1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề: CÁCH LÀM BÀI CẢM THỤ VĂN HỌC DẠNG SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

14 287 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 149,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: LÝ DO VIẾT CHUYÊN ĐỀ Văn học là một môn học mang tính nghệ thuật cao. Nó như một tấm gương phản ánh cuộc sống của con người nhưng đồng thời lại phục vụ cho cuộc sống. Đối với môn ngữ văn THCS thì mỗi tác phẩm văn học đều mang những giá trị của cái hay, đẹp, ấn tượng… mà ta có thể cảm nhận được rồi vận dụng vào cuộc sống thêm phần phong phú. Ta biết vui, buồn, hy vọng, mơ ước… Ta biết đấu tranh với cái ác, cái xấu xa, bất công để đem đến sự công bằng, lẽ phải cho cuộc sống. Vì vậy cảm thụ văn học ra đời cũng xuất phát từ những suy nghĩ ấy.

Trang 1

CÁCH LÀM BÀI CẢM THỤ VĂN HỌC DẠNG SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

PHẦN I: LÝ DO VIẾT CHUYÊN ĐỀ

Văn học là một môn học mang tính nghệ thuật cao Nó như một tấm gương phản ánh

cuộc sống của con người nhưng đồng thời lại phục vụ cho cuộc sống Đối với môn ngữ văn THCS thì mỗi tác phẩm văn học đều mang những giá trị của cái hay, đẹp, ấn tượng… mà

ta có thể cảm nhận được rồi vận dụng vào cuộc sống thêm phần phong phú Ta biết vui, buồn, hy vọng, mơ ước… Ta biết đấu tranh với cái ác, cái xấu xa, bất công để đem đến sự công bằng, lẽ phải cho cuộc sống Vì vậy cảm thụ văn học ra đời cũng xuất phát từ những suy nghĩ ấy

Viết đoạn văn cảm thụ dạng so sánh đối chiếu là một dạng cảm thụ hay, quan trọng mà các em thường gặp trong các dạng bài tập thi và kiểm tra cấp THCS Hay và quan trọng bởi tính đa dạng phong phú đề tài mang yếu tố xuyên suốt qua các bài học, khối lớp mà các

em thường học, tìm hiểu qua các tác phẩm văn học Ngoài ra nó còn là cơ sở, hành trang kiến thức cho các em sau này học lên cấp THPT để cảm thụ những tác phẩm cao hơn

Để định hướng, chỉ ra các dạng, cách làm bài, dạng bài…viết đoạn văn cảm thụ văn

học dạng so sánh đối chiếu nên tổ văn trường THCS xây dựng chuyên đề: Cách làm bài cảm thụ văn học dạng so sánh đối chiếu để phần nào giúp các thầy cô định hướng xây

dựng cho học sinh phát hiện, chỉ ra, phân tích, cảm nhận cái hay của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh đối chiếu Đồng thời giúp các em học sinh cảm nhận tốt hơn về một kiểu làm bài thú vị này

PHẦN II: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

A PHẦN LÝ THUYẾT:

Cảm thụ văn học có rất nhiều dạng, phong phú thể loại, đối tượng, hình ảnh…như:

So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học So sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn So sánh hai nhân vật So sánh cách kết thúc hai tác phẩm So sánh hai tình huống truyện So sánh phong cách hai tác giả So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm…thậm chi so sánh hai hình thức nghệ thuật thông qua một tác phẩm Ví dụ: Hình ảnh Bác Hồ

được xây dựng bằng ngôn ngữ thơ trong bài thơ: “ Đêm nay Bác không ngủ ” của Minh

Huệ với hình ảnh Bác Hồ bằng nghệ thuật điêu khắc trong bức phù điêu bằng nhôm của Hà

Trí Dũng ( SGK Ngữ văn 6 tập II Tr 64 ) hay truyện ngắn “ Lão Hạc ” của Nam Cao với tác phẩm điện ảnh “ Làng Vũ Đại ngày ấy ”, hoặc bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ, viếng lăng

