1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG NAM BỘ

27 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động mạnh mẽ trên nhiều phương diện chính trị, kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống của các đơn vị cộng đồng, gia đình và cá thể

Trang 1

BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN

TỘC THIỂU SỐ VÙNG NAM BỘ Nội dung bài thuyết trình

I Khái quát chung

II Sự biến đổi về Văn hóa

III Tổng kết

I KHÁI QUÁT CHUNG:

1 Môi trường tự nhiên:

Chia 2 khu vực chính: Đông nam bộ và Tây nam bộ

Đặc điểm nổi bật:

Đông nam bộ: là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên và đồng

bằng, vùng gò đồi với vùng châu thổ Địa hình thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam

1 Bao gồm các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, BàRịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh

2 Cấu tạo địa chất và thổ nhưỡng: cao nguyên đất đỏ núi lửa( phía nam cao nguyên Trung Bộ) Dải đất xám nằm giáp đồng bằng châu thổ(hạ lưu sông Đồng Nai) Có dải bờ biển và các đảo nhỏ

3 Khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm cao đều trong năm Sông ngòi có trữ lượng nước lớn phụ thuộc vào mùa mưa

Tây nam bộ: gồm các tỉnh Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre,

Đồng Tháp, Vĩnh Long…

1 Chia ra thành nhiều tiểu vùng môi sinh Vd: vùng phù sa không ngập nước, ngập nước, châu thổ sông Cửu Long….và 1 số vùng khác

Trang 2

2 Khí hậu: á xích đạo

3 Thổ nhưỡng: nhiều loại đất: phù sa, phèn, mặn…

4 Sông ngòi nhiều, bị chia cắt

5 Rừng và biển: rừng ngập mặn, hải sản phong phú

2 Phân bố các dân tộc vùng Nam bộ

2.1 Đông Nam Bộ (Gồm cư dân tại chỗ và cư dân từ nơi khác đến)

Cư dân tại chỗ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme, ngữ hệ Nam Đảo: Xtiêng, M’nông, Chơro, Mạ, Chăm, Khơme, Hoa…

Cư dân từ nơi khác đến: Kinh, Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao…

2.2 Tây Nam Bộ chủ yếu là Chăm, Hoa, Khơ me.

Ngoài ra còn 1 số các dân tộc khác từ miền bắc, Tây

Nguyên: Kinh, Tày, Thái, Mường, Êđê

3 Những giá trị văn hóa và sắc thái vùng

Đông Nam bộ mang đặc điểm và giá trị văn hóa của các tộc người Môn-Khơme là chủ yếu

1 Đó là Văn hóa của cư dân bản địa, làm nương rãy ở vùng núi cao phía Nam cao nguyên Trung bộ với trình độ phát triển khác với các tộc người ở miền Tây nam bộ

2 Do vị trí địa lí nên văn hóa các tộc người khu vực miền Đông có mối quan hệ nhiều chiều với văn hóa Việt

Tây nam Bộ mang đặc điểm và giá trị văn hóa Chăm,

Khơme, Hoa

Văn hóa các tộc người thiểu số miền Tây nam bộ bị chi phối bởi các tôn giáo lớn trên thế giới: Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa, Tin lành bản sắc văn hóa người chăm, Khơ me, Hoa tồn tại thích ứng với các nghi lễ, giáo luật của Phật giáo, Hồi giáo…

Trang 3

Văn hóa các tộc người thiểu số vùng Nam bộ là dấu ấn văn hóa của các thế hệ tiền nhân thời sơ sử hàng ngàn năm trước

Đó là dấu tích của các cường quốc thời sơ khai với các nhà nước Phù Nam , Chân lạp đó là bằng chứng về 1 miền đất đã từng có nềnVăn hóa phát triển rất rực rỡ về kinh tế, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng

Văn hóa các tộc người thiểu số vùng Nam bộ là sự phản ánh những giá trị tư duy và hoạt động trong sự thích ứng với môi trường: con người sống trên các cao nguyên, đồng bằng châu

thổ, sông suối, kênh rạch, biển cả trong hệ sinh thái rừng, biển, hệ thực vật, động vật…

4 Những yếu tố văn hóa mới

Trong thời đại ngày nay, văn minh công nghiệp trên phạm vi toàn cầu tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế đất nước ta Nhiều yếu tố vănhóa mới của thời đại, quốc tế, quốc gia từng ngày, từng giờ tác động đến văn hóa dân tộc và văn hóa vùng Năm bộ sự xuất hiện yếu tố

văn hóa mới là 1 xu thế tất yếu trong phát triển.

