ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp cắt ngang mô tả.
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2019.
Thời gian thu thập số liệu từ tháng 02/2019 đến 06/2019 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả người bệnh nhập viện điều trị tại khoa HSTC – CĐ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
Những người bệnh nhập viện tại khoa HSTC – CĐ, bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2019 thỏa mãn các điều kiện chọn mẫu.
2.2.3 Cỡ mẫu Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, nhà nghiên cứu thu thập mẫu toàn bộ trong thời gian nghiên cứu Số mẫu thu thập được là 90.
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được sử dụng để chọn tất cả người bệnh phù hợp với tiêu chí chọn mẫu.
- Người bệnh đủ hoặc lớn hơn 18 tuổi.
- Người bệnh chưa có vết loét trước khi nhập viện.
- Nhập viện tại khoa HSTC – CĐ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
- Thời gian điều trị từ 10 ngày trở lên.
2.2.5.2 Tiêu chí không chọn vào
- Người bệnh loét do nguyên nhân khác, không phải loét tỳ đè: Loét do bệnh đái tháo đường, loét do bỏng…
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Kỹ thuật thu thập dữ liệu:
Để đảm bảo chăm sóc tốt cho người bệnh, cần quan sát trực tiếp nhằm đánh giá các chỉ số quan trọng như điểm Glasgow, điểm Braden và chỉ số BMI, đồng thời thực hiện các biện pháp phòng ngừa loét Thông tin về tuổi, giới tính, chẩn đoán chính và các bệnh kèm theo đều được lấy từ hồ sơ bệnh án để đảm bảo chính xác và đầy đủ trong quá trình chăm sóc.
Quá trình thu thập dữ liệu
Để tiếp cận người bệnh một cách hiệu quả, cần đảm bảo họ đáp ứng các tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu và cung cấp đầy đủ thông tin nghiên cứu rõ ràng Đồng thời, nếu người bệnh và/hoặc thân nhân của họ đồng ý tham gia, cần mời họ ký giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu nhằm đảm bảo tính hợp lệ và minh bạch trong quá trình nghiên cứu.
- Sử dụng bản thu thập số liệu (phụ lục 2) để thu thập số liệu lần 1.
Bước 2: Thu thập số liệu hàng ngày
Mỗi buổi sáng, cần đánh giá tình trạng da của bệnh nhân để ghi nhận số lượng và vị trí của các vết loét tỳ đè mới Việc thực hiện xoay trở đúng cách và đúng quy trình giúp phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ loét tỳ đè Thực hành chăm sóc, kiểm tra các biến số liên quan được ghi nhận dựa trên phiếu chăm sóc của điều dưỡng và thông tin từ người nhà hoặc người chăm sóc để đảm bảo chăm sóc toàn diện và hiệu quả cho bệnh nhân.
Đeo vòng tay cảnh báo nguy cơ loét giúp nhận diện chính xác những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc loét tỳ đè Thiết bị này hỗ trợ thông báo kịp thời cho điều dưỡng phụ trách chăm sóc, từ đó xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp để phòng ngừa và giảm thiểu tổn thương cho người bệnh Việc sử dụng vòng tay cảnh báo là bước quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa loét tỳ đè và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người bệnh.
- Hướng dẫn người nhà/người chăm sóc cách chăm sóc phòng ngừa loét tỳ đè theo mức độ nguy cơ đã được đánh giá.
Sau 10 ngày điều trị tại khoa, tiến hành thu thập số liệu cuối cùng theo mẫu trong phụ lục 2, bỏ qua phần đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh để đảm bảo tập trung vào các chỉ số lâm sàng quan trọng.
Bước 4: Kiểm tra tính đầy đủ, mã hóa các câu trả lời.
Bước 5: Nhập liệu, tiến hành phân tích số liệu và kết luận.
2.3.2 Công cụ thu thập số liệu
Phiếu thu thập số liệu được xây dựng dựa trên tham khảo bộ câu hỏi của Victorian Quality Council và các nghiên cứu trước đây về loét tỳ đè, đảm bảo độ chính xác và phù hợp với thực tiễn Các yếu tố về thực hành chăm sóc phòng ngừa loét tỳ đè được phát triển dựa trên quy trình and các hướng dẫn của Bộ Y tế và các bệnh viện, giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và chăm sóc người bệnh.
Bản thu thập số liệu (Phụ lục 2) gồm 04 phần:
Phần A cung cấp các đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh, bao gồm tên, tuổi, giới tính, ngày nhập viện, chẩn đoán và số vào viện, tất cả đều được trích xuất từ hồ sơ bệnh án khi nhập viện để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu.
- Phần B: Đặc điểm lâm sàng của người bệnh gồm 4 câu hỏi được thu thập bằng cách hỏi bệnh kết hợp thăm khám lâm sàng.
Phần C giới thiệu về đặc điểm của loét tỳ đè và các thực hành chăm sóc phòng ngừa, nhấn mạnh việc thu thập dữ liệu qua thăm khám, quan sát chăm sóc hàng ngày của điều dưỡng, kết hợp hỏi thông tin từ người chăm sóc và hồi cứu phiếu chăm sóc điều dưỡng để đảm bảo đánh giá chính xác tình trạng bệnh nhân và xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp, ngăn ngừa sự phát triển của loét tỳ đè hiệu quả hơn.
Phần D trình bày về bảng đánh giá nguy cơ loét tỳ đè dựa trên thang điểm Braden Nghiên cứu viên đã sử dụng thang điểm Braden để đánh giá nguy cơ loét cho bệnh nhân khi nhập viện và sau 10 ngày điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu Thang điểm Braden là công cụ quan trọng giúp xác định mức độ nguy cơ loét tỳ đè nhằm thực hiện các biện pháp phòng ngừa kịp thời Việc đánh giá định kỳ bằng thang điểm Braden giúp theo dõi sự tiến triển của nguy cơ loét và đảm bảo chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân.
2.3.3 Kế hoạch thu thập số liệu
- Thời gian: Từ tháng 2/2019 đến tháng 6/2019
- Nơi thực hiện: Khoa HSTC – CĐ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
- Người thu thập số liệu: Nghiên cứu viên
Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu
- Nguy cơ loét theo thang điểm Braden: Là biến thứ tự, có 5 giá trị:
+) Nhóm không có nguy cơ: ≥ 17 điểm
+) Nhóm nguy cơ thấp: 15 – 16 điểm
+) Nguy cơ trung bình: 13 – 14 điểm
+) Nhóm nguy cơ cao: 10 – 12 điểm
+) Nhóm nguy cơ rất cao: ≤ 9 điểm
2.4.2.1 Biến số đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh
- Giới tính: là biến danh định, gồm 2 giá trị:
- Nhóm tuổi: là biến thứ tự, số tuổi của người bệnh tính bằng năm nghiên cứu trừ cho năm sinh và chia thành 4 nhóm.
2.4.2.2 Biến số về đặc điểm lâm sàng của người bệnh
- Chẩn đoán bệnh chính: Là biến danh định, độc lập sau đó liệt kê bệnh.
- Chẩn đoán bệnh kèm: Là biến danh định, độc lập sau đó phân nhóm bệnh thành 3 nhóm: Đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh khác
- Tiền sử hút thuốc lá: Biến nhị giá với 2 giá trị có hoặc không
+) Có: Nếu người bệnh hút ít nhất 1 năm từ ngày nhập viện, mỗi ngày ít nhất một điếu.
+) Không: nếu không thỏa mãn điều kiện “có”
- Thở máy: người bệnh có được hỗ trợ hô hấp bằng máy thở hay không Đây là biến nhị giá có 2 giá trị:
- Cân nặng: là biến số định lượng, đơn vị tính kilogam (kg)
- Chiều cao: là biến số định lượng, đơn vị tính mét (m)
Chỉ số BMI được tính bằng công thức BMI = cân nặng / (chiều cao)² và là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe, trong đó chia thành năm mức dựa trên điểm cắt theo khu vực ASEAN theo định nghĩa của WHO Trong đó, trạng thái nhẹ cân được xác định đối với những người có BMI dưới 18,5, cho thấy mức độ thiếu cân phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực.
