1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

tên blog bao cao kenh dao xuye va panama đăng ngày 18 45 30 03 2010 thư mục thien nhien báo cáo ngắn về kênh đào xuy ê và kênh đào pa na ma về kênh đào xuy ê a vị trí địa lý kênh đào xuy ê thuộc ai

22 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1893, sau khi đã thực hiện một khối lượng công việc lớn, kế hoạch của người Pháp đã bị từ bỏ do bệnh tật và khó khăn lớn trong xây dựng một kênh đào ngang mực nước biển, cũng như s[r]

Trang 1

Bao cao kenh dao Xuye va Panama

Đăng ngày: 18:45 30-03-2010

Thư mục: thien nhien]]

BÁO CÁO NGẮN VỀ KÊNH ĐÀO XUY-Ê VÀ KÊNH ĐÀO PA-NA-MA

VỀ KÊNH ĐÀO XUY-Ê

a Vị trí địa lý

Kênh đào Xuy-ê (thuộc Ai Cập) là kênh giao thông nhân tạo nối Địa Trung Hải với VịnhXuy-ê Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương

b Lịch sử hình thành

- Được xây dựng vào năm 1859

- Mở cửa cho tàu đi lại vào ngày 17/11/1969, do Đế Quốc Anh quản lý

- 6/1956 Ai Cập tuyên bố quốc hữu hoá kênh đào

-Kênh bị đóng cửa một lần duy nhất từ 1967 tới 1975 trong cuộc Chiến tranh Ả Rập - Israel

Trang 2

c Vai trò

- Kênh đào Xuy-ê là con đường ngắn nhất nối Đại Tây Dương và ấn Độ Dương

- Giảm cước phí vận chuyển, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa

- Tránh được ảnh hưởng của thiên tai

- Đem lại nguồn lợi lớn cho Ai Cập thông qua thuế hải quan

- Thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa Châu Âu, Châu Phi và Châu Á

d Những tổn thất khi kênh đào ngừng hoạt động

- Mất đi khoản thu lớn từ thuế hải quan

- Hạn chế sự giao lưu kinh tế giữa Ai Cập vối các nước trên thế giới Đối với các nước ven Địa Trung Hải và Biển Đen

- Chi phí vận chuyển hàng hóa tăng lên, khả năng cạnh tranh hàng hóa giảm mạnh

- Rủi ra cho người và hàng hóa trong quá trình vận chuyển tăng

Kênh đào Xuyê

Tàu đi qua kênh đào

Trang 3

Từ 4000 năm về trước, người Ai Cập đã có ước mơ mở một kênh đào trên dải đất Suez khi Vua Pharaoh cho đào một con kênh đầu tiên nối giòng sông Nile với hồ lớn Bitter Cũng vì chưa có kênh đào Suez nên trong nhiều thế kỷ, việc thương mại của miền Trung

Đông với châu Âu phải đi qua phần đất liền của châu Á rồi sau đó, các con tầu biển chở hàng hóa từ Hồng Hải đã phải dương buồm qua mỏm cực nam của châu Phi để đi tới biển Địa Trung Hải.

Vì kênh đào chỉ có thể dùng cho các tàu chạy bằng máy mà tới năm 1860 chỉ có 5% thuyền chạy bằng hơi nước nên việc xây kênh xem như một cá cược Nhưng trong thập niên tiếp theo, số tàu buôn đã tăng lên nhanh chóng

Mỗi ngày, trên kênh đào có hai đoàn tầu đi từ phía nam lên mạn bắc và một đoàn tầu đi

từ phía bắc xuống, với tổng số tầu bè qua lại vào khoảng 80 chiếc Hàng năm, khoảng 20,000 con tầu chuyên chở từ 300 tới 400 triệu tấn hàng, với một nửa là tầu chở dầu và chở hàng hóa Tầu đi lên mạn bắc chở theo dầu lửa từ Vịnh Ba Tư để tới các nước Tây