Bác ” được phổ nhạc thành bài hát…Mỗi hình thức nghệ thuật đều có cái hay sự sâu sắc ấn

tượng riêng rất khó so sánh đối chiếu xem cái nào hay hơn cái nào Để cảm thụ cái hay, cái đẹp thông qua biện pháp tu từ vốn rất phong phú đa dạng thì lại càng phức tạp Muốn thế phải nắm rõ trọng tâm yêu cầu của đề bài Nhận thấy phạm vi quá rộng của chuyên đề cảm thụ văn học dạng so sánh đối chiếu nên tập thể giáo viên Ngữ văn tổ KHXH Trường THCS Việt Đoàn xây dựng chuyên đề Bồi dưỡng HSG tập trung vào hai nội dung:

a Phần lý thuyết: Khái niệm, phương pháp, hình thức, cách làm bài…

Trang 2

b Phần thực hành: Các dạng bài tập trọng tâm, định hướng gợi ý trả lời

1 Khái niệm thế nào là cảm thụ văn học:

- Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp

đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (trong cuốn truyện, bài văn, bài thơ,…) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ,…) thậm chí là một từ

2 Khái niệm về so sánh đối chiếu

- So sánh: Là biện pháp tu từ nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay

nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn

Hay như SGK Ngữ văn 6 trang 24 tập II nêu rõ: “ So sánh là đối chiếu sự vật này với sự

vật khác có nét tương đồng…”

- Đối chiếu: Là so sánh cái này với cái kia để tìm đến từ những chỗ giống và khác

nhau để từ đó cảm thụ, phân tích cái hay cái đẹp của đoạn văn đoạn thơ

3 Mục đích, tác dụng:

- Khi đọc (hoặc nghe) một câu chuyện, một bài thơ, ta không những hiểu mà còn phải gây được cảm xúc, tưởng tượng để ta cảm thụ tốt hơn

- Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần có sự say mê, hững thú khi tiếp xúc với thơ văn, chịu khó tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học, nắm vững kiến thức

- Đối với kiểu bài này, người làm bài phải biết phân tích các đối tượng trong thế so sánh để tìm ra những chỗ giống nhau, khác nhau, của tác phẩm, tác giả… từ đó hiểu rõ hơn về cái hay, cái đẹp của các tác phẩm, nét độc đáo trong phong cách của mỗi tác giả Khôngdừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhâncủa

sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học

4 Hình thức trình bày:

Thông thường với dạng cảm thụ văn học phân tích biện pháp tu từ có nhiều cách trình bày Có hai cách trình bày mà giáo viên hay định hướng cho học sinh là:

- Dạng 1: Trình bày dưới dạng bài văn ngắn có bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, Kết

bài

- Dạng 2: Trình bày theo đoạn văn có bố cục 3 phần: Câu mở đoạn, thân đoạn văn

và câu kết đoạn văn

5 Cách viết một đoạn văn cảm thụ văn học dạng so sánh đối chiếu.

a Yêu cầu các bước: Phần này giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện ra giấy nháp

hoặc tập thói quen ban đầu lập ý, phân tích đề bài Có 4 bước như sau:

Bước 1:

- Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập, gạch chân những từ ngữ, cụm từ, hình ảnh… quan trọng (phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì?

Bước 2:

- Đọc và tìm hiểu về câu thơ (câu văn) hay đoạn trích được nêu trong bài ( Dựa vào yêu cầu cụ thể của bài tập để tìm hiểu )

Trang 3

Ví dụ: Cách dùng từ đặt câu; cách dùng hình ảnh, chi tiết, ngắt nhịp, thể loại…; cách

sử dụng biện pháp nghệ thuật, hình ảnh so sánh, kiểu so sánh đã giúp em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa gì đẹp đẽ, sâu sắc)

Bước 3:

- Viết đoạn văn cảm thụ văn học tùy theo yêu cầu và nội dung của đề bài mà viết dài hay ngắn ( Thậm chí viết đoạn văn hoặc bài văn ngắn…)

- Nêu những suy nghĩ, cảm xúc của em và rút ra bài học (nếu có) khi đọc đoạn văn, đoạn thơ đó

Bước 4:

- Kiểm tra, sửa chữa bài viết xem đã làm đúng trọng tâm yêu cầu của bài tập chưa ?

