Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018. Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018. Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018. Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018.
Trang 1HÀ NỘI - 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
========================
NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRANG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
========================
NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRANG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018
Ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số : 92 29 011
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS TS Phạm Hồng Thái 2.PGS.TS Võ Kim Cương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS
Võ Kim Cương Các số liệu trong luận án là trung thực, chính xác, đảm
bảo tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội,ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Ngọc Phương Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 8
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10
7 Cấu trúc của luận án 11
Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới này là gì ? ở Việt Nam tình hình tôn giáo mới như thế nào ? từ thực tiễn ở Nhật Bản có thể rút ra liên hệ gì cho Việt Nam ? 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 13
1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản 13
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống 13
1.2 Các công trình nghiên cứu về tác động của tôn giáo mới ở Nhật Bản 21 1.2.1 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới đời sống chính trị- xã hội Nhật Bản 21
1.2.2 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới chính sách của Chính phủ Nhật Bản 27
1.3 Những kết quả đã đạt được và vấn đề cần nghiên cứu 29
1.3.1 Những kết quả đã đạt được 29
1.3.2 Những vấn đề chưa được làm rõ 30
1.3.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018 32
Trang 52.1 Cơ sở lý luận 32
2.1.1 Khái niệm tôn giáo 32
2.1.2 Khái niệm tôn giáo mới và trào lưu tôn giáo mới 36
2.2 Cơ sở thực tiễn 46
2.2.1 Bối cảnh quốc tế 46
2.2.2 Bối cảnh trong nước 51
Thứ ba là sự phát triển nhanh chóng của quá trình đô thị hoá 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018 63
3.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 1970 64 3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II tới năm 1970 68 3.2 Giai đoạn năm 1971 tới năm 1995 80
3.2.1 Khái quát quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ năm 1971 tới năm 1995 80 3.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ 1971 đến năm 1995 84 3.3 Giai đoạn từ năm 1996 tới năm 2018 98
3.3.1 Khái quát quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ năm
1996 tới năm 2018
98
Trang 63.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2018
103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116 CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU
Trang 7TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN 118
4.1 Đặc điểm chung của các tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 118
4.1.1 Tính ma thuật – bí ẩn 118
4.1.2 Tính hỗn hợp 119
4.1.3 Tính hiện thế 120
4.1.4 Tính thế tục 121
4.1.5 Phụ nữ giữ vai trò nổi bật 124
4.1.6 Nỗ lực vươn tầm ảnh hưởng quốc tế 124
4.1.7 Kiến trúc cơ sở thờ tự mang tính hiện đại và sáng tạo 125
4.2 Đánh giá tác động của trào lưu tôn giáo mới đối với xã hội Nhật Bản giai đoạn từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 126
4.2.1 Tác động tích cực 127
4.2.2 Tác động tiêu cực 133
4.3 Tác động của trào lưu tôn giáo mới tới việc điều chỉnh Chính sách tôn giáo của Chính phủ Nhật Bản 137 4.4 Một số liên hệ với Việt Nam 142
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 152
KẾT LUẬN 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 169
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu của Viện Quốc lập Nghiên cứu Vấn đề Con người- Bảo hiểm Xã hội Nhật Bản công bố năm 2012 101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cụm từ “tôn giáo mới” xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ởnhiều nước trên thế giới để chỉ các hiện tương hay các nhóm tín ngưỡng tôn giáo cónguồn góc hiện đại nhưng lại nằm ngoại vi với văn hóa tôn giáo truyền thống đang
