1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NĂNG lực THỰC HIỆN NHIỆM vụ của VIÊN CHỨC NGÀNH bảo HIỂM xã hội TỈNH QUẢNG TRỊ

128 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị
Tác giả Võ Hà Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Duy Yên
Trường học Học Viện Hành Chính Quốc Gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn “Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, được thực hiện dự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ HÀ LINH

NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ HÀ LINH

NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, được thực hiện dựa trên việc vận dụng các kiến thức đã học, nghiên cứu các tài liệu tham khảo, kết hợp với quá trình điều tra khảo sát thực

tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Vũ Duy Yên Các số liệu,

thông tin, kết quả được nêu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực

và được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng

Thừa Thiên Huế, tháng 7 năm 2019

Người cam đoan

Võ Hà Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS.Vũ Duy Yên,

người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị và các đồng nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Học viên

Võ Hà Linh

Trang 5

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI 10

1.1 Viên chức và viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 10

1.1.1 Khái niệm về viên chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 10

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 12

1.2 Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 14

1.2.1 Khái niệm về năng lực, năng lực thực hiện nhiệm vụ, năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 14

1.2.2 Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức 17

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức 25

1.2.4 Yêu cầu khách quan phải nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 29

1.2.5 Tầm quan trọng của năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 32

1.3 Các yếu tố tác động đến năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức 32

1.3.1 Các yếu tố khách quan 32

1.3.2 Các yếu tố chủ quan 37

1.4 Một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tại một số địa phương 39

1.4.1 Một số kinh nghiệm của địa phương khác 39

Trang 6

1.4.2 Bài học rút ra cho ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng trị 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG TRỊ 43

2.1 Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 43

2.1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 43

2.1.2 Vị trí và chức năng của Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 43

2.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 44

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 47

2.1.5 Đặc điểm đội ngũ viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 50

2.2 Đánh giá thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 52

2.2.1 Thực trạng về kiến thức của viên chức 52

2.2.2 Thực trạng về các kỹ năng trong giải quyết công việc 58

2.2.3 Thực trạng về thái độ ứng xử, cách thức thực hiện nhiệm vụ 63

2.2.4 Phẩm chất đạo đức 65

2.3 Kết quả năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 66

2.3.1 Những thành tựu đạt được 66

2.3.2 Hạn chế 69

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 71

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG TRỊ 76

3.1 Quan điểm, mục tiêu nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 76

3.1.1 Quan điểm 76

3.2 Các giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 84

3.2.1 Nâng cao chất lượng tuyển dụng, thu hút nhân tài 84

Trang 7

3.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và động viên viên chức tự đào tạo, bồi dưỡng 86 3.2.3 Xác định vị trí việc làm, thực hiện tốt việc phân công, sắp xếp, bố trí, sử dụng đội ngũ viên chức 90 3.2.4 Nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc của viên chức 92 3.2.5 Cải thiện môi trường làm việc, tạo động lực làm việc cho viên chức 95 3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, thực hiện tốt công tác đánh giá 97

KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp

STT: Số thứ tự

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng, cơ cấu viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị giai đoạn

2013-2018 51 Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị giai

đoạn 2013-2018 53 Bảng 2.3: Trình độ lý luận chính trị của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị giai

đoạn 2013-2018 55 Bảng 2.4: Trình độ quản lý nhà nước của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

giai đoạn 2014-2018 56 Bảng 2.5: Trình độ ngoại ngữ, tin học của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

giai đoạn 2014-2018 57 Bảng 2.6: Thực trạng mức độ kỹ năng của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

(Mức độ đáp ứng các kỹ năng thực hiện công việc chuyên môn) 62

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Mức độ ảnh hưởng của các kỹ năng đến năng lực thực hiện nhiệm vụ của

viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị do viên chức tự đánh giá 59 Biểu đồ 2.2: Mức độ thực hiện các kỹ năng của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng

Trị do viên chức lãnh đạo đánh giá 60 Biểu đồ 2.3: Mức độ ảnh hưởng của thái độ đến năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên

chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị do viên chức tự đánh giá 64 Biểu đồ 2.4: Thực trạng thái độ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị do viên

chức lãnh đạo đánh giá 64

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn chăm lo đến công tác cán bộ

Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định “Cán

bộ là nhân tố trực tiếp quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”

Đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”

Đại hội XII của Đảng tiếp tục đề ra nhiệm vụ trọng tâm: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực

và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”

Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 cũng đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực

và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”

Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức cũng xác định mục tiêu: xây dựng một nền công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”

Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo

Trang 12

hiểm y tế (BHYT); tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quản

lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật(Nghị định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05/01/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị đã khẳng định: BHXH, BHYT là 2 chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội

Để thực hiện tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, một trong những nội dung quan trọng cần được ngành BHXH quan tâm là nâng cao năng lực viên chức đang làm việc trong ngành Bởi vì, đội ngũ viên chức có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của ngành, là người trực tiếp triển khai thực hiện các đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, chính sách của ngành đến toàn thể người dân Ngành BHXH có thực hiện tốt vai trò phục vụ đối tượng tham gia các loại hình BHXH ngày một mở rộng theo chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, tiến tới BHXH cho mọi người lao động, BHYT toàn dân xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ viên chức ngành Chính vì đội ngũ viên chức ngành BHXH có vai trò quan trọng như vậy nên việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ viên chức ngành BHXH là nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển ngành BHXH đến năm 2020

BHXH tỉnh Quảng Trị là một đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, trong những năm qua, Ban lãnh đạo BHXH tỉnh Quảng Trị rất quan tâm tới công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo chuyên môn chuyên ngành BHXH, coi

Trang 13

trọng công tác tuyển dụng, đồng thời thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính, sử dụng tin học trong công tác nghiệp vụ hàng ngày, trong đó, chú trọng nhất vẫn là công tác nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH Viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị luôn nỗ lực, trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo trong thực thi công vụ, chuyển đổi mạnh tác phong từ hành chính sang phục vụ nhân dân để thực hiện tốt các chế độ, chính sách, quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.Tuy nhiên, thực trạng viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị vẫn còn nhiều bất cập, năng lực thực hiện nhiệm vụ vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của Ngành, đang còn yếu về chất lượng, cơ cấu chưa đồng bộ và hợp lý, trình độ chuyên môn còn thấp; kém năng động, sáng tạo, thiếu trách nhiệm trong công việc; chất lượng chưa thực

sự ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ được giao Nguyên nhân là do đội ngũ viên chức có đầu vào đa dạng, nhiều ngành nghề khác nhau, kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ còn nhiều hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, quy hoạch viên chức chưa khoa học, chưa toàn diện, không thống nhất