b Cách trình bày:

Ta có thể trình bày đoạn văn cảm thụ văn dạng so sánh đối chiếu theo 2 cách sau:

Cách 1: Kết hợp những điểm giống và khác nhau khi so sánh đối chiếu

- Ta mở đầu bằng một câu khái quát ( nêu ý chính của một đoạn thơ, đoạn văn ) và bắt vào yêu cầu của đề ( Gián tiếp )

- Ta mở đầu bằng cách trả lời thẳng vào câu hỏi chính ( Trực tiếp )

- Những câu tiếp theo là những câu diễn giải nhằm làm sáng tỏ ý mà câu khái quát (câu mở đoạn) đã nêu ra Trong quá trình diễn giải, ta kết hợp nêu các tín hiệu, các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng để tạo nên cái hay, cái đẹp của đoạn thơ (đoạn văn)

- Sau đó diễn giải cái hay, cái đẹp về nội dung

- Cuối cùng kết thúc là một câu khái quát, tóm lại những điều đã diễn giải ở trên

Ví dụ

Đề bài 1

Trong bài thơ “ Bài ca Côn Sơn ” Nguyễn Trãi viết:

“ Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”

Sau này, trong bài thơ “ Cảnh khuya ” Hồ Chí Minh viết:

“ Tiếng suối trong như tiếng hát xa ”

Em hãy phân tích cái hay của hai nhà thơ lớn trong việc sử dụng hình ảnh so sánh trên

Gợi ý cách làm:

- Định hướng: So sánh tiếng suối của hai nhà thơ, trong hai bài thơ

- Yêu cầu: Thấy được cái hay của việc miêu tả tiếng suối

Cách làm 1:

Cái hay và cái tài của hai nhà thơ lớn Nguyễn Trãi trong “ Bài ca Côn Sơn ” và Hồ

Chi Minh trong bài thơ “ Cảnh khuya ” đã đồng điệu với nhau về cách cảm nhận tiếng

suối thông qua biện pháp tu từ so sánh Cả hai tiếng suối được nhắc đến và ví von thật hay

và mang đầy những nét nghệ thuật Trước hết ta thấy được sự tương đồng của hai nhà thơ

khi miêu tả tiếng suối Nhà thơ Nguyễn Trãi trong “ Bài ca Côn Sơn ” viết: “Côn Sơn suối

chảy rì rầm - Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.” Tiếng suối chảy rì rầm như tiếng đàn

cầm du dương êm dịu Trong Côn Sơn âm thanh tiếng suối rì rầm hay hơn khi ví với tiếng đàn cầm Có thể nói âm thanh của tiếng suối chính là khúc ca của Côn Sơn Còn Bác hồ

Trang 4

kính yêu của chúng ta trong bài thơ “ Cảnh khuya ” thì lại cảm nhận: “ Tiếng suối trong

như tiếng hát xa Tiếng suối kia được nhân hóa như tiếng hát của người con gái nào đó

đang hát ở đằng xa Người con gái ấy có giọng hát cao trong vút, tiếng suối làm cho êm dịu lòng người nơi đây Bác đã sử dụng biện pháp so sánh để thấy âm thanh hay của tiếng suối Bác không đơn thuần tả dòng suối với tiếng kêu róc rách Điều đó cho thấy con người trở thành thước đo của cái hay cái đẹp đặc biệt là hình ảnh người con gái Tiếng hát ấy từ

xa vọng lại như thì thầm mời gọi, nỉ non trong chốn rừng sâu này Như thế qua đây ta thấy được hai nhà thơ hai cách ví von đã đem lại sự phong phú cho việc diễn tả âm thanh của tiếng suối Cùng một tiếng suối mà có hai cách ví von, miêu tả khác nhau Chính vì thế mà

âm thanh tiếng suối thật sự được nhân hóa như những khúc hát của thiên nhiên ban tặng Phải yêu thiên nhiên, lắng nghe thiên nhiên thì cả hai nhà thơ mới có sự cảm nhận tiếng suối hay như vậy

Cách 2: Phân tích song song được so sánh trên mọi bình diện của hai đối tượng.

- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh

- Điểm giống nhau: lấy dẫn chứng cả hai văn bản

- Điểmkhác nhau: lấy dẫn chứng cả hai văn bản

- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu

- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân

Hai cách làm bài so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể mà

ta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp Cũng có khi vận dụng đầy

đủ các ý của phần thân bài, cũng có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụng ý của người viết So sánh là một phương pháp được hình thành trên

cơ sở đối chiếu những điểm giống và khác nhau giữa đối tượng này với đối tượng khác để tìm ra bản chất của chúng

Ví dụ : Đề bài : Trong bài thơ “ Bài ca Côn Sơn ” Nguyễn Trãi viết:

“ Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”

Sau này, trong bài thơ “ Cảnh khuya ” Hồ Chí Minh viết:

“ Tiếng suối trong như tiếng hát xa ”

Cảm nhận điểm giống và khác nhau của những câu thơ trên ?

Cách làm 2:

- Trọng tâm yêu cầu: Chỉ ra được điểm giống nhau và khác nhau của hai nhà thơ khi miêu tả tiếng suối

Nhờ biện pháp tu từ so sánh khi miêu tả tiếng suối mà hai nhà thơ Nguyễn Trãi và

Hồ Chí Minh đã đồng điệu tâm hồn trước thiên nhiên Sự giống nhau và khác nhau thể hiện rất rõ

Giống nhau:

+ Vẻ đẹp của non sông Việt Nam qua hai thi phẩm

+ Hai tâm hồn thi sĩ có nét tương đồng: giao cảm, hòa nhập với thiên nhiên

Trang 5

+ Hai tác giả sử dụng biện pháp so sánh để miêu tả tiếng suối như một giai điệu du dương trầm bổng

+ Tiếng suối không chỉ là lời thơ mà còn là lời âm nhạc

- Khác nhau :

“ Bài ca Côn Sơn ” Trong câu thơ của Nguyễn Trãi tiếng suối được so sánh với

tiếng đàn cầm gợi cho người đọc hình dung tiếng suối chảy du dương như đang đánh đàn, song bức tranh ở đây hiện lên còn thiếu vắng con người

+ Nguyễn Trãi nghe tiếng suối ở Côn Sơn (một thanh âm tự nhiên) gợi nhớ tiếng đàn cầm Nguyễn Trãi là một ẩn sĩ

+ Còn trong bài “ Cảnh khuya ” của Hồ Chí Minh tiếng suối đuọc so sánh với tiếng

" hát xa" gợi cho người đọc hình dung tiếng suối chảy du dương, déo dắt như tiếng hát trong trẻo của người con gái từ xa vọng lại Việc so sánh tiếng suối như tiếng hát của người con gái đã làm cho bức tranh ở đây không chỉ đẹp, sống động mà còn ấm áp tình người Bác Hồ nghe tiếng suối ở chiến khu (căn cứ địa kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc), nghĩ đến những con người đang chiến đấu cho Tổ quốc Bác không phải là một ẩn sĩ

-> Sự khác nhau trong miêu tả cảnh thiên nhiên còn được quy định bởi đặc trưng thi

pháp Thơ ca trung đại dùng bút pháp ước lệ, tượng trưng Thiên nhiên là hình tượng trung tâm của cuộc sống Thơ Bác vẫn mang vẻ đẹp cổ điển nhưng con người mới là hình tượng trung tâm của bức tranh thiên nhiên

6 Một số hình thức so sánh đối chiếu không thông qua biện pháp tu từ:

Phần này chúng tôi đưa ra mang tính chủ quan vì một số dạng so sánh thông qua câu

hỏi đơn giản Mục đích giúp học sinh củng cố kiến thức và bước đầu định hướng so sánh đối chiếu, cảm nhận, đánh giá

a So sánh làm rõ chi tiết hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

Văn bản có thể giống nhau hoặc khác nhau về hoàn cảnh sáng tác So sánh sẽ làm cho học sinh dễ nhớ hơn là tách biệt từng văn bản

Ví dụ 1: Hai bài thơ: “ Cảnh khuya ” và “ Rằm tháng giêng ” của Hồ Chí Minh có

điểm gì giống và khác nhau về hoàn cảnh sáng tác?