có vị trí thống trị Xung quanh thuật ngữ này, các nhà quản lý và các nhà nghiêncứu của mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, hiện tượng đóthường được các nhà quản lý gọi bằng từ “đạo lạ”, còn các nhà nghiên cứu thì gọi là
“hiện tượng tôn giáo mới” Ở Pháp, hiện tượng trên thường được gọi là “nhóm tôngiáo thiểu số”, “nhóm tôn giáo bên lề”, ở Trung Quốc thì các hiện tượng này thường
bị coi là “tà đạo”, “ngoại đạo”
Tại Nhật Bản, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về thế nào là một “tôn giáomới”, song sự phát triển mạnh mẽ của các hiện tượng thuộc loại này từ sau Chiếntranh Thế giới II ở quốc gia này là không thể phủ nhận Giáo sư Sueki Fumihiko -
nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng ở Nhật Bản - đã miêu tả thời kỳ này là “Thời khắc bung nở của các vị thần” Nhiều tôn giáo mới được hình thành trước Chiến tranh đã
tranh thủ đẩy mạnh trở lại các hoạt động của mình, bên cạnh những tôn giáo mớiđang xuất hiện “như nấm sau mưa” Giới nghiên cứu Nhật Bản và quốc tế đã bắtđầu sử dụng thuật ngữ “trào lưu tôn giáo mới” khi đề cập đến hiện tượng này với ýnghĩa thực hành tôn giáo mới đã trở thành một xu hướng lôi cuốn nhiều người thamgia, có tác động rõ rệt tới đời sống tinh thần của đông đảo người dân trong xã hội.Mặc dù cho đến nay, trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản đã trải qua quá trình pháttriển với các giai đoạn khác nhau, có những mặt tích cực nhất định trong một sốhoạt động xã hội, như hoạt động vì hòa bình, bảo vệ môi trường, thiện nguyện ,song nó cũng gây lên không ít những tác động tiêu cực Việc xuất hiện ồ ạt của các
tổ chức tôn giáo mới, sự tham gia của một số tổ chức tôn giáo mới vào đời sốngchính trị, kinh tế, thậm chí có những giáo phái đã chủ trương và thực hiện khủng bốbạo lực đã tạo nên những vấn đề xã hội rất phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến an
Trang 10ninh ở Nhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XX Trên thực tế, Chính phủ NhậtBản đã nỗ lực và đạt hiệu quả đáng kể trong việc tìm ra những giải pháp kịp thờitrong lĩnh vực quản lí tôn giáo, vừa đảm bảo nguyên tắc tự do tôn giáo, vừa duy trìnhững sinh hoạt tôn giáo trong khuôn khổ của luật pháp Tuy sự phát triển của cáctôn giáo mới ở Nhật Bản đã vào giai đoạn ổn định, nhưng việc nghiên cứu quá trìnhphát sinh, phát triển và đánh giá tác động xã hội của nó từ phương diện nghiên cứulịch sử là rất cần thiết cả về lí luận và thực tiễn để thấu hiểu một cách toàn diện và
có thái độ ứng xử với nó một cách thích hợp Không những thế, điều này lại càngtrở nên quan trọng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trong quá trình đổi mới Sựphát triển của kinh tế thị trường, sự hội nhập quốc tế sâu rộng, quá trình đô thị hóa
và sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị,…đã dẫn đến nhiều biến đổi tolớn về mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Bêncạnh sự phục hưng của các tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Công giáo, ĐạoMẫu …không ít tổ chức tín ngưỡng tôn giáo mới đã xuất hiện và ngày càng có tínhphức tạp với những tác động xã hội đa chiều, đặt ra nhiều thách thức trong việcnghiên cứu, đánh giá; gây trở ngại cho công tác quản lí của Nhà nước Cụ thể, từthập niên 90 của thế kỷ XX tới nay ở Việt Nam đã xuất hiện hàng chục hiệntượng “đạo lạ” Những hiện tượng này đều chưa được thừa nhận tính hợp pháp cả
về tổ chức và hoạt động, một số hiện tượng còn gây nên những hệ lụy tiêu cực vềkinh tế- xã hội- chính trị Ví dụ như Hội Thánh Đức Chúa Trời, tuy khởi nguồn từmột tổ chức tôn giáo mới của Hàn Quốc, song khi sang tới Việt Nam đã biến tướngthành một loại tà đạo, đi ngược lại phong tục tập quán lâu đời của người dân Tháng8-2019, vụ việc một nhóm người tu tập một giáo phái lạ ở Bình Dương, do nhữngmâu thuẫn trong quá trình tu tập đã hạ sát nhau, gây rung động dư luận Với một đấtnước hơn 90 triệu dân có đời sống tín ngưỡng tôn giáo rất phong phú và phức tạp,việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển cũng như tác động xã hội của tôngiáo mới của Nhật Bản chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta cơ sở lí luận và thực tiễn