+) Bình thường: BMI từ 18,5 đến 22,9
+) Nguy cơ thừa cân: BMI từ 23 đến 24,9
+) Béo phì: BMI từ 25 trở lên
- Nhóm điểm Glasgow: Đánh giá mức độ hôn mê của người bệnh dựa vào thang điểm Glasgow (mắt, lời nói, vận động) Là biến thứ tự gồm 3 giá trị:
+) 13 - 15 điểm: bình thường hoặc rối loạn ý thức nhẹ
+) 9 - 12 điểm: rối loạn ý thức TB
+) 3 - 8 điểm: rối loạn ý thức nặng, hôn mê sâu.
2.4.2.3 Biến số về đặc điểm loét tỳ đè
Loét là hiện tượng vùng da hoặc mô dưới da bị tổn thương do tác động của áp lực, lực kéo hoặc ma sát, hoặc sự kết hợp của các tác nhân này (NPUAP, 2014) Đây là biến nhị giá, có hai giá trị chính là “Có” hoặc “Không,” phản ánh sự hiện diện hoặc vắng mặt của loét trên da.
+) “Có” khi xuất hiện tổn thương da do loét tỳ đè tại bất kỳ vị trí nào của cơ thể. +) “Không” khi không có biểu hiện “có”
- Vị trí loét: Là nơi xuất hiện vết loét, đây là biến số danh định gồm 5 giá trị:
- Ngày xuất hiện loét: Là ngày ghi nhận có xuất hiện loét tỳ đè, đây là biến số danh định gồm 3 giá trị:
- Phân độ loét: Là mức độ loét chia 4 giai đoạn theo NPUAP, đây là biến số danh định gồm 4 giá trị:
+) Giai đoạn 1: Đỏ da không biến mất khi ấn, ko phá vỡ cấu trúc da
Trong quá trình phát triển của vết thương, giai đoạn 2 đặc trưng bởi trợt nông trên bề mặt da, xuất hiện các nốt phỏng nước nhưng chưa có tổ chức hoại tử Đến giai đoạn 3, vết thương gây tổn thương hoàn toàn các lớp da, có thể thấy rõ phần mỡ dưới da, đòi hỏi chăm sóc và điều trị phù hợp để phòng ngừa biến chứng.
+) Giai đoạn 4: Hoại tử toàn bộ lớp da, có thể thấy cơ, gân, xương
2.4.2.4 Biến số về chăm sóc dự phòng loét tỳ đè trên người bệnh
- Thay vải trải giường: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: “Có” và “Không”.
+) “Có” là khi người bệnh được thay vải trải giường ít nhất 1 lần/ngày và khi ẩm ướt, đạt tiêu chí thẳng không có nếp gấp gây đè cấn.
+) “Không” là người bệnh không thỏa mãn điều kiện “có”.
- Nằm nệm hơi: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị “Có” và “Không”
+) “Có” là khi người bệnh được sử dụng nệm hơi trong suốt 10 ngày khảo sát. +) “Không” là khi người bệnh không thỏa được tiêu chí như trên.
- Xoay trở: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị “Có” và “Không”.
+) “Có” là khi người bệnh được thay đổi tư thế ít nhất 2 giờ 1 lần.
+) “Không” là khi người bệnh không thỏa được tiêu chí như trên.
- Tắm/lau da tại giường: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: “Có” và “Không”.
+) “Có” là khi người bệnh được tắm hoặc lau rửa sạch và lau khô da tại những vị trí tì đè ít nhất 1 lần/ngày.
+) “Không” là người bệnh không được đảm bảo 1 trong các tiêu chí trên.
Kiểm soát đại tiện và tiểu tiện là một biến số nhị phân với hai giá trị chính: "Có" hoặc "Không" Khi người bệnh có khả năng tự chủ trong việc tiểu tiện hoặc sử dụng các phương pháp hỗ trợ như túi đựng nước tiểu, sonde tiểu hoặc tã giấy, được coi là đang kiểm soát tốt chức năng tiểu tiện Trong trường hợp người bệnh đi tiêu hoặc tiểu làm ướt da, cần thực hiện vệ sinh ngay lập tức để đảm bảo vệ sinh và tránh nhiễm khuẩn.
+) “Không” là người bệnh không được đảm bảo một trong các tiêu chí trên.
- Chêm lót: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: “Có” và “Không”.
“Có” đề cập đến việc người bệnh được chêm lót các vật mềm, có tính đàn hồi như gối mềm hoặc miếng bọt silicon tại những vị trí có nguy cơ bị loét cao Việc này giúp giảm áp lực lên các vùng dễ bị tổn thương, đồng thời bảo vệ các vết loét đã hình thành để ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng và thúc đẩy quá trình lành vết thương một cách hiệu quả.
+) “Không” là người bệnh không được đảm bảo một trong các tiêu chí trên.
- Xoa bóp: là biến có giá trị “Có” hoặc “Không”.
Có thể giúp giảm nguy cơ xảy ra tỳ đè bằng cách xoa bóp massage vùng có nguy cơ ít nhất 2 lần mỗi ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút Trong quá trình massage, nên xoa bóp từ vùng cơ dày đến cơ mỏng và tránh xoa bóp ở những vị trí gần xương để hạn chế tổn thương da Thực hiện đúng kỹ thuật massage này có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa biến chứng tỳ đè ở người bệnh.
+) “Không” khi người bệnh không được đảm bảo một trong các tiêu chí trên.
Xử lý số liệu
2.5.1 Kiểm tra dữ liệu Đảm bảo mỗi phiếu thu thập số liệu được điền đầy đủ các thông tin.
2.5.2 Mã hóa thông tin từ phiếu đánh giá
Tất cả dữ liệu thu thập được sẽ được mã hóa bởi người nghiên cứu sau khi đảm bảo tính phù hợp Dữ liệu sau đó được lưu trữ trong tập tin trên máy tính và kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo không có lỗi trước khi chuyển sang phần mềm phân tích.
Dữ liệu được mô tả, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 và vẽ biểu đồ bằng phần mềm excel.
Các biến số định tính được mô tả bằng tần số (n) và tỷ lệ (%).
Các biến số định lượng trong nghiên cứu được trình bày bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để thể hiện đặc điểm của mẫu Thống kê phân tích được thực hiện bằng các phép kiểm như kiểm tra Logistic đơn biến, Chi-squared và Fisher Exact để xác định mối liên hệ giữa các đặc điểm của người bệnh và tình trạng loét Các phương pháp phân tích này giúp đánh giá chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh lý, từ đó đưa ra các kết luận có ý nghĩa y học rõ ràng.
Kiểm soát sai lệch
2.6.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa Để kiểm soát sai lệch nghiên cứu viên tiến hành điều tra thử người bệnh theo đúng tiêu chuẩn đã chọn Những phiếu đánh giá ban đầu sẽ được nghiên cứu đánh giá mẫu Từng phiếu đánh giá sẽ được xem xét, kiểm tra cẩn thận để loại bỏ những thông tin không cần thiết hoặc bổ sung những thông tin thiếu trong quá trình tiến hành điều tra mẫu.
2.6.2 Kiểm soát sai lệch thông tin Để khắc phục sai số hệ thống có thể xảy ra, nghiên cứu viên là người trực tiếp thu thập số liệu.