Âu, còn xuôi về nam là các con tầu chở sản phẩm kỹ nghệ và ngũ cốc, từ châu Âu và Bắc

Mỹ, để đi tới miền nam châu Á và Viễn Đông Ngoài ra còn có các con tầu chiến và tầu

Trang 4

du lịch viễn duyên Nhờ có kênh đào Suez, con đường biển từ thành phố London, nước Anh, tới thành phố Bombay, Ấn Độ, đã tiết kiệm được 11,670 cây số so với hải lộ qua Mũi Hảo Vọng của Nam Phi.

Kênh đào Suez dài gấp hai lần kênh đào Panama nhưng lại dễ thực hiện hơn nhiều vì đi qua một miền đất bằng phẳng, ngang với mặt nước biển nên không cần loại cửa cống khóa nước (lock)

Thế kỷ thứ 13 trước Công nguyên: Một kênh đào được xây giữa châu thổ sông Nile và biển Đỏ (Red Sea) Những thế kỷ tiếp theo, chỉ một phần của kênh được coi ngó

Thế kỷ 8 TCN: kênh không còn được giữ gìn và tàu bè không còn qua lại được

Từ cuối thế kỷ XVIII Pháp đã có ý định tìm đường từ Địa Trung Hải qua Hồng Hải để sang phương Đông nên khi Napoleon Bonaparte chiếm đóng Ai cập, ông đã phái công trình sư đến thăm dò khả năng đào kênh qua eo biển Suez Đến giữa thế kỷ XIX, công trình sư Fecdinan Doletxev vốn là cựu Lãnh sự Pháp ở Ai cập rất nhiệt tình với kế hoạch đào kênh Ông đã thuyết phục tổng thống Ai cập Xait ký một hợp đồng cho thuê đào và

sử dụng kênh Suez Hợp đồng ký kết ngày 23 tháng 10 năm 1854 Đến ngày 5 tháng 1 năm 1856, hai bên ký một hợp đồng bổ sung quy định: Pháp cung cấp kỹ thuật, Ai cập cung cấp không bồi hoàn những đất đai dùng để đào kênh và 4/5 nhân công lao động Mức lương trả cho nhân công sẽ do công ty đào kênh quyết định Sau khi đào xong, Phápđược quyền thuê 99 năm Ai cập sẽ được hưởng 15% thu nhập hàng năm của con kênh.Năm 1857, Lexev bất chấp sự phản đối của Anh và Thổ Nhĩ Kỳ đã thành lập công ty quốc tế vận chuyển biển kênh đào Suez, với số vốn 200 triệu franc, mở rộng cho bất cứ người nước nào muốn đầu tư Do sự bài xích của Anh, nên rất ít nước hưởng ứng, cuối cùng người Pháp mua 207.111 cổ phần chiếm 44% còn lại 4% cổ phần thuộc về người Tây Ban Nha, Hà Lan, Tuynisie, Italia

Sau khi chuẩn bị xong ngày 25 tháng 4 năm 1859 bắt đầu khởi công, eo biển Suez, vốn làđất cồn bãi, khí hậu khô nóng ít mưa, thiếu nước ngọt nghiêm trọng, điều kiện lao động cực nhọc, lại thêm dịch bệnh hoành hành khiến người Ai cập chết rất nhiều

Ngày 17 tháng 11 năm 1869, kênh đào Suez đã hoàn thành Trải qua 10 năm đào kênh,

Ai cập phải huy động tới mấy chục vạn nhân công đào trên 720 triệu khối đất, hy sinh 120.000 người, hao phí 16.860.000 Bảng Anh Sự tốn kém trên đã làm cho tài chính Ai Cập suy sụp

Trang 5

1: Địa Trung Hải; 2: Hải cảng Said; 3: Hồ Al-Manzala; 4: Hồ Timsah; 5: Biển Đỏ; 6: Sông Nil; 7: Kênh đào Suez.

