Vì vậy, công tácgiáo dục sức khỏe của điều dưỡng nhằm nâng cao kiến thức cho người bệnh vềcách theo dõi và chăm sóc ống PTBD là rất cần thiết [23].Hồi cứu y văn, trong kiến thức giới hạn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ KIM XUYẾN
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TỰ CHĂM SÓC CHO NGƯỜI BỆNH CÓ DẪN LƯU ĐƯỜNG MẬT
XUYÊN GAN QUA DA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ KIM XUYẾN
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TỰ CHĂM SÓC CHO NGƯỜI BỆNH CÓ DẪN LƯU ĐƯỜNG MẬT
XUYÊN GAN QUA DA
Chuyên ngành: Điều Dưỡng
Mã số: 8720301
Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ NGUYÊN TRUNGGS.TS LORA CLAYWELL
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 3
MỤC TIÊU CỤ THỂ 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giải phẫu học đường mật 4
1.2 Sinh lý bài tiết mật 6
1.3 Hệ quả của việc tắc mật 8
1.4 Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (PTBD) 9
1.5 Mô hình lý thuyết trong nghiên cứu 14
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Các biến số nghiên cứu và thang đo 22
2.2 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.3 Y đức trong nghiên cứu 24
2.4 Ứng dụng của nghiên cứu 25
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 26
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Kiến thức của người chăm sóc về ống PTBD 30
3.3 Thực hành chăm sóc chăm sóc ống PTBD 37
Trang 4CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 41
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41
4.2 Đặc điểm chung của người bệnh có dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da 42 4.3 Kiến thức về PTBD trước và sau khi tham gia chương trình GDSK 43
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát lần 1
Phụ lục 2: Phiếu khảo lần 2
Phụ lục 3: Nội dung giáo dục sức khỏe
Phụ lục 4: Bảng đồng thuận
Giấy chấp thuận của hội đồng y đức
Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự động viên, khuyến khích và giúp đỡ tận tình của nhà trường, thầy cô
và đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS BS Võ Nguyên Trung và
GS TS Lora Claywell, những người thầy – người hướng dẫn khoa học trựctiếp đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiệnnghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học,khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật Y học trường Đại học Y Dược thành phố Hồ ChíMinh cùng các thầy cô đã truyền đạt kiến thức và nhiệt tình giúp đỡ trong suốtquá trình học tập va nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc, Phòng Nghiên cứu khoahọc, Phòng kế hoạch tổng hợp và Khoa Ngoại Gan Mật Tụy đã giúp đỡ và tạođiều kiện thuận lợi trong thời gian thu thập số liệu và hoàn thành Luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp vì
đã luôn hỗ trợ tôi, khuyến khích và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 7 năm 2020
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Kim Xuyến
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoannày
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Xuyến
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá các nội dung về kiến thức PTBD 23
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi cư trú 26
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 28
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 28
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng kinh tế 28
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân 29
Bảng 3.6 Thông tin chung của người bệnh 30
Bảng 3.7 Tỷ lệ kiến thức chung đúng về ống PTBD 31
Bảng 3.8 Tỷ lệ kiến thức đúng về tự chăm sóc ống PTBD 33
Bảng 3.9 Tỷ lệ kiến thức đúng về tai biến, biến chứng cần thiết đến trung tâm y tế 35
Bảng 3.10 Điểm trung bình các kiến thức về ống PTBD 36
Bảng 3.11 Tỷ lệ thực hành đúng về chăm sóc ống PTBD 37
Bảng 3.12 Trung bình tổng điểm thực hành chăm sóc ống PTBD 40
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi 26
Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính 27
Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 27
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân bố tuổi của người bệnh 29
Biểu đồ 3.5 Sự thay đổi kiến thức chung về ống PTBD 32
Biểu đồ 3.6 Sự thay đổi kiến thức về tự chăm 34
Biểu đồ 3.7 Sự thay đổi kiến thức về tai biến, biến chứng biết đến trung tâm y tế 36
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Khung học thuyết Orem 17
Sơ đồ 1.2 Khung nghiên cứu 18
Trang 10dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư buồng trứng [5].
Trong các trường hợp tắc mật do ung thư nguyên phát ở giai đoạn muộnhoặc ung thư di căn từ cơ quan khác, tuy không còn chỉ định điều trị triệt để,nhưng rất cần dẫn lưu mật để cải thiện chức năng gan, điều trị nhiễm trùngđường mật và mục đích cuối cùng là cải thiện chất lượng cuộc sống của ngườibệnh [43], [49] Thông thường các phương pháp dẫn lưu bên trong cơ thể nhưnội soi mật tụy ngược dòng đặt stent hay phẫu thuật nối mật ruột thường được
ưu tiên lựa chọn đầu tiên khi có chỉ định dẫn lưu mật cho người bệnh, do ưuđiểm vượt trội về phòng ngừa mất nước và điện giải Tuy nhiên, trong các tìnhhuống không thể dẫn lưu bên trong cơ thể như tắc mật đoạn trên cao, nội soimật tụy ngược dòng thất bại hoặc thể trạng người bệnh không cho phép phẫuthuật, dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (PTBD) là một phương pháp đượclựa chọn [26], [54] Đây là phương pháp xâm lấn tối thiểu, an toàn, tỉ lệ thànhcông cao và đã được áp dụng rộng rãi ở nước ta [6], [11], [13] Mặc dù PTBDthường dễ thực hiện, nhưng có khuyết điểm là gây mất mật ra ngoài cơ thể, lâungày sẽ dẫn đến rối loạn nước điện giải [28] Ngoài ra, gần như toàn bộ ngườibệnh sẽ phải mang ống dẫn lưu mật suốt quãng đời còn lại, khác với dẫn lưubên trong cơ thể, người bệnh và gia đình phải tự chăm sóc và thích nghi vớiống dẫn lưu luôn mang bên ngoài da Chính khuyết điểm này đã ảnh hưởng rấtnhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình Có nhiều trườnghợp người bệnh và gia đình chăm sóc ống dẫn lưu chưa đúng dẫn đến người
Trang 11bệnh phải nhập viện thường xuyên vì tắc hoặc tụt ống PTBD Vì vậy, công tácgiáo dục sức khỏe của điều dưỡng nhằm nâng cao kiến thức cho người bệnh vềcách theo dõi và chăm sóc ống PTBD là rất cần thiết [23].