Trong thực tế, công tác chăm sóc phòng ngừa loét có thể khác nhau giữa các điều dưỡng, mặc dù quy trình đã được ban hành rõ ràng Để đảm bảo hiệu quả, nghiên cứu viên thường xuyên quan sát và lấy thông tin tại nhiều thời điểm, dựa trên chăm sóc của nhiều điều dưỡng khác nhau cho cùng một người bệnh Tất cả người bệnh tham gia nghiên cứu đều được chăm sóc theo một quy trình chung, với sự hướng dẫn cụ thể về các kỹ thuật phòng loét chuẩn và khuyến khích cán bộ y tế thực hiện đúng các bước đã quy định để nâng cao hiệu quả phòng ngừa loét.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được phê duyệt bởi hội đồng Y đức của Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu viên liên hệ với Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và Khoa HSTC – CĐ để xin phép thực hiện nghiên cứu Đồng thời, họ mong muốn nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ từ phía bệnh viện và khoa để tiến hành nghiên cứu hiệu quả hơn.
Nghiên cứu bắt buộc phải được giải thích rõ mục đích và nội dung trước khi tiến hành Tham gia vào nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện, và đối tượng nghiên cứu hoặc thân nhân của họ phải đồng ý hợp tác qua giấy chấp thuận bằng văn bản Người tham gia có quyền từ chối hoặc rút lui khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào trong quá trình đánh giá mà không gặp bất kỳ khó khăn nào Vì đây là nghiên cứu không can thiệp, nên không gây tác hại về sức khỏe cho người tham gia.
Thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu được bảo vệ tuyệt đối để đảm bảo quyền riêng tư Các số liệu thu thập chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, không sử dụng cho bất kỳ mục đích thương mại hoặc cá nhân nào khác Chính sách bảo mật này cam kết giữ gìn sự riêng tư và an toàn cho tất cả các dữ liệu liên quan đến nghiên cứu.
Khi phát hiện bệnh nhân có BMI thuộc nhóm thiếu cân, thừa cân hoặc béo phì, nghiên cứu viên sẽ báo cho điều dưỡng chăm sóc và bác sĩ điều trị để tiến hành đánh giá dinh dưỡng và hội chẩn nếu cần Việc tư vấn chế độ dinh dưỡng phù hợp được thực hiện nhằm đảm bảo sự cân đối và đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân, đồng thời theo dõi chỉ số sức khỏe thường xuyên Sau mỗi đánh giá, nghiên cứu viên sẽ thông báo về nguy cơ loét tỳ đè cho nhân viên chăm sóc để có biện pháp ứng phó kịp thời Phòng đeo tay cảnh báo nguy cơ loét tỳ đè được sử dụng nhằm nâng cao nhận thức và phòng ngừa hiệu quả Cuối cùng, công tác phối hợp với các khoa liên quan nhằm xây dựng kế hoạch phòng ngừa loét tỳ đè và giám sát việc thực hiện nhằm bảo vệ tốt nhất cho sức khỏe của bệnh nhân.
Tính ứng dụng của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm xác định trị số thang điểm Braden cho người bệnh điều trị tại phòng Hồi sức tích cực và phân tích các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện loét tỳ đè Kết quả từ nghiên cứu sẽ giúp đề xuất việc sử dụng thang đo Braden để đánh giá nguy cơ loét tỳ đè, từ đó xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu nguy cơ loét tỳ đè trong phòng Hồi sức tích cực Việc áp dụng thang điểm Braden giúp nâng cao chất lượng chăm sóc và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân nặng tại bệnh viện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (N = 90) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tuổi TB ± ĐLC (70,8 ± 14,5)
Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của người bệnh là 70,8 tuổi, với khoảng tuổi từ 28 đến 97 Đa số người bệnh (82,3%) thuộc nhóm từ 60 tuổi trở lên, trong khi nhóm từ 40-59 tuổi chiếm 14,4%, và chỉ có 3,3% là người dưới 40 tuổi, phản ánh rõ xu hướng bệnh tập trung ở nhóm người cao tuổi.
- Trong số người bệnh tham gia nghiên cứu, tỷ lệ người bệnh là nam giới chiếm 63,3% cao hơn tỷ lệ người bệnh là nữ giới là 36,7%.
- Gần 1/3 người bệnh trong nhóm nghiên cứu hút thuốc lá chiếm 30%
Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (N = 90) Đặc điểm đối tượng Tần số (n) Tỷ lệ (%) Bệnh chính
Tai biến mạch máu não 40 44,4
Phân loại BMI: TB ± ĐLC (20,9 ± 3,9)
Rối loạn ý thức nhẹ và bình thường 0 0
Rối loạn ý thức nặng, hôn mê sâu 38 42,2
- Nhóm người bệnh tai biến mạch máu não chiếm 44,4% có tỷ lệ thấp hơn nhóm người bệnh mắc các bệnh khác là 55,6 %.
- Hơn 50% người bệnh trong nhóm nghiên cứu mắc bệnh kèm theo là tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 64,4% và có 27,8% người bệnh có bệnh kèm đái tháo đường.
Chỉ có 36,7% người bệnh trong nhóm nghiên cứu có chỉ số khối BMI trong giới hạn bình thường, trong khi đó, 32,2% bệnh nhân là người nhẹ cân và 31,1% mắc bệnh thừa cân, béo phì, cho thấy tỷ lệ người mắc các vấn đề về cân nặng khá đáng kể.
- Tỷ lệ người bệnh có thở máy là 73,3% cao hơn so với người bệnh không thở máy là 26,7%.
Trong nghiên cứu này, điểm Glasgow trung bình của bệnh nhân là 8,97 ± 2,42, cho thấy đa phần bệnh nhân gặp các rối loạn ý thức mức trung bình đến nặng Cụ thể, hơn 57,8% bệnh nhân có mức ý thức trung bình, trong khi 42,2% gặp phải rối loạn ý thức nặng, hôn mê sâu Không có bệnh nhân nào ghi nhận tình trạng rối loạn ý thức nhẹ hoặc bình thường.
Đặc điểm về tình trạng loét
Bảng 3.3 Đặc điểm về tình trạng loét Đặc điểm về loét Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Từ ba vết loét trở lên 0 0
- Tỷ lệ người bệnh bị loét tỳ đè là 14,4%
- Loét vị trí cùng cụt là nhiều nhất chiếm tỉ lệ 81,3%, đứng thứ hai là vùng xương chẩm chiếm tỷ lệ 12,5%.
- Đa số người bệnh bị loét ở một vị trí chiếm 76,9%, chỉ có 23,1% người bệnh bị loét ở 2 vị trí.
Vết loét thường xuất hiện trong khoảng 8 đến 10 ngày sau khi nhập viện, chiếm tỷ lệ 69,2% Hầu hết các vết loét được phát hiện ở giai đoạn đầu, với tỷ lệ lên đến 84,6%.
Đặc điểm về thực hành chăm sóc phòng ngừa loét
Bảng 3.4 Đặc điểm về thực hành chăm sóc phòng ngừa loét tỳ đè (N = 90)
Chăm sóc dự phòng loét tỳ đè Tần số (n) Tỷ lệ (%) Nệm hơi
Kiểm soát đại, tiểu tiện
Chăm sóc dự phòng loét tỳ đè Tần số (n) Tỷ lệ (%)
- Tỷ lệ người bệnh có sử dụng nệm hơi phòng ngừa loét là 50%
Hầu hết người bệnh (chiếm 92,2%) đều được thay vải trải giường ít nhất một lần mỗi ngày để đảm bảo vệ sinh và phòng ngừa bệnh Việc thay vải đúng tiêu chuẩn bao gồm giữ cho mặt vải thẳng, không có nếp gấp gây đè cấn, giúp giảm thiểu nguy cơ phát triển các vết loét hoặc biến chứng ngoài da Thực hiện thay vải đều đặn khi ẩm ướt là bước quan trọng trong chăm sóc người bệnh để đảm bảo môi trường vệ sinh và an toàn cho sức khỏe.