để nhìn nhận, đánh giá hiện tượng các tôn giáo mới một cách đầy đủ hơn Tác giảrất mong muốn được đóng góp vào công cuộc nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản
Trang 11nói riêng và tôn giáo mới nói chung trên thế giới Trong một thế giới phát triểnnhanh như vũ bão về công nghệ, những khó khăn và mâu thuẫn mới cũng phát sinh,khiến con người luôn phải tìm cách thích nghi nhanh chóng Những sức ép trongmột xã hội hiện đại dễ dẫn con người tới với tôn giáo, tín ngưỡng Tôn giáo mới làhình thái tôn giáo xuất hiện đáp ứng những nhu cầu về tinh thần cần thiết cho nhândân trong bối cảnh xã hội nhiều biến động, và có những tác động tích cực tới đờisống xã hội, song cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực Với ý nghĩanhư vậy, cùng với sự lôi cuốn của đối tượng đối với quá trình nghiên cứu về Nhật
Bản, tôi đã chọn đề tài: “Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018” làm
đề tài cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Thế giới của mình
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ nguyên nhân hình thành, vận động
và phát triển cũng như đặc điểm của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiếntranh Thế giới II, trên cơ sở đánh giá những tác động của nó đối với xã hội NhậtBản
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ sau:Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn với tư cách cơ sở để nghiêncứu trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II đến nay Cụ thể
là cần làm rõ các khái niệm liện quan; phân tích bối cảnh xã hội, nhất là các nhân tốtác động đến sự hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từsau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Thứ hai, phân tích sự hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới tại NhậtBản qua các giai đoạn lịch sử từ sau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Thứ ba, đánh giá đặc điểm, vai trò, sự tác động xã hội của trào lưu tôn giáomới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Trang 123.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thếgiới II tới năm 2018, tập trung vào các tổ chức tôn giáo mới điển hình và tác động
xã hội của trào lưu này
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
-Về không gian: luận án đi sâu phân tích về trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
- Về thời gian: luận án tập trung vào sự hình thành và phát triển của trào lưutôn giáo mới từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 Luận án dừng nghiên cứuđối tượng ở năm 2018 là xuất phát từ điều kiện thời gian thu thập tài liệu nghiêncứu thực hiện cho luận án, ngoại trừ một số số liệu của Niên giám tôn giáo NhậtBản năm 2019 đã được sử dụng để tăng thêm tính cập nhập Bên cạnh đó, để giúplàm rõ các vấn đề của trào lưu tôn giáo mới có liên quan, luận án còn nghiên cứu sựphát triển của các tôn giáo mới đã hình thành trước đó, song chưa có cơ hội pháttriển mạnh mẽ
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, nhất là Chủ nghĩ duy vậtlịch sử, quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và của Đảng Cộng sản Việt Nam vềtôn giáo
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp nghiêncứu lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện một cách khách quan và khoa học
về trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II Ngoài ra luận áncòn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh Cụ thể:
+ Phương pháp lịch sử: Dựa trên các nguồn tài liệu, văn bản sử liệu về các tổchức tôn giáo mới, các số liệu thống kê hằng năm của Niên giám Tôn giáo NhậtBản, sắp xếp hệ thống lại để làm rõ nguyên nhân hình thành và phát triển của trào
Trang 13lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II với việc phân chia thànhcác thời kỳ cụ thể Tác giả xem xét và trình bày quá trình phát triển của trào lưutheo một trình tự liên tục, xem xét mối liên hệ của chúng, từ thời kỳ trước biến đổidần dần sang thời kỳ sau; làm rõ điều kiện phát sinh, phát triển và biểu hiện củatừng thời kỳ Để đáp ứng yêu cầu nói trên, Luận án sử dụng phương pháp lịch đại,phương pháp đồng đại và phương pháp phân kỳ.
