1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phân tích giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

14 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.. “Truyện Kiều” vừa có giá trị lớn về mặt nội dung vừa có giá trị về mặt nghệ thuật.  Phân tích các đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”,[r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 9 VĂN BIỂU CẢM

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CỦA “TRUYỆN KIỀU” THÔNG

QUA BỐN ĐOẠN TRÍCH “CHỊ EM THUÝ KIỀU”, “KIỀU Ở LẦU NGƯNG

BÍCH”, “MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU”, “KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN”

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

I Mở bài

Trang 2

- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

“Truyện Kiều” là kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du, cũng là kiệt tác của nền văn học Việt Nam “Truyện Kiều” vừa có giá trị lớn về mặt nội dung vừa có giá trị về mặt

nghệ thuật

Phân tích các đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều báo ân báo oán” ta thấy được tác giả đã thương xót cho số phận

bất hạnh của Thuý Kiều cũng là thương xót cho số phận bất hạnh của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ

II Thân bài

1) Giá trị nhân đạo trong văn học

a) Khái niệm

- Chủ nghĩa nhân đạo là tư tưởng yêu thương con người, tôn trọng các giá trị của con người

b) Biểu hiện

- Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo:

 Trân trọng vẻ đẹp của con người

 Thương xót cho số phận đau thương của con người

 Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người

 Thấu hiểu ước mơ của con người

2) Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều

a) Trân trọng vẻ đẹp của con người

Vẻ đẹp ngoại hình: Nguyễn Du đã dành nhiều ưu ái khi xây dựng chân dung nhân vật

- Với Thúy Vân, Nguyễn Du miêu tả tỉ mỉ, chi tiết để dựng nên bức chân dung vừa đáng yêu, thiện cảm, vừa trang trọng, quý phái:

“Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

- Với Thúy Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp “tả mây tô trăng”, “điểm nhãn” để dựng

nên bức chân dung sắc sảo, hoàn mỹ, không ngôn từ nào diễn tả hết:

Trang 3

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So về tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

- Cũng như những nhà thơ trung đại khác, Nguyễn Du sử dụng thủ pháp ước lệ để xây dựng chân dung nhân vật, nhưng đối với Nguyễn Du, vẻ đẹp của con người không chỉ sánh ngang với thiên nhiên, mà thậm chí vượt qua thiên nhiên, khiến thiên nhiên phải

“thua, nhường”, “ghen, hờn” trước sắc đẹp con người

Vẻ đẹp đức hạnh

- Cả Thúy Kiều và Thúy Vân đều có đức hạnh đoan trang, đúng mực:

“Phong lưu rất mực hồng quần Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

- Ở Thúy Kiều sáng lên vẻ đẹp của đạo Hiếu:

“Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh có ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa Bây giờ gốc tử đã vừa người ôm”

- Ở Kiều, người đọc còn trân trọng một đức tính thủy chung:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ

Chân trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

- Ngoài ra, Thúy Kiều còn có tấm lòng trọng ân nghĩa, khi trả ơn Thúc Sinh, nàng nói:

“Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”

- Và một tấm lòng bao dung, độ lượng khi tha thứ cho Hoạn Thư:

Trang 4

“Tha ra thì cũng may đời Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen

Đã lòng tri quá thì nên”

Vẻ đẹp tài năng: Tiến bộ hơn các nhà thơ thời Trung Đại, Nguyễn Du còn đề cao người

phụ nữ ở phương diện tài năng, ông đã xây dựng một nhân vật Thúy Kiều đa tài, mà tài nào cũng xuất sắc, tuyệt đỉnh:

“Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”

- Trong quan niệm của Nguyễn Du, “chữ tài liền với chữ tai một vần”

 Nói đến cái tài, bên cạnh sự trân trọng còn là một dự cảm bất an cho số phận truân chuyên của con người

b) Thương xót cho số phận đau thương của con người

- Đau xót cho thân phận con người bị chà đạp, khinh rẻ, bị biến thành một món hàng để cân đo đong đếm:

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng Ngại ngùng dợn gió e sương Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.”