Hồi cứu y văn, trong kiến thức giới hạn chúng tôi chỉ tìm thấy nghiêncứu của Kwak (2003) khảo sát kiến thức của người bệnh về chăm sóc ốngPTBD nhưng không đề cập đến công tác giáo dục sức khỏe [33] Nghiên cứucủa Ballinger (1994) chỉ tập trung đánh mức độ giảm triệu chứng và chất lượngcuộc sống của người bệnh sau khi PTBD [16] Tại Việt Nam, hiện chưa cónghiên cứu nào về vấn đề đánh giá kiến thức và giáo dục sức khỏe tự chăm sóccho người bệnh sau khi có PTBD
Do đó, câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là “Kiến thức và hành vi về tựchăm sóc ống PTBD của người chăm sóc người bệnh hiện tại như thế nào vàliệu giáo dục sức khỏe có làm thay đổi kiến thức và hành vi này ở người chămsóc này không?”
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Hiệu quả giáo dục sức khỏe tựchăm sóc cho người bệnh có dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da” Kết quảcủa nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin quan trọng giúp đội ngũ nhân viên
y tế, đặc biệt là đội ngũ điều dưỡng, xây dựng và hoàn thiện các kế hoạch tưvấn, GDSK, chăm sóc giúp NB và người chăm sóc hiểu rõ hơn và biết cách tựchăm sóc ống PTBD
Trang 122 Xác định tỷ lệ hành vi đúng tự chăm sóc ống PTBD của người
chăm sóc người bệnh trước và sau 2 ngày tham gia chương trình GDSK
Trang 13CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu học đường mật
Mật được tiết ra ở trong các tế bào gan đổ vào các tiểu quản tận ở cácthành bên của tế bào gan, đi vào ống mật của bộ ba khoang cửa (khoảngKiernan) và tập trung thành các ống mật lớn dần Cuối cùng thành các ống ganphải và trái, thoát ra ở cửa gan và hợp thành ống gan chung
Đường mật trong gan phải: có từ 2-3 nhánh chính hợp thành một ống hạphân thùy, hai ống hạ phân thùy hợp thành một ống phân thùy
Ống gan phải được tạo bởi sự hợp lưu của ống phân thùy trước và ốngphân thùy sau Ngoài ra còn nhận thêm một ống nhỏ từ phần phải-dưới của thùyđuôi, trước khi hợp với ống gan trái thành ống gan chung
Ống gan phân thùy sau tạo bởi sự hợp lưu của các ống hạ phân thùy VII
và hạ phân thùy VI Bắt đầu bởi ống hạ phân thùy VII chạy dọc theo phía trênchiều lõm của đường cong tĩnh mạch phân thùy sau và nhận các nhánh bên lớndần đi từ bờ phải gan, trong đó có 1, 2, đôi khi 3 nhánh cuối cùng thuộc hạ phânthùy VI Ống gan phân thùy sau được tạo thành như vậy thường vòng ra saunguyên ủy tĩnh mạch cửa của phân thùy trước, tạo nên một vòng cong điển hình(quai Hjorstjo trên phim chụp X quang) trước khi hợp với ống phân thùy trướcthành ống gan phải [4]
Ống gan phân thùy trước được tạo thành bởi sự hợp lưu các ống hạ phânthùy V và VIII Ống phân thùy trước được hợp thành bởi 3 ống hạ phân thùyVIII trong, VIII ngoài và V:
- Ống hạ phân thùy VIII trong bám theo chiều lõm của đường cong tĩnhmạch cùng tên và liên tiếp với thân chính ống mật phân thùy trước, đi xuốngdọc theo bờ sau-trong tĩnh mạch của phân thùy đó
Trang 14- Ống hạ phân thùy VIII ngoài chạy theo tĩnh mạch cùng tên, nhận nhánhbên lớn cuối cùng chênh nhẹ từ phía trước phải, rồi bắt chéo ở sau chỗ chia đôitận cùng tĩnh mạch phần thùy trước, tới hợp với ống hạ phần thùy VIII trong.
- Ống hạ phân thùy V có thể gồm 1-2, đôi khi 3 ống nhỏ, đổ một cách thayđổi (riêng rẽ hay tập trung) vào mặt trước của ống VIII trong và/hoặc ống VIIIngoài hay thân chung VIII trong + VIII ngoài
Ống gan phải điển hình hợp thành bởi 2 ống phân thùy trước và phânthùy sau nêu trên có đường đi rất ngắn (0-8mm, trung bình 6-8mm) hướng hơichếch ra trước và vào trong, ở trên ngành phải tĩnh mạch cửa, hợp với ống gantrái ở một điểm nằm trước trên và hơi lệch sang phải chỗ chia đôi tĩnh mạchcửa Trên đoạn đường ngắn đó nó có thể nhận thêm một ống nhỏ từ phần phảithùy đuôi
Đường mật trong gan trái: gan trái gồm hai phân thùy: bên và giữa Ốnggan trái dài hơn và nhỏ hơn ống gan phải
Ống gan trái hình thành do sự hợp lưu của các ống phân thùy bên trái (II,III) và giữa trái (IV), và nhận thêm 1-2 ống nhỏ của phần đỉnh và nữa trái thùyđuôi Ống bên trái trước (ống hạ phân thùy III) thường là ống lớn nhất, chạydọc theo phía trên chiều lõm đường cong tĩnh mạch cùng tên, nhận thêm mộtống trên hạ phân thùy III nhỏ hơn, rồi chạy ra sau dọc theo phía trên bờ tráiđoạn rốn ngành trái tĩnh mạch cửa, tới gần góc gấp khúc của ngành trái tĩnhmạch cửa thì hợp lưu với ống bên trái sau (ống hạ phân thùy II), để tạo thànhmột thân chung ống mật các hạ phân thùy bên-trái (II+III) Thân chung này tiếptục hướng sang phải, nhận thêm từ phía trước 1-3 ống mật phân thùy IV và từphía sau 1-2 ống nhỏ của phần lớn thùy đuôi (I), để tạo thành ống gan trái
Đường mật ngoài gan gồm ống gan chung được tạo bởi ống gan phải vàống gan trái, thoát ra ở cửa gan Túi mật tích lũy mật và ống túi mật nối túi mậtvới đường mật chính Ống mật chủ hợp nhất với ống gan chung và ống túi mật,
Trang 15là đường mật cuối cùng đổ vào tá tràng Các ống gan và ống mật chủ tạo nênđường mật chính.Túi mật và ống túi mật là đường mật phụ.