Định hướng so sánh:

- Giống nhau: Đều ra đời trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp lần II, những đêm ở chiến khu Việt Bắc

- Khác nhau:

+ Cảnh khuya : 1947

+ Rằm tháng giêng: 1948 (đặc biệt ghi nhớ hoàn cảnh sau chiến thắng Việt Bắc ) -> Nhờ có phép so sánh này, hoàn cảnh sáng tác của mỗi văn bản được đối chiếu nhau

đã thấy được hoàn cảnh năm 1947 trước chiến dịch Việt Bắc của ta vẫn còn nhiều khó khăn, tương quan giữa ta và địch còn rất bấp bênh Mọi người đều rất lo lắng cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến, nhất là những người chèo lái con thuyền cách mạng, đứng đầu là

Hồ Chủ Tịch (tác giả) Chính vì thế ở bài “ Cảnh khuya ” - “ lo lắng ” vẫn là một nét tâm trạng của nhân vật trữ tình và cũng là âm hưởng bao trùm toàn bài Năm 1948 sau chiến dịch diễn biến kháng chiến đã có lợi cho ta, bài “ Rằm tháng giêng ” đã mang một âm

Trang 6

hưởng khác: nhân vật trữ tình hiện lên trong tư thế ung dung, chủ động, lạc quan và tin tưởng Giọng thơ hào hùng có niềm vui phơi phới

Ví dụ 2: Đều viết về tình cảm quê hương nhưng hoàn cảnh ra đời của hai văn bản “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ” của Hạ Tri Chương với hoàn cảnh ra đời của bài

“ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ” của Lí Bạch có gì đáng chú ý ?

Định hướng so sánh:

- Khác nhau: Bài “ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ” của Lí Bạch được viết khi xa quê, trong tâm trạng nhớ quê khắc khoải Còn bài “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ” của Hạ Tri Chương viết khi về thăm quê trong một hoàn cảnh ngậm ngùi, chua xót

b So sánh về thể loại: Mục đích là giúp học sinh nhận diện

- So sánh cùng thể loại:

Ví dụ : Bài thơ: “ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ” của Lí Bạch, về thể loại em

thấy giống văn bản nào đã học? Đó là thể loại gì?

Định hướng trả lời:

Bài thơ “ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ” của Lí Bạch,về thể loại rất giống với

bài thơ “ Phò giá về kinh ” của Trần Quang Khải, Đều là thể ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật

- So sánh khác thể loại :

Ví dụ : So sánh thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Định hướng:

+Giống nhau: Đều là Đường luật (vần, số chữ trong mỗi câu 7 chữ)

+ Khác nhau: Số câu (8 câu và 4 câu)

- So sánh đặc trưng về mặt thi pháp của thể loại: Ví dụ: Những đặc trưng giống và

khác nhau giữa tuỳ bút với thơ, truyện ?

Tùy bút:

+ Giống thơ ở chỗ chủ yếu biểu hiện cảm xúc của cái tôi trữ tình

+ Khác truyện ở chỗ không có cốt truyện

c So sánh cụm từ trong văn bản:

Ví dụ : Bài thơ: “ Qua đèo Ngang ” của Bà Huyện Thanh Quan cuối bài có cụm từ “

Ta với ta ” Còn ở hai bài “Bạn đến chơi nhà ” của Nguyễn Khuyến cũng có cụm từ “ Ta với ta ” em hãy so sánh ?

Câu hỏi này Học sinh sẽ dễ trả lời

d So sánh hai hình thức truyền đạt:

Ví dụ : Văn bản “ Mẹ tôi ” của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi tại sao bố không nói trực tiếp

với En-ri-cô mà lại viết thư? Hai cách nói ấy có gì khác nhau?

