành huyện Thuận An
Trang 31Ngày 6 – 11 – 1996 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 ra quyết định chia tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh là Bình Dương và Bình Phước (huyện Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương)
Đến năm 1999, huyện Dĩ An chính thức được tái thành lập trên cơ sở tách ra
từ huyện Thuận An theo quyết định số 58/1999/ NĐ - CP ngày 23 – 7 – 1999 của Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến năm 2011, huyện Dĩ
An mới được nâng cấp thành thị xã Dĩ An theo Nghị quyết 04/ NQ – CP của Chính phủ [50]
Với vị trí địa lý đặc biệt: phía Đông giáp Quận 9 - Thành phố Hồ Chí Minh, Tây giáp thị xã Thuận An, Nam giáp Quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc giáp với Thành phố Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai và Huyện Tân Uyên - Tỉnh Bình Dương Dĩ An nằm trong khu vực trung tâm của của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần với các thành phố lớn và các trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước Tổng diện tích Thị xã Dĩ An khoảng 5.995 ha, với dân số 387.552 người
huyện khác trong tỉnh Bình Dương [8]
toàn thị xã đồng nhất đặt trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, phân thành hai mùa rõ rệt trong năm là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Tuy nhiên sự bắt đầu và kết thúc của hai
khoảng 1.734,2 - 2.286,8mm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 341mm; tháng mưa ít nhất là tháng 1, trung bình dưới 20mm Độ ẩm không khí trung bình từ 80-84% và có sự biến đổi theo mùa khá rõ rệt Độ ẩm trung bình vào mùa mưa là 90% và độ ẩm trung bình vào mùa khô là 78% Chế độ gió ở Dĩ An khá ổn định Về mùa khô hướng chủ đạo là Đông và Đông Bắc, mùa mưa hướng gió thịnh hành là Tây và Tây Nam Bên cạnh đó, Dĩ An có nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến
Trang 32là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 25 - 35m so với mặt
bằng phẳng như núi Châu Thới cao 82m Đặc biệt Dĩ An được bao quanh bởi các con sông lớn nhưng do địa hình có độ cao trung bình từ 20 - 25m nên ít bị lũ lụt và ngập úng [45] Đất đai có thành phần chủ yếu là đất nâu vàng chiếm diện tích lớn nhất với 76,32% diện tích đất tự nhiên, kế đến là nhóm phù sa với 15,93%, nhóm đất xám là 5,23%, nhóm đất mòn trơ sỏi đá là 1,28%, và cuối cùng là nhóm đất mặt nước là 1,24% do đó nhìn chung tài nguyên đất của Dĩ An không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp do phần lớn diện tích thuộc nhóm đất bạc màu và bị khô hạn Toàn thị xã chỉ có khoảng 957,5ha đất phù sa phân bố ở địa hình thấp, điều kiện tưới tiêu thuận lợi phù hợp cho công tác nông nghiệp Tuy nhiên, phần lớn diện tích
Dĩ An có địa hình tương đối bằng phẳng, có khả năng chịu lún tốt, thuận lợi cho các lĩnh vực xây dựng, giao thông và hiện nay phần lớn diện tích của Thị xã thuận lợi việc xây dựng các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng kỹ thuật [50, tr 51-52]
Khu công nghiệp Sóng Thần II là một trong 6 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động ở Thị xã Dĩ An, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 20 km về hướng Tây Nam, cách trung tâm TP Biên Hoà 15km về hướng Đông Bắc, cách trung tâm Thị
xã Thủ Dầu Một 20 km về hướng Tây Bắc, cách sân bay Tân Sơn Nhất 15 km về hướng Tây Nam, cạnh tuyến đường sắt Thống Nhất, giáp ga Sóng Thần (đã được quy hoạch mở rộng thành đường Xuyên Á) Phía Nam giáp xa lộ Đại Hàn, phía Tây giáp tuyến đường quân sự (nối thẳng tỉnh lộ 743 về gặp xa lộ Đại Hàn) Nằm giữa
