1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

15 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 428,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ phát triển của nền kinh tế, hợp tác và giao thương ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Từ đó hiển nhiên kéo đến những tranh chấp thương mại không mong muốn xảy ra bắt nguồn từ những mối quan hệ này. Vì vậy, cần chú trọng tìm hiểu và nhanh chóng đưa ra các giải pháp thích khi có tranh chấp phát sinh.Hiện nay có 4 phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản, bao gồm: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài thương mại và Tòa án. Cả 4 phương thức này đều có những ưu điểm và tầm quan trọng riêng của nó. Theo thực tiễn, các doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm và có xu hướng lựa chọn Trọng tài thương mại thay vì Tòa án vì tính vượt trội của nó.Tại các nước có nền kinh tế phát triển, Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến. “Theo thống kê từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm. Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.” Ở Việt Nam, mặc dù chưa hình thành được lâu nhưng Trọng tài thương mại luôn được khuyến khích sử dụng trong các luật như: “Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải...” Cho đến nay, Việt Nam đã đưa ra Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định khá chi tiết về Trọng tài thương mại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

oOo

-TIỂU LUẬN MÔN:

THÔNG LỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: DƯƠNG THẢO VIÊN

Lớp: Quản trị Hải quan – Ngoại thương

Mã số sinh viên: 31181023360

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ phát triển của nền kinh tế, hợp tác và giao thương ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Từ đó hiển nhiên kéo đến những tranh chấp thương mại không mong muốn xảy ra bắt nguồn từ những mối quan hệ này Vì vậy, cần chú trọng tìm hiểu và nhanh chóng đưa ra các giải pháp thích khi có tranh chấp phát sinh

Hiện nay có 4 phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản, bao gồm: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài thương mại và Tòa án Cả 4 phương thức này đều có những ưu điểm và tầm quan trọng riêng của nó Theo thực tiễn, các doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm và có xu hướng lựa chọn Trọng tài thương mại thay vì Tòa án vì tính vượt trội của nó

Tại các nước có nền kinh tế phát triển, Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến “Theo thống kê từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.” Ở Việt Nam, mặc

dù chưa hình thành được lâu nhưng Trọng tài thương mại luôn được khuyến khích sử dụng trong các luật như: “Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải ” Cho đến nay, Việt Nam đã đưa ra Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định khá chi tiết về Trọng tài thương mại

Bài tiểu luận này được viết với mong muốn đem đến sự hiểu biết về Trọng tài thương mại, nghiên cứu tình hình áp dụng, thực trạng về việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại cũng như những giải pháp nên áp dụng khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam (Bài tiểu luận viết dưới góc nhìn của sinh viên nên có thể còn nhiều thiếu sót)

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU ……… 2

I - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ……… 4

1 Khái niệm Trọng tài thương mại ……… 4

2 Đặc điểm Trọng tài thương mại ……… 4

3 Các hình thức Trọng tài thương mại ……… 5

4 Một số ưu điểm và hạn chế của Trọng tài thương mại ……… 6

II - PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI ……… 8

1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại ……… 8

2 Thẩm quyền giải quyêt tranh chấp của Trọng tài thương mại ……… 8

3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại ……… 9

III – THỰC TRẠNG ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM ……… 12

1 Những kết quả đạt được ……… 12

2 Một số những bất cập của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại ……… 13

IV – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ……… 14

1 Đối vơi các quy định pháp luật về Trọng tài thương mại ……… 14

2 Đối với các doanh nghiệp ……… 14

3 Đối với các trung tâm Trọng tài ……… 14

4 Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án ……… 14

V – LỜI KẾT ……… 15

VI – NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 15

Trang 4

I - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1 Khái niệm Trọng tài thương mại

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 có quy định: “ Trọng tài thương mại

là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy

định của luật này.”

Nhìn chung, Trọng tài thương mại được hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận bằng cách giao vụ việc tranh chấp cho Hội đồng hoặc một trọng tài viên duy nhất với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết tranh chấp bằng việc đưa

ra một phán quyết trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Trọng tài được lựa chọn khi các bên không tự giải quyết được với nhau bằng thương lượng trực tiếp và đồng thời cũng không muốn giải quyết tại tòa án.”

