Vị trí của thành nằm ở khu vực nhà máy nhiệt điện Phả Lại, hiện nay nên không còn dấu tích, chỉ để lại tên cho một xã của huyện Chí Linh là xã Cổ Thành cùng với những câu chuyện truyền k[r]
Trang 1ChÝ Linh b¸t cæ thi – Lîc thuËt lÞch sö
CHÝ LINH b¸t cæ thi
Năm 1795 (Ất Mão), từ tháng 8 mùa thu đến tháng giêng năm 1796 (Mậu Ngọ), các ông Nguyễn Huy Trạc, Phạm Huy Trạch, Lê Huy Ngọc, Lương Khắc Hòa, Vũ Đình Doanh lấy đã ở động Dương Nham tạo bia và cho dựng ở bên tả (tức bên
Tháng 11 năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) bia bắt đầu được dựng tại gò Hạc, Linh Khê Người xã Linh Khê đóng góp nhiều sào đất để mở rộng khu di tích Ông Nguyễn Tri Hoa, đậu Hương Cống, người làng Hộ Xá đã biên soạn 08 bài thơ tạc vào bia đá
Tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802), Hoàng triều Gia Long chúc mừng bia hoàn thành Về sau lấy ngày 15 tháng 8 là ngày khánh hạ để người đời sau thưởng thức
Bia cao 1,8 m (không tính phần đế và phần trái) nhà dạy học cũ của
Lưỡng Quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (tức Trạng Nguyên cổ đường,
một trong tám danh thắng tạo nên quần thể di tích Chí Linh bát cổ) Khi ấy các danh ấp, các cựu sắc mục trong toàn xã Linh Khê (theo cách gọi địa danh
cũ) cùng đồng tâm xây dựng.trên mặt bia), vuông 04 mặt: 0,5m x 0,5m Nội dung cụ thể như sau:
Mặt thứ nhất ghi niên đại làm bia và nhóm người soạn thảo văn bia
Mặt thứ hai ghi 08 bài thơ vịnh 08 di tích cổ của huyện Chí Linh xưa
Mặt thứ ba ghi danh các vị tiên nho,tiên hiền của huyện Chí Linh xưa
Mặt thứ tư ghi danh thắng của sông núi Chí Linh nổi danh thiên hạ
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã có lúc tấm bia tưởng bị vùi lấp cũng thời gian Cho đến năm 1993, người dân làng Linh Khê mới tìm lại tấm bia Kể từ đó cho đến nay, giá trị của nó đã được khẳng định Nói như một sử
gia thì: “Cái gì của César thì phải trả lại cho César” Người khảo cứu, sưu
tầm và biên soạn rất mong một ngày nào đó nội dung của tấm bia quý sẽ được phổ biến rộng rãi, không chỉ trong tâm thức người dân huyện nhà mà nó xứng đáng được hậu thế biết đến như một niềm tự hào của quê hương đất Việt
Nhân đây, người sưu tầm và biên soạn rất mong nhận được sự góp ý trên tinh thần xây dựng về nội dung của những thông tin được in trong tập thơ này Có gì sai sót mong được lượng thứ !