Sau khi kênh Suez khai thông, việc quản lý con kênh nằm trong tay công ty, dưới sự khống chế của Pháp Về sau, Anh lợi dụng tài chính Ai cập khó khăn đã mua lại 44% cổ phần với giá 4 triệu Bảng Anh Năm 1882 nước Anh đem quân chiếm đóng Ai Cập khống chế luôn kênh đào

Năm 1888, các cường quốc Châu Âu (không có Anh) họp ở Constantin ra công bố: Phải đảm bảo an toàn và tự do đi lại trên kênh

Năm 1922 Anh rút quân ra khỏi Ai cập nhưng vẫn đóng quân ở kênh Suez Năm 1936,

Trang 6

lấy cớ bảo vệ kênh Suez, Anh buộc Ai Cập ký kết điều ước Đồng minh Anh – Ai Cập để Anh đóng quân tại đây 20 năm Trong đại chiến thế giới thứ II, kênh Suez trở thành căn

cứ quân sự của Anh ở Ai cập

Năm 1956, quân Anh rút khỏi kênh đào Suez kết thúc 74 năm chiếm đóng Ai cập

Nhưng quyền kinh doanh con kênh vẫn nằm trong tay công ty của người nước ngoài.Ngày 26 tháng 7 năm 1956 Tổng thống Ai Cập Naxe tuyên bố quốc hữu hóa kênh đào Suez Anh, Pháp muốn giành lại quyền khống chế con kênh nên đã lôi kéo Israel đem quân tấn công Ai cập vào ngày 29 tháng 10 năm 1956 Do sự can thiệp của Liên hợp quốc, chiến tranh buộc phải kết thúc Theo quyết định của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 7 tháng 11 năm 1956, Anh, Pháp, Israel buộc phải rút quân Tàu thuyền các nước qua kênh đều phải nộp thuế theo quy định của chính phủ Ai cập

Kênh suez xuyên qua eo biển Suez lãnh thổ Ai cập nối giữa địa trung Hải và Hồng Hải được đào vào giữa thế kỷ XIX Đây là điểm giao thông trọng yếu nhất giữa Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương

Kênh dài 162,5 km nếu kể cả đoạn mở ra Địa Trung Hải và Hồng Hải là 174 km Năm

1869, mặt kênh rộng 58m, đáy kênh rộng 22m sâu 6m tàu bè qua lạimất 48 giờ Qua nhiều lần tu sửa và nạo vét năm 1955 mặt kênh rộng 135m, đáy rộng 50m và sâu 13 m, tàu thuyền đi qua chỉ mất 14 tiếng

Nửa thế kỷ cuộc khủng hoảng kênh đào Xuy-ê

(29-10), Ai Cập sẽ kỷ niệm 50 năm xảy ra khủng hoảng kênh đào Xuy-ê, cuộc khủng hoảng đã làm thay đổi cán cân quyền lực ở Trung Đông Sự kiện lịch sử 5 thập kỷ về trước đã báo hiệu sự suy sụp của hai nước đế quốc già cỗi là Anh và Pháp và là cơ hội để

Mỹ chen chân vào khu vực chiến lược này

Tuy chịu nhiều tổn thất với cơ sở hạ tầng bị hư hại, 921 người thiệt mạng nhưng cuộc chiến đã giúp Ai Cập đạt được mục tiêu: Giành quyền kiểm soát hoàn toàn đối với kênh đào Xuy-ê

Kênh đào Xuy-ê dài 163 km, sâu 16,5-17m, rộng 120-150m, nối liền Biển Đỏ với Địa Trung Hải,

là con đường hàng hải chiến lược không thể thay thế cả về giao thương lẫn quân sự trên đất Ai Cập Kênh Xuy-ê có vai trò rất quan trọng góp phần rút ngắn tuyến đường biển cho những con tàu (dưới 150 nghìn tấn), đi từ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải đến Biển Đỏ rồi qua ấn Độ Dương hay ngược lại Nhờ có kênh đào Xuy-ê, con đường biển từ Luân Đôn (Anh) tới Bom Bay (ấn Độ) đã tiết kiệm được gần 12.000km