Định hướng:

Viết thư vừa thể hiện những tình cảm sâu kín, vừa giữ được sự kín đáo, giảm bớt cảm giác xấu hổ cho người mắc lỗi, đó là cách ứng xử tế nhị trong giao tiếp

e So sánh phong cách của tác giả qua hai tác phẩm:

Trang 7

Ví dụ 1: So sánh hai văn bản “ Qua đèo ngang ” và bài “ Chiều hôm nhớ nhà” của bà

Huyện Thanh Quan để rút ra những phong cách của tác giả

Định hướng: Những đặc điểm chính về phong cách thơ của bà Huyện Thanh Quan:

- Ngôn ngữ thơ trau chuốt, trang nhã, chuẩn mực,

- Ngoại cảnh thường vào buổi chiều tà, buồn vắng lặng

- Nhân vật trữ tình luôn ở trạng thái cô đơn, hoài niệm hướng nội

Ví dụ 2: So sánh tác dụng của những yếu tố thần kì trong các truyện cổ tích ( ngữ văn

6) để rút ra vai trò của nó trong truyện?

Định hướng: Yếu tố thần kì trong các truyện cổ tích thường chỉ xuất hện để trợ giúp các nhân vật bất hạnh, nhân vật “ đàn em ” mỗi khi nhân vật này gặp hoàn cảnh khó khăn Chính vì thế nó là cơ sở để trí tuệ dân gian thể hiện khát vọng chiến thắng giữa cái thiện và cái ác, thực hiện tư tưởng “ Ở hiền gặp lành ”

7 Một số chú ý khi sử dụng phương pháp so sánh

- Trước hết giáo viên cần phải nắm chắc kiến thức để có thể vận dụng phương pháp

so sánh một cách chính xác

- Linh hoạt thực sự hữu dụng tránh đưa ra tình huống so sánh khập khiễng, không rút ra được bản chất của hiện tượng, hoặc không nhằm vào những vấn đề cơ bản trọng tâm

- Tình huống so sánh phải kích thích được tư duy của học sinh Nhưng cũng cần chú

ý đến tính vừa sức, tránh khó quá

- Với những câu hỏi khó giáo viên có thẻ gợi dẫn bằng những câu hỏi nhỏ, chi tiết hơn

B PHẦN BÀI TẬP:

Bài tập 1: Trong bài “ Thuật hứng ” Nguyễn Trãi viết:

“ Đêm trăng hớp nguyệt nghiêng chén ”

Còn trong bài thơ “ Nhớ rừng ” của Thế Lữ viết:

“ Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ”

Cảm nhận điểm giống nhau và khác nhau của các câu thơ trên?

Gợi ý:

- Học sinh phải chỉ ra được phép so sánh đối chiếu để tìm ra được sự giống nhau và khác nhau của hai ví dụ trên

a Điểm giống nhau:

- Đều miêu tả khung cảnh thiên nhiên đêm trăng rất sáng rất huyền ảo khiến cho nhân vật trữ tình đều có cảm giác như đang uống ánh trăng

- Nhân vật trữ tình đều có cách thưởng nguyệt độc đáo

- Nhân vật trữ tình đều khao khát được hòa quện giao cảm với ánh trăng

b Điểm khác nhau:

- “ Đêm trăng hớp nguyệt nghiêng chén “”

+ Câu thơ sử dụng thi pháp cổ

+ Câu thơ thể hiện một sự liên tưởng thú vị, độc đáo

Đây là một cách thưởng nguyệt độc đáo của các bậc tao nhân mặc khác xưa Khi ngắm trăng, để có thể cảm hết được vẻ đẹp của trăng thì phải có rượu và hoa Dưới ánh

Trang 8

trăng đẹp vừa uống rượu vừa ngắm hoa, ngắm trăng để tâm hồn mình hòa với thiên nhiên thơ mộng hữu tình Vì thế Nguyễn Trãi uống rượu như uống cả ánh trăng vào lòng Qua đó thấy được Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên tha thiết

- “ Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ”

+ Câu thơ sử dụng tu từ ẩn dụ: đêm vàng Đó là đêm tự do vô ngần trong hoài niệm

nhớ thương Đêm của những ảo mộng quý giá như vàng

+ Câu hỏi tu từ được sử dụng: Nào đâu… trăng tan? Bộc lộ những cảm xúc nuối tiếc

da diết khôn nguôi dĩ vãng một thời vàng son oanh liệt

+ Cảnh hiện lên trong hồi tưởng, hoài niệm mà lung linh sống động như thực vì nó được hồi tưởng trong luyến tiếc, nhớ thương khao khát Biết bao lần vị chúa tể của rừng

xanh say mồi đứng uống ánh trăng tan Hổ say mồi chỉ bản năng mãnh thú nhưng hổ còn đắm say vì đêm vàng khi uống nước suối đại ngàn đầy ánh trăng Hổ say mồi thì ít mà rung