Nhận thấy việc nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành

là một vấn đề cấp bách Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn vấn đề: “Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đã có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề năng lực thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức trong và ngoài ngành BHXH là nguồn tư liệu quý cho tác giả tham khảo, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện đề tài luận văn này

Trang 14

Tác giả Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2001), “ Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”, NXB Chính trị Quốc gia; các tác giả nghiên cứu lịch sử phát triển của các khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức; góp phần lý giải và hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất nước [35]

Tác giả Ngô Thành Can (2012) trong bài “Công chức và chất lượng thực thi công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước” đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước số 11/2012 đã lý giải chất lượng thực thi công vụ của công chức phụ thuộc vào các yếu tố như: năng lực, kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công việc, môi trường làm việc của công chức; sự động viên, khuyến khích của người lãnh đạo, quản lý bằng các chế độ, chính sách đãi ngộ, cơ hội thăng tiến đối với công chức Tác giả đánh giá thực trạng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước và nêu ra những bất cập về năng lực của công chức Qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ của công chức nhà nước như: Thực hiện đổi mới trong tuyển dụng công chức; đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng công chức theo hướng hiệu quả, thiết thực; sử dụng công chức hợp lý, hiệu quả; chú trọng tạo động lực cho công chức trong thực thi công vụ [8]

Tác giả Nguyễn Thị La trong bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính” đăng trên tạp chí cộng sản điện tử ngày 4/9/2015 đã tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước Tác giả cũng chỉ ra một số vấn

Trang 15

đề còn tồn tại cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức [19]

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải (2011) trong bài “Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công chức” đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước số 09/2011 Tác giả đã chỉ rõ năng lực của cán bộ, công chức là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một cá nhân thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở một cấp độ hiệu suất nhất định, đồng thời tác giả cũng lý giải một số vấn đề về phát triển năng lực cho cán bộ, công chức và đưa ra một số biện pháp phát triển năng lực phù hợp với môi trường hành chính nhà nước [13]

Tác giả Lê Chi Mai (2014) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Lý thuyết về khung năng lực và vận dụng vào xây dựng năng lực thực thi công

vụ ở Việt Nam”, tác giả đã phân tích các yếu tố cấu thành năng lực gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ [22]

Tác giả Trần Thị Liên Hương trong đề tài luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ viên chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam” (2012) đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ viên chức ngành BHXH Tác giả đã đánh giá thực trạng bồi dưỡng, quản lý trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ viên chức ngành BHXH Việt Nam Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức ngành BHXH Việt Nam [17]

Tác giả Nguyễn Xuân Tuấn trong đề tài luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An” (2016) đã phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức, viên chức làm việc tại ngành BHXH tỉnh Nghệ An, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên

Trang 16

nhân hạn chế đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức của ngành trong những năm tới [37]

Những tác phẩm, tác giả trên giúp tác giả định hướng nghiên cứu của đề tài; tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề năng lực thực hiện

nhiệm vụ vủa viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị Vì vậy, đề tài “ Năng

lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị” không trùng lặp với đề tài nào và đây cũng là cơ sở lý luận cũng như thực

tiễn ứng dụng trong công tác sau này

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục tiêu:

Trên cơ sở lý luận về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức và kết quả phân tích thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị; luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị; đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức với hiệu quả của ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

3.2 Nhiệm vụ:

+ Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức, các thành tố cấu thành, tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động đến năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức

+ Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị, đưa ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân cũng những hạn chế đó

+ Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Trang 17

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực thực hiện nhiệm vụ và những hoạt động chuyên môn của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị Khách thể nghiên cứu là viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về đối tượng: luận văn nghiên cứu năng lực thực hiện nhiệm vụ của

viên chức ngành BHXH Quảng Trị gồm những nội dung như trong chương 1

đã trình bày, không nghiên cứu về năng lực của viên chức lãnh đạo ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

- Về không gian: đề tài sẽ tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực viên chức ngành BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

- Về thời gian: Nghiên cứu phân tích số liệu liên quan đến năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 đến

2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về năng lực thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn được thực hiện trên

các phương pháp cơ bản sau:

+ Phương pháp khảo cứu tài liệu:

Thu thập, phân tích tài liệu, thu thập thông tin, đọc, nghiên cứu các tài

liệu, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài + Phương pháp điều tra xã hội học:

Trang 18

 Số liệu thứ cấp:

Luận văn chủ yếu sử dụng nguồn số liệu được cung cấp từ nguồn tài liệu liên quan đến viên chức, năng lực viên chức đã được công bố trên các tạp chí, luận văn, luận án, báo cáo của ngành, của BHXH tỉnh Quảng Trị

Thống kê và thu thập số liệu từ các nguồn báo cáo, tạp chí, internet, các công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố liên quan đến viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

 Số liệu sơ cấp:

Hình thức thu thập số liệu: thông qua phiếu thăm dò/khảo sát thông tin

và tiến hành các cuộc điều tra, phỏng vấn trực tiếp tới viên chức, lãnh đạo ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

Khách thể khảo sát: viên chức và viên chức lãnh đạo ngành BHXH tỉnh Quảng Trị (ngoài điều tra bằng bảng hỏi, đề tài còn phỏng vấn một số viên chức lãnh đạo ngành BHXH tỉnh)

+ Trên cơ sở các số liệu thứ cấp và sơ cấp mà tác giả thu thập được, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê để giải quyết các vấn đề đặt ra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Luận văn bổ sung và làm phong phú hơn những vấn đề lý luận về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực này Chỉ ra những thành tố cấu thành năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Đánh giá đúng thực trạng về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