+ Phương pháp logic: Nghiên cứu tổng quát quá trình phát triển của các tôngiáo mới, từ đó rút ra các quy luật chung nhất, để làm rõ những đặc trưng của tràolưu tôn giáo này
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích nghiên cứu các tài liệu, sửliệu khác nhau Trên cơ sở đó, tổng hợp lại, liên kết từng mặt, từng bộ phận thôngtin đã được phân tích tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh về quá trình phát triển của tràolưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II
+ Phương pháp so sánh: So sánh để tìm ra điểm chung giữa các tổ chức tôngiáo mới, ví dụ như tôn giáo mới có giáo lý theo hệ Thần đạo, theo hệ Phật giáo hayKito giáo, cách thu hút tín đồ của mỗi tổ chức từ đó rút ra kết luận về các đặc trưngchung của tôn giáo mới Đồng thời cũng tìm ra điểm khác biệt giữa các tổ chức này,
để làm rõ những đặc điểm khác nhau theo từng giai đoạn của quá trình phát triểncủa trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Trong luận án, phươngpháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng nhằm làm rõ quá trình phát triển củatừng giai đoạn trong trào lưu tôn giáo mới Do có rất nhiều tổ chức tôn giáo mới nổibật nên tác giả chỉ chọn một số tổ chức tiêu biểu theo hai tiêu chí: thứ nhất là có sốlượng lớn về mặt tín đồ, trong những tổ chức lớn đó thì lựa chọn những tổ chức cógiáo lý khác nhau về mặt nền tảng, để thể hiện được sự đa dạng (nên tác giả chọn cả
tổ chức có nền tảng giáo lý là các tôn giáo truyền thống và tổ chức có giáo lý tuy có chịu ảnh hưởng của một số tôn giáo truyền thống nhưng đã sáng tạo nên giáo
mới-lý riêng biệt của mình); thứ hai là có phương thức hoạt động hiệu quả trong giaiđoạn đó (không dựa vào việc tổ chức đó có nhất thiết ra đời trong giai đoạn đó hay
Trang 14không, có thể ra đời trong giai đoạn đó hoặc đã có từ giai đoạn trước), qua đó làm
rõ sự biến chuyển trong bối cảnh xã hội từng giai đoạn đã tác động tới trào lưu tôngiáo mới, cho thấy các tổ chức đã vận dụng những thuận lợi khách quan để đạt đượchiệu quả
+ Ngoài các phương pháp nêu trên, tác giả luận án còn tiến hành nghiên cứuthực địa ở Nhật Bản Cụ thể, tác giả đã có dịp gặp gỡ, trao đổi ý kiến với cácchuyên gia trong lĩnh vực tôn giáo của Nhật Bản như giáo sư Inoue Nobutaka (Đạihọc Kokugaku-in), giáo sư Tsushima Michihito (Đại học Kansai Gakuin), giáo sưSawai Yoshitsugu (Đại học Tenri) Tác giả cũng tham dự một số buổi hành lễ củagiáo phái Omoto (trụ sở ở Ayabe, Kyoto), giáo phái Tenri (trụ sở ở Tenri, Nara), tổchức Phật giáo mới Shinnyo-en (trụ sở ở Tachikawa,Tokyo), tổ chức Phật giáo mớiRissho Koseikai (trụ sở ở Suginami, Tokyo), tổ chức Phật giáo mới Reiyukai (trụ sở
ở Minato, Tokyo), gặp gỡ và nói chuyện với một số tín đồ của các tổ chức này Tácgiả còn được tham quan thực địa cơ sở vật chất của các tổ chức tôn giáo mới nóitrên, cùng với cơ sở của tổ chức Phật giáo mới Soka Gakkai, giáo phái Kofuku noKagaku Những kinh nghiệm quý báu trên đã giúp tác giả hình dung rõ hơn về quy
mô cũng như sự phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
5.Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Phân tích và trình bày một cách có hệ thống quá trình hình thành, phát triểncủa trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II cho đến năm
2018 cũng như rút ra các đặc điểm của trào lưu này
- Đánh giá tác động của trào lưu tôn giáo mới tới xã hội Nhật Bản cả mặt tíchcực và mặt tiêu cực
- Luận án bổ sung vào nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảngdạy chuyên ngành lịch sử thế giới, chuyên ngành Nhật Bản học, chuyên ngành tôngiáo học ở Việt Nam
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm rõ một số vấn đề về lý luận trong nghiên cứu tôn giáo
Trang 15Nhật Bản nói chung và nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản nói riêng Đó là góp phần
về làm rõ các khái niệm về tôn giáo mới, tổ chức tôn giáo mới, trào lưu tôn giáomới, đặc điểm của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
7.Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án cấu trúc thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu trào lưu tôn giáo
mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018
Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở
Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018
Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản.
Câu hỏi nghiên cứu của từng chương :
Chương 1: Tại sao phải chọn đề tài luận án này ? luận án có đóng góp khoa
học gì ? tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài ?
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành của trào lưu tôn giáo
mới này là gì ?
Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới này
như thế nào ? trào lưu này có mấy thời kỳ ? đặc điểm của từng thời kỳ là gì ?
Trang 16Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới này là gì ?
ở Việt Nam tình hình tôn giáo mới như thế nào ? từ thực tiễn ở Nhật Bản có thể rút
ra liên hệ gì cho Việt Nam ?