Trang 7

Ý tưởng nối liền Địa Trung Hải và Biển Đỏ có từ thời Pha-ra-ông, tuy nhiên, phải đến năm 1859 công trình mới được khởi công do Cty Universal Suez Ship Canal điều hành Hơn 2,4 triệu công nhân Ai Cập đã tham gia xây dựng Trải qua 10 năm xây dựng với rất nhiều khó khăn (125.000 công nhân bỏ mạng), ngày 17-11-1869, kênh đào Xuy-ê khánh thành và đi vào sử dụng

Kể từ khi được mở cửa lưu thông, kênh đào Xuy-ê nhanh chóng tác động đến sự phát triển của nền giao thương thế giới Lúc đầu, quyền khai thác kênh thuộc về một Cty Anh - Pháp nhưng từ năm 1956 kênh đã được quốc hữu hoá Đến giữa năm 1967, I-xra-en xâm chiếm Ai Cập, hoạt động của kênh phải tạm dừng, đến 6-1975 mới tiếp tục hoạt động trở lại

Trở lại cuộc khủng hoảng kênh đào Xuy-ê, quyết định quốc hữu hoá kênh đào này của Tổng thống Ai Cập Ga-man A-đen Na-sơ đã làm phật lòng nhiều nước phương Tây, đặc biệt là Anh, Pháp và cả I-xra-en Để giải quyết bất đồng, Anh, Pháp và I-xra-en thoả hiệp với nhau Ngày 29- 10-1956, I-xra-en bất ngờ tấn công Ai Cập đánh chiếm bán đảo Xi-nai Hai ngày sau, Pháp và Anh can thiệp quân sự, yêu cầu được đưa quân vào chiếm đóng kênh Xuy-ê và thiết lập vùng đệm 16 km ở hai bờ Máy bay ném bom Anh và Pháp quần đảo bầu trời Ai Cập, uy hiếp chính quyền Cai-rô Liên Xô lúc đó đứng về phía Na-sơ và đe doạ tham chiến Tuy nhiên, dưới áp lực của LHQ và Mỹ, cuộc can thiệp quân sự đã bị ngăn chặn Cuộc khủng hoảng kết thúc đã giáng một đòn mạnh vào tham vọng đế quốc của Anh và Pháp ở Trung Đông, đồng thời mở đường cho

Mỹ đảm nhận một vị trí chính trị nổi bật ở khu vực Uy tín của Tổng thống G A Na-sơ không ngừng nâng cao trong dân chúng Ai Cập và việc kiểm soát hoàn toàn đối với kênh đào Xuy-ê đã đưa ông lên hàng anh hùng của thế giới A-rập

Hiện nay, cùng với du lịch, việc khai thác kênh đào Xuy-ê là một trong những ngành dịch vụ thương mại quan trọng của Ai Cập Trong năm 2005, hơn 18.700 tàu của các nước chở theo 665 triệu tấn hàng hoá các loại qua kênh đào này, mang lại cho Ai Cập một khoản thu nhập lên đến 3,42 tỷ USD so với 3,275 tỷ USD của năm 2004 Đặc biệt, kênh Xuy-ê có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông đến các nền kinh tế phát triển Chính phủ Ai Cập đang

có kế hoạch đào sâu thêm kênh Xuy-ê để đủ khả năng đón những con tàu tải trọng lớn hơn và từ năm 2006 này, Ai Cập đã tăng lệ phí quá cảnh lên 3% cho các tàu nước ngoài qua lại kênh đào

Do có con đường biển chiến lược trong bối cảnh khu vực Trung Đông luôn đầy biến động, Ai Cập được Mỹ xem là hòn đá tảng trong chính sách Trung Đông của mình Trong cuộc chiến I- rắc, Ai Cập đã cho phép tàu chiến Mỹ qua lại tự do trên kênh đào Xuy-ê Kể từ năm 1979, Ai Cập

đã nhận hơn 60 tỷ USD viện trợ của Mỹ Các quan chức Mỹ thừa nhận rằng khoản viện trợ đó nhằm hỗ trợ cho chính sách đối ngoại và các mục tiêu an ninh của Mỹ tại khu vực này.