Trang 19

- Định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH tỉnh Quảng Trị

- Sau khi hoàn thành, kết quả luận văn có giá trị tham khảo cho ngành BHXH tỉnh Quảng Trị về thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ hiện nay của viên chức, đồng thời lãnh đạo ngành BHXH có thể tham khảo những giải pháp mà luận văn đưa ra nhằm nâng cao năng lực thực hiện cho viên chức ngành BHXH của tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức Chương 2: Thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức

ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực thực

hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA

VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Viên chức và viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm về viên chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

Theo từ điển tiếng Việt “Viên chức là người làm việc trong một cơ quan

của nhà nước hay trong một sở tư” [38, tr.1415] Khái niệm này xác định

viên chức theo nơi làm việc

Theo các tác giả Trần Anh Tuấn - Nguyễn Hữu Hải: “Viên chức là

những người được ký hợp đồng làm việc với các đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [36,tr.181] Khái niệm này xác định viên chức theo cách thức

hình thành

Theo các tác giả Trần Thị Thu - Vũ Hoàng Ngân: “Cán bộ, công chức,

viên chức là một bộ phận chủ yếu của nguồn nhân lực trong tổ chức công”

[33,tr.4] và “Nguồn nhân lực trong tổ chức công là những người làm việc

trong các tổ chức công” [33,tr.2] Khái niệm này được tiếp cận dưới góc độ

quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công

Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15

tháng 11 năm 2010 thì: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng

theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Khái niệm này chỉ ra các yếu tố cơ bản đẻ phân biệt

viên chức với các đối tượng khác như cán bộ, công chức

Qua xem xét khái niệm viên chức từ nhiều góc độ nêu trên và căn cứ quy

định của pháp luật, tác giả cho rằng: Viên chức là những người được tuyển

Trang 21

dụng vào làm việc tại một đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp đó

BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật

BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội về BHXH, của Bộ Y tế về BHYT, của Bộ tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHYT, BHTN

BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:

- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương gồm 24 đơn vị

- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trực thuộc BHXH tỉnh

Theo quy định của Luật cán bộ công chức và Luật viên chức, những người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập đều là viên chức (trừ một số trường hợp là công chức theo quy định của pháp luật), do đó, tất cả những ai làm việc tại BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đều là viên chức

Từ cơ sở lý luận ở trên, tác giả cho rằng: “Viên chức ngành BHXH Việt

Nam là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc trong hệ thống BHXH Việt Nam từ Trung ương xuống địa phương”

Trang 22

1.1.2 Vai trò, đặc điểm của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

Vai trò của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

Viên chức ngành BHXH đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ của ngành Kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của viên chức làm trong ngành Vai trò của viên chức ngành BHXH được thể hiện trong các công việc cụ thể như sau: Viên chức ngành BHXH là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung và của ngành BHXH nói riêng đến nhân dân, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đủ và thực hiện các chủ trương, chính sách trong đời sống, xã hội Đồng thời, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người viên chức ngành BHXH không chỉ đảm bảo cho chủ trương, chính sách được thực hiện tốt mà còn phải kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương đường lối đó, đồng thời nắm bắt kịp thời, phản ánh kịp thời các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoàn phát triển của đất nước

Thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp theo vị trí việc làm:

- Cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho những người tham gia BHXH, BHYT

- Khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH, BHTN, BHYT Thu các khoản đóng BHXH, BHTN, BHYT đối với các tổ chức và cá nhân tham gia; từ chối việc đóng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT không đúng quy định Kiểm tra việc ký hợp đồng, việc đóng, trả BHXH, BHTN, BHYT đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động

- Giải quyết các chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trang 23

- Chi trả lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; trợ cấp

ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp mất sức lao động; trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp tử tuất

- Quản lý việc sử dụng các quỹ BHXH, BHTN, BHYT bao gồm: quỹ hưu trí và tử tuất; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ ốm đau và thai sản; quỹ BHTN; quỹ BHYT đúng mục đích theo quy định của pháp luật

- Hạch toán các quỹ BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

Viên chức ngành BHXH cũng có những đặc điểm chung của viên chức nói chung và những đặc điểm riêng mang tính ngành nói riêng như sau:

- Viên chức ngành BHXH được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam Thông qua hoạt động tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), người trúng tuyển viên chức được đơn vị ký hợp đồng làm việc Thời hạn, nội dung và hình thức của hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật

- Hoạt động nghề nghiệp của viên chức ngành BHXH đều dựa trên kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ mang tính nghề nghiệp cao, phải được đào tạo bồi dưỡng qua các trường lớp Vì vậy, Công việc hoặc nhiệm vụ được giao phải phù hợp với vị trí việc làm tuyển dụng, chức danh nghề nghiệp mà viên chức được bổ nhiệm

- Viên chức ngành BHXH hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị Mức chi tiền lương đối với viên chức ngành BHXH bằng 1,8 lần so với chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định

Trang 24

1.2 Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

1.2.1 Khái niệm về năng lực, năng lực thực hiện nhiệm vụ, năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

1.2.1.1 Khái niệm về năng lực

Thuật ngữ “Năng lực” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Capacitas; tiếng Anh là Capacity hat Ability - có nghĩa là khả năng làm việc tốt

Theo từ điển Tiếng Việt thì năng lực là được hiểu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Từ góc độ xã hội học quan niệm năng lực làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc, là một tập hợp các kiến thức, thái độ và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi

và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng

Theo P.A Rudich: “Năng lực và tính chất tâm lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định”

Theo Spencer, L.M., McClelland, D.C.,& Spencer, S.M (1990): “Năng lực

là những động lực, đặc điểm, sự tự nhận thức, kiến thức, quan điểm và các giá trị, các kỹ năng nhận biết và hành vi - bất kỳ một đặc điểm cá nhân nào mà có thể đo lường một cách đáng tin cậy mà những đặc điểm này có thể cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa những người thực hiện tốt và những người thực hiện trung bình, những người thực hiện hiệu quả và những người thực hiện không hiệu quả Năng lực có thể bao gồm cả ý định, hành động và kết quả.”

Trang 25

Bolt (1987) định nghĩa năng lực “là sự kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao.”