ba cụm dân cư lớn : Thủ Đức, Dĩ An và Lái Thiêu gần các đầu mối giao thông chính nối liền các vùng miền Nam, Việt Nam: các quốc lộ 1, 13 và 51, đường xuyên Á, Đất đai trong khu công nghiệp và xung quanh khá bằng phẳng, độ dốc dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, trung bình 1%, độ cao trung bình 25 – 30m so với mực
lý thuận lợi, mà khu công nghiệp đã thu hút một lượng lớn nguồn vốn đầu tư cả trong và ngoài nước
Trang 33Như vậy, thị xã Dĩ An là khu vực có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế đặc biệt thích hợp để phát triển các khu công nghiệp
mà khu công nghiệp Sóng Thần II là một ví dụ điển hình Tuy nhiên không chỉ về mặt tự nhiên mà cả về kinh tế - văn hóa - xã hội, thị xã Dĩ An cũng hội tụ những ưu thế cho việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội
năm 2014), chiếm gần 1,9% dân số cả nước Tuy nhiên dân số phân bố không đồng đều, mà Thị xã Dĩ An là một địa điểm tập trung đông dân số, đứng thứ hai chỉ sau thị xã Thuận An (24,2%) và chiếm khoảng 20,7% dân số toàn tỉnh Thị xã có 7 đơn
vị hành chính cấp phường, gồm: Dĩ An, An Bình, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp, Tân Bình, Bình An, Bình Thắng với tổng dân số là 387.552 người (thống kê năm 2014),
trong số đó có hơn 2/3 lao động nhập cư Ước tính hàng năm thị xã tăng thêm trên 12.000 - 15.000 người lao động từ ngoài tỉnh đến làm việc, sinh sống và hiện nay có hơn 200.000 lao động từ địa phương khác làm việc tại thị xã Dĩ An
đường bộ, trên địa bàn thị xã có nhiều tuyến đường quan trọng đi qua (Đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 1K, Xa lộ Hà Nội,…) với hệ thống đường bộ dày đặt
và chất lượng tốt Về đường thủy, Dĩ An có cảng Bình Dương (còn gọi là cảng Bình An) được xây dựng sau năm 1975 trên sông Đồng Nai, nằm cạnh Xa lộ Hà Nội [50,
tr 13].
khoảng 713,04 ha Trong 6 khu công nghiệp thì đã có đến 5 khu công nghiệp có tỷ
lệ lấp kín diện tích cho thuê đạt trên 90% đó là: Sóng Thần I, Sóng Thần II, Bình
An, Bình Đường và Tân Đông Hiệp A, còn lại khu công nghiệp Tân Đông Hiệp B cũng tỷ lệ lấp kín diện tích cho thuê đạt trên 60% Do đó mà Dĩ An đã trở thành một thị xã công nghiệp với cơ cấu kinh tế: công nghiệp chiếm 86,12%, thương mại dịch
vụ chiếm 13,65% và nông nghiệp chỉ chiếm 0,13% Giá trị sản xuất công nghiệp
Trang 34tăng bình quân 16% hàng năm, đạt gấp 2,5 lần năm 2005; trong đó khu vực kinh tế trong nước chiếm 36%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 64% Tổng sản phẩm (GDP) của Thị xã tăng bình quân 16% hàng năm GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 30,1 triệu đồng, tăng gần 1,3 lần so với năm 2009 và 2,2 lần so với năm 2005
Từ những số liệu trên cho thấy thị xã Dĩ An có điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho sự phát triển kinh tế, nhất là công nghiệp và dịch vụ Bên cạnh đó có thể thấy rằng dân số thị xã gia tăng gắn liền với quá trình đô thị hóa nhanh và phát triển các khu công nghiệp Tuy nhiên việc gia tăng dân số quá nhanh và đón nhận dòng
di cư từ các tỉnh thành khác đã làm đã phát sinh nhiều vấn đề bất cập trên địa bàn, trong đó nổi bật là tình trạng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ yêu cầu của sự phát triển, tai nạn lao động,…làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cư dân, nhất là những người dân nhập cư làm công nhân tại các khu công nghiệp