Linh khê ngày 10 tháng 2 năm Canh Dần
Người sưu tầm và biên soạn
Trang 2
Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Trạng Nguyên cổ đuờng “nhà cổ của Trạng nguyên”, là nơi dạy học của
Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi - 莫 挺 之 (1280 – 1346) Năm 1342, sau khi hu quan, Lỡng quốc trạng nguyên đã về mở trờng dạy học để khai trí và tuyển chọn nhân tài cho đất nớc Nơi ngài mở trờng xa hiện thuộc địa bàn thôn Linh Khê, xã Thanh Quang, Nam Sách, Hải Dơng, một vùng đất địa linh nhân kiệt, hậu sinh có truyền thống hiếu học Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng thì trớc đây, hàng năm, cứ vào dịp 17/3 âm lịch, Chánh tổng các huyện đều về đây để tế tiên hiền Ban đầu khu di tích có trên 5000m 2, nhng đến nay các hộ dân đợc chia đất ở nên còn cha đến 1000m 2
Phiên âm:
Trạng nguyên tây tịch ký hà niên
Kỷ độ hoang kh, kỷ độ thiền
Nam ngạn Quất lâm nhân bất cải
Đông A mộc đạc nhân tơng truyền
Thi th trùng hóan t văn thống
Tinh nhật truờng vi hậu học thiên
Ngũ bách niên lai khôi đỉnh tích
Vô cùng đạo thế lão sơn xuyên
Dịch nghĩa:
Nhớ năm nào quan Trạng ngồi chiếu phía Tây
Mấy độ gò hoang, mấy độ vắng vẻ nhu cảnh chùa
Rừng quất (quýt) ở Nam Ngạn cảnh không thay đổi khác
Tiếng mõ ở Đông A đất ấy còn vang truyền
Thơ, sách thêm rạng rỡ truyền thống nho học
Ngôi sao mặt trời mãi mãi sáng soi cho hậu sinh
Năm trăm năm trời nêu cao dấu tích
Đạo đức cùng thọ mãi với non sông
Dịch thơ: Bản dịch thứ nhất:
Giảng đuờng quan Trạng nhớ năm nào
Mấy độ gò hoang cảnh vắng sao
Trống mõ Đông A vang thủa ấy
Vuờn cam Nam ngạn thấy nguời đâu ?
Tu văn truyền mãi dòng thi lễ
Hậu học ngửa nhìn ánh núi sao
Trăm năm đất ấy nên dấu tích
Đạo cùng non nuớc mãi dài lâu
Bản dịch thứ hai:
Nhà cổ Trạng nguyên năm xa,
Ngổn ngang gò đống bây giờ là đâu?
Nam Ngạn rừng quýt một màu,
Đông A tiếng mõ đời sau tuơng truyền
Sách vở rạng rỡ văn hiền,
Thái Sơn- BắcĐẩu cao huyền trời Nam
Trăm năm dấu tích rõ ràng,
Ngàn năm Nho đạo ngày càng phát huy
Trang 3Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
2 TIều ẩn cổ bích
(Bức tờng nhà cổ của Tiều ẩn tiên sinh - Chu Văn An)
Tiều Ẩn cổ bớch là một trong tỏm thắng tớch cổ của Chớ Linh Đú là nơi
Chu Văn An - 朱 文 安 (1292 -1370) về ở ẩn sau khi dõng "Thất trảm sớ" Nơi
ngài ẩn dật được dựng tại nỳi Phượng Hoàng, xó Kiệt Đặc (nay là xó Văn An, huyện Chớ Linh, tỉnh Hải Dương) Về thõn thế sự nghiệp, ngài vừa là vị quan thanh liờm chớnh trực, vừa là một nhà giỏo mẫu mực được suy tụn là người thầy của muụn đời Tại khu vực này hiện Nhà nước đó đầu tư xõy dựng Đền thờ ngài rất khang trang, to đẹp.
Phiên âm:
Phuợng Hoàng sơn thuợng tịch thôn khu