Các khái niệm nêu trên đều đề cập đến khả năng thực hiện nhiệm vụ của một cá nhân hay tập thể đối với một hay một nhóm công việc do mình đặt ra hay được chỉ định nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đó với kết quả tốt nhất Năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định, có thể là năng lực của cá nhân, tổ chức, đơn vị…Năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực bao giờ cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như: năng lực giảng dạy, năng lực thực hiện nhiệm vụ, năng lực quản lý…Năng lực của con người là tập hợp tất cả các yếu tố thuộc về thể chất, trí tuệ tạo cho con người hoàn thành một hoạt động nào đó đạt kết quả tốt nhất có nhiều yếu tố cấu thành năng lực nhưng những yếu tố cơ bản nhất, quyết định năng lực của mỗi người là kiến thức, kỹ năng và thái độ Năng lực của con người có thể do bẩm sinh mà có nhưng phần lớn được hình thành qua quá trình học tập, công tác, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm của mỗi người

Trên cơ sở những khái niệm nêu trên, tác giả cho rằng: “Năng lực là tổng

hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi nhằm đáp ứng một nhiệm

vụ, vị trí, công việc nhất định đạt được hiệu quả cao nhất có thể.”

Năng lực bao gồm 2 loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt

Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau, nhiều người có - như là “năng lực nền”, là những thuộc tính về thể lực, trí tuệ như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hóa, năng lực tư duy, năng lực quan sát, là những điều kiện cần thiết để hoàn thành công việc Năng lực chuyên biệt là loại năng lực dành cho mỗi nghề riêng biệt, đảm bảo cho cá nhân hoạt động tốt trong lĩnh vực của mình, gồm có: kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực nghề nghiệp, năng lực quản lý, năng lực giao tiếp…

Trang 26

Năng lực chung và năng lực chuyên biệt có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên biệt, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên biệt Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên biệt trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đến sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và

có một vài năng lực chuyên biệt tương ứng với lĩnh vực công việc của mình

1.2.1.2 Khái niệm về năng lực thực hiện nhiệm vụ

Như đã phân tích ở trên, năng lực là khả năng ứng dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi nhằm đáp ứng một nhiệm vụ, vị trí, công việc nhất định đạt được hiệu quả cao nhất có thể Thực hiện nhiệm vụ là quá trình thực hiện các công việc cụ thể theo quy định của pháp luật Từ đó, tác giả cho rằng:

Năng lực thực hiện nhiệm vụ là khả năng vận dụng tổng hợp những yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi một cách tốt nhất trong thực hiện nhiệm

vụ được giao nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của công việc

Khi nói đến năng lực thực hiện nhiệm vụ không chỉ là nói đến từng yếu

tố riêng lẽ về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà là sự tổng hợp, sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố đó trong những hoàn cảnh cụ thể để giải quyết công việc được giao một cách có hiệu quả nhất Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên viên chức cần chuyển hóa những kiến thức, kỹ năng, thái độ có được để giải quyết những tình huống, những công việc trong những hoàn cảnh cụ thể

1.2.1.3 Khái niệm về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

Viên chức ngành BHXH đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của ngành, là người trực tiếp triển khai thực hiện các đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung và của ngành

Trang 27

nói riêng đến toàn thể người dân, là người trực tiếp tham mưu, dự thảo các chính sách, kế hoạch, chỉ tiêu phát triển của ngành, tham mưu quản lý đối với lĩnh vực BHXH tại địa phương Đặc biệt mỗi địa phương trong cả nước

có đặc điểm kinh tế xã hội, trình độ phát triển dân trí khác nhau Vì vậy để đảm bảo cho hoạt động quản lý về lĩnh vực BHXH đạt kết quả tốt phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức, phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kỹ năng, thái độ, hành vi của viên chức trong thực hiện nhiệm vụ

Từ những lý luận ở trên, tác giả đưa ra khái niệm:

Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH là khả năng vận dụng tổng hợp những yếu tố về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi của viên chức ngành BHXH trong hoạt động tham mưu, hoạt động chuyên môn và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực BHXH, đảm bảo cho hoạt động quản lý tiến hành nhanh chóng và đạt kết quả cao

1.2.2 Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức

1.2.2.1 Kiến thức của viên chức

Kiến thức là tổng thể tri thức, hiểu biết mà một người lĩnh hội, tích lũy, trải nghiệm hay học hỏi Kiến thức là những hiểu biết chung hoặc chuyên ngành của một cá nhân cần thiết để đảm nhận một vị trí nào đó Nhờ có những kiến thức cơ bản này mà cá nhân có sự nhìn nhận khách quan, khoa học, có khả năng quan sát, nhận xét, tư duy về một vấn đề nào đó.Tiêu chuẩn

về trình độ kiến thức thường được sử dụng để xếp viên chức vào hệ thống ngạch, bậc Kiến thức của viên chức bao gồm: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước

Trang 28

- Trình độ học vấn

Trình độ học vấn hay còn gọi là trình độ văn hóa hoặc trình độ giáo dục phổ thông được đánh giá qua những văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là nền tảng thể hiện tri thức, kiến thức khoa học cơ bản giúp nắm bắt các quy luật của thế giới quan, là nền tảng cho việc tiếp thu những kiến thức mới, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Đây là yếu tố cơ bản quyết định năng lực của viên chức bởi vì nếu trình độ học vấn không cao thì

sẽ bị hạn chế về khả năng nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng

và pháp luật cũng như việc thực hiện chức trách nhiệm vụ

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là bước phát triển cao hơn của trình độ học vấn, là trình độ được phản ánh về những kiến thức, kỹ năng riêng biệt về một chuyên ngành, lĩnh vực nào đó Trình độ chuyên môn sẽ được đào tạo trong hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học hoặc sau đại học Muốn thực hiện tốt công việc của mình, viên chức cần phải được trang bị những kiến thức cơ bản về ngành nghề nhất định, dựa vào những kiến thức này cộng với những kỹ năng có được, viên chức sẽ xử lý những công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn đạt kết quả tốt hơn