động trước cảnh đẹp thiên nhiên thì nhiều Hổ hiện lên như một thi sĩ

Bài tập 2: Em đã học bài: “ Khi con tu hú ” của Tố Hữu ( Ngữ văn 8 – Tập 2 ) Hãy

viết một câu văn có bốn chữ đầu là “ Khi con tu hú ” để tóm tắt khái quát nội dung bài thơ.

Mở đầu và kết thúc bài thơ đều có tiếng tu hú kêu, nhưng tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú thể hiện ở đoạn thơ đầu và đoạn thơ cuối lại rất khác nhau Vì sao?

Gợi ý:

- Khi con tu hú gọi bầy cũng là lúc mùa hè đến, người tù cách mạng càng thấy

phòng giam trở nên ngột ngạt hơn nên càng khao khát cuộc sống tự do ở bên ngoài

- Tâm trạng của người tù khi nghe tiếng tu hú thể hiện ở đoạn đầu và đoạn cuối cuối bài thơ rất khác nhau:

+ Ở câu đầu: Tiếng tu hú gợi ra cảnh tượng trời đất bao la, tưng bừng sự sống lúc vào hè nên tâm trạng người tù lúc này là sự say mê, yêu cuộc sống, thiết tha với cuộc sống

tự do

+ Ở câu cuối: Tiếng tu hú gợi cảm xúc khác hẳn, tiếng chim ấy lại khiến cho người chiến sỹ bị giam cầm cảm thấy hết sức ngột ngạt bức bối

-> Có sự khác nhau như vậy bởi vì hai tâm trạng được khơi từ hai không gian khác nhau: Tự do và mất tự do.

Bài tập 3: Trong bài “ Sang thu ” Hữu Thỉnh viết:

“ Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu ”

Còn trong bài chiều sông Thương” hữu Thỉnh viết:

“ Đám mây trên Việt Yên

Rủ bóng về Bố Hạ ”

Hãy viết một đoạn văn Tổng phân hợp khoảng 9 đến 11 câu chỉ ra điểm tương đồng, gần gũi giữa những hình ảnh thơ trên

Gợi ý:

a Giống nhau về cảm xúc:

- Cùng viết về hình ảnh đám mây xuất hiện lúc thu sang

Trang 9

- Giống nhau về trạng thái các hình ảnh sự vật: Đám mây đang chuyển biến, đang hoạt động

- Giống nhau về trạng thái cảm xúc: Tâm trạng bâng khuâng rung động nhẹ nhàng, tinh tế của nhà thơ trước thiên nhiên

- Giống nhau vì cùng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa đám mây:

+ Đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu

+ Đám mây trên Việt Yên rủ bóng về Bố Hạ

b Sự khác nhau:

- Ở bài : Sang thu khoảnh khắc giao mùa diễn đạt tinh tế qua hình ảnh thơ đẹp và

độc đáo

- Bằng cách sử dụng nghệ thuật nhân hóa qua hình ảnh: đám mây mây mùa hạ vắt

nửa mình sang thu Nhà thơ khắc họa rõ nét thời điểm giao mùa từ hạ sang thu.

- Đám mây như một dải lụa vắt ngang bầu trời nửa đang còn là mùa hạ và nửa đang nghiêng về mùa thu Hạ chưa qua mà thu đã tới Cái hay từ hình ảnh cũng xuất phát từ ý tưởng độc đáo rất riêng của thơ Hữu Thỉnh

- Ở bài: Chiều sông Thương thì cảnh mùa thu đẹp bên sông thương.