Tiều ẩn tiên sinh cổ bích d
Phiến thạch quang mang minh nguyệt phủ
Bán tờng phiếu diểu bạch vân c
Phơng tung tự cổ hồn vô tại
Thắng cảnh vũ kim tận bất nh
Lẫm liệt anh phong thiên cổ tại
Trùng sơn dung bổ phỏng u c
Dịch nghĩa:
Trên núi Phợng Hoàng một thôn vắng vẻ
Đó là chỗ nhà cũ của Tiều ẩn tiên sinh
Phiến đá lấp lánh ánh trăng sáng soi
Nửa tờng chơ vơ làn mây trắng phủ
Dấu cũ ngày xa không còn gì nữa
Cảnh đẹp tới nay đều hiu quạnh cả
Anh phong lừng lẫy ngàn thủa vẫn còn
Dạo buớc trên non hỏi thăm chốn ngời xa ẩn dật
Dịch thơ:
Trên núi Phợng hoàng lác đác nhà
Tiều ẩn nền xa dải sơng sa
Đá nọ trơ gan cùng tuế nguyệt
Tờng đây gan góc với mây mù
Dấu thơm cổ tự bia đầu tạc
Thắng cảnh ngày nay khác lắm ru
Lẫm liệt anh phong muôn thủa mãi
Trèo non thăm viếng chốn nhàn c
3 - Dợc lĩnh cổ viên
Dược Lĩnh cổ viờn nghĩa là vườn thuốc cổ ở nỳi Dược Lĩnh Tương truyền
trong thời gian đúng đại bản doanh ở Kiếp Bạc, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - 興 道 大 王 陳 國 峻 (1232 – 1300) đó cho trồng cõy thuốc nam ở những dóy nỳi xung quanh để chữa trị cho quõn sĩ Trải qua bao năm thỏng cho
Trang 4Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
đến giờ nơi đõy vẫn cũn rất nhiều cõy thuốc Và vườn thuốc ngày xưa nay đó trở thành một trong Chớ Linh bỏt cổ Sau đõy là bài thơ viết về Dược Lĩnh cổ viờn. Phiên âm:
Bạch Đằng Giang khẩu độ thiên s Thanh lĩnh lâm viên lu nhất chốc Bán thị khê tuyền bán thị sơn Kiêm hữu ng tiều kiêm hữu mục Chủ nhân dĩ tại nguyên Trần sử Thùy vị thiên Nam quốc chí độc Vạn cổ d uy nhân kiến văn Viên lâm phong hạc, viên lâm mộc
Dịch nghĩa:
Cửa sông Bạch Đằng đậu ngàn con tàu Núi xanh rừng cây thành một chòm chụm lại Nửa là khe suối, nửa là núi
Gồm có thú đánh cá, kiếm củi và chăn trâu Chủ nhân đã ghi chép ở sử nhà Trần
Ai bảo đọc sách Thiên Nam quốc chí
D uy muôn thủa ngời thờng nghe thấy Gió hạc ở vờn rừng, cây ở vờn rừng
Dịch thơ:
Bạch Đằng cửa bể đậu ngàn tàu Vờn cũ Dợc Sơn tiếng để lâu Cảnh có suối khe và có núi Thú vui tiều mục, thú vui câu Chủ nhân dù đã xa từ trớc Quốc sử vẫn còn để mãi sau Muôn thủa uy thiêng còn phảng phất Vờn cây, gió hạc, cuốn theo nhau
4 - Nhạn Loan cổ độ
Nhạn Loan cổ độ - Bến đũ cổ Nhạn Loan, nay thuộc xó Nhõn Huệ, Chớ
Linh, Hải Dương Thắng tớch này gắn liền với sự tớch tướng quõn Trần Khỏnh Dư
- 陳 慶 餘 ( ? – 1340) sau khi bị cỏch chức đó về đõy làm nghề bỏn than Khi vua
quan nhà Trần về tổ chức Hội nghị Bỡnh Than (ở gần đú) đó gặp ụng ỏo tơi, nún lỏ
chốo thuyền đi bỏn than Vua Trần đó triệu ụng về, cho phục chức và chớnh ụng sau này đó gúp một phần cụng sức làm nờn kỳ tớch ba lần chiến thắng quõn Nguyờn của triều đại nhà Trần.