- Trình độ tin học, ngoại ngữ

Hiện nay, BHXH Việt Nam đang hết sức chú trọng công tác ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa quản lý BHXH BHXH Việt Nam đã triển khai hệ thống lưu trữ hồ sơ điện tử ngành BHXH để số hóa tài liệu lưu trữ của ngành, triển khai phần mềm giao dịch điện tử trên tất cả các lĩnh vực thu, cấp

sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết chế độ BHXH, BHTN Vì vậy, để đáp ứng tốt vị trí việc làm của mình, viên chức ngành BHXH cần có trình độ tin học

để hoạt động thực hiện nhiệm vụ đạt chất lượng và hiệu quả cao Trong giai đoạn hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực như hiện nay, ngoại ngữ là một

Trang 29

yêu cầu cấp bách của viên chức ngành BHXH Nhờ có trình độ ngoại ngữ cao, viên chức sẽ có nhiều thuận lợi trong việc giao tiếp, trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp cận các thành tựu khoa học kỹ thuật, từ đó giúp ích cho bản thân trong việc hoàn thành công việc được giao phó Yêu cầu đối với viên chức ngành BHXH là phải có chứng chỉ tin học văn phòng và có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở lên của một trong năm thứ tiếng: Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc

- Trình độ lý luận chính trị

Lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị, nó là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân loại giới hạn trong lĩnh vực chính trị Trình độ lý luận chính trị phản ánh tri thức, tư duy về những kiến thức liên quan đến chính trị, nhất là kiến thức về chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ xã hội chủ nghĩa, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước Nhờ có những kiến thức về lý luận chính trị sẽ giúp cho viên chức có lập trường, tư tưởng vững vàng, đảm bảo hoạt động thực hiện nhiệm nhiệm vụ đi đúng định hướng của Đảng và nhà nước đề ra, giúp cho quá trình tuyên truyền, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước dễ dàng đi vào cuộc sống và có tính ứng dụng cao

- Trình độ quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là những kiến thức cơ bản nhất về nhà nước và pháp luật, nền hành chính nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách hành chính nhà nước…Những kiến thức này giúp cho viên chức nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần triển khai các văn bản một cách hiệu quả, đồng thời giúp viên chức nâng cao năng lực, kỹ năng, phong cách làm việc chuyên nghiệp trong quản lý, điều hành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Kiến thức quản lý nhà nước thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn về ngạch bao gồm: bồi

Trang 30

dưỡng quản lý nhà nước ngạch cán sự và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương

1.2.2.2 Các kỹ năng trong giải quyết công việc

Kỹ năng là khả năng của một người (không phân biệt độ tuổi, học vấn)

có thể vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng trong giải quyết công việc là tổng hợp những cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức và thực hiện giải quyết công việc, vận dụng những kiến thức chuyên môn vào thực tế Trong mỗi hoạt động cụ thể của một công việc nhất định thì mỗi người có một kỹ năng khác nhau về cách xử

lý công việc đó Có những kỹ năng là cần thiết cho mọi công việc, nhưng có những kỹ năng là đặc thù riêng cần có cho một công việc nào đó Những kỹ năng cơ bản trong thực hiện nhiệm vụ của viên chức đó là:

- Kỹ năng tư duy

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, viên chức cần có kỹ năng tư duy để nắm bắt được tình hình, suy luận, phán đoán, đưa ra những phương án xử lý thích hợp nhất cho từng nhiệm vụ Để có thể nâng cao chất lượng công việc, mỗi cá nhân đều cần phải có kỹ năng tư duy hiệu quả trong công việc mình đang thực hiện, có như vậy mới có thể quản lý và tiến hành các hoạt động một cách trình tự và đem lại hiệu quả cao

- Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp, được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hàng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, viên chức ngành BHXH nhất là viên chức bộ phận tiếp nhận và trả thủ tục hành chính phải tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau đến liên hệ những công việc khác nhau, vì

Trang 31

vậy, người viên chức cần có kỹ năng giao tiếp thông qua hoạt động nói và viết

để có thể giải quyết những công việc đó Nếu không có kỹ năng giao tiếp, viên chức không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình vì đây là kỹ năng cần thiết và được sử dụng thường xuyên trong tất cả các hoạt động

- Kỹ năng lập kế hoạch

Lập kế hoạch là quá trình xây dựng các mục tiêu cần phải làm, xác định làm với ai, làm như thế nào, làm trong thời gian nào, bao lâu để đạt kết quả tốt nhất Kế hoạch giúp hoạt động của cá nhân và tổ chức diễn ra chủ động, liên tục và thống nhất và có thể đạt được mục tiêu một cách nhanh chóng nhất Kỹ năng lập kế hoạch là một kỹ năng cần thiết giúp viên chức có thể chủ động trong quản lý thời gian, tăng hiệu suất công việc, chủ động được những việc cần phải làm để không ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc của cá nhân cũng như của đơn vị Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ hàng tháng là một công việc thường xuyên trong thực hiện nhiệm

vụ của viên chức ngành BHXH Ngoài ra, nhằm thực hiện tốt các phong trào,

kế hoạch của ngành đề ra hàng năm như phong trào khai thác phát triển đối tượng BHXH tự nguyện; rà soát sổ BHXH; kế hoạch thu hàng năm; kế hoạch hậu kiểm đơn vị, mỗi viên chức ngành BHXH cần làm tốt kỹ năng lập kế hoạch mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao cũng như không làm ảnh hưởng đến kế hoạch chung của đơn vị Vì vậy có thể khẳng định rằng lập

kế hoạch là một kỹ năng quan trọng hàng đầu của viên chức ngành BHXH

- Kỹ năng tham mưu, đề xuất

Viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm công việc chuyên môn, có trách nhiệm tham mưu, đề xuất giúp lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực được phân công Để hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả cao, viên chức cần phải có và sử dụng thuần thục kỹ năng tham mưu, đề xuất Hoạt động tham mưu, đề xuất được

Trang 32

thực hiện tốt sẽ giúp cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoạch định và thực thi hiệu quả các chính sách, quy định của nhà nước cũng như của ngành Hoạt động tham mưu, đề xuất là hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của cơ quan, đơn vị mà viên chức đang làm việc.Bên cạnh hoạt động tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị, ngành BHXH còn có hoạt động tham mưu, đề xuất đối với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ của ngành hoặc triển khai các chế độ, chính sách, quy định mới