- Có 90% người bệnh được đạt tiêu chuẩn về tắm hoặc chăm sóc vệ sinh và lau khô da sạch sẽ.
- Người bệnh được kiểm soát tình trạng đại tiểu tiện tốt chiếm tỷ lệ 58,9%.
- Có 53,3% người bệnh được chêm lót ở các vị trí dễ loét tỳ đè theo hướng dẫn về chăm sóc phòng loét.
- Có 72,2% người bệnh được xoay trở, thay đổi tư thế mỗi 2 giờ và tỷ lệ người bệnh được chăm sóc xoa bóp chỉ chiếm 37,8%.
3.2 Nguy cơ loét tỳ đè theo thang điểm Braden ở NB tại thời điểm nhập viện và mô tả sự thay đổi điểm Braden sau 10 ngày điều trị tại khoa HSTC
Điểm Braden tại thời điểm nhập viện và sau 10 ngày điều trị.
Bảng 3.5 Đặc điểm đánh giá nguy cơ loét theo thang điểm Braden (N = 90)
Nguy cơ loét theo thang điểm Braden
Tần số (n) Tỷ lệ (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%)
- Điểm Braden trung bình của người bệnh lúc nhập viện là 11,91 ± 2,28, sau 10 ngày điều trị có giảm nhẹ còn 11,31 ± 2,12.
Đánh giá nguy cơ loét theo thang điểm Braden tại thời điểm nhập viện cho thấy có đến 68,9% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao, cần chú ý chăm sóc đặc biệt để phòng ngừa loét Khoảng 20% bệnh nhân nằm trong nhóm nguy cơ trung bình, trong khi 11,1% thuộc nhóm nguy cơ thấp, còn không có bệnh nhân nào thuộc nhóm không có nguy cơ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá nguy cơ loét sớm để triển khai các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Sau 10 ngày điều trị, đánh giá nguy cơ loét theo thang điểm Braden cho thấy có đến 83,3% người bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao, trong khi chỉ có 16,7% người bệnh thuộc nhóm nguy cơ trung bình và thấp; không có trường hợp nào thuộc nhóm không có nguy cơ, cho thấy đa số bệnh nhân vẫn còn nguy cơ cao hoặc rất cao về loét do nằm lâu.
Đặc điểm chỉ số điểm Braden theo các chí đánh giá
Bảng 3.6 Điểm Braden theo các tiêu chí đánh giá tại thời điểm nhập viện và sau 10 ngày điều trị
(*) Trung bình ± độ lệch chuẩn
Tại thời điểm nhập viện, đối tượng không xuất hiện loét tỳ đè, trong đó tiêu chí đánh giá tình trạng ẩm ướt da có mức điểm cao nhất là 2,79 ± 0,56, phản ánh mức độ ẩm da tương đối cao Ngược lại, tiêu chí hoạt động có mức điểm thấp nhất là 1,21 ± 0,5, cho thấy khả năng vận động của bệnh nhân còn hạn chế Đối tượng có xuất hiện loét tỳ đè được đánh giá bằng tiêu chí Điểm Braden, giúp xác định mức độ nguy cơ phát triển loét tỳ đè và lập kế hoạch chăm sóc phù hợp.
Các tiêu chí đánh giá
Không loét* Có loét* Không loét* Có loét*
Nhận biết cảm giác 2,25 ± 0,86 2,11 ± 0,9 2,24 ± 0,86 2,28 ± 0,83 Tình trạng ẩm ướt da 2,79 ± 0,56 3 ± 0,34 2,97 ± 0,53 2,72 ± 0,67 Hoạt động 1,21 ± 0,5 1,11 ± 0,47 1,24 ± 0,52 1,11 ± 0.47 Vận động 1,47 ± 0,79 1,11 ± 0,47 1,47 ± 0,79 1,11 ± 0,47 Dinh dưỡng 2,83 ± 0,44 2,89 ± 0,32 2,99 ± 0,31 2,94 ± 0,42
Tổng điểm Braden 12,38 ± 2,24 10,06 ±1,35 11,63 ± 2,24 10,06 ± 0,73 tình trạng ẩm ướt da cũng có mức điểm cao nhất là 3 ± 0,34, tiêu chí hoạt động và vận động có mức điểm thấp nhất là 1,11 ± 0,47.
Sau 10 ngày điều trị, đối tượng không xuất hiện loét có điểm đánh giá về dinh dưỡng cao nhất là 2,99 ± 0,31, trong khi tiêu chí hoạt động có điểm thấp nhất là 1,24 ± 0,52 Ở những đối tượng xuất hiện loét, điểm đánh giá về dinh dưỡng cũng đạt mức cao nhất là 2,94 ± 0,42, còn tiêu chí hoạt động và vận động có mức điểm thấp nhất lần lượt là 1,11 ± 0,47.
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loét tỳ đè ở người bệnh điều trị tại phòng HSTC
3.3.1 Nhóm dặc điểm chung của người bệnh
Bảng 3.7 Liên quan giữa đặc điểm chung của người bệnh với tình trạng loét Đặc điểm chung
(*): Trung bình ± độ lệch chuẩn
Liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi và hút thuốc với tình trạng loét không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.2 Nhóm đặc điểm lâm sàng của người bệnh
Bảng 3.8 Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của người bệnh và tình trạng loét Đặc điểm lâm sàng
Tình trạng loét n (%) OR (KTC 95%) p (a)
Thiếu cân 4 (13,8) 25 (86,2) 3,23 (0,58 –18,11) 0,18 Thừa cân, béo phì 8 (28,6) 20 (71,4) 10,03 (1,99 – 50,61) 0,05 Thở máy
RL ý thức nặng, hôn mê sâu
(*): Trung bình ± độ lệch chuẩn
- Không có liên quan giữa chẩn đoán bệnh kèm, có hoặc không có thở máy với sự phát triển loét tỳ đè (p > 0,05).
Người bệnh có chỉ số BMI thừa cân, béo phì có nguy cơ loét gấp 10 lần so với nhóm có BMI bình thường, cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng béo phì và khả năng phát triển loét.
BMI và tình trạng loét của người bệnh (p = 0,05).
Những người bệnh thở máy có nguy cơ bị loét cao hơn 1,25 lần so với nhóm bệnh nhân không thở máy, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa phương pháp hỗ trợ hô hấp này và sự xuất hiện của các vết loét da Thường xuyên sử dụng máy thở có thể làm tăng nguy cơ tổn thương da, khiến các bệnh nhân dễ bị loét hơn Các dữ liệu thống kê xác nhận rằng tình trạng thở máy có ý nghĩa đáng kể đối với nguy cơ phát triển loét da ở bệnh nhân Do đó, việc quản lý và chăm sóc bệnh nhân thở máy cần chú trọng phòng ngừa các biến chứng về da để giảm thiểu nguy cơ loét.
Những bệnh nhân rối loạn ý thức nặng, hôn mê sâu có nguy cơ bị loét cao gấp 23,53 lần so với nhóm bệnh nhân rối loạn ý thức trung bình Tình trạng rối loạn ý thức có liên quan rõ ràng và mang ý nghĩa thống kê trong việc gia tăng nguy cơ loét cho người bệnh (p < 0,001).
3.3.3 Mối liên quan giữa điểm Braden và tình trạng loét tỳ đè ở người bệnh điều trị tại phòng HSTC
Bảng 3.9 Liên quan giữa điểm Braden và tình trạng loét tỳ đè
Phân loại nguy cơ loét theo Braden
Nhóm nguy cơ TB, nguy cơ thấp và không có nguy cơ
Nhóm nguy cơ cao và rất cao
Có mối liên hệ rõ ràng giữa nguy cơ loét theo thang điểm Braden và tình trạng loét, với giá trị p = 0,0486 chứng tỏ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nhóm bệnh nhân có điểm Braden thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao có nguy cơ mắc loét gấp 6,48 lần so với nhóm bệnh nhân có điểm thấp hơn, cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá nguy cơ loét để can thiệp kịp thời.