Phiên âm:
Quy trảo nga mao vân thủy lộ
Trang 5Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Tớng quân thán phiệt thành danh độ
Ng lang thùy điếu địch ca nhàn Chu tử quế nhân suy lạp cổ Giang trung quang cảnh thờng nh thử Phong nguyệt thanh thu kim kỷ độ Khách thuyền nhàn phiếm cổ giang thu Truy ký tiên triều nhất kì ngộ
Dịch nghĩa:
Móng rùa, lông ngỗng theo đờng mây nớc
Bè than của tớng quân thành bến đò danh tiếng
Ông chài buông câu, ca sáo thanh nhàn Chú lái chở đò, nón tơi cũ kỹ
Quang cảnh dòng sông vẫn nh thế mãi Gió trăng mùa thu trong, nay bao lâu rồi Thuyền khách dạo chơi với con sông xa Cũng nhớ sự kiện của triều Trần trớc
Dịch thơ:
Móng rùa, lông ngỗng chuyện khôn bàn, Danh tiếng còn truyền bến Nhạn Loan
Chú lái chở đò tơi tả rách,
Ông chài câu cá sáo nhặt khoan
Cảnh xa sông nớc coi nh hệt, Thu trớc gió trăng thú vẫn nhàn
Thuyền khách dạo chơi trên bến cũ, Duyên may gặp gỡ buổi lầm than
5 - Thợng tể cổ trạch
Thượng tể cổ trạch - Đất cũ của tể tướng, là một trong "Chớ Linh bỏt cổ"
nằm ở tổng Kiệt Đặc, nay là xó Chớ Minh, huyện Chớ Linh, tỉnh Hải Dương Đõy
là đất phong của Thõn vương Trần Quốc Chẩn, tể tướng dưới triều Trần Minh Tụng Tục truyền ụng cú phộp lạ, những ngày chầu vua hụm trước thấy ụng cũn ở nhà mà sỏng hụm sau đó thấy cú mặt ở triều Là một trung thần ụng thường khẳng khỏi khuyờn vua làm những điều cú lợi cho nước cho dõn nờn bị bố lũ gian thần ghen ghột Chỳng đó tỡm cỏch hóm hại ụng, vu cho ụng tội mưu phản Trần Minh Tụng nghe theo lời bọn gian thần cỏch hết chức quan của ụng ễng lui về Kiệt Đặc dựng nhà sống ở đú đến khi qua đời Sau khi ụng mất dõn chỳng thương tiếc sửa ngụi nhà của ụng thành đền thờ gọi là đền "Quốc Phụ" (cú sỏch gọi là đền "Quõn Phụ"- bố vợ vua) Dưới đõy là bài thơ về Thượng Tể cổ trạch.
Phiên âm:
Ngã huyện hà chi Bắc
Hà Đông trại chi Tây Tích nhân c đình lai Kim nhật lu sơn khê
Trang 6Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Lan phàm kháo ngạn đê Thôn ông tầm ngã dao Thạch tích cố môn khê
Dịch nghĩa:
Huyện ta ở phía Bắc sông lớn Phía Tây trại Hà Đông
Ngời truớc ở chốn đỉnh nại Ngày nay về ở nơi suối khe Cây hạnh mọc xuyên bên khe đá
Buồm lan dựa ở mé bờ đê
Ông già trong xóm tìm ta nói Dấu cổ ở khe nớc cổng cũ
Dịch thơ:
Phía bắc sông trong huyện Phía tây trại Hà Đông Ngày nay là ẩm khách Ngày xa ấy tớng công Gốc hạnh xuyên khe đá
Buồm lan dựa bờ sông Lạch khe bên cổng cũ
Đợc nghe chuyện thôn ông
6 - Phao sơn cổ thành
Phao Sơn cổ thành - Thành cổ Phao Sơn, được xõy dựng vào thời nhà Hồ
nhằm chống lại sự xõm lược của quõn Minh, sau này lại được nhà Mạc củng cố để tranh giành quyền lực với nhà Lờ Vị trớ của thành nằm ở khu vực nhà mỏy nhiệt điện Phả Lại, hiện nay nờn khụng cũn dấu tớch, chỉ để lại tờn cho một xó của huyện Chớ Linh là xó Cổ Thành cựng với những cõu chuyện truyền kỳ trong dõn gian Dưới đõy là bài thơ viết về "Phao Sơn cổ thành"