Ống gan chung tạo nên bởi sự hợp nhất giữa ống gan phải và ống gantrái trước-trên và hơi lệch sang phải chỗ chia đôi tĩnh mạch cửa Từ đó ống đixuống trong cuống gan, bắt chéo trước ngành phải động mạch gan riêng, trước-phải thân tĩnh mạch cửa, bên phải động mạch gan Dài 2-4cm, đường kínhkhoảng 5mm Tới gần bờ trên tá tràng gặp ống túi mật, hai ống dính vào nhaurồi hợp thành ống mật chủ
Ống mật chủ dài 5-7cm đường kính 6mm, hẹp nhất ở chỗ tận cùng 3mm, rộng nhất ở chỗ sau tá tràng Ống có thể dãn rất to khi bị tắc ở dưới Đoạntrên ống mật chủ đi tiếp theo hướng của ống gan chung, chạy chếch xuống dưới,
2-ra sau và hơi sang phải, trong bờ phải mạc nối nhỏ, ở trước-phải tĩnh mạch cửa,bên phải động mạch gan riêng Đoạn dưới bắt chéo ở sau phần trên tá tràng,cùng động mạch vị tá tràng ở bên trái, rồi chạy một rãnh sau đầu tụy, đôi khichui vào sâu hẳn trong nhu mô tụy theo một đường hơi cong sang phải Tới bờtrái của phần xuống tá tràng, ống mật chủ gặp ống tụy và cùng ống tụy chui quathành tá tràng Hai ống thường hợp lại thành một bóng tận chung gọi là bónggan-tụy (bóng Vater) Bóng tận hết bởi một đầu thắt hẹp, đổ vào đoạn xuống tátràng ở đỉnh của nhú tá lớn, cách môn vị độ 8-10cm Quanh bóng có cơ vòngbóng gan-tụy (cơ thắt Oddi) Khi không có bóng gan-tụy, hai ống có thể đổchung vào tá tràng bằng một lỗ hay 2 lỗ riêng biệt
1.2 Sinh lý bài tiết mật
Bài tiết mật dưới sự kích thích thần kinh, thể dịch và hóa học Kích thíchthần kinh X tăng tiết dịch mật, kích thích thần kinh tạng làm giảm tiết dịch mật
Sự bài tiết mật trong các ống mật nhỏ được kích thích bởi cholecystokini,gastrin
Trang 16Dịch mật chứa nước, điện giải, muối mật, protein, chất béo và sắc tố mật.Muối mật được tổng hợp dưới tác dụng của cholesterol ở trong gan Nhữngmuối mật này kết hợp với Taurine và Glycine, và có vai trò như anion (axitmật) trong dịch mật, các axit mật này được trung hòa bởi Natri Muối mật đượcbai tiết vào trong dịch mật bởi các tế bào gan và hổ trợ quá trình tiêu hóa vàhấp thu chất béo Khoảng 95% axit mật được tái hấp thu thông qua hệ tĩnh mạchcửa đến gan, 5% còn lại bài tiết trong phân.
(Nguồn: Guyton A C., Hall J.E.)
Hemoglobin được phóng thích từ tế bào hồng cầu vỡ, phân thành hem
và globin Hem được biến đổi thành biliverdin rồi thành bilirubin Bilirubin gắnvới protein huyết tương, đó là bilirubin tự do hay gián tiếp, tan trong mỡ Khiđến gan bilirubin tách khỏi protein chuyên chở và được hấp thu vào tế bào gan.Trong tế bào gan bilirubin kết hợp với axit diglucoronic (80%), sulphate (10%)
và các chất khác (10%) Bilirubin dưới dạng kết hợp được bài tiết vào mật gọi
Trang 17là bilirubin trực tiếp, tan trong nước Khi vào ruột, bilirubin trực tiếp được vikhuẩn ruột biển đổi thành urobilinogen Một phần urobilinogen được tái hấpthu qua niêm mạc ruột vào máu rồi lại được gan bài tiết trở lại ruột Một phầnđào thải qua nước tiểu dưới dạng urobilin Phần còn lại bị oxy hóa thànhstercobilin đào thải qua phân.
Gan sản xuất 500-1000ml dịch mật mỗi ngày Dịch mật được dự trữ và
cô đặc ở túi mật Thành phần của dịch mật trong gan và túi mật khác nhau
1.3 Hệ quả của việc tắc mật
Tắc mật do bệnh lý ác tính thường gặp trong ngoại khoa, có thể do bệnh
lý ác tính tại đường mật hoặc do bệnh lý ác tính từ nơi khác chèn ép đường mậthay do di căn đến hạch vùng chèn ép đường mật [37], [18]
Trong vòng 24 đến 48h sau khi tắc mật hoàn toàn, có sự tăng sinh tạmthời tế bào gan và tế bào biểu mô ống mật Sự tăng sinh này chỉ là tạm thời.Các tế bào gan có sự thay đổi về cấu trúc bao gồm phì đại ty lạp thể và giảm sốlượng lưới nội mô Sau tắc mật 2 ngày, có sự phá hủy và thoái hóa từng ổ rảirác của tế bào gan, kích thước tế bào gan nhỏ hơn, ít ty lạp thể và lưới nội môhơn Về mô học sau hai ngày tắc mật có sự phá hủy và thoái hóa từng ổ rải ráccủa tế bào gan, theo thời gian số lượng các ổ này tăng dần về kích thước và sốlượng Ngược lại tế bào biểu mô ống mật tăng sinh, chất đệm xung quanh ốngmật cũng nhiều hơn [30], [40]
Khi tình trạng tắc mật kéo dài, áp suất trong đường mật sẽ tăng dần Bìnhthường áp suất trong đường mật khoảng 7-15cm nước, khi mật tiếp tục đượctiết ra, áp suất trong đường mật có thể lên tới 30cm nước Khi áp suất vượt quá25cm nước, các thành phần của dịch mật và vi khuẩn, nếu có, sẽ chuyển động
tự do vào xoang gan, từ đó vào hệ thống mạch máu, gây nên nguy cơ nhiễmtrùng đường mật và nhiễm trùng huyết
Trang 18Khi tắc mật kéo dài, mật không xuống ruột non để hấp thu chất béo vàgây ra tiêu phân mỡ Những vitamin tan trong mỡ cũng bị kém hấp thu, có thểgây ra loãng xương do thiếu vitamin D Sự thiếu hụt vitamin K có thể gây racác rối loạn về đông máu.
