Việ c s ử d ụ ng nh ững hình ảnh thiên nhiên bao la là một nét quen thuộc trong đường thi, nhưng Huy Cận đã nhờ nó mà thầm nói lên nỗ i lòng của mình, nhờ không gian thiên nhiên làm n[r]
Trang 1VĂN MẪU LỚP 11
ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH HAI KHỔ THƠ ĐẦU BÀI THƠ TRÀNG GIANG
A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý
B DÀN BÀI CHI TIẾT
1 Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang
- Dẫn dắt vào vấn đề: hai khổ thơ đầu bài thơ
2 Thân bài
Trang 2- Khái quát chung
• Với nhan đề, nhà thơ đã khéo gợi lên một vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại:
o “Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn
o Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm
o Tác giả còn sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm
"ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ
dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát
• Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng trong
lòng người đọc Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giả
xuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không
rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi Đó còn là không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp
Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nước bao
la trong một buổi chiều đầy tâm sự
- Phân tích
• Khổ 1: Bài thơ mở đầu bằng một khổ thơ mang vẻ đẹp thiên nhiên, đậm chất cổ thi
Cảnh vật thiên nhiên ấy lại được cảm nhận qua tâm hồn “sầu vạn kỉ” của nhà thơ:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
o Nhà thơ sử dụng một loạt các thi liệu trong thơ Đường như “thuyền, nước, sóng,
…” Đó là một bức tranh đẹp như bức tranh thủy mặc nhưng buồn đến tê tái
o “Sóng gợn” chỉ nhẹ thôi nhưng cứ “điệp điệp” kéo dài không dứt, đó chính là
những cơn sóng lòng cứ dâng lên khiến cho tác giả buồn bã không nguôi Huy
Cận đã sử dụng 2 từ láy liên tiếp nhau trong một câu thơ “tràng giang”, “điệp điệp” Cách dùng từ thật mới lạ, độc đáo, không phải là buồn bã, da diết mà là buồn “điệp điệp”, nghĩa là một nỗi buồn tuy không mãnh liệt nhưng nó cứ liên
tục, không ngừng
o Ở câu thơ thứ 2, hình ảnh “thuyền”, “nước” còn sóng đôi, “song song” nhưng đến câu 3 thì ta thấy hai sự vật này đã chia ly tan tác “thuyền về nước lại sầu trăm
Trang 3ngả” Nghệ thuật đối giữa “Thuyền về” và “nước lại” nhằm nhấn mạnh sự chia
ly, xa cách, thể hiện sự nuối tiếc trong lòng tác giả
o Nếu nỗi buồn ở câu 1 còn mơ hồ chưa định hình rõ ràng thì đến đây nó đã trở
thành nỗi sầu lan tỏa khắp không gian Từ trước đến giờ ta thấy, “thuyền” và
“nước” là hai hình ảnh không thể tách rời nhau vậy mà Huy Cận lại chia rẽ chúng
ra Điều này chứng tỏ ông đã quá đau buồn, ông lúc nào cũng mang trong mình một nỗi u hoài, một nỗi chia ly, chia xa
o Gây ấn tượng nhất trong khổ thơ là hình ảnh ẩn dụ “củi một cành khô” từ thượng
nguồn trôi dạt trên dòng sông, đang phải chọn lựa sẽ xuôi theo dòng nước nào khiến tác giả liên tưởng đến cuộc đời mình Ông cũng như bao người dân mất nước mang thân phận bọt bèo giữa cuộc đời rộng lớn Hình ảnh cành củi kia còn tượng trưng cho kiếp người nhỏ bé, những văn nghệ sĩ đang băn khoăn, ngơ ngác, lạc lõng trước nhiều trường phái văn học, ngã rẽ của cuộc đời Câu thơ nhiều tầng ý nghĩa, khiến cho ý thơ sâu sắc Bằng bút pháp nghệ thuật đảo
ngữ: đẩy từ “củi” lên đầu câu, tác giả nhấn mạnh thân phận nhỏ bé, bọt bèo của
kiếp người trong cuộc sống
Đến đây, ta nhận ra nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của một kiếp người bởi cuộc đời vốn có nhiều thay đổi, bất ngờ, không báo trước mà con người thì rất nhỏ nhoi
và cô độc, lẻ loi Khổ thơ đầu gợi một cảm giác bâng khuâng, lo lắng , lạc lõng, chơi vơi của tác giả giữa dòng đời vô định, không biết sẽ đi đâu về đâu
• Khổ 2: Nỗi lòng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của
không gian lạnh lẽo “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
o Lúc này, góc nhìn của nhân vật trữ tình đã thay đổi, bao quát hơn, rộng hơn khi
từ cảnh sông Hồng chuyển sang không gian bao la của trời đất, bến bờ Đó là một không gian vắng lặng, yên tĩnh: Có cảnh vật (cồn, gió, làng, chợ…) nhưng cảnh vật lại quá ít ỏi, nhỏ nhoi (cồn nhỏ, làng xa, chợ vãn )
o Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn đất nhỏ nhoi mọc
lên giữa dòng tràng giang Trên những cồn đất nhỏ đó, mọc lên những cây lau,
sậy, khi gió thổi qua thì âm thanh phát ra nghe man mác, nghe “đìu hiu” não
ruột
Trang 4o Có âm thanh nhưng âm thanh ấy lại phát ra từ ngôi “chợ chiều” đã “vãn” mà làng
lại xa nên không đủ sức làm cho cảnh vật sinh động, có hồn
Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái gợi lên âm thanh xa xôi, không rõ rệt “Đâu
tiếng làng xa” có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của
nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người Đó cũng có thể
là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn,vì chung quanh đây chẳng hề có chút gì
sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên Tất cả vẫn chỉ là sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang
o Đến hai câu thơ tiếp theo thì không gian được mở ra bát ngát: “Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót./ Sông dài trời rộng bến cô liêu”
o Huy Cận đã vẽ nên một khung cảnh không gian ba chiều rộng lớn: có chiều cao (nắng xuống, trời lên), có chiều rộng (trời rộng) và cả chiều dài (sông dài), thậm
chí là có cả độ “sâu” Vũ trụ thì bao la, vô tận, còn con người thì quá nhỏ bé, cô
độc lẻ loi
o Nhà thơ nhìn lên bầu trời và thấy bầu trời “sâu chót vót” Cách dùng từ thật độc đáo vì nhà thơ không dùng từ “cao” mà dùng từ “sâu” “Cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời Còn “sâu” không chỉ diễn tả được độ cao vật lý mà còn diễn tả được
sự rợn ngợp trước không gian ấy Đó chính là sự rợn ngợp trong tâm hồn của thi nhân trước cái vô cùng của vũ trụ Cách sử dụng từ hết sức mới lạ bởi tác
giả đã lồng chiều cao vào chiều sâu; ông đang ngắm cảnh bầu trời cao “chót vót” dưới mặt nước “sâu” thăm thẳm Không gian càng rộng, hình ảnh con người lại
càng nhỏ bé, cô độc, lẻ loi đến tội nghiệp
o Hình ảnh “bến cô liêu” với âm hưởng man mác của hai chữ “cô liêu” ấy, một lần
nữa lại gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn trong thiên nhiên, mà vũ trụ thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng Vẻ đẹp
cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như:
„sông, trời, nắng…; cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa
Không gian càng vắng lặng rộng lớn bao la thì hình ảnh con người càng cô đơn đến tột cùng Nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, bao trùm lên cảnh vật
- Nhận xét
Trang 5• Nội dung: Hai khổ thơ cho ta thấy được tâm trạng buồn bã, băn khoăn, ngơ ngác trước những ngã rẽ của cuộc đời Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏ bé, lẻ loi, cô độc của một kiếp người giữa dòng đời rộng lớn Đây không phải là nỗi buồn của cá nhân ông mà là cảm xúc chung của cả một thế hệ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ đầu thế kỉ XX
• Nghệ thuật
o Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại:
o Cổ điển ở thể thơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “tả cảnh ngụ tình”
o Còn hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là hình ảnh “cành củi khô” gây
ấn tượng, cách dùng từ mới lạ “sâu chót vót”
3 Kết bài:
- Nêu nhận xét, cảm nhận khái quát về hai khổ thơ
- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân
C BÀI VĂN MẪU
Bài văn mẫu 1
Không thắm thiết, nồng nàn như Xuân Diệu, cũng chẳng quắt quay đến điên cuồng như Hàn Mặc Tử, nỗi buồn của Huy Cận tựa hồ như nỗi buồn u hòa của một bậc hiền sĩ
mà vẫn không thiếu chất phong tình của môt lãng tử Nỗi buồn của Huy Cận, trái tim u sầu của nhà thơ tuy cùng chung những nhịp đập u uất, bế tắc của các thi sĩ đương thời mà vẫn có những họa tần riêng những hơi thở riêng không lẫn vào đâu được Bài thơ Tràng giang trong tập Lửa thiêng của chàng thi sĩ 21 tuổi này là nhịp thở của trái tim nhảy cảm
mà mấy thập kỉ qua vẫn chưa nhòa phai trong tâm tưởng đọc giả:
"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy giòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Trang 6Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."