- Đau xót cho cảnh ngộ côi cút, đơn độc nơi lầu Ngưng Bích “khóa xuân”

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bồn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Trang 5

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

- Nguyễn Du nhập thân vào nhân vật để cảm nhận hết nỗi đau của nhân vật, tác phẩm

viết ra như có “máu chảy trên đầu ngọn bút”, thương cảm cho tương lai bất định, nhiều

bất an của Kiều nơi lầu Ngưng Bích:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

c) Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người

- Nguyễn Du đã sử dụng ngòi bút hiện thực để vạch trần bản chất xấu xa của những kẻ

bất nhân trong xã hội xưa, những kẻ “buôn thịt bán người”, kiếm sống trên thân xác của

những cô gái vô tội, tiêu biểu là Mã Giám Sinh

- Nguyễn Du đã bóc trần cái mác “giám sinh” của họ Mã để cho thấy tính cách vô học, thô

thiển của hắn:

“Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày rầu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao Trước thầy sau tớ lao xao Nhà băng đưa lối rước vào lầu trang Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”

- Đồng thời ông cũng phẫn nộ trước bản chất con buôn của họ Mã:

Trang 6

“Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt thử tài quạt thơ Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu

Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”

“Cò kè bớt một thêm hai”

d) Thấu hiểu ước mơ của con người

- Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã thể hiện một ước mơ cao cả: Ước mơ một cuộc

sống công bằng, cái thiện được khuyến khích, nâng niu, cái ác phải bị trừng phạt, phải trả giá Nhân vật Từ Hải là đấng anh hùng trượng nghĩa, là người thực hiện ước mơ công lý của Nguyễn Du Chính Từ Hải là người giải thoát Kiều khỏi chốn lầu xanh, cho Kiều cơ hội đổi đời, và cho Kiều cơ hội báo ân, báo oán è Ước mơ tốt đẹp, đáng trân trọng

- Trong đoạn trích “Kiều báo ân báo oán” thái độ của Kiều rất rõ ràng:

o Với người có ân, một mực trân trọng -> Báo ân cho Thúc Sinh:

“Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”

o Với kẻ có tội, nghiêm khắc, công bằng, trừng phạt đúng người đúng tội, khoan hồng cho kẻ thực tâm hối cải -> Lời nói đanh thép vạch tội Hoạn Thư:

“Dễ dàng là thói hồng nhan Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”

3) Đánh giá

a) Về nội dung

 Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du là một chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm yêu thương

 Nhân vật Thúy Kiều là nhân vật Nguyễn Du gửi gắm tâm sự

- Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du là một chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ: Coi vẻ đẹp con người cao hơn thiên nhiên; tôn vinh cái tài của con người

Trang 7

- Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du hòa vào dòng chảy chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của dân tộc, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, góp một tiếng nói bảo

vệ, nâng niu con người đầy giá trị

b) Về nghệ thuật

 Giá trị nhân đạo được truyền tải qua những nghệ thuật đặc sắc:

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật (qua lời thoại, qua ngoại hình, qua tính cách) đặc sắc, điêu luyện

- Nghệ thuật miêu tả tài tình: bút pháp tả mây tô trăng, phục bút, điểm nhãn, thủ pháp ước lệ…

- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bậc thầy, làm thăng hoa ngôn ngữ dân tộc

III Kết bài

- Cảm nghĩ bản thân về giá trị nhân đạo thông qua “Truyện Kiều” nói chung và qua bốn đọa trích “Chị em Thuý Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều báo ân báo oán” nói riêng

C BÀI VĂN MẪU

Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều” trong các đoạn trích “Chị em Thuý

Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều báo ân báo oán” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

Gợi ý làm bài

“Truyện Kiều” là kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du, cũng là kiệt tác của nền văn học Việt Nam “Truyện Kiều” vừa có giá trị lớn về mặt nội dung vừa có giá trị về mặt nghệ

thuật

Phân tích các đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều báo ân báo oán” ta thấy được tác giả đã thương xót cho số phận bất hạnh của

Thuý Kiều cũng là thương xót cho số phận bất hạnh của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ

Chủ nghĩa nhân đạo là tư tưởng yêu thương con người, tôn trọng các giá trị của con người

Trang 8

Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo: Trân trọng vẻ đẹp của con người Thương xót cho số phận đau thương của con người Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người Đồng thời, thấu hiểu ước mơ của con người

Giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều” thể hiện ở tấm lòng thương xót đối với người phụ

nữ bất hạnh Trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”, ngòi bút nhân đạo của Nguyễn

Du giúp người đọc thấy được tấm lòng của ông dành cho nhân vật Thuý Kiều Thuý Kiều

là người con hiếu thảo Trước cảnh gia biến, nàng đã bán mình để lấy tiền cứu cha và gia đình khỏi tai hoạ Bằng bút pháp ước lệ, tác giả làm nổi bật tâm trạng tủi hổ, cảm giác nhục nhã, ê chề của Kiều khi nàng bị coi như một món hàng Con người Kiều, tài sắc của

Kiều đã trở thành món hàng đem ra mua bán Mụ mối và Mã Giám Sinh “Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ” Không những thế, chúng còn: “Cò kè bớt một thêm hai” Nguyễn

Du đã cảm thương cho nỗi đau khổ của nàng khi Mã Giám Sinh cân sắc cân tài Nguyễn

Du thấu hiểu tâm trạng Kiều Đoạn thơ chứa chan tinh thần nhân đạo là ở những chi tiết nội dung ấy

Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, tác giả đã giúp cho người đọc hiểu được nỗi

đau, nỗi nhớ thương, nỗi cô đơn, lo sợ của nàng Kiều Phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho em, Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú Bà Kiều không chịu tiếp khách làng chơi nên nàng tìm đến cái chết Nhưng rồi nàng đã được cứu sống Tú Bà dỗ ngon ngọt và cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích Thực ra Kiều bị giam lỏng tại nơi đây Đây chính là điểm khởi đầu cho con đường lưu lạc đầy đau thương, tủi nhục của nàng Kiều Ngòi bút của Nguyễn

Du như nhỏ lệ khi miêu tả cảnh vật thông qua tâm trạng của Thuý Kiều Giữa thiên nhiên

vắng lặng và mênh mông, không một bóng người, Kiều chỉ còn biết: “Bốn bề bát ngát xa trông” Một cảm giác cô đơn, buồn tủi và bẽ bàng xâm chiếm tâm hồn nàng Nàng xót xa

cho thân phận, số kiếp mình:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Phải chăng đó chính là nỗi xót xa của tác giả dành cho những con người bất hạnh như Thuý Kiều

Trang 9

Giá trị nhân đạo thế hiện ở chỗ tác giả ca ngợi vẻ đẹp ngoại hình cũng như vẻ đẹp về phẩm

chất của chị em nàng Kiều Trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp

của Thuý Vân và Thuý Kiều bằng những lời tuyệt mĩ

Tả Thuý Vân, ngòi bút của Nguyễn Du thể hiện sự trân trọng:

Vân xem trang trọng khác vời Hai chữ “trang trọng” nói lên vẻ đẹp cao sang, quý phái của Thuý Vân Vẻ đẹp trang trọng,

đoan trang của người thiếu nữ được so sánh với những thứ cao đẹp trên đời: Trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Tác giả đã sử dụng những hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp đặc biệt, trong trắng, tinh khiết, rực rỡ để miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân Khuôn mặt đẹp như trăng rằm Nụ cười tươi như hoa Giọng nói trong trẻo thoát ra từ hàm răng ngà ngọc Làn tóc mềm mại, thướt tha đẹp hơn mây trời Màu trắng của tuyết đặt bên màu da của Vân vẫn còn thua bởi da của Thuý Vân không chỉ trắng, mịn màng như tuyết mà còn có cả sức sống tràn trề của người con gái bước vào tuổi dậy thì

Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh ẩn dụ, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ Chân dung của Thuý Vân là chân dung mang tính

cách số phận, vẻ đẹp của Vân tạo sự êm đềm hoà hợp với xung quanh “Mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời suôn sẻ

Phải là người biết yêu quý cái đẹp, biết trân trọng cái đẹp, Nguyễn Du mới có được sự miêu tả như thế

Với Thúy Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp “tả mây tô trăng”, “điểm nhãn” để dựng nên

bức chân dung sắc sảo, hoàn mỹ, không ngôn từ nào diễn tả hết:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So về tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trang 10