Bình thường muối mật trong ruột non sẽ ngăn chặn sự phát triển quá mứccủa vi khuẩn và liên kết với các nội độc tố trong lòng ruột, ngăn chặn sự hấpthu độc tố vào máu Kết quả là khi tắc mật xảy ra vi khuẩn sinh sôi mạnh mẽtrong lòng ruột và gia tăng hấp thu nội độc tố vào trong máu [58]
1.4 Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (PTBD)
1.4.1 Chỉ định cho dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da
- Viêm đường mật cấp mức độ nặng do tắc nghẽn đường mật: Viêm đườngmật tắc nghẽn cấp tính có thể nhanh chóng tiến triển thành nhiễm trùng nặng
và tử vong Viêm đường mật xảy ra khi có hai yếu tố: tắc nghẽn đường mật vànhiễm vi khuẩn trong đường mật Nếu không có sự can thiệp trước, bệnh nhân
bị tắc nghẽn thường có biểu hiện vàng da hoặc ngứa [63], [62]
- Tắc mật do ung thư nguyên phát tại chỗ chèn ép đường mật đã quá chỉđịnh hay chuẩn bị phẫu thuật triệt để
- Tắc mật do ung thư di căn hạch vùng chèn ép đường mật
- Tắc mật do hẹp đường mật sau phẫu thuật
• Nong điều trị chít hẹp đường mật
• Lấy sỏi mật
• Đặt stent đường mật
- Lấy mẫu xét nghiệm hoặc sinh thiết, lấy dị vật: Dẫn lưu đường mật qua
da bằng kìm kẹp sinh thiết qua đường dẫn lưu qua da ở bệnh nhân tắc mật chưa
rõ nguyên nhân là một kỹ thuật an toàn và khả thi với tỷ lệ chẩn đoán tốt [15],[27]
Trang 19• Chọc kim mù dưới màn huỳnh quang: nếu chọn chọc vào đườngmật bên phải, vị trí chọc kim thường là khoảng gian sườn số 11, đường náchgiữa, nếu chọc vào đường mật bên trái thì vị trí chọc kim là phía dưới mũi kiếm
3 ngón tay Sau khi chọn được vị trí chọc kim, sử dụng kim nhỏ 22 G như kimChiba để chọc vào đường mật Nhược điểm của phương pháp này là có thể phảichọc kim nhiều lần và có thể tăng nguy cơ biến chứng, nhưng có ưu điểm làgiúp thấy rõ đường mật có thể chọn vị trí chọc nhằm dẫn lưu dịch mật tốt nhất.Sau khi chọc được vào đường mật, rút nòng kim, bơm chụp hình kiểm tra đường
Trang 20mật, luồn dây dẫn đường 0,018 inch Sau đó thay kim lớn hơn bằng phươngpháp đồng trục để đặt dây dẫn đường 0,035 inch vào đường mật [62].
• Chọc kim dưới hướng dẫn siêu âm: dưới hướng dẫn của siêu âm
có thể đo được kích thước đường mật, lựa chọn được vị trí tiếp cận ống mậtthuận lợi, điều này đặc biệt có lợi khi gan thay đổi kích thước do phì đại hayteo nhỏ, vị trí chọc đường mật ở dưới mũi kiếm hay đường nách giữa bên phảikhông còn chính xác nữa [36] Dưới hướng dẫn siêu âm có thể chọc kim lớnngay từ đầu, nên chỉ cần 1 lần chọc có thể luồn được dây dẫn đường lớn vàođường mật [24], [53]
- Luồn dây dẫn đường: sau khi đã chọc kim vô được đường mật, luồn dâydẫn đường qua kim vào đường mật, kiểm tra đường đi trên X quang
- Luồn thê-te đi theo dây dẫn đường vào đường mật Kiểm tra vị trí thê-te, rút dây dẫn đường và cố định ca-thê-te
ca-1.4.4 Các biến chứng của PTBD
Biến chứng sớm:
- Đau: đau tại vị trí chỗ chọc kim qua thành ngực, thường sẽ giảm sau vàingày Nguyên nhân đau có thể do ống dẫn lưu đặt vào khoảng gian sườn gâykích thích màng xương và bó mạch thần kinh gian sườn Đau cũng có thể dodịch mật kích thích da hay do mô hạt mọc xung quanh chân ống dẫn lưu Do
đó thay băng thường xuyên hay rửa bằng oxy già có thể giảm triệu chứng kíchthích của dịch mật nếu có rò quanh chân ống dẫn lưu [59], [62]
- Chọc thủng màng phổi: khi chọc vào đường mật bên phải có thể chọcxuyên qua màng phổi, trên lâm sàng có thể biểu hiện bằng tràn khí màng phổi,tràn máu màng phổi hay tràn mật màng phổi Đây là biến chứng hiếm, tỉ lệ daođộng 0,5%-2% các trường hợp [62]
- Viêm đường mật: thủ thuật dẫn lưu đường mật là thủ thuật sạch nhiễm,
tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết thoáng qua khoảng 2% sau thủ thuật Biến chứng viêm
Trang 21đường mật là biến chứng thường gặp nhất sau thủ thuật, chiếm tỉ lệ khoảng47% Nguyên nhân có thể do nhiễm khuẩn trực tiếp khi thực hiện thủ thuật, haynhiễm khuẩn từ đường ruột Một yếu tố có thể làm tăng nguy cơ viêm đườngmật sau thủ thuật là bơm cản quang áp lực cao khi chụp hình đường mật [60],[62].