2 Đặc điểm Trọng tài thương mại

Thứ nhất, Trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động theo pháp luật

và quy chế về Trọng tài thương mại Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế,

đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất… ( Tham khảo “Điều 15 quản lý nhà nước về

trọng tài tại Luật TTTM 2010” )

Thứ hai, “Trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán” Trọng tài thương

mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của pháp luật về trọng tài Cũng giống như tòa án thương mại, Trọng tài thương mại không có thẩm quyền xét xử đương nhiên đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý chí thỏa thuận của các bên tranh chấp “Thỏa thuận trọng tài là căn

cứ pháp lý duy nhất và quan trọng nhất xác định thẩm quyền của trọng tài” ( Tham khảo

“Điều 5 về điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, tham khảo thêm về thẩm quyền

giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại tại điều 2 và các quy định về thỏa thuận trọng tài ở chương 2 từ điều 16 đến điều 19 Luật Trọng tài thương mại 2010” )

Thứ ba, pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều ghi nhận sự hỗ trợ

của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của Trọng tài thương mại Tòa án hỗ trợ trọng tài về các nội dung như: “Thông qua trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành

quyết định của Trọng tài thương mại…” ( Tham khảo “Điều 7 xác định Toà án có thẩm

Trang 5

quyền đối với hoạt động trọng tài và điều 8 xác định Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài trong Luật TTTM 2010” )

Thứ tư, Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là: “trọng tài vụ việc và

trọng tài quy chế”

Thứ năm, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước

bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa phán quyết của trọng tài

và của tòa án khi mà phán quyết của tòa án là sơ thẩm và có thể bị kháng cáo Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết có giá trị chung thẩm, và nếu không bị hủy thì phán quyết

sẽ được chuyển sang Cơ quan thi hành án ( Tham khảo “khoản 5 Điều 61 chương 9 Luật

TTTM 2010” ).

3 Các hình thức Trọng tài thương mại

3.1 Trọng tài vụ việc

“Tại khoản 7, Điều 3, Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thoả thuận.”

Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài mà các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ việc và sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ việc đó Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và đang được sử dụng phổ biến trên thế giới Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:

- Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi xảy ra tranh chấp với sự thỏa thuận của các bên

và tự chấm dứt ngay khi giải quyết xong tranh chấp

- Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có điều lệ và quy chế hoạt động riêng

- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng “Bởi trọng tài vụ việc chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Tuy nhiên, để tránh lãng phí thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc tố tụng, các bên tranh chấp có thể lựa chọn bất kì một quy tắc tố tụng phổ biến nào, mà thông thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế”

 Ưu điểm: Chí phí thấp hơn trọng tài quy chế, tổ chức đơn giản, các bên tranh chấp hoàn toàn có thể quyền tự do lựa chọn trọng tài viên, tham gia xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp và có thể bỏ qua một số thủ tục không cần thiết để giảm thời gian giải quyết tranh chấp Vì thế cũng được áp dụng khá nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế

 Nhược điểm: Do không có trước quy tắc tố tụng riêng nên có những trường hợp việc thỏa thuận giữa các trọng tài viên để xây dựng quy tắc tố tụng cũng có những phiền hạn nhất

Trang 6

định Để khắc phục nhược điểm này ủy ban pháp luật thương mại của liên hợp quốc (UNCITRAL) đã thông qua bản quy tắc trọng tài (UAR), coi đó là quy tắc tố tụng mẫu để các tổ chức trọng tài vụ việc có thể áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế Việc không có tổ chức trọng tài cung cấp dịch vụ hành chính như giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các Trọng tài viên cũng là một nhược điểm của hình thức trọng tài vụ việc

3.2 Trọng tài quy chế

“Theo Khoản 6, Điều 3, Luật Trọng tài thương mại 2010: Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và quy tắc

tố tụng của Trung tâm trọng tài đó.”

Đặc điểm của trọng tài quy chế:

- Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống các cơ quan Nhà nước

- Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài bao gồm: “ban điều hành, ban thư ký và các trọng tài viên của trung tâm” Ban điều hành của trung tâm trọng tài bao gồm: “chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch và có thể có tổng thư ký trung” Bên cạnh ban điều hành, trung tâm trọng tài còn có các trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài

- Trung tâm trọng tài có thể tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng ( Trong quá trình hoạt động, các trung tâm trọng tài có quyền mở rộng và thu hẹp lĩnh vực hoạt động, nhưng phải tiến hành đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền )

 Ưu điểm: Có sẵn quy tắc tố tụng riêng, không phải tốn thời gian để thỏa thuận lựa chọn hoặc xây dựng quy tắc tố tụng, đồng thời việc vận hành quy tắc tố tụng riêng của mình giúp các trung tâm thực hiện các thủ tục trọng tài nhuần nhuyễn, thành thục và ít xảy ra trục trặc hơn Tổ chức trọng tài giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các Trọng tài viên, đảm bảo cho quá trình tố tụng trọng tài diễn ra trong phạm vi phù hợp và tối ưu nhất có thể