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống
Trong số các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống Nhật Bản xuấtbản trong nước bằng tiếng Việt, trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về
Phật giáo Đó là các công trình như:cuốn Lịch sử Phật giáo Nhật Bản (NXB Tôn giáo, HN, 2002) của tác giả Giác Dũng, cuốn Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản (NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2011) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh, Luận án tiến sĩ Sử học Phật giáo trong đời sống chính tri, văn hóa- xã hội Nhật Bản (thế kỷ VI- thế kỷ XIX) (bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận
án tiến sĩ khoa Lịch Sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012) của Trần Nam Trung Phậtgiáo là một trong những tôn giáo truyền thống có số lượng tín đồ khá đông đảo ởNhật Bản, ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống người dân Nhật khá rõ nét, thờiđiểm diễn ra lễ Obon, một lễ hội bắt nguồn từ Phật giáo (giống như lễ Vu Lan ởnước ta) được coi là một trong ba dịp nghỉ lễ quốc gia quan trọng của Nhật trongnăm Thông qua việc tiếp nhận Phật giáo, Nhật Bản- một đảo quốc- đã kết nối đượcvới nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nền tảng xây dựng nên văn hóa NhậtBản đặc sắc cho tới ngày nay Phật giáo có dấu ấn trong mọi lĩnh vực như nghệthuật, phong tục tập quán, giáo dục, văn học, thậm chí cả chính trị Các công trìnhtrên đã góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn về lịch sử Phật giáo ở Nhật Bản, cũngnhư những dấu ấn trong mọi lĩnh vực đời sống của tôn giáo này
Nghiên cứu về Thần đạo – một tín ngưỡng truyền thống vốn có của ngườiNhật cũng là mảng xuất hiện khá nhiều nghiên cứu đáng chú ý Trước hết phải kể
đến cuốn Tư tưởng Thần đạo và xã hội Nhật Bản cận- hiện đại (NXB Khoa học Xã
hội, HN, 2008) của tác giả Phạm Hồng Thái Khác với Phật giáo là tôn giáo cónguồn gốc từ nước ngoài, đã dần hòa nhập đề phù hợp với văn hóa Nhật Bản, Thầnđạo là tôn giáo ra đời và phát triển rất lâu ở Nhật Bản, ăn sâu vào tiềm thức cũng
Trang 18như trái tim của người dân Thần đạo có mối quan hệ rất mật thiết với địa lý và lịch
sử của Nhật Bản, chính vì vậy nó có nhiều điểm tương đồng với tính cách của ngườiNhật Với việc trình bày cụ thể về các loại hình Thần đạo và quá trình phát triển củatín ngưỡng bản địa mang đậm sắc thái Nhật Bản đem lại cơ sở quan trọng cho việcphân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển của các trào lưu tôn giáo mớitrong thời kỳ cận đại của Nhật Bản Bài viết của tác giả Nguyễn Kim Lai (2005)
nhan đề Về sự hòa hợp giữa Thần đạo và đạo Phật ở Nhật Bản, tạp chí Nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 2(56)/2005, phân tích về hiện tượng “Thần Phật tậphợp” của Nhật Bản Trước khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản thì nơi đây đã hìnhthành tín ngưỡng thờ Thần, gọi là Kami và mỗi Kami đại diện cho một sức mạnhtrong tự nhiên Tuy nhiên tín ngưỡng thờ Thần này (gọi là Shinto, tức Thần Đạo –神道) thường quan tâm tới cuộc sống nơi trần thế mà ít quan tâm tới cuộc sống saukhi chết Vì vậy khi Phật giáo vào Nhật vào thế kỷ thứ VI sau Công nguyên, với lýgiải về cuộc sống sau khi chết, đã được đón nhận và dần có sức ảnh hưởng Thế kỷVIII tức thời kỳ Nara (710-794) xuất hiện thuyết “ Ngự pháp thiện Thần” Thuyếtcho rằng Thần chính là Hộ pháp của Phật, có sứ mệnh bảo vệ cho Phật, Thần vàPhật chính là một, Thần là Phật và Phật là Thần Chính vì vậy thờ cúng cả Thần vàPhật không hề có sự mâu thuẫn nào hết Cùng tác giả Nguyễn Kim Lai có bài viết
Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam - Những nét tương đồng và khác biệt, Tạp chí Triết học, số 8 (171)/2005 Bài viết phân tích đối với Nhật Bản,
Thần đạo là một tôn giáo giữ vị trí độc tôn và có ảnh hưởng lớn trong đời sống tâmlinh của người dân, còn tín ngưỡng dân gian Việt Nam phản ánh đặc trưng của nềnvăn minh lúa nước Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nhữngnét tương đồng, đều bắt nguồn văn hoá phương Đông, nền tảng của sự tương đồngvăn hoá của hai dân tộc là kinh tế nông nghiệp Song giữa Thần đạo Nhật Bản và tínngưỡng dân gian Việt Nam có những nét khác biệt, tín ngưỡng của người Việtmang tính dân gian và chưa trở thành một tôn giáo; còn ở Nhật Bản thì Thần đạo trởthành một tôn giáo chính thống, sự khác biệt này tạo nên nét độc đáo của Thần đạoNhật Bản và bản sắc riêng tín ngưỡng dân gian Việt Nam Như vậy, tuy vấn đề tôn
Trang 19giáo mới của Nhật Bản không được đề cập trực tiếp ở đây, nhưng các công trìnhnày đã cung cấp những kiến thức phong phú về quá trình phát triển và ảnh hưởng xãhội của các tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Thần đạo ở Nhật Bản, giúp cóđược cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn về vấn đề mà đề tài đặt ra.
Về tài liệu của tác giả nước ngoài, có thể kể tới bài viết Tôn giáo Nhật Bản trích dịch từ cuốn “Tôn giáo Nhật Bản”, công trình nghiên cứu của Cục Văn hóa
Nhật Bản (tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/1999), bài viết đề cập tới một số tổchức tôn giáo mới nổi bật ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, tuy chủ yếu vẫn
là phân tích và giới thiệu các tôn giáo truyền thống của Nhật như Thần đạo, Phật
giáo và Kito giáo Ngoài ra có các cuốn sách như Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản của Joseph M.Kitagawa (Nxb Khoa học Xã hội, HN, 2002); Tôn giáo Nhật Bản của Murakami Shigeyoshi (Nxb Tôn giáo, HN, 2005); Lịch sử tôn giáo Nhật Bản của
Sueki Fumihiko (Nxb Thế giới, HN, 2011) Những công trình trên đây hàm chứanhiều tư liệu giá trị và đánh giá của các học giả Nhật Bản về toàn cảnh tôn giáoNhật Bản nói chung, trong đó bao gồm tình hình tôn giáo từ sau Chiến tranh Thếgiới II đến nay, đặc biệt không thể không nhắc tới tôn giáo mới, cũng như những tổchức tôn giáo mới tiêu biểu, như Soka Gakkai, Tenrikyo, Omoto, giáo phái Chân lýAum…Tuy vậy, do chủ đề về tôn giáo Nhật Bản khá bao quát, nên tôn giáo mới ởNhật Bản, dù được đề cập tới, cũng chỉ đóng vai trò là một phần trong khi các tácgiả đề cập đến tiến trình phát triển của lịch sử tôn giáo Nhật Bản
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới
Trong phạm vi các công trình nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt đi sâu vào
phân tích một tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu ở Nhật Bản, có thể kể đến bài viết Vấn
đề tham chính của giáo phái Soka Gakkai (Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số
7/2013) của tác giả Dương Kim Oanh Soka Gakkai là một tổ chức Phật giáo mớitheo hệ Pháp Hoa, có số lượng tín đồ ở trong và ngoài Nhật Bản khá đông đảo Ảnhhưởng của Soka Gakkai tới chính trị thể hiện qua việc Komeito (Công Minh đảng-được thành lập vào 1964 như một nhánh khác của Soka Gakkai, tuy nhiên sau đó đãtuyên bố ly khai trên danh nghĩa) giành được số phiếu ủng hộ lớn Komeito nhấn