Phiên âm:
Minh Hồ trì đấu nhật
Lê Mạc chiến tranh thu Nam độ Vĩnh Lạc tự
Đông hoàn Khánh Hựu tự Chí kim giai trần tích Thử địa nhất danh tu Cảm khái trùng đăng diểu Cao sơn dữ thủy lu
Dịch nghĩa:
Ngày nhà Hồ, nhà Minh chống nhau Buổi nhà Lê, nhà Mạc đánh nhau
Trang 7Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Sang phía Nam dựng chùa Vĩnh Lạc
Về phía Đông sửa chùa Khánh Hựu
Đến bây giờ đều thành dấu vết cũ
ở chốn này tôn tạo thành một nơi danh thắng Cảm khái thay khi lên trông ngắm
Núi cao với dòng sông chảy xuôi
Dịch thơ:
Ngày Hồ Minh chống cự, Buổi Lê, Mạc chiến tranh
Nam, Vĩnh Lạc xây dựng,
Đông, Khánh Hựu hoàn thành
Ngày nay thành cổ tích,
Đất ấy thật vang danh
Cảm khái khi lên ngắm, Nớc biếc với non xanh
7 - Vân tiên cổ động
Trong dóy Phượng Hoàng tổng Kiệt Đặc xưa, nay là xó Văn An, Chớ Linh, Hải Dương cú một khu vực cảnh trớ hết sức hữu tỡnh nhưng cũng vụ cựng huyền bớ Tương truyền ngày xưa đấng Huyền Thiờn (Ngọc Hoàng thượng đế) đó về đõy luyện đan Sau này nhiều bậc trớ giả cũng về đõy tu luyện như Tư đồ Trần Nguyờn Đỏn,
Trạng Trỡnh Nguyễn Bỉnh Khiờm v.v Nơi đú chớnh là Võn Tiờn cổ động tức là
Động Cổ của Võn Tiờn Dưới đõy là bài thơ về thắng tớch này:
Phiên âm
Huyền thiên nhất luyện đan
Thiên cổ thành danh san
Sơn danh kim bất cải
Đan lô tích dĩ hàn
Lu Quang cổ điện thất
Băng Hồ cổ điển san
Nham hạ tuyền thanh ẩn
Động lí thảo hoa nhàn
Thơng thơng tùng lão nộn
Tạc tạc thạch toàn ngoan
Tiều thán phi quang dị
Phạm đăng tục diện nan
Trần thế oanh tơng lão
Vân tiên hạc bất hoàn
Vi phỏng cao nhân tích
Lý hài cập tầng san
Sơn thâm tăng tĩnh mịch
Thu hứng khách bàn hoàn
Thôn ông tơng đối thoại
Giang sơn nhỡn giới khoan
Dịch nghĩa:
Ông Huyền thiên luyện thuốc đan
Nghìn thu thành núi có danh tiếng
Núi cũ danh tiếng nay không thay đổi
Lò luyện thuốc nay đã lạnh rồi
Điện Lu Quang xa đã mất
Thơ Băng Hồ nay còn ghi
Dới suối tiếng nớc chảy róc rách
Trong động hoa cỏ lặng lẽ
Trang 8Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Lởm chởm hòn đá chót vót
Than củi sáng bay lấp loáng
Đèn chùa ánh sáng lờ mờ
Cõi trần chim oanh sắp già
Động Vân chim hạc chẳng về
Muốn hỏi di tích bậc cao nhân
Guốc dép leo trèo lên tầng núi
Núi thẳm càng thêm vắng vẻ
Hứng thú để khách mơ màng
Cùng thôn ông ôn chuyện cũ
Mắt nhìn non nớc mênh mang.
Dịch thơ:
Núi cao rừng thẳm động Vân tiên,
Phong cảnh ngày nay đã biến thiên.
Luyện đạo, tu hành tiên để dấu,
Trèo non du ngoạn khách vui duyên.
Băng Hồ thi phẩm còn lu đó,
Nguyễn Trãi danh nhân ấy vẫn truyền.
Hình bóng động xa tuy đổi khác,
Trập trùng Ngũ nhạc vẫn y nguyên.