TB, nguy cơ thấp và không có nguy cơ.
3.3.4 Liên quan giữa thực hành chăm sóc phòng ngừa loét tỳ đè và tình trạng loét tỳ đè
Bảng 3.10 Liên quan giữa thực hành chăm sóc phòng ngừa loét tỳ đè và tình trạng loét
Kiểm soát đại, tiểu tiện
Các yếu tố như nằm nệm hơi hoặc nệm nước, thay vải trải giường khô sạch, vệ sinh da, kiểm soát đại tiểu tiện, chêm lót, xoa bóp không có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển loét tỳ đè, với mức ý nghĩa thống kê là p > 0,05.
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loét tỳ đè ở người bệnh điều trị tại phòng HSTC
Trong khảo sát trên 90 người bệnh tại khoa HSTC – CĐ, đa số là nam giới chiếm tỷ lệ 63,3%, với tuổi trung bình 70,8 ± 14,5 tuổi (từ 28 đến 97 tuổi), phần lớn thuộc nhóm người cao tuổi chiếm 82,3% Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến tại khoa Ngoại chấn thương Bệnh viện Chợ Rẫy, với tuổi trung bình là 40,3 ± 16,0 tuổi và chỉ có 10,2% người bệnh trên 60 tuổi Nghiên cứu của Yooun và cộng sự năm 2015 cho thấy tuổi trung bình là 44,5 ± 16,8 tuổi Tuy nhiên, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Phạm Minh Nhức với 88% đối tượng trên 60 tuổi, của Espejo và cộng sự với độ tuổi trung bình 75,9 ± 14,1, của Skogestad (62,7 ± 18,0) và Karayurt (62,3 ± 17,2).
[44], tác giả [42] 63 ± 8 và tác giả Manzano [57] 60 ± 17 do sự tương đồng về điều kiện chọn mẫu
Trong nghiên cứu của tôi, có khoảng 30% người bệnh có thói quen hút thuốc, tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu của tác giả Yooun (40,5%) và Nguyễn Khoa Anh Chi (47,1%), phản ánh xu hướng giảm hút thuốc trong nhóm bệnh này.
4.1.2 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
4.1.2.1 Chẩn đoán bệnh chính và bệnh kèm
Nhóm bệnh nhân chẩn đoán mắc tai biến mạch máu não, bao gồm xuất huyết não và nhồi máu não, chiếm tỷ lệ 44,4%, phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Nhức là 55% Đây là nhóm bệnh nặng, thường gặp hạn chế vận động, làm tăng nguy cơ bị loét tỳ đè.
Trong nghiên cứu này, phần lớn người bệnh mắc các bệnh mãn tính hoặc có các tổn thương đi kèm, trong đó 64,4% bị tăng huyết áp và 27,8% mắc đái tháo đường Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của Nguyễn Khoa Anh Chi với tỷ lệ người bệnh có bệnh mãn tính kèm theo chỉ là 13,7%, và của Nguyễn Thị Ngọc Yến với 4,2% mắc bệnh tăng huyết áp, do các đối tượng trong các nghiên cứu này có đặc điểm khác biệt.
BÀN LUẬN
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Phần lớn người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là nam giới, chiếm tỷ lệ 63,3%, với tuổi trung bình là 70,8 ± 14,5 tuổi, dao động từ 28 đến 97 tuổi Đa số người bệnh thuộc nhóm cao tuổi, chiếm tỷ lệ 82,3%, phù hợp với xu hướng bệnh nhân cao tuổi phổ biến trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, kết quả này khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến tại khoa Ngoại chấn thương Bệnh viện Chợ Rẫy, có tuổi trung bình là 40,3 ± 16,0 tuổi và chỉ 10,2% bệnh nhân thuộc nhóm trên 60 tuổi Trong khi đó, nghiên cứu của Yooun và cộng sự (2015) cho thấy tuổi trung bình là 44,5 ± 16,8 tuổi, còn các tác giả như Phạm Minh Nhức, Espejo và cộng sự, Skogestad, Karayurt đều ghi nhận tuổi trung bình từ 62,3 đến 75,9 tuổi, phù hợp với đặc điểm của bệnh nhân cao tuổi trong lĩnh vực nghiên cứu.
[44], tác giả [42] 63 ± 8 và tác giả Manzano [57] 60 ± 17 do sự tương đồng về điều kiện chọn mẫu
Trong nghiên cứu của tôi, có khoảng 30% người bệnh hút thuốc, mức tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó như của tác giả Yooun với tỷ lệ 40,5% và Nguyễn Khoa Anh Chi với tỷ lệ 47,1%, cho thấy xu hướng giảm tỷ lệ hút thuốc trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
4.1.2 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
4.1.2.1 Chẩn đoán bệnh chính và bệnh kèm
Nhóm bệnh nhân có chẩn đoán chính là tai biến mạch máu não (bao gồm xuất huyết não và nhồi máu não) chiếm tỷ lệ 44,4%, gần bằng với tỷ lệ 55% theo tác giả Phạm Minh Nhức [5] Ngành bệnh này thường đi kèm với hạn chế vận động, làm tăng nguy cơ phát triển loét tỳ đè do hạn chế di chuyển.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn người bệnh mắc các bệnh mạn tính hoặc có các tổn thương kèm theo, trong đó 64,4% bị tăng huyết áp và 27,8% mắc đái tháo đường Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó như của Nguyễn Khoa Anh Chi (13,7%) và Nguyễn Thị Ngọc Yến (4,2%), do đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là người cao tuổi, khiến tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp và đái tháo đường cao hơn so với nhóm người trẻ tuổi.
Chỉ số BMI trung bình của người bệnh là 20,9 ± 3,9, trong đó 36,7% người bệnh có BMI ở mức bình thường, 32,2% thuộc nhóm nhẹ cân và 31,1% có nguy cơ thừa cân Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Ngọc Yến và cộng sự tại Bệnh viện Chợ Rẫy với BMI trung bình là 22,2 ± 2,6, cũng như của Hwang và cộng sự tại Hải Phòng năm 2010, với trung bình là 21 ± 2,7 Tuy nhiên, có sự khác biệt so với các nghiên cứu của Skogestad (Hoa Kỳ) và Shahin (Đức), với BMI trung bình lần lượt là 24,9 ± 6,1 và 26,3 ± 5,5, phù hợp với đặc điểm chỉ số BMI của người châu Á so với châu Âu và châu Mỹ.
4.1.2.3 Đặc điểm về tình trạng thở máy
Trong các đơn vị HSTC – CĐ, việc đảm bảo chức năng hô hấp và tuần hoàn cho bệnh nhân nặng là vô cùng quan trọng Những bệnh nhân nặng thường gặp phải suy giảm chức năng hô hấp, do đó cần sử dụng các biện pháp thông khí nhân tạo để hỗ trợ thở Tỷ lệ bệnh nhân phải thở máy trong nghiên cứu đạt tới 73,3%, thể hiện mức độ cần thiết của các biện pháp hỗ trợ hô hấp tích cực tại các đơn vị này.