- Viêm phúc mạc: là một biến chứng nặng của thủ thuật, tỉ lệ vào khoảng3% Khi đặt ống dẫn lưu vào đường mật, nếu đường đi từ bờ gan đến đườngmật ngắn, mật có thể chảy quanh chân ống dẫn lưu vào ổ bụng gây viêm phúcmạc Khi ống dẫn lưu bị tắc cũng có thể làm mật chảy quanh ống dẫn lưu vào
ổ bụng Nên ống dẫn lưu phải được bơm rửa bằng nước muối sinh lý nếu códấu hiệu tắc nghẽn [48], [55]
- Chảy máu: chiếm tỉ lệ 2%-3% sau thủ thuật PTBD Chảy máu có thể biểuhiện trên lâm sàng bằng việc chảy máu rỉ rả quanh chân ống dẫn lưu, chảy máuvào ổ bụng hoặc khoang màng phổi, hay tụ máu dưới bao gan [47] Chảy máu
từ động mạch gan thường biểu hiện bằng chảy máu đỏ tươi, đôi khi theo nhịpđập tim, thường đi kèm với huyết động không ổn định [39], [47], [62]
Biến chứng muộn:
- Tắc ống dẫn lưu mật: khi dịch mật không chảy ra qua ống PTBD sau 24giờ mặc dù đã bơm rửa, có thể kèm theo triệu chứng vàng da vàng mắt trở lại,sốt, nước tiểu sậm màu và có thể nhiễm trùng đường mật [32], [61], [31], [14]
- Tụt, gãy: ống dẫn lưu bị tụt ra khỏi vị trí dẫn lưu hoặc bị gấp gãy ở trongđường mật [34]
- Rò, nhiễm trùng quanh chân ống dẫn lưu: xung quanh chân ống dẫn lưu
có dịch mật chảy ra, kèm theo da xung quanh bị viêm do a-xít dịch mật [42]
- Nhiễm trùng đường mật muộn: triệu chứng nhiễm trùng đường mật xảy
ra trong quá trình theo dõi: bệnh nhân sốt, vàng da, vàng mắt, tiểu sậm màu[22], [35], [38]
Trang 221.4.5 Nghiên cứu trên thế giới
- Có rất ít nghiên cứu trên thế giới khảo sát về kiến thức, hành vi cũng nhưcông tác GDSK cho người bệnh đã PTBD
- Nghiên cứu của Chulja J.Pek và cộng sự (2017) khảo sát trên một quốcgia về quản lý ống PTBD, nghiên cứu này nhằm đánh giá kiến thức về quản lýống PTBD giữa các điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân có bệnh lý gan-tụy.Khoảng một nửa số điều dưỡng được hỏi cho rằng kiến thức của họ không đủ,điều này được phản ánh trong câu trả lời cho các câu hỏi cụ thể liên quan đếnthủ tục PTBD và 70% đánh giá kiến thức của các đồng nghiệp điều dưỡng làkhông đủ [46]
- Trong nghiên cứu của Yang Xiuchun và cộng sự (2017): áp dụng môhình điều dưỡng liên tục trong chăm sóc bệnh nhân có ống PTBD đã giúp cảithiện nhận thức của người bệnh về kiến thức liên quan ống PTBD Ngoài racòn giảm tỷ lệ nhiễm trùng đường mật, tắc nghẽn đường mật, nhiễm trùng chânống PTBD giúp cải thiện chất lượng cuộc sống [61]
- Nghiên cứu của Marcela Crosara Teixeira và cộng sự (2013) về cáctrường hợp PTBD cho thấy tuổi trung vị là 60, 10% được chăm sóc hỗ trợ, thờigian nằm viện trung bình là 16,6 ngày (2-90 ngày) [19]
- Theo nghiên cứu của Zuhal Parıldar và cộng sự (2010), PTBD cải thiệnchức năng gan thận và quan trọng để tiên lượng bệnh vàng da tắc mật [44]
- Nghiên cứu của Kwak Kyung Sook và cộng sự (2003), kết quả củanghiên cứu này cho thấy rằng việc nâng cao kiến thức của người có ống PTBD
có thể cải thiện chất lượng chăm sóc bản thân bằng cách giảm thiểu các biếnchứng và nó cũng có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống [33]
- Theo nghiên cứu của Ballinger và cộng sự (1994), PTBD giúp làm giảmvàng da và ngứa Hơn nữa, PTBD cũng giúp cải thiện đáng kể triệu chứng chán
Trang 23ăn, khó tiêu và các triệu chứng khác, giúp người bệnh cải thiện chất lượng cuộcsống [16].