Khu công nghiệp Sóng Thần II KCN Sóng Thần 2 là một trong những khu công nghiệp đầu tiên của Tỉnh Bình Dương, được thành lập dựa trên quyết định số 796/TTg ngày 26/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc đầu tư dự án xây dựng
và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Sóng Thần 2, tỉnh Sông Bé Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu công nghiệp: số 1199/QĐ-BXD ngày 24/9/2002 của Bộ Xây dựng về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chi tiết KCN Sóng Thần 1 và 2, tỉnh Bình Dương; số 958/QĐ-UBND ngày 31/3/2008 của UBND
về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết KCN Sóng Thần 2, sau đó được Công ty Cổ phần Phát triển KCN Sóng Thần (tên mới là Công ty Cổ phần Đại Nam) làm chủ đầu tư xây dựng trên nền đất có diện tích khoảng 442ha trên địa phận thị trấn Dĩ An và xã Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương với tổng vốn đầu
tư vào khoảng 423,28 tỷ đồng Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/kinh doanh: số
3700147268 đăng ký lần đầu ngày 27/3/1996 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp, thay đổi lần thứ 34 ngày 24/8/2010 [45]
Trang 35Bảng 1 Cơ cấu sử dụng đất của khu công nghiệp như sau:
(ha)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: binhduong.gov.vn Đến nay, hạ tầng khu công nghiệp đã được xây dựng hoàn chỉnh đặc biệt là
hệ thống giao thông (hệ thống đường bê tông trải nhựa nóng, trọng tải 30 tấn, bao
gồm hệ thống bê tông nhựa và vỉa hè hoàn chỉnh), điện (trạm cấp điện 110/22 kv,
40 MVA x 2), nước (KCN có nhà máy cung cấp nước sạch là nhà máy nước Tân Ba
thống thoát nước thải tách riêng với hệ thống thoát nước mưa), hệ thống xử lý nước
đêm), rác thải được thu gom, tập kết và chuyển đến khu vực tập trung xử lý theo
quy định Hệ thống thông tin liên lạc cho KCN được ghép nối vào mạng viễn thông
của bưu điện thị xã Dĩ An Hệ thống nội bộ là một mạng cáp điện thoại có dung
lượng lớn, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về viễn thông cho KCN Sóng Thần 2 với các
loại hình đa dịch vụ [7] Cũng vì lẽ đó mà khu công nghiệp đã thu hút đầu tư mạnh
mẽ với đa dạng các ngành nghề như: sản phẩm nhựa, đồ chơi, mỹ phẩm, các sản
phẩm bao bì đóng gói, sản xuất và lắp ráp các sản phẩm điện, điện tử, máy móc,
thiết bị vận chuyển, may mặc, giày dép, sản phẩm da, lông thú, len, dụng cụ thể
thao, chế biến thực phẩm, hàng gia dụng, các sản phẩm gỗ, mây tre lá và các ngành
công nghiệp chế biến khác
Trang 36Là một trong những khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh, cùng với vị trí địa
lý thuận lợi, khu công nghiệp sóng thần II đã thu hút đầu tư trong và ngoài nước mạnh mẽ, điển hình trong tháng 11 năm 2015, đầu tư trong nước tăng thêm 2 doanh nghiệp/dự án với số tổng số vốn là 205.000 triệu đồng, nâng tổng số doanh nghiệp/dự án trong nước lên con số 40 và tổng số vốn đầu tư tích lũy vào khoảng 3.094.019 triệu đồng Đầu tư nước ngoài (tổng số 97 doanh nghiệp/dự án) có 5 đợt điều chỉnh tăng vốn đần tư với tổng số vốn tăng thêm 19.464.000 USD, nâng tổng
số vốn đầu tư tích lũy lên 884.232.951 USD [4] Cũng vì tốc độ đầu tư mạnh mẽ như thế mà trong 217,59 ha diện tích đất công nghiệp cho thuê của khu công nghiệp, tính đến năm 2015 đã có tỷ lệ lấp kín đạt trên 99,51% [1] tạo nên một khu công nghiệp phát triển năng động với nhiều ngành nghề mà chủ yếu là sản phẩm nhựa, đồ chơi, mỹ phẩm, các sản phẩm bao bì đóng gói, sản xuất và lắp ráp các sản phẩm điện, điện tử, máy móc, thiết bị vận chuyển, may mặc, giày dép, sản phẩm da, lông thú, len, dụng cụ thể thao, chế biến thực phẩm, hàng gia dụng, các sản phẩm