Trang 20mạnh đến các giá trị truyền thống của Nhật Bản và đã thu hút được sự chú ý củathành phần dân nghèo thành thị cũng như nông thôn đặc biệt là với phụ nữ Trongcuộc bầu cử nghị viện năm 2003 và 2004, đảng giành được kết quả tốt nhờ lượngphiếu bầu lớn từ Soka Gakkai Với tư cách là một đối tác liên minh với Đảng Dânchủ Tự do, Komeito hiện đang dần trở thành một đảng phái chính trị lớn ở Nhật Bản.Trường hợp Soka Gakkai cho thấy sự ảnh hưởng không chỉ tới đời sống xã hội màcòn dần có vai trò trong chính trường của tôn giáo mới ở Nhật, mặc dù theo nguyêntắc “Chính giáo phân ly” được ban hành năm 1947, tôn giáo không được tham giavào đời sống chính trị Về luận văn thạc sĩ, có thể kể tới luận văn của Trần Thị
Dung với đề tài Phong trào tôn giáo mới ở Nhật Bản, chuyên ngành Châu Á học,
bảo vệ tháng 4/2015, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc Gia Tp.Hồ ChíMinh Luận văn đã phân tích những nguyên nhân hình thành nên sự phát triển mạnh
mẽ của hiện tượng tôn giáo mới sau Chiến tranh Thế giới II ở Nhật Bản, đổng thờinêu lên các tôn giáo mới tiêu biểu như Omoto, giáo phái Chân lý Aum Tuy nhiênluận văn đi vào nghiên cứu các trường hợp tiêu biểu chứ không đi theo về quá trìnhphát triển theo dòng thời gian của hiện tượng này
Do ảnh hưởng xã hội mang tính tiêu cực, mang tính cảnh báo về nguy cơ từcác loại hình tôn giáo mới trên phạm vi toàn thế giới của giáo phái Chân lý Aum,
nên có một số bài viết về tổ chức này được dịch ra ở Việt Nam, như bài viết Tôn giáo ra tòa, sự kết thúc của giáo phái Aum cùa tác giả D.W.Brakett (Tạp chí Nghiên
cứu Tôn giáo, số 5/2001) đề cập tới sự kết thúc của giáo phái này khi cảnh sát bắtgiữ Asahara- giáo chủ của Aum sau vụ tấn công bằng khí độc Sarin vào năm 1995,
cũng như những câu hỏi ám ảnh người dân Nhật Bản “Tại sao tai họa này lại xảy ra? Làm sao có thể ngăn cản nó không trở lại?”, từ đó những yêu cầu cấp thiết
trong việc sửa đổi Luật pháp nhân Tôn giáo được đặt ra và dẫn tới việc Luật nàyđược sửa đổi cuối năm 1995 nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt
động tôn giáo tới an ninh- trật tự xã hội Tiếp theo là bài viết Tâm lý học xã hội về
“kiểm soát tinh thần bởi giáo phái” của Nishida Kimiaki trong cuốn “Ứng dụng tâm lý học tại Nhật Bản” (đồng chủ biên: Vũ Dũng – Phan Thị Mai Hương – Ito
Trang 21Tetsuji – Yamamoto Toshiya, Nxb Từ điển Bách Khoa, HN, 2005) phân tích sự mêhoặc của tôn giáo, cụ thể hơn là một số tôn giáo mới như giáo phái Chân lý Aum
đối với tín đồ dưới góc độ tâm lý học; ngoài ra có bài viết Aum Shinrikyo- giáo phái
“Chân lý tối thượng” trong cuốn “Những hội kín tàn bạo nhất lịch sử” của Shelley
Klein (Nxb Công An Nhân Dân, HN, 2010) phân tích các thủ đoạn lừa bịp để lôikéo tín đồ, những âm mưu mà giáo phái này ấp ủ nhằm gia tăng thanh thế về mặtchính trị, sự bất lực của cơ quan công quyền trước những vụ việc phạm pháp củachúng, dẫn đến vụ tấn công bằng khí độc Sarin ở hệ thống tàu điện ngầm Tokyo làmhàng nghìn người thương vong, tới lúc này giáo phái này mới thực sự phải “đền tội”.Trong các bài viết nói trên, giáo phái Aum nổi bật trong những thập kỷ 80 ở Nhật
và hậu quả nặng nề của giáo phái này gây ra cho xã hội Nhật Bản được đề cập vàphân tích dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, do mục đích nhấn mạnh vào tác hạicủa việc người dân bị lôi kéo tinh thần, dẫn đến việc tham gia vào giáo phái này cũngnhư sự lừa gạt, kiểm soát tín đồ của giáo chủ Asahara, nên các bài viết trên chưa đềcập tới tình hình tôn giáo mới ở Nhật Bản nói chung, cũng như những mặt tích cực củatrào lưu này