1.4.6 Nghiên cứu tại Việt Nam
- Đỗ Hữu Liệt (2006) báo cáo PTBD trong điều trị tắc mật do bệnh lý áctính trên 65 trường hợp với tỉ lệ thành công 95,4% và tử vong 1 trường hợp(1,5%) [9]
- Nghiên cứu Võ Thiện Lai và cộng sự (2010) cho thấy PTBD giúp cảithiện tốt tình trạng lâm sàng của người bệnh Tính an toàn của kỹ thuật đượcđánh giá cao (90%) [7]
- Nghiên cứu của Phạm Hoàng Hà và cộng sự (2016), PTBD trước phẫuthuật cho những bệnh nhân tắc mật do u là phương pháp mang lại hiệu quả cao,
ít biến chứng, giúp cải thiện chức năng gan và tạo điều kiện thuận lợi cho việcphẫu thuật điều trị khối u gây tắc mật Tỷ lệ biến chứng sau đặt dẫn lưu là 20,7%trong đó tắc dẫn lưu là 10,3% [3]
- Hiện chưa có nghiên cứu nào khảo sát kiến thức và hành vi tự chăm sóccủa người bệnh đã PTBD
1.5 Mô hình lý thuyết trong nghiên cứu
1.5.1 Vài nét giới thiệu về tiến sĩ Dorothea Elizabeth Orem
Dorothea Elizabeth Orem sinh ngày 15 tháng 7 năm 1914 và mất ngày
22 tháng 6 năm 2007 ở Baltimore, Hoa Kỳ Bà là một nhà giáo dục điều dưỡng
và là một người tư vấn và quản lý điều dưỡng [57]
Orem là nhà lý thuyết điều dưỡng và là người sáng tạo ra học thuyết điềudưỡng thiếu thốn tự chăm sóc, còn được gọi là mô hình điều dưỡng của Orem.Học thuyết lần đầu tiên được xuất bản trong tạp chí Nursing: Concepts ofPractice năm 1971, lần thứ nhì vào năm 1980, năm 1995 và năm 2001
bệnh tự chăm sóc Orem khẳng định việc tự chăm sóc người bệnh cần được
Trang 24hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để tự họ làm, người bệnh sẽ thích thú vì thấyđời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước đượcnâng cao Mục tiêu của học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tựchăm sóc Khi họ có khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu xã hội, việc nâng caonày được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001)
1.5.2 Lý thuyết về sự thiếu hụt tự chăm sóc và hệ thống điều dưỡng
Orem cho rằng người điều dưỡng chỉ hỗ trợ người bệnh khi họ không thể
tự đáp ứng các nhu cầu về thể chất, về tâm lý, xã hội và phát triển cho chính
họ Bà đã đưa ra 3 mức độ chăm sóc điều dưỡng như sau:
- Chăm sóc hoàn toàn: áp dụng đối với người bệnh không có khả năng tựchăm sóc, theo dõi và kiểm soát các hoạt động của mình
- Chăm sóc một phần: áp dụng cho những người bệnh cần hỗ trỡ một phần
để đáp ứng nhu cầu hàng ngày
- Chăm sóc hỗ trợ sự phát triển: hướng dẫn, tư vấn, giáo dục sức khỏe ápdụng cho những người cần học kiến thức để tự chăm sóc [17]
1.5.3 Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng mô hình lý thuyết tự chăm sóc của Orem
Lý thuyết của Orem bao gồm bốn khái niệm liên quan đến hệ thống chămsóc sức khỏe người bệnh: tự chăm sóc, khả năng tự chăm sóc, nhu cầu về tựchăm sóc và những thiếu hụt về tự chăm sóc Ngoài ra lý thuyết Orem còn haikhái niệm liên quan đến điều dưỡng và vai trò của họ đó là cơ sở điều dưỡng
và hệ thống điều dưỡng Bên cạnh đó, còn có sự liên kết với các khái niệm đượcgọi là các yếu tố điều kiện cơ bản bao gồm tuổi, giới, trình độ học vấn, tìnhtrạng sức khỏe, yếu tố xã hội, hệ thống chăm sóc sức khỏe, tình trạng gia đình
và yếu tố môi trường Hành vi chăm sóc đúng sẽ mang lại cho NB một sức khỏetốt và ngược lại hành vi không đúng có thể mang lại cho NB sức khỏe kém[17]
Trang 25Liên quan đến những yêu cầu về tự chăm sóc trong nghiên cứu này,chúng tôi sẽ tập trung vào những phương pháp, cách thức người bệnh cần biết
và cần thực hiện để tự chăm sóc ống PTBD Lý thuyết Orem cũng chỉ ra rằngkhi nhu cầu tự chăm sóc của NB vượt quá khả năng tự chăm sóc của họ, họ sẽcần sự giúp đỡ của người khác, đặt biệt là của điều dưỡng Khi một cơ sở điềudưỡng được hoạt động thì một hệ thống điều dưỡng được thiết lập và hoạt động.Một hệ thống điều dưỡng bao gồm các hành động và sự tác động qua lại lẫnnhau giữa điều dưỡng và NB trong những tình huống thực hành điều dưỡng,điều này đáp ứng nhu cầu chăm sóc của NB cũng như bảo vệ và phát triển khảnăng tự chăm sóc của NB Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ đánh giá hiệuquả chương trình giáo dục sức khỏe tự chăm sóc ống PTBD thông qua việcđánh giá mức độ kiến thức và hành vi tự chăm sóc ống PTBD của người chămsóc bệnh Mục đích của chương trình này nhằm góp phần nâng cao kiến thức
và hành vi đúng về tự chăm sóc ống PTBD cho người chăm sóc Từ đó giúpngười chăm sóc có thể thực hành chăm sóc đúng, góp phần nâng cao sức khỏe,ngăn ngừa biến chứng Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ đánh giá hiệu quảchương trình giáo dục sức khỏe tự chăm sóc ống PTBD của NB thông qua việcđánh giá kiến thức và hành vi của người chăm sóc NB trước và sau khi đượchướng dẫn
Trang 26Sơ đồ 1.1 Học thuyết Orem
Khả năng tựchăm sóc
Các yếu tố
tác động
Tự chăm sóc
Các yếu tốtác động
Nhu cầu tự chăm
sóc
Hệ thống chămsóc điều dưỡng
Các yếu tố
tác động
Thiếu hụt
Các yếu tốtác động
Trang 27về ống PTBD
thực hành chămsóc ống PTBDđúng
Kế hoạch theodõi và chămsóc tiếp tục sauxuất viện
Nâng cao kiếnthức và khảnăng tự chămsóc ống PTBDGiảm tỷ lệ biếnchứng
Trang 28CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Người chăm sóc của bệnh nhân đã được PTBD
- Tuổi từ 18 tuổi trở lên
- Là người chăm sóc chính của người bệnh đã được PTBD trong quá trìnhnằm viện và sau khi xuất viện
- Có đủ sức khỏe tham gia nghiên cứu, có khả năng đọc hiểu và giao tiếpbằng tiếng Việt, không bị các rối bệnh rối loạn tâm thần như động kinh, trầmcảm