KÊNH ĐÀO PA-NA-MA

Trang 8

-Năm 1904 Hoa Kì đã tổ chức đào kênh, năm 1914 đưa vào sử dụng.

-Tháng 12/1999 trao trả hoàn toàn cho nhân dân Panama

Đặc điểm

- Chiều dài: 64 km (40 dặm)

- Trọng tải: < 100.000 tấn

- Tầu đi trong kênh đào phải sử dụng các âu tàu

- Hành trình qua kênh đào mất 8h đến 10h

c Vai trò

- Rút ngắn được thời gian vận chuyển, giao lưu kinh tế được dễ dàng, đặc biệt cho Hoa Kì

- Giảm chi phí vận tải, giảm giá thành sản phẩm

- An toàn cho người và hàng hoá

- Đem lại nguồn thu lớn cho Panama thông qua thuế hải quan

Trang 9

Sơ đồ bố trí

Trang 10

Việc xây dựng kênh đào này là một trong số những dự án công trình lớn nhất và khó khăn nhất đã thực hiện từ trước đến nay Nó có ảnh hưởng to lớn đến vận tải thủy giữa hai đại dương, xóa bỏ hành trình dài và nguy hiểm thông qua eo biển Drake và Mũi Sừng(Cape Horn) ở điểm cực nam của Nam Mỹ Một chuyến đi của tàu thuyền từ New Yorktới San Francisco qua kênh đào này chỉ vượt qua khoảng cách 9.500 km (6.000 dặm), chưa tới một nửa khoảng cách của hành trình trước đây qua mũi đất Horn (22.500 km hay14.000 dặm)[1] Mặc dù ý tưởng về kênh đào tại Panama đã có từ đầu thế kỷ 16, nhưng cố gắng đầu tiên trong việc xây dựng kênh đào này chỉ có vào năm 1880 dưới sự lãnh đạo của Pháp Sau khi cố gắng này sụp đổ, công trình này cuối cùng đã được Hoa Kỳ hoàn thành và kênh đào mở cửa vào năm 1914 Việc xây dựng 77 km (48 dặm) chiều dài của kênh đào đã vấp phải các trở ngại, bao gồm bệnh dịch (cụ thể là bệnh sốt rét và bệnh sốt vàng) cũng như các vụ lở đất Ước tính có tới 27.500 công nhân đã chết trong quá trình xây dựng kênh đào.

Kể từ khi mở cửa, kênh đào đã thu được thành công to lớn và tiếp tục là đường dẫn then chốt trong hàng hải quốc tế.Mỗi năm có hơn 14.000 tàu thuyền đi qua kênh đào, mang

Trang 11

theo trên 203 triệu tấn hàng hóa Vào năm 2002 nói chung có khoảng 800.000 tàu đã sử dụng kênh đào[2].