8- Tinh phi cổ tháp
Nguyễn Thị Duệ người tổng Kiệt Đặc, nay là xó Văn An, Chớ Linh, Hải Dương Bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiờn thi đỗ trạng nguyờn Khi bị phỏt hiện giả trai đi thi bà khụng những khụng bị phạt mà cũn được vua Mạc vời vào cung và phong làm Tinh Phi (dõn gian gọi là Bà chỳa Sao Sa) Khi bà mất được đem về quờ nhà mai tỏng trờn một ngọn nỳi thuộc dóy Phượng Hoàng Người đời
sau đó xõy tại đú một ngọn thỏp để ghi nhớ cụng đức của bà- đú chớnh là Tinh Phi
cổ thỏp, một trong Chớ Linh bỏt cổ
Phiên âm:
Ngọc thủ chiết cao chi
Kinh nhan lu cổ tháp
Tòng thử cổ giang sơn
Chí kim kỷ minh giáp
Hoa thảo tự tạ khai
Ng tiều tơng vấn đáp
Sơn sắc chính thanh thơng
Thu thanh hà tiêu táp
Dịch nghĩa:
Tay ngọc bẻ cành cao
Mặt gơng còn in tháp cổ
Từ đáy nớc non ngày xa
Bây giờ cỏ mọc rậm rạp
Hoa cỏ mặc ý nở tàn
Ng tiều cùng nhau đối đáp
Sắc núi vẫn xanh xanh
Gió thu nghe xào xạc
Dịch thơ:
Trang 9Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Tay ngọc bẻ cành cao,
Mặt gơng in ngọn tháp
Từ xa nuớc non này,
Mấy phen thay đổi khác
Cỏ hoa tự nở tàn,
Ng tiều cùng đối đáp
Sắc núi vẫn xanh xanh,
Gió thu nghe xào xạc
Phụ lục tham khảo
Một số bản dịch thơ khác về chí linh bát cổ
Trạng nguyên cổ đờng
Đến thăm cảnh vắng, lòng buồn
Phía Tây, quan trạng từng đơng giảng bài
Đông A danh tiếng còn dài,
Cảnh xa còn dấu, lòng ngời khác sao
Trạng nguyên đức trọng, tài cao,
Hậu sinh khả úy làm sao giữ gìn
Lịch sử ghi chép rành rành
Công lao danh trạng nỡ đành lãng quên ?
Tiều ẩn cổ bích
Kìa núi Phợng Hoàng chẳng đổi thay, Nhà xa tiều ẩn chính nơi đây
Trăng soi phiến đá trơ ngày tháng, Nắng dãi bên thềm mặc gió mây
Dấu cũ còn đâu nh lúc trớc, Cảnh xa hầu đã khác ngày nay
Công minh chính trực gơng cao đẹp, Trọng đạo, tôn s nhớ chốn này
Dợc lĩnh cổ viên
Danh tiếng lừng vang bến Lục Đầu, Dợc sơn tích cũ tởng cha lâu
Vui cùng vờn thuốc cùng binh pháp,
Bỏ cả cờ tiên, biếng thú câu
Hiển thánh tuy xa từ thủa trớc,
Sử xanh còn mãi để đời sau
Lòng thơng binh sĩ luôn ghi nhớ, Dợc lĩnh vờn xa thắng giặc tàu
Nhạn loan cổ độ
Móng rùa, lông ngỗng hãy khoan bàn,
Trang 10Chí Linh bát cổ thi – Lợc thuật lịch sử
Chuyện thực còn đây, bến Nhạn Loan
Chú lái chở đò tơi tả rách,
Ông chài câu cá, sáo ngân vang
Kẻ thù đất nớc còn xâm lấn, Cuộc sống mây trăng ấy chẳng nhàn
Một chuyến đò đa trên sông nớc, Duyên may gặp gỡ buổi lầm than
Tinh phi cổ tháp
Lạ thay một kính chiếu tam vơng, Kiệt Đặc tinh phi vốn cố hơng
Đẹp tuyệt trần đời, cao trí tuệ,
Đỗ đầu thi hội, giỏi văn chơng
Mất, còn, chuyện ấy do dâu bể, Mến trọng ơn này tự phấn hơng
Chuyện cũ sao xa còn để lại, Tháp hoa đầu núi mấy tinh sơng
Thợng tể cổ trạch
Trừ giặc Chiêm xâm lấn,
Đầy khí phách anh hùng
Giúp vua Trần dựng nớc, Danh tiếng khắp miền Đông
Nơi đây vui thắng cảnh, Nhà cũ quan tớng công
Gốc hạnh xuyên khe đá, Buồm lan dựa bến sông
Khách du thăm cảnh cũ, Nhớ mãi tấm gơng trung
Phao sơn cổ thành
Đỉnh Phao Sơn đẹp vô cùng,
Quần tiên quay lại, dơng long chầu vào
Thành xa còn vết anh hào,
Chùa xa còn dấu ra vào sớm cha
Tiếng chuông Phả Lại gió đa,
Bình Than nguyệt dãi nhặt tha lửa chiều
Trải bao triều đại đổi thay,
Rừng cây, sông nớc ngày càng khác xa