Nốt nhạc mở màn có ngân lên những tiếng lòng tuyệt diệu là điều mà chúng ta cần phải tìm hiểu, bình xét
Bài thơ ra đời trong một lần dừng chân ở bờ nam bến chèm, sống Hồng, nhưng có lẽ
nó đã được thai nghén từ lâu trong một tâm hồn giàu tình cảm của nhà Thơ mới có thể bật lên những âm thanh, tứ thơ đượm buồn, nặng lòng với quê hương, thấm đậm một nỗi hoài hương ngay trên đất mẹ
Mở đầu bài thơ, cũng là mở đầu khổ thứ nhất bằng cảnh con thuyền, dòng sông vốn chẳng còn là mới trong thi ca Việt Nam:
"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song"
Dòng sông rộng, dài gợn sóng, đẩy thuyền xuôi dòng trên những gợn sóng song song,
chở trên mình cả nỗi buồn chồng chất Sông dài vốn được gọi là "trường giang" theo âm
Hán Việt, vẫn chẳng thay đổi chút nghĩa nào khi gọi tràng giang, mà sao mỗi khi cất giọng đọc lên, hai âm "ang" họa cùng thanh huyền cùng thanh ngang cứ làm cho âm điệu dàn trải ra, mở rộng ra làm cho hồn người cùng nỗi lòng tác giả cũng theo đó mà lan ra trên sông nước Hai câu thơ được kết nối bằng nhiều từ đối nhau mang lại cho cảnh vật chút
gì cổ kính, trang nghiêm mà vẫn thấy thấm đẫm tình người với "nỗi buồn điệp điệp" Huy Cận đã tượng hình cho nỗi buồn Nỗi buồn "điệp điệp" như từng đợt sống cuộn về, trào
dâng, từng đợt gối vào nhau, và cứ thế không ngớt vỗ vào bờ, vào tâm hồn tác giả Nỗi
buồn dường như rõ ràng hơn, dễ thấm sâu vào lòng người hơn khi "buồn điệp điệp" hòa với "nước song song" Sóng nước cứ cuộn trôi chẳng bao giờ gặp gỡ, cứ "song song" đơn
lẻ như hình ảnh con thuyền xuôi mái trống có vẻ an nhàn mà đơn chiếc Có con sóng nào gặp được con sóng nào? Và hồn Huy Cận phải chăng đang giấu kín một điều gì đó tựa hồ như nỗi buồn, một những thanh bằng vốn là chủ đạo của hai câu thơ trên như làm cho độc giả thêm tin rằng mình tiếp nhận đúng
Hai câu thơ tiếp theo vẽ thêm những họa tiết mới lạ:
Trang 7"Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng"
Thuyền, nước cứ trôi, nỗi sầu chia theo sóng nước về đến chốn nào Một cành cũi khô quay quay trên dòng nước Cũng hòa theo bố cục vốn có của bức tranh tràng giang,
mà Huy Cận đã khéo tạo hình, những câu thơ hiện lên những hình ảnh đối lập, tạo nên
nét cổ kính cho bài thơ Hình ảnh đối lập đẹp nhất có lẽ là "thuyền và nước"
Thuyền và nước là những gì sóng đôi ("Chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu"
Xuân Quỳnh - Thuyền và biển) mà sao nghe cứ xa cách, cứ lạc nhịp mà xót xa Hình ảnh
"Củi một cành khô" là một hình ảnh táo bạo mới trong thi ca Việt Nam vì lẽ từ trước đến
đây những vật tầm thường vốn không được trang trọng đặt vào vần thơ cổ kính thế Nhưng còn hình ảnh nào hay hơn, gợi tả hơn một cành củi khô xoay xoay giữa dòng, không biết trôi về đâu, chỉ biết đi theo vô định và mang theo cái nhỏ nhoi cạn hết nguồn
sông của mình? Còn trạng thái nào gợi cảm hơn trạng thái "lạc mấy dòng", xoay vần theo
từng con nước? Số thanh bằng, thanh trắc tương xứng và hỗ trợ nhau ở câu trên, câu dưới nghe tựa hồ như từng đợt sóng, đợt sóng lòng hắt lên nỗi buồn hiu quạnh, cô đơn, chẳng biết về đâu, trên mấy dòng vô định
Nỗi buồn dâng đầy theo từng đợt sóng, theo từng cảnh vật đi qua đôi mắt cô đơn, âu sầu ấy:
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều"
Nhìn trên sóng những còn nhỏ lơ thơ với gió đìu hiu Nghe trong không gian tiếng
chợ vãn văng vẳng đó đây khi bóng chiều buông xuống Chỉ là "lơ thơ", chỉ là "đìu hiu",
những từ láy giản dị mà gợi tả, mà gây xúc động đến lạ lùng Cái quạnh quẽ, cái đơn chiếc như bật lên thành tiếng thở dài u uất chỉ sau mấy từ láy giản dị ấy Huy Cận đã công nhận
ông láy từ "đìu hiu" trong Chinh phụ ngâm:
"Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò"
Nhưng thử hỏi không có sự sáng tạo từ những gì đã có, Huy Cận có thể thốt lên "gió đìu hiu" cho cả miền không gian, thổi vào từng ngọn gió nỗi hiu quạnh được hay không?