Tác động mạnh mẽ trên nhiều phương diện chính trị, kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống của các đơn vị cộng đồng, gia đình và cá thể của các dân tộc có sự biến đổi ngày càng sâu sắc: kinh tế , chính trị, hình tháigia đình và cơ cấu gia đình , tập tuc hôn nhân, văn hóa vật thể các dân tộc vùng Nam bộ , ngoại trừ phong cách kiến trúc tôn giáo như chùa Khơme, thánh đường Hồi giáo của người Chăm; đình , chùa, đền… Trang phục, văn hóa ẩm thực phương tiện vận chuyển, văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số: chữ viết, các loại hình nghệ thuật dân gian, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, tri thức dân gian

II SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA:

Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống hòa hợp trên cùng một lãnh thổ.Với những nét truyền thống về văn hóa ,xã hội riêng biệt của từng dân tộc ,vì vậy đã góp phần tạo nên sự đa dạng

Trang 4

về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.Nhưng hiện nay bên cạnh

sự phát triển của đời sống,kinh tế, xã hội và một số nguyên nhân khác thì đã trực tiếp tác động vào một số lĩnh vực văn hóa của các dân tộc khu vực Nam Bộ tạo nên những nét chuyển biến thay đổi rõ rệt giũa những nét truyền thống cổ truyền và hiện đại:

1 NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT:

Ngôn ngữ là một trong các thành tố trong văn hóa phi vật thể của các dân tộc vùng Đông Nam Bộ nói riêng và cả đất nứơc ta nói chung.Không nằm ngoài quy luật vận động tất yếu của các hiện tượng thuộc về bản chất của văn hóa

Hiện nay về vấn đề ngôn ngữ đã có sự thay đổi chuyển biến đối với các dân tộc, ví dụ cụ thể như:

Ở dân tộc Chăm: Nguồn gốc tiếng Chăm là ngôn ngữ của người Chăm ở Đông Nam Á,Trước đây là ngôn ngữ của người

ChămPa ở miền Trung Việt Nam.,đâylà ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia của hệ ngôn ngữ Nam Đảo

Về truyền thống trước đây người dân tộc Chăm trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ của dân tộc mình

Nhưng hiện nay nhờ có quá trình giao lưu của các tộc người trong khu vực trong quá trình cộng cư và quan hệ kinh tế,xã hội đã

có quan hệ qua laị tác động lẫn nhau.Nên ngôn ngữ phổ thông (tiếngviệt) đã dần dần thâm nhập ,len lỏi vào đời sống cộng đồng dân tộc Chăm.Được dân tộc Chăm sử dụng phổ biến song song với ngôn ngữ dân tộc trong cuộc sống thường ngày.Bên cạnh đó thì một bộ phận học sinh.sinh viên ở dân tộc này còn được học một số ngoại ngữ khác như:Tiếng Anh,tiếng Ả Rập và số người dân biết tiếng phổ thông ngày càng tăng

- Ở dân tộc Mạ: Nguồn gốc của ngôn ngữ dân tộc Mạ thuộc hệ Nam Á,nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me

Trước đây do ít được tiếp xúc với người Kinh,.mà dân tộc

Mạ lại cư trú ở khu vực đóng kín vì vậy nên những người Mạ rất ít biết tiếng phổ thông,nhất là đối với nữ giới và lứa tuổi từ 60 trở lên

Trang 5

Hiện nay sau khi trải qua hai cuộc kháng chiến Pháp –Mỹ,vì quê hương của người Mạ phần lớn là vùng căn cứ địa cách mạng ,một số khác là vùng tạm chiếm nên việc tiếp xúc với người Kinh diễn

ra được thường xuyên hơn,ngày càng được mở rộng và trở thành nhu cầu trong cuộc sống

Đến nay thì đa số người Mạ đã biết tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ Qua hơn 20 năm sau giải phóng người Mạ đã biết sử dụng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ một cách thuần thục hơn trước,nhất là giới trẻ

CHỮ VIẾT:

Cũng như về ngôn ngữ,chữ viết cũng là một trong các thành tố thuộc về lĩnh vực văn hóa phi vật thể có sự chuyển biến một cách rõ rệt.được biểu hiện cụ thể ở một số các dân tộc như:

Thứ nhất được thể hiện ở dân tộc Chăm:về nguồn gốc và

truyền thống thì dân tộc Chăm có chữ viết riêng,chữ viết chăm được

sử dụng để viết tiếng chăm,bộ chữ cái của dân tộc chăm bắt nguồn

từ chữ Phạn thuộc hệ Bhrami,chữ Chăm ghi lại âm tiết ( có chữ cái chỉ nguyên âm,nhưng các chữ cái ghi lại phụ âm có nguyên âm đi kèm luôn trong đó),chữ này thi viết hàng ngang ,từ bên trái sang bên phải