- Cũng bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa hình ảnh : Đám mây trên Việt Yên - Rủ

bóng về Bố Hạ nhà thơ khắc họa bức tranh mùa thu thật ấn tượng Con sông Thương uốn

quanh một đầu nhớ về Bố Hạ và một đầu ngóng về Việt Yên Cả Việt Yên và Bố Hạ đều thuộc tỉnh Bắc Giang nhưng hai huyện cách xa nhau bởi con sông Thương

- Hình ảnh đám mây một nửa ở vùng này, một nửa ở vùng kia dường như cũng mang nặng tâm trạng lưu luyến nuối tiếc

-> Vẫn là hình ảnh đám mây nhưng được Hữu Thỉnh cảm nhận thật độc đáo và sáng

tạo Phải là người yêu thiên nhiên có tâm hồn rất tinh tế và nhạy cảm mới có những vần thơ hay như vậy.

Bài tập 4 : Kết thúc bài thơ: “ Mẹ Tơm ” nhà thơ Tố Hữu có viết:

“ Sống trong cát chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời ”

Và kết thúc bài thơ: “ Tiểu đội xe không kính ”, Phạm Tiến duật viêt:

“ Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim ”

Cảm nhận điểm giống và khác nhau trong cách sử dụng hình ảnh: “ trái tim ” trong

các câu thơ trên

Gợi ý trả lời:

a Điểm giống nhau:

- Hình ảnh trái tim đều sử dụng tu từ Hoán dụ

- Đều có ý ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người

b Điểm khác nhau

- Hình ảnh trái tim trong bài “ Mẹ Tơm ” làm ta liên tưởng đến những con người có

tâm hồn cao đẹp

Trang 10

+ Suốt cuộc đời mẹ Tơm nuôi dưỡng, che giấu các chiến sĩ cách mạng ( trong đó có nhà thơ Tố Hữu ) Mẹ đã hy sinh cả đời cho cách mạng Chính vì thế mà tâm hồn mẹ luôn sáng như ngọc ( nhất là trong trái tim những người con như Tố Hữu )

-> Hai câu thơ đã ca ngợi mẹ Tơm - người mẹ giàu lòng yêu thương và sẵn sàng hy sinh vì cách mạng

- Hình ảnh trái tim trong bài thơ: “ Tiểu đội xe không kính ”

+ Hình ảnh hoán dụ trái tim chỉ người chiến sỹ lái xe ( lấy bộ phận để gọi toàn thể )

chỉ sự nhiệt tình cứu nước, ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước ( lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng )

+ Trái tim chỉ ý chí của người chiến sĩ lái xe vượt qua mọi khó khăn gian khổ

+ Trái tim còn thể hiện sức mạnh của con người chiến thắng bom đạn, lái xe bằng cả trái tim

-> Ẩn sâu trong hình ảnh trái tim của người lái xe câu thơ như hướng người đọc về

chân lý thời đại chúng ta: Sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người Con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, kiên cường, dũng cảm lạc quan vững trắc.

Bài tập 5 : Hãy so sánh bức họa mùa xuân qua ngòi bút đặc sắc của các thi nhân

trong những câu thơ sau:

1 Phương thảo liên thiên bích

Lê chi sổ điểm hoa

( Cỏ thơm liền với trời xanh Trên cành lê có mấy bông hoa )

- Thơ cổ Trung Quốc –

2 Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

“ Cảnh ngày xuân ” trích “ Truyện Kiều ” – Nguyễn Du

Gợi ý:

a Giống nhau:

- Cả hai bức tranh xuân đều có hình ảnh: cỏ, bầu trời, hoa lê

- Cùng miêu tả cỏ trong không gian bao la bát ngát

- Quan sát tinh tế ngòi bút miêu tả sắc sảo kết hợp hài hòa giữa màu sắc đường nét làm cho ta thấy trong thơ có họa

- Đều thể hiện lòng yêu thiên nhiên tha thiết

b Khác nhau:

- Thơ cổ Trung Quốc:

+ Chú trọng đến mùi thơm của cỏ nên hương vị nhiều hơn màu sắc Cỏ thơm tràn ngập không gian Hương thơm ấy đẫm bầu trời, mặt đất, hồn người

+ Hai câu thơ cổ Trung Quốc nói đến hoa lê nhưng không miêu tả màu sắc

+ Khung cảnh mùa xuân được miêu tả trong trạng thái tĩnh

- Thơ Nguyễn Du:

Ngày đăng: 23/04/2021, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w