Trang 8Chưa hết, cái quạnh hiu như được cộng bằng: "Tiếng làng xa vãn chợ chiều" làm cho không
gian thoáng rộng của dòng sông bỗng trở nên ngột ngạt, như ngừng thở trong một không
gian đã buồn lại tĩnh mịch đến không ngờ "Chợ chiều" vốn là những gì sống động còn sót lại giờ đây đã "vãn" thì phải biết cái sinh khí của cảnh vật chẳng còn là mấy Vậy mà, chút
sinh khí động lại chỉ văng vẳng đâu đây, tựa hồ như những gì ở rất xa mà lại sắp mất Cảnh
vật qua những vần thơ dàn trải, tiết tấu chậm rãi cứ quyện vào nhau gợi lên một nỗi "sầu trăm ngả"
Lòng người buồn tưởng chừng như nghẹn lại:
"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu"
Nắng trải xuống cảnh vật, trời như được đẩy lên cao Sông như dài thêm, trời như
rộng ra, cảnh càng thêm quạnh quẽ Bước đi của không gian "nắng xuống, trời lên" vốn dĩ
là cái động, nhưng cái động cũng chẳng hơn gì cái tĩnh Cái động trong tình đã khái quát
được toàn cảnh trời cao lồng lộng, "sâu chót vót", cách sử dụng từ trái ngược như Huy
Cận quả là dụng công kiến cho cảnh cao, rộng, lại thêm cả chiều sâu Nhưng hơn cả, có lẽ
từ "sâu chót vót", vẫn gợi lên chút gì lạnh lẽo, băng giá trong khung cảnh trời nước này
"Bến cô liêu" tựa như một phụ âm họa cho bản nhạc lặng buồn thêm buồn lặng
Cả hai khổ thơ là một khúc nhạc mà âm trầm và âm lặng vốn là âm hưởng chủ đạo Những luyến láy của khúc nhạc ấy thể hiện của một tài năng vận dụng ngôn ngữ tinh tế, chắt lọc Những âm luyến ấy cứ như sóng cuộn, vỗ vào thời gian, vang mãi đến bây giờ
Khách văn chương vốn được xem là những người sống trong thế giới của một ảnh Thế nhưng, Huy Cận sau này là một nhà thơ tích cực trên cả thi đàn và cả cuộc sống Xét đến cùng Huy Cận không phải là nỗi sầu bi quan, yếm thế mà là nỗi sầu nhân sinh, nỗi sầu khao khát được giao cảm và sống Điều này đã được chứng minh bằng cuộc đời nhà thơ
và bằng những vần thơ sống động, đắm say với cuộc sống sau này:
"Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở sao lùa nước Hạ Long"
(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
Trang 9Bài văn mẫu 2
Có lẽ thiên nhiên đẹp và bao la đại ngàn luôn làm khuấy động nỗi lòng và tâm thức con người, nó khuấy sâu thẳm vào lòng người khiến nỗi sầu càng sầu hơn, vì vây việc dùng vẻ đẹp bao la của thiên nhiên để bày tỏ tâm trạng đã được rất nhiều thi sỹ sử dụng trong thơ trung đại
Nhưng Huy Cận đã tiếp thu phong vị đó vào tác phẩm “Tràng Giang” của mình, phổ
thêm những nét mới lạ của thơ hiện đại; qua đó, Huy Cận đã tạo nên cho người đọc những
ấn tượng về không gian của tác phẩm, đặc biệt là trong hai khổ thơ đầu
Ngay từ tên bài thơ “Tràng Giang” và lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng sông dài”, một không gian sông nước bao la đã hiện hữu “Tràng” tức là dài, “Giang” là sông Sông dài,
trời rộng mở ra một không gian bao la, tươi đẹp, nhưng buồn, nhưng dấy lên trong tâm