Cũng như những nhà thơ trung đại khác, Nguyễn Du sử dụng thủ pháp ước lệ để xây dựng chân dung nhân vật, nhưng đối với Nguyễn Du, vẻ đẹp của con người không chỉ sánh

ngang với thiên nhiên, mà thậm chí vượt qua thiên nhiên, khiến thiên nhiên phải “thua, nhường”, “ghen, hờn” trước sắc đẹp con người

Ca ngợi Thuý Kiều, Nguyễn Du không chỉ ca ngợi vẻ đẹp về hình thức mà tác giả còn ca ngợi vẻ đẹp về mặt tâm hồn, về sự tài hoa

Câu thơ đầu khái quát vẻ đẹp của Thuý Kiều: “Kiều càng sắc sảo, mặn mà” Nàng sắc sảo

về trí tuệ và mặn mà về mặt tâm hồn

Gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ “thu thuỷ” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), “hoa”, “liễu” Nét vẽ của thi nhân thiên

về gợi, tạo một ấn tượng chung về một giai nhân tuyệt thế Điều đáng nói ở đây là khi hoạ bức chân dung Kiều, tác giả tập trung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt Bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ Cái sắc sảo của trí tuệ, cái mặn mà của tâm hồn đều

liên quan tới đôi mắt Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên

thật sông động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt, … Còn hình ảnh ước lệ

“nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ

trung

Khi tả Thuý Vân, tác giả chủ yếu gợi tả nhan sắc mà không thể hiện cái tài, cái tình của nàng Nhưng khi tả Kiều, tác giả chỉ dành một phần để tả về sắc, còn dành hai phần để gợi

tả tài năng Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, gồm

đủ cả cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ) Đặc biệt tài đàn của nàng đã là sở trường năng khiếu bẩm sinh

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Từ “ăn đứt” có tác dụng khẳng định sự vượt trội của Thuý Kiều trong việc tài đàn so với

mọi người Cực tả tài đàn của Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng Cung đàn bạc mệnh mà Kiều tự sáng tác chính là ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm

Khi tả Thuý Vân, tác giả chỉ dùng từ “thua”, “nhường” để so sánh vẻ đẹp của thiên nhiên

với vẻ đẹp của Vân Nhưng miêu tả Thuý Kiều, tác giả dùng những từ chỉ mức độ cao hơn

“ghen”, “hờn” Điều đó cho ta thấy, trước vẻ đẹp tuyệt vời của Thuý Kiều, thiên nhiên cũng

phải ghen, phải hờn giận

Trang 11

Ca ngợi Thuý Kiều, tác giả còn ca ngợi tấm lòng giàu tình cảm, thuỷ chung của Thuý Kiều đôi với Kim Trọng và tình cảm, ý thức trách nhiệm, đức hi sinh của Thuý Kiều đôi với cha

mẹ, gia đình

Rõ ràng, phải là người có tấm lòng yêu thương con người mới thấy hết được vẻ đẹp của những con người bất hạnh để mà ngợi ca Tình cảm xót thương, sự trân trọng về sắc đẹp

và tài năng Thuý Kiều đã giúp ta hiểu được giá trị nhân đạo thể hiện qua các đoạn trích

này nói riêng, trong tác phẩm “Truyện Kiều” nói chung

Giá trị nhân đạo còn thể hiện qua thái độ khinh bỉ của tác giả đối với những kẻ buôn người

Tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người Nguyễn Du đã sử dụng ngòi bút hiện thực để vạch trần bản chất xấu xa của những kẻ bất nhân trong xã hội xưa, những kẻ

“buôn thịt bán người”, kiếm sống trên thân xác của những cô gái vô tội, tiêu biểu là Mã

Giám Sinh Tác giả vạch trần bản chất xấu xa của Mã Giám Sinh một kẻ buôn người nhưng lại đội lốt sinh viên trường Quốc Tử Giám Mã để cho thấy tính cách vô học, thô thiển của hắn:

Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày rầu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao Trước thầy sau tớ lao xao Nhà băng đưa lối rước vào lầu trang Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Về ngoại hình: chải chuốt, bảnh bao:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Về hành động, cử chỉ:

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Đồng thời ông cũng phẫn nộ trước bản chất con buôn của họ Mã:

Ngày đăng: 23/04/2021, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w