gỗ, mây tre lá và các ngành công nghiệp chế biến khác Do đó mà thu hút một lượng lớn công nhân lao động đến làm việc mà đa số trong đó là lao động ngoài tỉnh, tạo nên bức tranh văn hóa đa màu sắc
Trang 37Tiểu kết chương 1
Như vậy, qua việc thao tác hóa các khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, điều kiện lao động, kỷ luật, kỷ luật lao động, văn hóa doanh nghiệp và đưa ra định nghĩa tính kỷ luật của công nhân trong
an toàn lao động; hướng tiếp cận nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu; tổng quan về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi đã phần nào giới thiệu định hướng nghiên cứu của luận văn Đồng thời qua đây cũng giải thích nguyên nhân vì sao khu công nghiệp Sóng Thần II lại thu hút đầu tư mạnh mẽ (nhất là đầu tư ngoài nước) và một lượng lớn công nhân ngoài tỉnh đến làm việc Tuy nhiên, chính vì lực lượng công nhân lao động đa dạng, nhiều môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài mà dẫn đến trong công nhân tồn tại nhiều vấn đề về văn hóa, về số lượng và chất lượng,… và những yếu tố phát sinh khi làm việc trong môi trường công nghiệp,… làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc chấp hành kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HÀNH VI CHẤP HÀNH KỶ LUẬT TRONG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI KHU
CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN II, DĨ AN, BÌNH DƯƠNG
Trước khi đánh giá hành vi chấp hành kỷ luật của công nhân trong an toàn lao động ở các công ty tại khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương, dưới lăng kính của Dân tộc học, Nhân học, bằng thao tác phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia, và phân tích 302 bảng hỏi, chúng tôi xin được nêu lên một số đặc điểm của lực lượng lao động nơi địa bàn nghiên cứu
2.1 Đặc điểm lực lượng lao động
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên lực lượng sản xuất
xã hội, quyết định sự mạnh yếu của một quốc gia Việt Nam là một đất nước có nguồn nhân lực dồi dào Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 4 năm 2015 của
Bộ Kế hoạc và đầu tư - Tổng cục thống kê cho cho biết, tính đến quý 4 năm 2015,
cả nước có hơn 69,6 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 54,6 triệu người thuộc lực lượng lao động Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì đó quả là một ưu thế rất lớn để phát triển kinh tế và thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên cho đến nay thì nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:“Đáp ứng yêu cầu về con người
và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(ban Tuyên giáo trung ương, 2008) Do đó, muốn
phát triển phải bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng phát triển bền vững, trong đó lấy nhân tố con người là trung tâm,
và vì vậy việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang là những yêu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá
Là một bộ phận cấu thành nên nguồn nhân lực nước ta, công nhân mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số dân cư (chiếm 11% trong tổng số dân cư và