hồn tác giả một nỗi “bâng khuâng” lạ kỳ
Khổ thơ đầu tiên, Huy Cận viết:
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Không gian bao la, rộng lớn hiện hữu trước mắt, nhưng cũng bởi vậy mà con người càng cảm thấy lạc lõng, cô đơn Giữa bạt ngàn của sông nước, con người nhỏ bé, lặng lẽ,
cô đơn Đứng trước không gian ấy, nỗi lòng Huy Cận cũng dâng trào Từng đợt sóng xô
trên “Tràng Giang” là “điệp điệp” nỗi buồn trong tâm hồn thi sỹ Sóng của thiên nhiên vỗ
nhẹ thì cơn sóng lòng dào dạt ùa về Và từ đây, một không gian thứ hai xuất hiện đó là không gian của tình cảm, cảm xúc trong nỗi lòng tác giả Nhìn về phía sông nước bao la, tác giả thấy một con thuyền cứ trôi theo mái nước song song
Có lẽ con thuyền ấy trôi rất nhẹ, không có chút mệt mỏi, nhưng vô thức và cô đơn
Con thuyền cứ trôi mãi theo dòng nước song song, hai chữ “song song” như hai đường
thằng dài tít tắp, cứ chạy mãi mà không bao giờ gặp, cũng giống như thân phận của con
Trang 10thuyền kia, vô dịnh và bơ vơ, lạc lõng Nhìn con thuyền mà nỗi sầu của tác giả như dâng cao, không gian rộng lớn của thiên nhiên đã thôi thúc không gian lòng, khiến tác giả cảm
thấy nỗi dầu của mình cũng vô định như con thuyền ấy, “sầu trăm ngả”
Một hình ảnh buồn hiện lên trước mắt tác giả : “Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Không biết cành củi đáng thương ấy là một vật hữu hình có thực, hay nó là một hình ảnh chợt xuất hiện trong nỗi cô đơn của Huy Cận, bởi nó cũng nhỏ bé và lạc lõng như con người
Giữa dòng đời bao la, giữa sự xô đẩy của từng dòng sóng, nó cứ trôi lạc lõng, lênh đênh Nỗi sầu trong tác giả càng sầu hơn Việc sử dụng những hình ảnh thiên nhiên bao
la là một nét quen thuộc trong đường thi, nhưng Huy Cận đã nhờ nó mà thầm nói lên nỗi lòng của mình, nhờ không gian thiên nhiên làm nổi lên không gian tình cảm
Ở khổ thơ thứ hai, vẫn bắt gặp những hình ảnh trải dài theo không gian, nhưng cái nỗi cô đơn trong tâm trạng tác giả càng trải dài hơn nữa:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Không gian hiện ra không chỉ được tác giả quan sát bằng thị giác, mà tác giả còn lắng tai nghe và càng sầu hơn – một nỗi sầu về nhân thế, về kiếp người, về cuộc sống thời đó Đôi mắt tác giả buồn theo và nhìn xung quanh cảnh vật, đôi tai nhạy cảm lẳng nghe những
âm thanh thưa thớt, vãn dần ở xa xa Cồn nhỏ lơ thơ, nhỏ bé, cơn gió thì thổi nhẹ nhưng đìu hiu, như cũng buồn giống tác giả Huy Cận tinh tế cảm nhận cơn gió ấy, sao mà buồn, sao mà lặng lẽ, cô liêu
Tiếng làng xa ở nơi đâu thưa thớt vãn buổi chợ chiều, cứ nhỏ dần, nhỏ bé trong cái lớn mạnh của thiên nhiên Huy Cận đưa mắt nhìn lên bầu trời kia, tâm trạng buồn của Huy Cận cũng phổ vào bầu trời bao la ấy một nỗi buồn sâu thẳm Bởi vậy khi nắng xuống,
trong con mắt Huy Cận, trời không cao mà lại “sâu chót vót”, cũng như không gian sâu
thẳm của nỗi buồn