Kênh đào có thể tiếp nhận các tàu thuyền từ các du thuyền tư nhân nhỏ tới các tàu thươngmại tương đối lớn Kích thước tối đa của tàu thuyền có thể sử dụng kênh đào được gọi là

Panamax; một lượng đang gia tăng các tàu thuyền hiện đại vượt quá giới hạn này, được

biết đến với tên gọi tàu thuyền hậu Panamax Một chuyến đi thông thường của tàu hàng

qua kênh đào mất khoảng 9 giờ 14.011 tàu đã đi qua trong năm 2005, với tổng cộng 278,8 triệu tấn, trung bình gần 40 tàu mỗi ngày[3]

Kênh đào này gồm có 17 hồ nhân tạo, một vài kênh nhân tạo và đã cải tiến, cùng hai âu

Sơ đồ bố trí của kênh đào được xem xét trong quá cảnh tàu thuyền từ Thái Bình Dương tới Đại Tây Dương là như sau:[4]

Do đặc điểm địa lý của khu vực nên hướng chính của cung đường là đông nam-tây bắc, trong khi hướng toàn thể là từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương là tây-đông.Mặt khác do mực nước ở Thái Bình Dương thấp hơn so với mực nước ở Đại Tây Dương nên kênh đào cần phải xây các âu tàu để tàu thuyền qua lại dễ dàng

 Từ lối vào phao nổi của kênh đào tại vịnh Panama, tàu thuyền đi qua 13,2 km (8,2dặm) tới âu thuyền Miraflores, vượt qua phía dưới cầu Americas

 Hệ thống âu thuyền hai tầng Miraflores, bao gồm cả lối vào sát tường, dài 1,7 km (1,1 dặm), với tổng độ nâng là 16,5 m (54 ft) khi thủy triều trung bình

 Hồ nhân tạo Miraflores là giai đoạn tiếp theo, dài 1,7 km (1,0 dặm), và nằm ở độ cao 16,5 m (54 ft) trên mực nước biển

 Âu thuyền Pedro Miguel một tầng, dài 1,4 km (0, 8 dặm), là phần nâng lên cuối cùng với độ nâng 9,5 m (31 ft)lên tới mức chính của kênh đào

cao độ 26 m (85 ft) và vượt qua phía dưới cầu Centenario

xây đập chắn hồ Gatún, chảy về phía tây khoảng 8,5 km (5,3 dặm), hợp nhất vào

hồ Gatún

thêm 24,2 km (15,0 dặm) xuyên qua eo đất

 Âu thuyền Gatún, một âu thuyền bậc thang ba tầng dài 1,9 km (1,2 dặm), hạ tàu thuyền trở lại xuống tới mực nước biển

 Một kênh dài 3,2 km (2,0 dặm) tạo thành lối đi tới các âu thuyền từ phía Đại Tây Dương

 Vịnh Limón (Bahía Limón), một bến tàu tự nhiên lớn, cung cấp nơi neo đậu cho một số tàu thuyền chờ quá cảnh và quãng đường đi dài 8,7 km (5,4 dặm) tới đê chắn sóng phía bên ngoài

Lịch sử

Trang 12

Bản đồ cao độ này của kênh đào Panama được vẽ ra năm 1923, thể hiện địa hình của khu vực mà kênh đào này được xẻ ra.

Các đề cập sớm nhất về kênh đào vượt qua eo đất của Trung Mỹ có từ năm 1534, khi hoàng đế Charles V của đế quốc La Mã Thần thánh và vua Tây Ban Nha, gợi ý rằng một kênh đào tại Panama có thể làm dễ dàng cho chuyến đi của các tàu thuyền tới và từ Ecuador và Peru[5]

Nhận thấy vị trí chiến lược của Trung Mỹ như là một vùng đất hẹp phân chia hai đại dương lớn, các dạng khác của các liên kết thương mại đã được thử theo thời gian Kế

thiết lập một lộ trình thương mại trên đất liền, nhưng nó đã bị thất bại do các điều kiện khắc nghiệt nói chung và nó bị từ bỏ năm 1700[6] Cuối cùng, đường sắt Panama đã được xây dựng xuyên qua eo đất, mở cửa năm 1855.Liên kết trên đất liền này đã làm thuận tiệnlớn cho thương mại, và bộ phận quan trọng này của cơ sở hạ tầng đã là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn hành trình kênh đào sau này

Ngày đăng: 23/04/2021, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w