4.1.2.4 Đặc điểm về điểm Glasgow Điểm Glasgow trung bình của người bệnh tham gia nghiên cứu là 8,97 ± 2,42 Nghiên cứu được thực hiện tại khoa HSTC – CĐ, chủ yếu tập trung người bệnh nặng nên không có người bệnh rối loạn ý thức nhẹ hoặc bình thường, có 57,8% người bệnh có rối loạn ý thức trung bình, 42,2% người bệnh có rối loạn ý thức nặng, hôn mê sâu Kết quả này rất khác biệt so với nghiên cứu của đồng nghiệp Phạm Minh Nhức thực hiện tại bệnh viện C Đà Nẵng, có đến 74% người bệnh có Glasgow bình thường, chỉ có 8% người bệnh rối loạn ý thức nặng và hôn mê sâu Do mẫu nghiên cứu trong đề tài tác giả Phạm Minh Nhức lấy từ nhiều khoa khác nhau ngoài khoa HSTC – CĐ Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả Manju và cộng sự (2005) tỷ lệ người bệnh có điểm số Glasgow 4 – 6 là 34% và 66% người bênh có điểm Glasgow 7 – 8, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến 100% người bệnh có điểm số Glasgow ≤ 8 Sự khác biệt về điểm số Glasgow đã được chứng minh có ảnh hưởng đến sự phát triển loét tỳ đè [40]
4.1.3 Đặc điểm chăm sóc phòng ngừa loét
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 50% người bệnh nằm nệm hơi và 50% không nằm nệm hơi, thấp hơn so với tỷ lệ 90,4% được báo cáo của Nguyễn Thị Ngọc Yến [9] Điều này phản ánh tình hình tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi trang bị nệm hơi cho toàn bộ các giường bệnh trong đơn vị Hồi sức Ngoại Thần kinh, chỉ có một số ít người bệnh phải nằm băng ca do quá tải và không có nệm hơi Trong khi đó, người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi phải tự trang bị nệm hơi, dẫn đến tỷ lệ sử dụng nệm hơi thấp hơn.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của việc sử dụng nệm hơi trong việc giảm nguy cơ phát triển loét tỳ đè Việc trang bị nệm hơi như một vật tư y tế thường quy tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt là rất cần thiết Điều này giúp nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và cần được nhân rộng để phòng ngừa hiệu quả các biến chứng liên quan đến loét tỳ đè.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thay vải trải giường đạt tiêu chuẩn và thay khi ẩm ướt là 92,2%, cao hơn so với nghiên cứu của Đồng Nguyễn Phương Uyển với tỷ lệ 77,4%, và gần bằng tỷ lệ 97% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến.
Chăm sóc vệ sinh da là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa loét tỳ đè và các tổn thương trên da Việc giữ da sạch sẽ và khô ráo giúp giảm thiểu điều kiện thuận lợi cho sự hình thành loét tỳ đè, đặc biệt ở bệnh nhân nằm lâu tại khoa HSTC Vì vậy, công tác chăm sóc da đúng quy trình đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sức khỏe cho người bệnh, hạn chế các biến chứng liên quan đến da và cải thiện chất lượng chăm sóc y tế.
Các bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa đều được tắm hoặc lau da và lau khô da hàng ngày vào mỗi buổi sáng, trừ những trường hợp đặc biệt cần bất động Có đến 90% bệnh nhân được chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày, đạt tỷ lệ tương đương với kết quả của Nguyễn Thị Ngọc Yến và cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Khoa Anh Chi, chỉ đạt 74,5%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ kiểm soát đại tiểu tiện tốt đạt 58,9%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến (94,6%) và của Phạm Minh Nhức (91%) Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Khoa Anh Chi, với tỷ lệ kiểm soát chỉ 12,7%.
Chăm sóc chêm lót hỗ trợ phòng ngừa loét tỳ đè trong nghiên cứu này chỉ đạt
53,3% Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Phạm Minh Nhức có tỷ lệ chêm lót là 88%
Chăm sóc xoay trở người bệnh định kỳ mỗi 2 giờ, mặc dù được xem là biện pháp phòng ngừa loét tỳ đè hiệu quả, nhưng chỉ có 72,2% người bệnh được thực hiện đúng practice này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hạn chế vận động do các bệnh lý tổn thương tủy sống làm tăng nguy cơ phát triển loét tỳ đè gấp 4 lần Thực hành xoa bóp hỗ trợ người bệnh trong phòng ngừa loét tỳ đè chỉ đạt 35,6%, trong khi 64,4% không được xoa bóp Tại khoa HSTC – CĐ, hoạt động xoa bóp đòi hỏi nhiều thời gian hơn các biện pháp khác, nên thường bị bỏ qua, dẫn đến cần chú trọng hơn về bố trí nhân lực và giám sát nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và điều trị loét tỳ đè.
Tỷ lệ loét tỳ đè và đặc điểm về tình trạng loét
4.2.1 Tỷ lệ loét tỳ đè
Trong khoảng thời gian thu thập số liệu từ tháng 2/2019 đến tháng 6/2019, có
Trong nghiên cứu gồm 90 người bệnh, chúng tôi ghi nhận có 13 trường hợp bị loét tỳ đè, chiếm tỷ lệ 14,4% Tỷ lệ loét tỳ đè này phù hợp với các thống kê toàn cầu, như ở Canada, tỷ lệ dao động từ 15% đến 30%, và ở Iran từ 5,2% đến 22,5% Tỷ lệ loét tỳ đè phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có thể dao động lớn, từ 1% đến 56% trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt trên toàn thế giới.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ loét tỳ đè thấp hơn so với một số nghiên cứu trước đây, như của Cẩm Bá Thức (2012) tại Bệnh viện ĐD với tỷ lệ 24,6%, Nguyễn Khoa Anh Chi (2015) tại khoa HSTC – CĐ của Bệnh viện Trung Ương Huế với tỷ lệ 55,9%, và Nguyễn Thị Ngọc Yến trên bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tại BV Chợ Rẫy với tỷ lệ 16,3% Nghiên cứu của Fife và cộng sự cũng ghi nhận tỷ lệ 16,8% Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi vẫn cao hơn so với tỷ lệ tại các nước phát triển như Đức (11,7%), Thụy Điển (14,4% - 16,6%) và Thổ Nhĩ Kỳ (10,4%).
Các nghiên cứu trong nước trước đây cho thấy tỷ lệ loét tỳ đè còn cao, nhưng kết quả nghiên cứu hiện tại đã ghi nhận sự giảm đáng kể trong tỷ lệ này Việc đưa tỷ lệ loét tỳ đè vào bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Chương C5) đã góp phần thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa hiệu quả và giảm dần tỷ lệ mắc qua các năm Mặc dù tỷ lệ loét tỳ đè đã giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao, đặt ra yêu cầu cần nỗ lực liên tục từ các đơn vị y tế trong việc giảm thiểu tác hại và nâng cao an toàn người bệnh Việc cải thiện chăm sóc và dự phòng loét tỳ đè không những giúp giảm thời gian nằm viện và chi phí điều trị mà còn đòi hỏi thay đổi trong quản lý, trang bị thiết bị phù hợp, cùng đào tạo nhân lực chuyên môn Những chiến lược này là cần thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người bệnh tốt hơn trong quá trình điều trị.
Sự khác biệt về tỷ lệ loét tỳ đè giữa các nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ chất lượng chăm sóc, nhưng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như phương pháp nghiên cứu, cỡ mẫu, thời gian lấy mẫu và tiêu chuẩn chọn vào hoặc không chọn vào nhóm nghiên cứu Thêm vào đó, thời gian lấy mẫu bị hạn chế trong kỳ khóa học, khiến cỡ mẫu chưa đủ lớn để đảm bảo tính đại diện và chính xác của kết quả.
4.2.2 Đặc điểm về vị trí vết loét và số lượng vết loét
Các vị trí loét tỳ đè phổ biến nhất trên nhóm bệnh nhân của chúng tôi là vùng xương cùng với tỷ lệ 81,3%, theo sau là vùng chẩm chiếm 12,5%, và mắt cá chân ngoài chiếm 6,2% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của tác giả Ngọc Yến [9], Nguyễn Khoa Anh Chi [3], và Cẩm Bá Thức, cho thấy các vị trí này là những điểm dễ bị loét tỳ đè trên bệnh nhân nằm lâu.