 Nhược điểm: Tốn kém nhiều chi phí Bởi ngoài việc trả thù lao cho các Trọng tài viên thì các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để có thể nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài

4 Một số ưu điểm và hạn chế của Trọng tài thương mại

4.1 Một số ưu điểm

Thứ nhất, so với Tòa án, Trọng tài thương mại có những ưu điểm vượt trội sau:

Đầu tiên, đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên Không giống như tòa án, trọng tài không bị ràng buộc bởi nguyên tắc lãnh thổ cho nên các bên có quyền tư do lựa chọn bất

kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình, đồng thời các bên còn có quyền

Trang 7

thỏa thuận lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn; lựa chọn quy tắc, thủ tục tố tụng; lựa chọn thời gian, địa điểm, ngôn ngữ để giải quyết tranh chấp của mình

Tiếp đến, với nguyên tắc “xét xử kín” của Trọng tài thương mại đã có thể giải quyết những nỗi lo, e ngại của các doanh nghiệp khi tranh chấp có liên quan đến bí mật thương mại có thể gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của mình

Ngoài ra, trong khi bản án, quyết định của tòa án có thể phải trải qua nhiều thủ tục xem xét khác nhau như “sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm” thì quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị Quyết định trọng tài được thi hành ngay

“trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra phán quyết” Điều này đã đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về thời gian, tiền bạc của các doanh nghiệp

Thứ hai, so với thương lượng, hòa giải, Trọng tài thương mại có những ưu điểm vượt trội

sau:

Việc tham gia thương lượng, hòa giải không chỉ đơn thuần đòi hỏi các bên có thiện chí mà còn cần phải có những kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý Đây là điều không phải

dễ dàng có được Trọng tài luôn có hẳn một khung pháp luật điều chỉnh Tuy là tổ chức phi chính phủ nhưng trọng tài lại được sự đảm bảo, hỗ trợ về mặt pháp lý của tòa án Hơn nữa, với bản chất sinh ra để giải quyết tranh chấp, Trọng tài thường có chuyên môn, am hiểu về pháp luật và có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp hơn Từ đó có thể giúp các bên giải quyết nhanh chóng, hiệu quả hơn

4.2 Một số hạn chế nhất định

So với “Tòa án”, “Trọng tài không có thẩm quyền kê biên tài sản, áp dụng các biện pháp

khẩn cấp tạm thời đối với tài sản là đối tượng tranh chấp” Việc kê biên chỉ được thực hiện thông qua Tòa án dựa trên yêu cầu của các bên Quá trình kê biên này có thể kéo dài, không đảm bảo phong tỏa tài sản kịp thời đề phòng tẩu tán tài sản;

Mặc dù quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm là một ưu điểm nổi bật, nhưng ở một phương diện khác thì đây lại chính là một hạn chế của trọng tài vì quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên các bên thường khó có cơ hội để phát hiện và khắc phục những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp như ở Tòa án

So với “Thương lượng, hòa giải”, việc giải quyết tại trọng tài đã có sự xuất hiện của bên thứ

ba nên việc giữ bí mật của vụ tranh chấp không thể đảm bảo bằng

Hơn hết, thực tế cho thấy chi phí trọng tài thường được ấn định trước, nhất là những tranh chấp được giải quyết tại các trung tâm trung tâm trọng tài thường có cả các biểu phí được quy định sẵn và biểu phí này thường cao hơn nhiều so với các cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tòa án, hòa giải hay thương lượng mà không phải bên tranh chấp nào cũng có khả năng đáp ứng dù họ rất mong muốn được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Trang 8

II - PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI

1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010, có 5 nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại: “Trọng tài viên phải tôn trọng thoả

thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội; Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật; Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; Phán quyết trọng tài là chung thẩm.”

2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trong tài thương mại.