- Kỹ năng tin học văn phòng

Tin học văn phòng hiện đang là kỹ năng vô cùng quan trọng trong mọi ngành nghề lĩnh vực Đối với ngành BHXH đang tích cực đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động nghiệp vụ thì kỹ năng tin học văn phòng của viên chức ngành BHXH lại càng cần thiết hơn Có kỹ năng tin học văn phòng sẽ giúp viên chức nhập các dữ liệu vào phần mềm được thuận tiện và nhanh chóng, thao tác trôi chảy trên hệ điều hành Windows của máy tính, lưu trữ, chia sẽ tài liệu nhanh chóng, ban hành các văn bản theo đúng trình tự, thủ tục, hình thức Một trong những nội dung yêu cầu trọng tâm của ngành BHXH là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai thực hiện giao dịch hồ sơ điện tử, phấn đấu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong tất cả các lĩnh vực, vì vậy nếu không có kỹ năng tin học văn phòng, viên chức sẽ khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao

- Kỹ năng hợp tác, phối hợp thực hiện nhiệm vụ

Trong mỗi cơ quan, đơn vị có nhiều bộ phận hoạt động song song và liên quan đến nhau Vì vậy, đòi hỏi viên chức phải có kỹ năng hợp tác, phối hợp thực hiện mới có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, không ảnh hưởng chung đến công việc của tập thể Phối hợp thực hiện nhiệm vụ có thể xảy ra ở các viên chức trong cùng một bộ phận hoặc giữa các viên chức thuộc các bộ phận

Trang 33

khác nhau nhằm giải quyết công việc một cách hiệu quả và nhanh chóng.Ngoài việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các viên chức trong cùng một cơ quan, đơn vị, viên chức ngành BHXH còn phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ với các đơn vị liên ngành theo quy chế phối hợp liên ngành

- Kỹ năng truyền thông

Truyền thông là một quá trình giao tiếp liên tục trong đó hai hoặc nhiều người trao đổi, chia sẽ thông tin, tình cảm, suy nghĩ, kỹ năng để tạo ra sự liên kết với nhau từ đó có một nhận thức chung Truyền thông là một kỹ năng quan trọng đối với viên chức ngành BHXH Đường lối, chính sách của Đảng

và nhà nước, chủ trương của ngành có đến được với quần chúng nhân dân một cách kịp thời, người dân có hiểu đúng, hiểu chính xác những nội dung của đường lối chính sách để thực hiện tốt hay không hoàn toàn phụ thuộc vào

kỹ năng của viên chức

1.2.2.3 Thái độ ứng xử, cách thức thực hiện nhiệm vụ

Thái độ ứng xử là trạng thái tinh thần, hành vi ứng xử của cá nhân đối với công việc, các mối quan hệ với người khác trong công việc Cách thức thực thi công việc, thái độ ứng xử của mỗi cá nhân trong công việc đều ảnh hưởng tới hình ảnh của cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng tới hiệu quả công việc

- Thái độ phục vụ nhân dân

Xu hướng cải cách hành chính hiện nay là chuyển đổi từ nền hành chính

“cai trị” sang nền hành chính “phục vụ” để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân Bởi vậy, thái độ phục vụ nhân dân sẽ quyết định sự tin tưởng, sự ủng hộ của nhân dân đối với hoạt động cơ quan hành chính nhà nước đang thực hiện Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người viên chức cần có thái

độ, tác phong lịch sự, khiêm tốn, nghiêm túc, có văn hóa, có đạo đức, gần gũi, cởi mở, tôn trọng nhân dân, không hách dịch cửa quyền, gây khó khăn phiền

hà cho người dân khi tới liên hệ công việc Mức độ hài lòng của người dân càng cao thể hiện năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức càng cao

Trang 34

- Thái độ đối với công việc được giao

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, viên chức cần nhận thức rõ về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Mỗi viên chức cần phải nêu cao tinh thần, trách nhiệm đối với công việc, phải năng động, sáng tạo, tự thực hiện công việc phù hợp với tình hình, hoàn cảnh cụ thể Trong quá trình giải quyết

hồ sơ, chế độ cho người lao động, cơ quan, đơn vị, tổ chức đến liên hệ công việc, ngành BHXH đều quy định về thời gian giải quyết, trả kết quả thủ tục hành chính, vì vậy đòi hỏi viên chức làm việc phải khoa học, có chương trình,

kế hoạch cụ thể mới có thể hoàn thành công việc đúng thời hạn, không được làm việc một cách thiếu trách nhiệm, thụ động, không khoa học

- Thái độ đối với đồng nghiệp, cấp trên

Đối với đồng nghiệp cần phải nêu cao tinh thần đoàn kết, học hỏi lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc Trong cơ quan phải đoàn kết, gần gũi, cởi mở, tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp của đồng nghiệp Tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đối với cấp trên cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh và phục tùng các mệnh lệnh, yêu cầu đối với công việc được giao Trong công việc phải thẳng thắn, trung thực mới có thể tạo được sự tin tưởng từ cấp trên, đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công việc của đơn vị Trong giao tiếp phải giữ thái độ tôn trọng, hòa nhã, phù hợp với quy tắc ứng

xử của người viên chức

1.2.2.4 Phẩm chất đạo đức

Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tàng lớp

xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống Đạo đức là sản phẩm của xã hội, mang bản chất xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện

Trang 35

bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Phẩm chất đạo đức là một trong những phẩm chất đáng quý nhất của con người Phẩm chất đạo đức của người viên chức trong thực hiện nhiệm vụ gắn liền với đạo đức xã hội, những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị nhưng đồng thời cũng là đạo đức nghề nghiệp, gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, những điều viên chức không được làm, cách ứng xử của viên chức khi thực hiện nhiệm vụ Phẩm chất đạo đức của viên chức được thể hiện thông qua ý thức tổ chức, kỷ luật tại cơ quan, đơn vị và tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ như: chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; giữ gìn nếp sống văn hóa công sở; tinh thần tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh phòng chống tham nhũng; tinh thần phê và tự phê; tinh thần xây dựng và đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Viên chức trong thực hiện nhiệm vụ cần phải tuyệt đối tuân thủ quy định của pháp luật, sẵn sàng phục vụ nhân dân và phục

vụ một cách công bằng, vô tư, khách quan, không được thiên vị riêng cá nhân nào, không có thái độ hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, phải thuần thục chuyên môn nghiệp vụ và có thái độ ứng xử giao tiếp văn minh, lịch sự Viên chức không được né tránh trách nhiệm, phải có bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực Như vậy, năng lực của viên chức phải gắn liền với phẩm chất đạo đức, tạo nên sự thống nhất, phục vụ cho lợi ích chung, là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ viên chức