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người chăm sóc không hoàn tất cuộc phỏng vấn trước và sau can thiệpGDSK
- Thay đổi người chăm sóc trong thời gian nghiên cứu
- Có biến chứng sớm của PTBD
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu bán thực nghiệm (đánh giá trước và sau can thiệp)
Trang 292.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy bệnh viện ChợRẫy, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
Với sai lầm loại 2, beta (β) = 0,2
Như vậy, số người tham gia nghiên cứu ước lượng là 33 người Thực tếchúng tôi thu thập được 36 mẫu
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu:
Bước 1: Chọn những người chăm sóc người bệnh đã được PTBD thỏa các
tiêu chí chọn mẫu
Trang 30Bước 2: Giải thích quy trình thực hiện nghiên cứu cho người bệnh và
người chăm sóc, mời người chăm sóc người bệnh ký tên vào bản đồng thuậntham gia nghiên cứu nếu đồng ý tham gia nghiên cứu
Bước 3: Nghiên cứu viên khảo sát kiến thức về PTBD và quan sát hành vi
chăm sóc ống PTBD tại phòng tư vấn
Tại phòng tư vấn của khoa Ngoại Gan Mật Tụy, nghiên cứu viên sẽ phát
bộ câu hỏi cho người chăm sóc trả lời và sau đó quan sát trực tiếp hành vi chămsóc ống PTBD cho người bệnh Quá trình hoàn thành diễn ra trong khoảng 30phút
- Người chăm sóc trả lời bộ câu hỏi đã soạn sẵn bao gồm: những thôngtin chung và kiến thức liên quan đến PTBD (phụ lục 1)
- Quan sát trực tiếp đối tượng nghiên cứu thực hành chăm sóc ống PTBDdựa vào bảng kiểm (phụ lục 1)
Bước 4: Giáo dục sức khỏe cho đối tượng nghiên cứu ngay sau khi thu
thập kết quả lần 1 (phụ lục 3)
Tại phòng tư vấn, nghiên cứu viên tiến hành nội dung GDSK (phụ lục 3)liên quan đến kiến thức về chăm sóc ống PTBD và trình diễn thực hành chămsóc ống PTBD cho đối tượng nghiên cứu Chúng tôi dự kiến mỗi lần giáo dụcsức khỏe cho khoảng 2-3 đối tượng nghiên cứu trong thời gian khoảng 30 phútbằng các phương pháp thuyết trình, minh họa bằng hình ảnh và thao tác mẫu.Cung cấp tài liệu phát tay, tờ rơi (phụ lục 6) giúp cho đối tượng nghiên cứu dễtheo dõi Cuối buổi giáo dục sức khỏe, nghiên cứu viên thảo luận những thắcmắc và câu hỏi liên quan
Bước 5: Nghiên cứu viên dựa vào danh sách đã lấy mẫu ở lần 1, nghiên
cứu viên mời đối tượng nghiên cứu và người bệnh đến phòng tư vấn tại khoaNgoại Gan Mật Tụy để khảo sát lại kiến thức và quan sát thực hành chăm sóc
Trang 31ống PTBD lần 2 (sau 2 ngày) (phụ lục 2) Nghiên cứu viên cảm ơn các đốitượng nghiên cứu đã tham gia nghiên cứu.
Bước 6: Nhập, xử lý số liệu và phân tích các kết quả.
2.2.6 Biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu thử nghiệm trên 20% mẫu dân số cần thiết và phântích số liệu, sau đó hiệu chỉnh lại chương trình giáo dục sức khỏe
- Điều chỉnh bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
2.3 Các biến số nghiên cứu và thang đo
2.3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: là biến số liên tục, được tính từ năm sinh của đối tượng nghiêncứu đến năm làm nghiên cứu, hiện tại đề tài này được tiến hành làm vào năm
2020 Sau đó chia ra làm 6 nhóm: 18-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, 50-59 tuổi,60-69 tuổi và trên 70 tuổi
- Địa chỉ: là nơi đối tượng nghiên cứu đang ở, ghi địa chỉ cụ thể sau đóđược chia thành 2 nhóm: nhóm đến từ thành phố Hồ Chí Minh và nhóm đến từtỉnh thành khác
- Giới: là biến số nhị giá, được chia làm 2 nhóm: nam và nữ
- Dân tộc: là biến số định tính, bao gồm cộng đồng người có chủng loại,đặc tính sinh họat, văn hóa khác nhau nhưng sống chung trong một địa phươngnghiên cứu Dân tộc gồm 3 nhóm: dân tộc Kinh, Hoa và dân tộc khác
- Trình độ học vấn: là biến số phân loại, thể hiện được cấp học mà ngườichăm sóc đã học qua gồm: mù chữ (không biết đọc, không biết viết), cấp I (từlớp 1 đến lớp 5), cấp II (từ lớp 6 đến lớp 9), cấp III (từ lớp 10 đến lớp 12) vàtrên cấp III (trung cấp/ cao đẳng/ đại học và sau đại học)
- Nghề nghiệp: là biến định tính, là việc làm chính của đối tượng nghiêncứu có thu nhập để sinh sống bao gồm: nhân viên văn phòng, giáo viên, nội trợ,buôn bán, nông dân, khác
Trang 32- Tình trạng kinh tế gia đình: là biến số phân loại, thu thập được qua sựnhận thấy của đối tượng nghiên cứu về kinh tế gia đình của họ: nghèo, đủ ăn,khá.
- Số lần PTBD: là biến số liên tục
- Tình trạng hôn nhân: là biến số phân loại, bao gồm: độc thân, đã kết hôn,
ly dị/ly thân, góa
2.3.2 Kiến thức và thực hành chăm sóc ống PTBD
Bộ câu hỏi gồm hai phần: kiến thức và hành vi chăm sóc
2.3.2.1 Các biến số về kiến thức và thang đo.
Biến số về kiến thức là biến nhị giá Các biến số kiến thức là biến số có
3 giá trị: kiến thức đúng, sai, không biết Những kiến thức sai và không biếtchúng tôi xem như là sai Mỗi câu đúng sẽ được tính là 1 điểm, sai là 0 điểm.Phần kiến thức trong bộ câu hỏi gồm 3 phần với 25 câu:
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá các nội dung về kiến thức PTBD
tối đa
Phân loại Tốt
(>75%)
Trung bình (50-75%)
Kém (<50%)
<4
<5
<4
2.3.2.2 Các biến số về thực hành và thang đo :
Biến số về thực hành là biến nhị giá Chúng tôi quan sát trực tiếp đốitượng nghiên cứu dựa theo bảng kiểm (phụ lục 2) để đánh giá
Trong bảng kiểm có 15 bước, mỗi bước thực hiện đúng chúng tôi tính 1điểm Nếu trong quá trình thực hiện chăm sóc ống dẫn lưu PTBD, đối tượng
Trang 33nghiên cứu làm sai hoặc không thực hiện, chúng tôi sẽ nhắc nhở thực hiện đúngquy trình và không tính điểm cho bước đó.