Các vị trí phổ biến của loét tỳ đè bao gồm vùng xương cùng, xương chẩm và gót chân, do đặc điểm gần xương sát với da, dễ bị đè ép và ma sát trong quá trình xoay trở và thay đổi tư thế [6], Keller [46], Yoon và cộng sự [86], Tayyib [77] Những vị trí này dễ hình thành loét do chịu lực ma sát liên tục trong khi người bệnh vận động hạn chế hoặc nằm lâu, đặc biệt khi không kiểm soát đại tiểu tiện dẫn đến tình trạng ẩm ướt, làm tổn thương da dễ xảy ra hơn [49], [53], [58].
Trong tổng số 13 người bệnh, xuất hiện 16 vết loét, đa số người bệnh chỉ có một vết loét tì đè chiếm tỷ lệ 84,6%, trong khi tỷ lệ người bệnh có 2 vết loét là 25,4%, không có trường hợp nào có nhiều hơn 2 vết loét Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Ngọc Yến tại Bệnh viện Chợ Rẫy, cho thấy 70,4% người bệnh bị loét tại một vị trí, cùng với nghiên cứu của Nayyib và cộng sự, xác định tỷ lệ loét tỳ đè tại một vị trí là 57,6% Đánh giá mức độ loét cho thấy 84,6% vết loét ở giai đoạn 1 (đỏ da ấn không mất), 15,4% ở giai đoạn 2 với biểu hiện trầy da, trong khi không ghi nhận trường hợp nào loét giai đoạn 3 hay 4.
Thời gian theo dõi tình trạng loét tỳ đè trong nghiên cứu này chỉ kéo dài 10 ngày điều trị, dẫn đến kết quả khác với các nghiên cứu trước đó của đồng nghiệp về số lượng và mức độ phân độ của loét Điều này cho thấy quá trình đánh giá và phân loại loét tỳ đè cần được thực hiện trong khoảng thời gian dài hơn để có kết quả chính xác hơn Thời gian giới hạn ngắn có thể ảnh hưởng đến việc so sánh và tổng hợp dữ liệu giữa các nghiên cứu về loét tỳ đè.
Đặc điểm nguy cơ loét theo thang điểm Braden
Trong 13 người bệnh xuất hiện loét có 12 người được đánh giá thuộc nhóm nguy cơ loét cao và rất cao, chỉ có 1 người bệnh thuộc nhóm nguy cơ loét trung bình theo thang điểm Braden tại thời điểm nhập viện Điểm Braden tại thời điểm nhập viện là 11,91 ± 2,28 và sau 10 ngày điều trị là 11,31 ± 2,12 Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến là 12,3 ± 2,0 [9], nghiên cứu của Iranmanesh là 13,4 ± 3,5 [40] Đối với người bệnh tại các đơn vị chăm sóc tích cực, thang đo Braden cho hiệu lực dự đoán tốt với sự cân bằng giữa độ nhạy và độ đặc hiệu tại điểm cut-off là 13 điểm [38], [85]; theo kết quả nghiên cứu chúng tôi có 75/90 người bệnh có điểm Braden ≤ 13 điểm chiếm tỷ lệ 83,3%, chỉ có 15 người bệnh từ 14 điểm trở lên, chiếm tỉ lệ 16,7% Điều này cũng phản ánh được tình trạng bệnh tại khoa nghiên cứu viên khảo sát, hầu hết người bệnh có hạn chế vận động, hoạt động và suy giảm nhận thức cảm giác nên nguy cơ cơ loét cao Điểm số Braden của đối tượng không xuất hiện loét là 12,38 ± 2,24 điểm, cao hơn nhóm có xuất hiện loét là 10,06 ± 1,35, điểm Braden thấp hơn tương ứng với nguy cơ loét cao hơn Nhiều nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về điểm Braden ở 2 nhóm có loét và không loét, tác giả Fernandes cũng có nhận định trong nhóm người bệnh điểm Braden thấp số người phát triển loét cao hơn [32]
Kết quả bảng 4.1 cho thấy rằng, điểm Braden thấp liên quan đến tỷ lệ loét cao hơn so với các đơn vị chăm sóc có điểm Braden cao Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của điểm số Braden trong việc dự đoán nguy cơ loét áp lực và cải thiện chiến lược phòng ngừa Các nghiên cứu quốc tế cũng xác nhận rằng việc đánh giá chính xác điểm Braden giúp giảm thiểu nguy cơ loét và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 4.1 Điểm Braden tại các đơn vị chăm sóc (1)
Kaitani [42] Chan [23] NC của tôi
Không loét 3,6 ± 1,4 3,1 ± 0,9 3,9 ± 0,3 2,25 ± 0,86 Ẩm ướt da Có loét 3,7 ± 0,5 3,0 ± 0,9 2,8 ± 1,4 3,0 ± 0,34
Không loét 3,8 ± 0,6 3,0 ± 0,4 3,3 ± 1,1 2,79 ± 0,56 Hoạt động Có loét 1,0 ± 0 1,0 ± 0 1,4 ± 0,9 1,11 ± 0,47
Không loét 1,0 ± 0 1,0 ± 0,2 1,5 ± 0,9 1,21 ± 0,5 Vận động Có loét 1,3 ± 0,7 2,0 ± 0,2 2,6 ± 0,8 1,11 ± 0,47
Không loét 2,8 ± 0,7 2,1 ± 0,5 2,9 ± 0,5 1,47 ± 0,79 Dinh dưỡng Có loét 2,0 ± 1 2,0 ± 0,7 2,9 ± 0,8 2,89 ± 0,32
Người bệnh khoa HSTC – CĐ chủ yếu suy giảm nhận thức, hạn chế vận động, dẫn đến điểm số đánh giá nhận thức, cảm giác, hoạt động và vận động rất thấp, dao động từ 1,11 đến 2,25 điểm Tình trạng này làm giảm khả năng cảm nhận và phản ứng với các tác nhân gây tổn thương da, do đó cần hỗ trợ bên ngoài như thay đổi tư thế ít nhất hai giờ mỗi lần, sử dụng gối, đệm để định vị và bảo vệ, cùng với nệm hơi nhằm giảm áp lực lên các mô, hạn chế thiệt hại do thiếu máu cục bộ gây hoại tử mô Theo thang điểm Braden, có ba trong sáu tiêu chí có thể can thiệp để cải thiện điểm số và giảm nguy cơ loét là: độ ẩm da, dinh dưỡng, và ma sát, trầy xước Các biện pháp chăm sóc như giữ da khô ráo, vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp, và nâng đỡ người bệnh khi thay đổi tư thế thay vì kéo lê giúp nâng cao điểm Braden và giảm nguy cơ loét Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm tiêu chí ẩm ướt da là 2,79 ± 0,56 ở nhóm không loét và 3,0 ± 0,34 ở nhóm có loét; tiêu chí dinh dưỡng đạt 2,83 ± 0,44 và 2,89 ± 0,32 tương ứng Mặc dù phần lớn người bệnh được nuôi ăn qua ống thông dạ dày theo chế độ dinh dưỡng bệnh lý bác sĩ chỉ định, điểm tiêu chí dinh dưỡng khá cao, tuy nhiên điểm tiêu chí ma sát và lực trượt lại thấp do các tác nhân như vận chuyển, xoay trở hay tư thế nằm nửa nằm nửa ngồi liên tục tạo ra lực trượt lên da, góp phần vào nguy cơ tổn thương da.