Cộng đồng của người Chăm ngày nay có hai nhóm cách biệt nhau:Người tây chăm ở Campuchia và người Đông chăm ở Việt Nam.chữ viết ở 2 nơi này thì cách xa nhau:

- Người tây chăm phần lớn theo đạo Hồi và ngày nay ưa chuộng dùng chữ Ả Rập

- Người Đông chăm ở Việt Nam theo đạo Hin Đu thì vẫn sử dụng chữ viết riêng của họ

Trước đây chữ viết chăm bị hạn chế vì vậy nên nhiều người trong dân tộc không biết đến.Nhưng nay do các chính sách của Đảng

và nhà nước thì chữ viết chăm đã được phổ biến rộng rãi hơn, và đã được trực tiếp đưa vào giảng dạy ở các trường của địa phương Thứ hai được thể hiện rõ qua dân tộc Hoa: Về nguồn gốc: Dântộc Hoa có nguồn gốc từ Trung Quốc nên chữ viết riêng gọi là chữ

Trang 6

Hán.Ngoài ra chữ Hán còn được gọi là chữ nho, chữ Trung Quốc.Là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc.CHỮ Hán có nguồn gốc bản địa sau đó du nhập vào các nước lân cận như: Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.

Hiện nay dân tộc Hoa vẫn duy trì và bảo tồng được chữ viết của dân tộc mình.hiện tại thì chữ viết của người Hoa đã được đưa vào giảng dạy trong các trường học

Thứ 3 là ở dân tộc Khơ me:Chữ viết cả người khơ me thuộc ngữ hệ Nôm-Khơ me,theo như trên bia đá có lưu lại thì chữ người khơ me có từ thập kỷ đầu sau công nguyên và dần dần được cải tiến thành chữ khơ me hoàn thiện như ngày hôm nay.Nhưng qua thực tế cho thấy rằng,đồng bào người dân khơ-me ,hiện có nhiều người chỉ nghe được tiếng nói mà không đọc được chữ viết của dân tộc mình ,bên cạnh đó số người biết chữ còn rất ít,chủ yếu là những người từng tu học trong chùa còn lại đa phần không biết chữ.trước tình hình đó Đảng và nhà nước ta đã đưa ra chính sách nhằm bảo tồn và phát huy chữ viết của đồng bào các dân tộc trong đó có dân tộc khơ-me Hiện tại chữ viết của người Khơ- me được áp dụng đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông, nơi có đông đồng bào khơ-

me sinh sống.Từ đó người dân biết viết tăng lên đáng kể

2 LỄ HỘI:

Cũng là một trong những yếu tố của văn hóa phi vật thể.Như ta

đã biết lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính chất cộng đồng:

Lễ là hệ thống những hành vi động tác nhằm biể hiện sự tôn kính của con người với thần linh, qua đó phản ánh ước mơ chính đáng của con người trước cuộ sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện

Hội là sinh hoạt văn hó, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật của cộng đồng Xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống

Hiện nay bên cạnh những biến động của nền kinh tế, văn hóa, xã hội cùng đó là những nguyên nhân về chủ quan và khách quan đã tác động mạnh mẽ đến các yếu tố giá trị truyền thống, bản

Trang 7

sắc văn hóa của các dân tộc.Một số đã làm nên sự thay đổi rõ rệt trong yếu tố văn hóa như lễ hội Nhưng bên cạnh đó thì ta cũng phai

tự hào vế bản sắc văn hóa dân tộc vẫn còn giữ vững những giá trị truyền thống góp phần tạo nên sự đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc

Các dân tộc khu vực Nam Bộ có nhiều các lễ hội vẫn giữ được bản sắc văn hóa không bị biến đổi được thể hiện ở các dân tộc như:

Ở dân tộc Chăm: Thì lễ hội có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với các thế hệ sau,hướng về cội nguồn tâm linh,hướng về nhiều giá trị văn hóa cha ông,thế hệ đi trước ở trong đó.Lễ hôi chăm vô cùng phong phú và đa dạng,bên cạnh đó vẫn giữ nguyên vẹn được bản sắc truyền tống dân tộc cho tới ngày nay như:Lễ hội cầu mưa,lễ hội

mở cửa tháp chăm,lễ hội Raya Phik Trok,lễ hội tháp bà Po Nagar

Ở dân tộc Khơ-me như: Lễ hội:Đôn Ta,Lễ hội đua bò bảy núi,lễ hội Ók Om Bok (lễ cúng trăng)