Thang điểm đánh giá thực hành: tốt khi đạt >75% tương ứng trên 11bước thực hiện đúng, trung bình khi đạt từ 50% -75% tương ứng từ 8-11 bướcthực hiện đúng, kém khi thực hiện <50% các bước chăm sóc (<8 bước)
2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Sau khi thu thập xong thông tin, kiểm tra tính đầy đủ của bảng câu hỏi
- Mã hóa những câu trả lời và bảng kiểm quan sát thực hành của đối tượngnghiên cứu
- Số liệu được xử lý thống kê và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS20.0, vẽ biểu đồ bằng phần mềm Excel
• Phương pháp tính tần số, tính tỉ lệ %, trung bình, được sử dụngcho các phần mô tả
• Các kiểm định Paired sample t-test được sử dụng để phân tích sựkhác biệt giữa các biến số trung bình và kiểm định Mac nemar được sử dụng
để phân tích sự khác biệt giữa các biến số tỉ lệ
Mọi sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05; khoảng tin cậy95%
2.3 Y đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện sau khi nhận được sự chấp thuận của Hộiđồng y đức Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Chợ Rẫy
- Khi tìm được đối tượng nghiên cứu thỏa các tiêu chí, nghiên cứu viên sẽgiải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, chỉ tiến hành khinhận được sự đồng ý thông qua chữ ký của đối tượng nghiên cứu
- Việc tham gia vào nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, đối tượng nghiêncứu có thể từ chối hoặc kết thúc tham gia bất kỳ lúc nào mà không cần lý do vàkhông bị ảnh hưởng gì trong quá trình điều trị của người bệnh
Trang 34- Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
- Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được nghiên cứuviên mã hóa để đảm bảo tính bí mật của nghiên cứu và chỉ được phục vụ chonghiên cứu này, không công bố khi chưa có sự đồng ý của đối tượng nghiêncứu
2.4 Ứng dụng của nghiên cứu
- Nghiên cứu nhằm mục đích giúp cho người chăm sóc người bệnh cảithiện kiến thức về PTBD và thực hành chăm sóc ống PTBD Từ đó, giúp họ cóthể theo dõi và chăm sóc người bệnh tốt hơn, giúp phòng ngừa các biến chứng
và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh
- Nghiên cứu còn cho thấy vai trò của giáo dục sức khỏe trong hoạt độngchăm sóc y tế Cần duy trì và nâng cao công tác giáo dục sức khỏe ở các bệnh
lý khác, đặc biệt là bệnh lý mãn tính
Trang 35CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 43,8 ± 10,3
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Nhận xét: Đa số đối tượng ở độ tuổi 30-60 tuổi chiếm tỷ lệ 83,4%.
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi cư trú
Trang 36Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính
Nhận xét: Kết quả cho thấy người chăm sóc là nữ giới chiếm đa số 67%,
gấp 2 lần so với nam (33%) Tỷ lệ người chăm sóc nữ/nam là 2/1
Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91,6%.
33%
67%
Nam Nữ
91,6%
Kinh Hoa Khác
Trang 37Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn
Nhận xét: Trình độ học vấn của ĐTNC chủ yếu là cấp 2 và cấp 3 (chiếm 71,2%).
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp
Nhận xét: Nghề nghiệp của ĐTNC chủ yếu là nông dân (38,9%) và nội trợ
(19,4%)
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng kinh tế
Nhận xét: Đa số ĐTNC có kinh tế đa số là đủ ăn chiếm tỷ lệ 77,8%.
Trang 38Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân
Nhận xét: Hầu hết ĐTNC đều đã kết hôn chiếm 91,6%.
3.1.2 Thông tin chung của người bệnh
Tuổi trung bình của người bệnh là 64,03 ± 12,6
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân bố tuổi của người bệnh
Nhận xét: Người bệnh có tuổi nhỏ nhất là 38 tuổi, lớn nhất là 90 tuổi Trong đó
độ tuổi từ 50- 80 tuổi chiếm 72,2%
Trang 39Bảng 3.6 Thông tin chung của người bệnh
Nhận xét: Tỷ lệ người mắc bệnh chủ yếu là nam chiếm 64%, tỷ lệ nữ/nam
là 1/1,78 Người chăm sóc người bệnh chủ yếu là con bệnh nhân chiếm 66,7%.Người bệnh đa số được PTBD lần đầu chiếm 77,8%
3.2 Kiến thức của người chăm sóc về ống PTBD
3.2.1 Sự thay đổi kiến thức chung về ống PTBD trước và sau can thiệp
Trang 40n (%)
p
Đây là dẫn lưu đường mật xuyên gan ra da
giúp giải áp đường mật
-Lượng dịch mật trung bình mỗi ngày từ
500-600ml
Treo túi dịch cao hơn vị trí chân dẫn lưu ít nhất
Uống 1500-2000ml nước Uống nước có chất
điện giải như: nước dừa, chuối chín, cam,
-Hạn chế thức ăn có nhiều chất béo như mỡ
động vật
-Nhận xét: Kết quả về kiến thức chung cho thấy người chăm sóc đa số
đều biết đây là dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da có kiến thức trước canthiệp là 91,7% và sau can thiệp là 100% Kiến thức về lượng dịch mật ra từ500-600ml có sự thay đổi trước can thiệp là 52,8% sau can thiệp là 94,4% Kiếnthức về nằm nghiêng người về bên có dẫn lưu, giúp dịch mật thoát ra tốt hơn