4.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loét tỳ đè ở người bệnh
4.4.1 Liên quan giữa tình trạng loét với đặc điểm chung của người bệnh
Phân tích Chi 2 cho thấy không có mối liên quan đáng kể giữa các đặc điểm chung của người bệnh như tuổi, giới tính, tình trạng hút thuốc với nguy cơ phát triển loét tỳ đè (p > 0,05) Điều này cho thấy các yếu tố này không phải là các yếu tố dự báo chính cho sự hình thành loét tỳ đè trong nghiên cứu của chúng tôi Do đa số người bệnh là người cao tuổi (82,3%) và cỡ mẫu không đủ lớn, nên chưa thể xác định rõ mối liên hệ giữa tuổi, giới tính, hút thuốc và nguy cơ loét tỳ đè, đòi hỏi các nghiên cứu thêm trên các nhóm tuổi khác Các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Ngọc Yến, Yooun Joong Jung, Gedamu, và Karayurt cũng đều cho kết quả tương tự, không tìm ra mối liên hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học này với nguy cơ loét tỳ đè.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa tuổi và nguy cơ loét tỳ đè, trong đó nhóm người từ 60 tuổi trở lên có nguy cơ cao gấp 2,2 lần so với nhóm dưới 20 tuổi (Nguyễn Khoa Anh Chi [3]) Tuổi tác là một yếu tố dự đoán quan trọng trong sự phát triển của loét tỳ đè, đặc biệt ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt (Shahin [71]) Quá trình lão hóa làm thay đổi kết cấu và giảm độ đàn hồi của da, từ đó làm giảm khả năng tái tạo da và tăng nguy cơ hình thành loét tỳ đè ở người cao tuổi [78].
4.4.2 Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của người bệnh và tình trạng loét
Đặc điểm bệnh lý mạn tính kèm theo
Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa bệnh kèm tăng huyết áp và đái tháo đường với sự phát triển loét tỳ đè, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến [9], Nguyễn Khoa Anh Chi [3], và Rabadi [64], đều cho rằng đái tháo đường và tăng huyết áp không ảnh hưởng đến nguy cơ loét tỳ đè Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác như của Phạm Minh Nhức [5] đã phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa (p < 0,05), và Yooun Joong Jung [86] ghi nhận rằng bệnh nhân mắc đái tháo đường và/hoặc tăng huyết áp có nguy cơ bị loét tỳ đè cao gấp 2,6 lần so với những người không mắc các bệnh mạn tính này.
Nghiên cứu này xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số BMI và sự phát triển của loét tỳ đè, phù hợp với các nghiên cứu quốc tế trước đó Kết quả cho thấy, BMI thấp có thể là yếu tố nguy cơ chính gây ra các vết loét tỳ đè, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát cân nặng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân Điều này cho thấy việc theo dõi và duy trì chỉ số BMI phù hợp có thể giảm thiểu đáng kể nguy cơ phát triển loét tỳ đè ở bệnh nhân.
Bảng 4.3 Mối liên quan giữa BMI và loét tỳ đè tại các đơn vị chăm sóc
Nhóm người bệnh có BMI thừa cân, béo phì có nguy cơ loét gấp 10 lần so với nhóm người bệnh có BMI bình thường (p = 0,05), xu hướng này phù hợp với các nghiên cứu của Sookyung Hyun [37] và Van Gilder [80] (p < 0,001) Nguy cơ này có thể do trọng lượng cơ thể lớn gây áp lực tăng lên các vùng da sát xương, dễ gây xây xát và ẩm ướt giữa các nếp gấp da, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành loét.
Một số nghiên cứu, chẳng hạn như của Toshiko Kaitani và Nahla Tayyib, đã chỉ ra rằng không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa BMI và loét tỳ đè, với kết quả p > 0,05, cho thấy sự không rõ ràng về ảnh hưởng của chỉ số BMI đến nguy cơ mắc bệnh. -🌸 **Quảng cáo** 🌸 Claude hỗ trợ bạn viết lại bài chuẩn SEO, trích lọc ý chính, nâng chất lượng nội dung cực dễ dàng! [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/claude)
Hầu hết bệnh nhân tại khoa HSTC – CĐ đều sử dụng thở máy xâm nhập hoặc không xâm nhập Nghiên cứu của Tayip cho thấy người bệnh thở máy có nguy cơ loét tỳ đè cao gấp 6 lần so với người không thở máy (p = 0,015), và các tác giả như Manzano và Phạm Minh Nhức cũng phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa thở máy và loét tỳ đè Kết quả của tôi cũng xác định rằng bệnh nhân thở máy có nguy cơ loét cao gần 1,25 lần so với người không thở máy (p = 0,017) Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh nhân thở máy thường hạn chế vận động, mất cảm giác do sử dụng thuốc an thần và giảm đau, cùng với rối loạn chuyển hóa toan kiềm, tăng áp lực trong lồng ngực làm giảm cung lượng tim, hạ huyết áp dẫn đến giảm tưới máu mô, và thở máy còn làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Phân tích Fisher Exact cho thấy, bệnh nhân rối loạn ý thức nặng, đặc biệt là hôn mê sâu với điểm Glasgow ≤ 8, có nguy cơ bị loét nhiều gấp 23,53 lần so với những bệnh nhân rối loạn ý thức nhẹ hơn Đây là một yếu tố nguy cơ đáng lưu ý trong việc dự đoán và phòng ngừa các biến chứng về da ở bệnh nhân nặng Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi chặt chẽ tình trạng ý thức để giảm thiểu nguy cơ loét do nằm lâu và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến sức khỏe bệnh nhân.
Kết quả điểm Glasgow từ 9 đến 12 phản ánh mức độ nguy cơ cao phát triển loét tỳ đè, tương tự như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Yến [9], Iranmanesh [40], và Fernandes [32] Tác giả Fernandes nhấn mạnh rằng thang điểm Braden và Glasgow là công cụ quan trọng trong dự đoán nguy cơ loét, với điểm số thấp đồng nghĩa với nguy cơ loét cao hơn Các công cụ này giúp điều dưỡng xác định chính xác nguy cơ, từ đó lập kế hoạch và xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp để phòng ngừa loét tỳ đè hiệu quả.
4.4.3 Liên quan giữa tình trạng loét và điểm Braden
Thang điểm Braden đánh giá nguy cơ loét tỳ đè dựa trên 6 tiêu chí chính: nhận thức cảm giác, độ ẩm, hoạt động, vận động, dinh dưỡng, ma sát và trầy xước Điểm số Braden thấp thể hiện nguy cơ loét tỳ đè cao hơn, đặc biệt khi nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê ý nghĩa (p = 0,0486) giữa điểm Braden và sự xuất hiện loét tỳ đè Người bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao có khả năng phát triển loét tỳ đè gấp 6,48 lần so với nhóm còn lại, kết quả phù hợp với nhiều nghiên cứu khác đã được ghi nhận (Bảng 4.2).
Bảng 4.2 Điểm Braden tại các đơn vị chăm sóc (2)
Tác giả Cỡ mẫu Điểm Braden p
Thang điểm Braden đã được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu để đánh giá nguy cơ loét tỳ đè, nhấn mạnh về tính chính xác và hiệu quả dự đoán [85], [72], [16] Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã chính thức sử dụng thang điểm này trong công tác chăm sóc bệnh nhân [1], tuy nhiên, thực tế nhiều nhân viên y tế vẫn chưa quen hoặc không sử dụng thang điểm để đánh giá nguy cơ loét tỳ đè Trong khảo sát tại đơn vị của tôi, các nhân viên y tế chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và cảm tính trong đánh giá, dù nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thang điểm Braden giúp dự đoán chính xác hơn và giảm tỷ lệ loét tỳ đè so với các phương pháp chủ quan [25].
Dựa trên kết quả của nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu khác cho thấy thang điểm Braden là một công cụ hữu ích và phổ biến để đánh giá nguy cơ loét tỳ đè [40], đồng thời việc sử dụng thang điểm sẽ hạn chế sự khác biệt kết quả đánh giá, từ đó có kế hoạch dự phòng sự phát triển loét tỳ đè phù hợp với từng mức độ nguy cơ [25]
4.4.4 Liên quan giữa tình trạng loét và thực hành chăm sóc
Liên quan giữa tình trạng loét và thực hành chăm sóc
Qua khảo sát 90 người bệnh tại khoa Hồi sức tích cực – Chống độc bệnh viện