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức

Tiêu chí là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng, mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuân thủ các quy tắc và quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó

Tiêu chí đánh giá năng lực là kết quả được thể hiện ra bên ngoài, có thể

đo đếm được (qua quan sát, trắc nghiệm đo kết quả)

Trang 36

Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề đánh giá viên chức đã được ban hành và triển khai thực hiện Tuy nhiên chưa có văn bản nào quy định tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức Việc đánh giá viên chức hiện nay vẫn dựa vào những tiêu chí chung chung mà chưa chú trọng đến kỹ năng, thái độ hay hành vi của viên chức, tiêu chí cụ thể đối với từng vị trí công tác Đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức có thể dựa vào các tiêu chí sau:

- Sự tiếp thu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; hình thành kỹ năng

Đối với viên chức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng nhất, vì đây là những kiến thức liên quan đến công việc Hiện nay, việc tuyển dụng viên chức ngành BHXH chủ yếu dựa vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong công tác tuyển dụng viên chức ngành BHXH hiện nay là tốt nghiệp đại học trở lên.Nhưng những kiến thức được đào tạo ở nhà trường chỉ là những kiến thức nền, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ sẽ viên chức tích lũy qua quá trình đào tạo, tự học tập, từ thực tiễn Qua thời gian, việc viên chức đúc kết được những kinh nghiệm gì, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đến đâu, hình thành các kỹ năng nhanh hay chậm chính là tiêu chí đầu tiên để đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức

- Khả năng nhìn nhận, phân tích vấn đề, xử lý tình huống

Các vấn đề trong hoạt động quản lý chuyên ngành BHXH rất phức tạp, không phải vấn đề nào cũng có trong quy trình hướng dẫn, vì vậy đòi hỏi các viên chức phải có khả năng tư duy độc lập Đồng thời, viên chức phải có khả năng nhận biết, phát hiện vấn đề; phân tích, đánh giá, tổng hợp, xử lý thông tin nhanh nhạy, biết sử dụng các công cụ thích hợp nhằm đưa ra giải pháp thích hợp, sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ vừa đảm bảo đúng pháp luật, vừa đảm bảo phù hợp với thực tiễn

Trang 37

- Có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ

Tinh thần trách nhiệm là nhận thức, thái độ của mỗi người đối với chức trách, nhiệm vụ của mình, đối với người khác, với tổ chức, xã hội…Tinh thần trách nhiệm là một trong những phẩm chất của con người, là một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức Người viên chức có tinh thần trách nhiệm là người luôn nhận thức rõ và tìm cách thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, họ làm việc xuất phát từ sự say mê, cảm hứng, yêu mến nghề nghiệp, làm việc vì mục tiêu phục vụ người dân, phục vụ lợi ích chung của xã hội chứ không vì một lý do toan tính nào khác

- Khả năng hợp tác, phối hợp trong công việc

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, viên chức cần có sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với đồng nghiệp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Sự phối hợp này vừa mang tính quy chế bắt buộc, vừa mang tính hỗ trợ lẫn nhau Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại có những quan điểm, thói quen, cá tính khác nhau Vì vậy, một người có khả năng phối hợp trong công việc là người biết chia sẽ, hợp tác, động viên, khích lệ, thuyết phục người khác trong mối quan hệ với bản thân để hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Phối hợp hiệu quả trong công việc không chỉ giúp viên chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động chung của đơn vị

- Sự tín nhiệm của tập thể và người đứng đầu đơn vị

Đồng nghiệp là những người cùng một đơn vị nên hiểu biết về công tác, nhân thân, đạo đức của người viên chức là rõ nhất; người đứng đầu đơn vị là người nắm được năng lực sở trường, sở đoản của cấp dưới thông qua việc điều hành công việc Do đó, việc viên chức có nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của cấp trên, phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với đồng nghiệp trong công tác hay không sẽ là tiêu chí đánh giá năng lực của viên chức

Trang 38

- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao

Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức Đây là kết quả của quá trình vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ của viên chức trong thực hiện nhiệm vụ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức là một hoạt động thường niên của ngành BHXH được thực hiện vào tháng 12 hàng năm nhằm đánh giá kết quả thực hiện công việc; việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp; việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp

và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức Việc đánh giá thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH được thực hiện theo quy trình , thủ tục được quy định cụ thể trong quyết định số 1508/QĐ-BHXH ngày 16/12/2015 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Trong đó quy định rõ

4 mức đánh giá: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, không hoàn thành nhiệm vụ

- Mức độ hài lòng của người dân

Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với kết quả công việc của viên chức là đánh giá khách quan nhất về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức bởi vì người dân là người trực tiếp thụ hưởng kết quả công việc của viên chức đó Nếu một người muốn nhận được sự hài lòng cao của người dân thì phải có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng để giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, có thái độ đúng mực và thái độ văn hóa trong khi thực hiện nhiệm vụ, không cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà cho người dân

Trang 39

1.2.4 Yêu cầu khách quan phải nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội

1.2.4.1 Bảo đảm đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành bảo hiểm xã hội

Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã

đề ra nhiệm vụ: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức

bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính Trong đó, nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong công cuộc cải cách hành chính hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yên cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước Để đáp ứng được chiến lược phát triển ngành BHXH đến năm

2020 là BHXH và BHYT phải được từng bước mở rộng, tăng nhanh đối tượng tham gia, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội, những nhiệm vụ này đang đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng đội ngũ viên chức ngành BHXH có chất lượng cao, đủ năng lực, trình độ, kỹ năng, phẩm chất để có thể tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật một cách đồng bộ, nhất quán, có hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành

1.2.4.2 Đáp ứng yêu cầu cải cách của ngành

Thời gian qua, công tác cải cách của ngành BHXH, từ công tác cải cách thể chế đến công tác cải cách thủ tục hành chính cũng như công tác cải cách tổ chức bộ máy và biên chế luôn luôn được BHXH Việt Nam quan tâm hàng đầu, tập trung chỉ đạo sát sao, triển khai quyết liệt công tác cải cách đến từng đơn vị

và từng viên chức trong toàn ngành nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách của

Trang 40

ngành cần phải giải quyết thành công một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ viên chức của ngành đủ “tâm”, đủ “tầm” trước những yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn Nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành BHXH là giải pháp mang tính quyết định để thực hiện thành công yêu cầu cải cách mà ngành đặt ra Không có đội ngũ viên chức đủ năng lực hoạch định chính sách, dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì khó có được những thể chế, chính sách theo kịp và định hướng cho sự phát triển của ngành

1.2.4.3 Đáp ứng tốt vị trí việc làm của viên chức trong ngành và nâng cao hiệu quả của mỗi vị trí việc làm của viên chức

BHXH Việt Nam là đơn vị đầu tiên xây dựng đề án vị trí việc làm Mục tiêu của đề án này là xây dựng vị trí việc làm đầy đủ của ngành BHXH Việt Nam với bản mô tả công việc, tiêu chuẩn chức danh và khung năng lực của từng vị trí việc làm Xây dựng đề án vị trí việc làm giúp BHXH Việt Nam rà soát lại tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, viên chức và xác định từng vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Để đáp ứng tốt vị trí việc làm của mình, viên chức ngành BHXH cần phải nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của mình, đáp ứng được những đòi hỏi ứng với

độ phức tạp nhất định theo từng mức độ công việc, đồng thời cần phải đáp ứng được tiêu chuẩn về năng lực là phần quy định những khả năng viên chức cần phải có để thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn, vận dụng những kiến thức, kỹ năng được trang bị qua quá trình đào tạo và kinh nghiệm công tác để đảm bảo thực hiện công việc theo yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ

1.2.4.4 Dân đòi hỏi cung cấp dịch vụ công có chất lượng hơn

Sự vận hành của nền kinh tế thị trường đã kéo theo sự thay đổi và nhìn nhận lại vai trò của nhà nước trong quản lý và điều hành xã hội Xu hướng cải cách hành chính hiện nay là chuyển đổi từ nền hành chính “cai trị” sang nền

Ngày đăng: 23/04/2021, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Đoàn Thúy Anh (2017), Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Luận văn thạc sĩ quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Tác giả: Ngô Đoàn Thúy Anh
Năm: 2017
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), Quyết định số 445/QĐ-BHXH ngày 11/05/2012 phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 445/QĐ-BHXH ngày 11/05/2012 phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2012
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2016), Quyết định số 1414/QĐ-BHXH ngày 04/10/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1414/QĐ-BHXH ngày 04/10/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2016
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2017), Quyết định số 1808/QĐ-BHXH ngày 11/10/2017 ban hành quy định về tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, viên chức quản lý thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1808/QĐ-BHXH ngày 11/10/2017 ban hành quy định về tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, viên chức quản lý thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2017
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2018), Quyết định số 889/QĐ-BHXH ngày 16/07/2018 về việc ban hành quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc trong hệ thống của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 889/QĐ-BHXH ngày 16/07/2018 về việc ban hành quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc trong hệ thống của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2018
6. Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết số 21 ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Công tác BHYT, BHXH giai đoạn 2012-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 21 ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Công tác BHYT, BHXH giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
7. Ngô Thành Can (2010), “Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, Quản lý nhà nước, số 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, "Quản lý nhà nước
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2010
8. Ngô Thành Can (2012), “Công chức và chất lượng thực thi công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí tổ chức nhà nước, số 11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và chất lượng thực thi công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”, "Tạp chí tổ chức nhà nước
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2012
9. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
10. Chính phủ (2016), Nghị định số 01/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 01/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
11. Phan Trung Dũng (2017), Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên,Luận văn thạc sĩ quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Tác giả: Phan Trung Dũng
Năm: 2017
12. Đinh Thị Hà (2016), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bối dưỡng cán bộ”, Tạp chí cộng sản điện tử, (số ngày 7/6/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bối dưỡng cán bộ”, "Tạp chí cộng sản điện tử
Tác giả: Đinh Thị Hà
Năm: 2016
13. Nguyễn Thị Hồng Hải (2011), “Một số vấn đề phát triển năng lực của cán bộ, công chức”, Tổ chức nhà nước, số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển năng lực của cán bộ, công chức”, "Tổ chức nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hải
Năm: 2011
14. Phạm Thị Quỳnh Hoa (2018), “Các yếu tố tác động tới phát triển năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức”, Tạp chí điện tử tổ chức nhà nước, ngày 26/10/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động tới phát triển năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức”, "Tạp chí điện tử tổ chức nhà nước
Tác giả: Phạm Thị Quỳnh Hoa
Năm: 2018
15. Học viện hành chính quốc gia (2009), Giáo trình quản lý nguồn nhân lực khu vực công, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nguồn nhân lực khu vực công
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Học viện hành chính – Viện nghiên cứu khoa học hành chính (2002), Thuật ngữ hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ hành chính
Tác giả: Học viện hành chính – Viện nghiên cứu khoa học hành chính
Năm: 2002
17. Trần Thị Liên Hương (2012), Biện pháp quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ viên chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Luận văn thạc sĩ quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ viên chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Liên Hương
Năm: 2012
18. Bùi Huy Khiên, Nguyễn Thị Vân Hương (2013), Quản lý công, Nxb. Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công
Tác giả: Bùi Huy Khiên, Nguyễn Thị Vân Hương
Nhà XB: Nxb. Chính trị
Năm: 2013
19. Nguyễn Thị La (2015), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính”, Tạp chí cộng sản điện tử, (số ngày 4/9/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính”, "Tạp chí cộng sản điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị La
Năm: 2015
20. Lê Thị Ngọc Loan (2017), Đào tạo, bồi dưỡng viên chức ngành Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, Luận văn thạc sĩ quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng viên chức ngành Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk
Tác giả: Lê Thị Ngọc Loan
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w