Điều kiện đầu tiên để một tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương

mại phải là tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh phát sinh từ hoạt động thương mại

Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài:

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

Khi tham gia vào hoạt động thương mại, vấn đề lợi nhuận là vấn đề chủ yếu được các chủ thể quan tâm Sự mâu thuẫn về lợi ích, tranh chấp về quyền lợi của các bên

là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc phát sinh các tranh chấp thương mại Tất cả các tranh chấp thương mại này theo quy định đều thuộc thẩm quyền của Trọng tài thương mại

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

Trong các quan hệ xã hội, khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế không phải chủ thể nào cũng hoạt động nhằm mục đích thương mạithương mại Có nhiều chủ thể khi tham gia nhưng lại mang mục đích dân sự hay các mục đích khác Tranh chấp giữa các bên này nếu được các bên thỏa thuận đưa ra Trọng tài thương mại thì cũng có thể giải quyết bằng Trọng tài thương mại

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”.

Điều kiện thứ hai để xác định thẩm quyền của Trọng tài thương mại là giữa các bên

tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ

Trang 9

Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án Chính vì vậy, việc Trọng tài giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại là do các bên thỏa thuận lựa chọn và thường được ghi nhận trong hợp đồng

Tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại nếu các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài này có hiệu lực Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng

tài” “Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại quy định về điều

kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thì: Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

“Theo khoản 1,2 Điều 16 Luật Trọng tài thương mại: Thỏa thuận của trọng tài có thể là

một thỏa thuận riêng hoặc là thỏa thuận trong hợp đồng và phải được lập thành văn bản”

 Qua đây ra thấy rằng một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại khi đáp ứng đầy đủ hai điều kiện trên Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại

3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại 3.1 Đơn kiện và thụ lý đơn kiện.

“Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Trọng tài thương mại 2010”, để giải

quyết vụ tranh chấp tại trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi đến đúng trung tâm trọng tài mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn; trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải làm đơn khởi

kiện và gửi cho bị đơn Đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung “Theo quy

định tại khoản 2 Điều 30 Luật Trọng tài thương mại năm 2010” như ngày,

tháng, năm viết đơn; tên và địa chỉ của các bên; tóm tắt nội dung vụ tranh chấp…

Đơn khởi kiện phải được gửi đến trọng tài trong thời hiệu khởi kiện mà pháp

luật quy định đối với từng loại tranh chấp “Theo quy định tại Điều 33 luật

Trọng tài thương mại năm 2010: thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại” thì đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định

thời hiệu thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng Kèm theo đơn kiện, các bên phải gửi bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài, tài liệu chứng

cứ, bản sao thì phải có công chứng Nguyên đơn nộp tạm ứng phí nếu không có thỏa thuận

Trang 10

Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp

Khi nhận được đơn kiện, trung tâm trọng tài xem xét có thuộc thẩm quyền của mình không Nếu đúng thì thụ lý và bắt đầu có trách nhiệm giải quyết Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện trung tâm tài phán phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, những tài liệu kèm theo mà nguyên đơn cung cấp và danh sách trọng tài của trung tâm

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu có liên quan, bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ đối với việc giải quyết tranh chấp tại trung tâm trọng tài và bản tự bảo vệ, lựa chọn trọng tài viên

đối với trọng tài vụ việc “Điều 35 Luật Trọng tài thương mại năm 2010”

3.2 Thành lập Hội đồng trọng tài, lựa chọn trọng tài viên

Việc thành lập Hội đồng trọng tài, lựa chọn trọng tài viên là khâu then chốt, có tầm quan trọng bậc nhất trong trình tự thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài Khi các bên đã lựa chọn và chỉ định trọng tài viên mà họ tín nhiệm, điều đó hứa hẹn cho kết quả tốt đẹp trong giải quyết tranh chấp

Theo quy định tại Điều 39 Luật trọng tài năm 2010, số lượng trọng tài viên do

các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì hội đồng trọng tài gồm ba thành viên

Thành lập hoặc chỉ định một hội đồng trọng tài là bước đầu tiên đặc trưng trong

tố tụng trọng tài Tùy thuộc vào từng trường hợp mà pháp luật quy định khác nhau

3.3 Công tác điều tra trước khi xét xử

Sau khi được chỉ định hoặc lựa chọn, trọng tài viên sẽ nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp Bằng năng lực

và kinh nghiệm của bản thân, trọng tài viên có thể thực hiện công việc theo cách riêng, ngoài ra cũng có thể tìm hiểu vụ việc từ người thứ ba Song việc giải quyết vẫn được tiến hành căn cứ vào những điều khoản của hợp đồng và pháp luật hiện hành

3.4 Phiên họp giải quyết tranh chấp

Các phiên họp được xét xử kín nhằm đảm bảo uy tín, danh dự của các bên Đây

là một nguyên tắc quan trọng đồng thời cũng chính là ưu điểm vượt trội của trọng tài

Ngày đăng: 23/04/2021, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w