Trang 3921% lực lượng lao động xã hội) nhưng lại là lực lượng nắm giữ những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, quyết định phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế và đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước (hơn 60% tổng sản phẩm xã hội và 70% ngân sách nhà nước) [33] Do đó việc xác định đặc điểm của bộ phận nhân lực này để điều chỉnh, nâng cao là việc làm hết sức cần thiết để phát triển kinh tế nước nhà và hội nhập kinh tế quốc tế
Là một trong những khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Bình Dương, khu công nghiệp Sóng Thần II tập trung một lượng lớn công nhân lao động với những đặc điểm về số lượng, thành phần xuất thân, đời sống, trình độ,… nổi bật như sau
2.1.1 Về số lượng nguồn lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế mà cụ thể số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm thủy sản ngày càng giảm dần thay vào đó số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng Do vậy số lượng lao động làm việc ở hai lĩnh vực này phụ thuộc vào một số yếu tố như tốc độ tăng dân số tự nhiên, lượng lao động nông nghiệp dôi ra do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông nhàn và tăng dân số cơ học
Qua số liệu thống kê, năm 1997 Bình Dương có cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng là 50,45% - 26,8% - 22,8% nhưng đến năm 2014, cơ cấu kinh tế đã có một bước chuyển biến rõ rệt công nghiệp và dịch vụ trở thành hai lĩnh vực đóng vai trò chủ đạo, theo tỷ lệ công nghiệp 60,8% - dịch vụ 36,2% - nông nghiệp 3,0% [38] Theo thống kê của Cục thống kê tỉnh Bình Dương năm 2014, trong vòng 5 năm trở lại đây, bình quân mỗi năm dân số của tỉnh tăng trong khoảng từ 50.000 – 75.000 người, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm chỉ vào khoảng từ 8,8‰ đến 11‰, cụ thể:
Trang 40Bảng 2 Dân số và tỷ lệ tăng dân số tỉnh Bình Dương từ năm 2010 - 2014
Điều này chứng tỏ rằng, dân số gia tăng hằng năm của Bình Dương, chủ yếu
là dân di cư từ nơi khác đến và hoạt động chính trong hai lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Đây cũng là minh chứng cho việc tại sao lao động tại các khu công nghiệp tại Bình Dương đa phần là lao động ngoại tỉnh
Tại khu công nghiệp Sóng Thần II, tỉnh Bình Dương, số liệu thống kê của Ban quản lý khu công nghiệp cho thấy rằng, tổng số lao động tại khu công nghiệp hiện tại là 48.574 người trong đó lao động nữ là 29.998 người, lao động tỉnh Bình Dương là 1.470 người (chiếm 3,02%), lao động ngoài tỉnh là 46.379 người (chiếm 95,48%) và lao động nước ngoài là 725 người (chiếm 1.5%) Điều đó cho thấy Sóng Thần II là mảnh đất có sức thu hút đông đảo lực lượng lao động, nhất là lực lượng lao động ngoại tỉnh, ngoài ra các chuyên gia nước ngoài làm việc ở đây cũng với số lượng khá lớn
Qua thực tế khảo sát 302 công nhân, chúng tôi nhận thấy rằng, đa số công nhân làm việc tại khu công nghiệp Sóng Thần II là người di cư từ khắp các vùng miền trong cả nước, trong đó đông nhất là miền Bắc Trung Bộ với 38,1%, Tây Nam
Bộ 29,8%, Bắc Bộ 12,9%, Nam Trung Bộ 10,6%, Đông Nam Bộ 7%, Tây Nguyên
1,7% Theo chị Hồng quê ở Tuyên Quang cho biết: “Mặc dù ở ngoài Bắc có nhiều khu công nghiệp nhưng rất khó xin việc, lương ngoài đó thấp nên chị phải vào Nam
để tìm việc Chị cảm thấy ở Bình Dương rất dễ thở, lương công nhân khá tốt (7.000.000 VNĐ) nếu tăng ca nhiều hơn nữa thì khoảng 10.000.000VNĐ Điều này giúp chị và gia đình trang trải được cuộc sống, có thể dành dụm ít vốn sau này không