Dân tộc x’tiêng thi có lễ hội Đâm Trâu, lễ hội cầu mưa…

Trên đây là tiêu biểu cho những lễ hội của các dân tộc đang giữ đươc những nét truyền thống, đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc mình

Những lễ hội cổ truyền, truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc thì nó bao gồm những yêu tố như:

Thứ nhất: Là lễ hội gắn liền với đời sống tâm linh,tôn giáo tìn ngưỡng,nó mang tính thiêng vì vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêngliêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng

Thứ hai: - Lễ hội cổ truyền,truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể hiện tượng bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi ) các cuộc thi tài, vui chơi, giải

Trang 8

trí, ẩm thực, … Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền truyền thống , trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này.

Thứ ba: Chủ thể của lễ hội cổ truyền thống là cộng đồng, Cộngđồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

 Đây là những yếu tố của một lễ hội truyền thống,cổ truyền ở các dân tộc

Ngoài ra bên cạnh những nét bán sắc văn hóa truyền thống mà các dân tộc còn giữ được thì có một số yếu rố đã làm thay đổi ,biến đổi ,cải thiện làm mất đi cái gốc ban đầu.Như:ở lễ hội cúng Thần Lúa(Sayangva ) của dân tộc ChơRo:Lễ hội nay diễn ra vào tháng 3 âm lịch,đây cũng là lễ hội lớn nhất trong năm của dân tộc ChơRo,về truyền thống thì lễ hội này kéo dài trong nhiều ngày đêm ,thu hút các cộng đồng tham gia,họ vui chơi, ca nhảy múa trong không khí náo nhiệt của lễ hội sau nhiều ngày nhọc sức lên nương,làm rẫy,đi rừng săn bắt để lo cho cái ăn ,cái mặc thường ngày

Nhưng hiện nay ở một số nơi người ChơRo vẫn tổ chức lễ hộinày nhưng do tác động nhiều mặt của xã hội nên lễ hội này không còn kéo dài và quy mô như xưa

Ở dân tộc M’nông trong một thời gian dài do nhiều lý do khácnhau nên một số những lễ hội đang ngày càng bị mai một dần trong

đó một số lễ hội đã không được đồng bào tổ chức nữa như:Lễ kết nghĩa, lễ đón khách

NGUYÊN NHÂN:

Sự thay đổi của ngôn ngữ, chữ viết và lễ hội của các dân tộc vùng Nam Bộ là:Sự biến đổi theo hai chiêu hướng :thứ nhất là biến đổi theo chiều hướng tích cực thứ hai là biến đổi theo chiều hướng tiêu cực.với nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

Về nguyên nhân chủ quan:

+ Thì những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng Nam Bộ như:Ngôn ngữ ,chữ viết , và lễ hội ta thấy được đây là

Trang 9

những giá trị văn hóa truyền thống không phải là những giá trị mang tính chất đóng kín,mà nó luân vận động,tiếp biến cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội,chính sách phát triển của nhà Đảng và nhà nước.

+ Nam Bộ là vùng đất có vị trí địa lí thuận lợi trong hoạt động giao thoa văn hóa đối với các khu vưc khác

+ Quan hệ giữa các tộc người trong khu vực và các dân tộc khác càng ngày càng phát triển do các yếu tố tác động như :do nhu cầu hoạt động :kinh tế ,văn hoa,chính trị,xã hội là nguyên nhân tác động đến sự thay đổi các giá trị văn hóa trong đó có ngôn ngữ ,chữ viết và lễ hội

Về nguyên nhân khách quan:

+ Do chính sách của Đảng và nhà nước ta qua các thời kỳ + Do sự phát triển của nền kinh tế, xã hội của đất nước ta.Nên giá trị văn hóa truyền thống cũng thay đổi để phù hợp với nhu cầu của cuộc sống hiện đại

+ Sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ Thời đại của công nghệ thông tin đại chúng là nguyên nhân trực tiếp làm biến đổi

gá trị văn hóa

GIẢI PHÁP:

Các giá trị văn hóa truyền thống: ngôn ngữ, chữ viết và lễ hội thay đổi theo hai hướng tích cực và tiêu cực.Thì có các giải pháp như sau:

Trang 10

+ Không nên áp đặt một khuân khổ bất kỳ nào cho lễ hội mà

để nó phát triển diễn ra theo tự nhiên đúng bản chất của nó

+ Ngoài phần lễ hội ra thì cần mở thêm các hoạt động khác:

ẩm thực, các trò chơi Để tạo nên sự thu hút với du khách tham gia

+ Xây dựng các chương trình lễ hội ở các dân tộc ở phạm vi cấp tỉnh, vùng và quốc gia định kỳ hàng năm

+ Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho việc bảo tồn và nâng cao đời sống cho người dân đối với các vùng dân tộc thiểu số + Tái tạo các lễ hội truyền thống đã bị mai một dần.bằng cách mời những người trong khu vực những ngưới có kinh nghiệm tạo lại

+ Nguyên nhân:

+ Sự tác động của cuộc sống hiện đại cùng mặt trái của cơ chếthị trường đã làm rạn nứt tôn giáo truyền thống và thúc đẩy xu hướngthế tục hóa trong xã hội người chăm

+ Nội bộ tu sĩ giáo lý, giáo lịch không thống nhất với nhau

+ Do tác động của các luồng văn hóa mới làm cho tư tưởng của người chăm không còn tin theo tôn giáo truyền thống của họ, bắtđầu lìa bỏ tín ngưỡng dân gian bản địa để đi tìm 1 đức tin khác Một

ý thức tôn giáo mới được xác lập

Trang 11

+ Sự gia tăng, hiện diện của các tôn giáo khác làm cho diện mạo tín ngưỡng tôn giáo của người chăm trước đây có xu hướng phát triển theo chiều hướng mới

+ Thống nhất lịch chăm, xóa bỏ sự chênh lệch ngày tháng, để tránh gây xáo trộn trong cọc sống đồng bào Chăm

+ Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, xóa bỏ hủ tục, tiếp thu tinh hoa văn hóa bên ngoài góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa chodân tộc Chăm

+ Giải quyết vấn đề tôn giáo ở vùng chăm, ngoài bản thân người chăm cần có sự kết hợp của ngành, nhiều cấp chính quyền địa phương

-Dân tộc xtiêng, mnông, chơro, mạ: trước đây, các dân tộc này đều theo tín ngưỡng dân gian bản địa có từ lâu đời đến nay các dân tộc này vẫn giữ được tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình và không có gì thay đổi

-Dân tộc khơme:

-thực trạng: từ lâu đời, người khơ me có hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa sau đó, trước sự du nhập của đạo phật nên người khơme theo đạo phật và ngành tiểu thừa chính là tôn giáo chính thống của người khơme nam bộ

Trang 12

+sự du nhập của các đạo phật mạnh mẽ từ bên ngoài vào làm ngườikhơme bị ảnh hưởng sâu sắc dẫn đến tiếp thu các luồng văn hóa mới và dần dần bị thay đổi

4 NGHỆ THUẬT DÂN GIAN:

-thực trạng: trước đây, nghệ thuật dân gian của người khơme chủ yếu là các hình thức dân gian bản địa do kinh nghiệm lao động sản xuất truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà sáng tạo ra như các làn điệu dân ca như sinh hoạt vui chơi, mĩ nghệ dân gian,… ngày nay, các hình thức dân gian trên có sự cách tân 1 phần và không cònnguyên vẹn như trước

-nguyên nhân:

+do ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa tinh thần của người

campuchia nên nghệ thuật dân gian bản địa bị pha trộn

+các nghệ nhân hoạt động trong các lĩnh vực nghệ thuật dân gian 1 phần đã mất không truyền dạy đến được cho đời sau dẫn đến nghệ thuật dân gian bị mai một

Trang 13

+tổ chức quay phim lại những chủ đề nghệ thuật có nội dung mang tính truyền thống, hát những bài hát của các nghệ nhân cao tuổi.+sưu tầm các hiện vật dân gian do những nghệ nhân thế hệ trước đểlại

 dân tộc xtiêng, mnông, chơro, mạ:

-thực trạng: nghệ thuật dân gian của các dân tộc này khôn phong phú, đa dạng như các cộng đồng khơme, chăm, hoa Trước kia hoạt động nghệ thuật mang tính dân gian bản địa song đến ngày nay, các dân tộc này vẫn giữ được đậm chất cá tính và bản sắc riêng của dân tộc mình, không bị biến đổi

-thực trạng: nghệ thuật dân gian của người chăm từ lâu đời mang đậm nét tính dân gian của vùng Trước đây sự tồn tại các hình thức dân gian không phổ biến và hầu như không phát triển đến nay các hình thức nghệ thuật dân gian đuoẹc phục hồi, phát triển và được cách tân lại rất nhiều so với trước

- Nguyên nhân:

+ Do sự tác động của đời sống xã hội và nhu cầu của người thưởng thức nhiều hơn trước dẫn đến cách tân nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu của người dân

+ Do ảnh hưởng về văn hóa của người nước ngoài du nhập vào

Ngày đăng: 23/04/2021, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w