Về tài liệu tiếng Anh, cuốn New Religions, Contemporary Paper in Japanese Religion-2 (Tôn giáo mới, những tư liệu đương thời trong tôn giáo Nhật Bản- phẩn
2, Viện Nghiên cứu văn hóa và truyền thống Nhật Bản, Đại học Kokugakuin, NhậtBản,1991) do tác giả Inoue Nobutaka chủ biên Đây là cuốn sách gồm nhiều bài viếtcủa nhiều tác giả nổi tiếng, đi sâu vào phân tích một số tôn giáo mới nổi tiếng như
Reiyukai, Tensho Kotai Jingukyo Đặc biệt, bài viết Recent Trends in the Study of Japanese New Religions (Những khuynh hướng gần đây trong nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản) của Inoue Nobutaka nêu lên và phân tích khá chi tiết và tỉ mỉ về các
cách định nghĩa thế nào là “tôn giáo mới”, kể cả tại sao có các cách gọi khác nhaunhư “tân hưng tôn giáo” (Tôn giáo mới nổi) hay “tân tôn giáo” (Tôn giáo mới), đếnnhững nét đặc trưng của tôn giáo mới, tình hình nghiên cứu về tôn giáo mới ở NhậtBản sau Chiến tranh Thế giới II cũng như các khuynh hướng nghiên cứu gần đâytrong lĩnh vực tôn giáo mới Đây là một cơ sở quan trọng cho việc nhìn nhận, phân
Trang 22tích, đánh giá sự phát triển của tôn giáo mới ở Nhật Bản Trong cuốn Japanese Religions: past & presen (Tôn giáo Nhật Bản: Quá khứ và hiện tại) của Ian Reader,
Esben Andreasen, Finn Stefansson (NXB Routledge Curzon, Anh, 2002), tình hìnhtôn giáo mới ở Nhật Bản được đề cập đến theo nghiên cứu trường hợp (Case Study),lần lượt đi vào phân tích, nêu lên đặc trưng nổi bật của các tổ chức tôn giáo mới nhưTenrikyo, Soka Gakkai, Rissho Koseikai, Seicho no Ie, Mahikari giúp người đọc
có một cái nhìn khái quát về tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôn giáo mới nói riêng.Tuy vậy, do mang tính khái quát nên công trình chưa đặt các tổ chức tôn giáo mớinày vào tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới nói chung
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về một tổ chức tôn
giáo mới nổi bật, trong đó cuốn Aum Shinrikyo and Japanese Youth (Giáo phái Chân lý Aum và giới trẻ Nhật Bản, NXB University Press, Hoa Kỳ) của Daniel A.
Metraux (1998), trong đó nêu lên quá trình phát triển cũng như sức mê hoặc củagiáo phái này đối với giới trẻ, rất nhiều thanh niên ưu tú (được nêu tên từng trườnghợp cụ thể) đã tin theo những giáo lý của giáo phái Aum một cách sâu sắc và hậuquả của niềm tin đó Trong số các công trình bằng tiếng Anh chưa hoặc đã đượcdịch ra tiếng Việt, ta có thể nhận thấy rất nhiều công trình đề cập tới giáo phái Chân
lý Aum, cũng như hậu quả của giáo phái này đối với xã hội.Điều này cho thấy giáophái Chân lý Aum là một vấn đề rất đáng quan tâm của các học giả nước ngoài Tuynhiên, cũng như các công trình đi sâu vào một tổ chức tôn giáo, việc phân tích cảtiến trình phát triển của tôn giáo mới cũng như ảnh hưởng xã hội- chính trị của nó ởNhật Bản, còn chưa được đề cập tới
Về mảng công trình xuất bản bằng tiếng Nhật, có một cuốn sách khá lý thú là
Đọc-hiểu tôn giáo mới (新宗教の解読の解読解読, NXB Chikuma, 1992) của tác giả Inoue
Nobutaka Cuốn sách lần lượt trình bày theo từng chương, với mỗi chương tác giảđưa ra một câu hỏi hoặc một nhận định, sau đó giải thích bằng cách đưa ra cáctrường hợp cụ thể về các tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu Vì vậy, đây là cuốn sáchkhá tỉ mỉ, chuyên sâu và hữu ích cho người nghiên cứu tôn giáo mới ở Nhật Bản.Một cuốn sách nghiên cứu về diện mạo tôn giáo mới được viết theo cách tiếp cận
Trang 23nghiên cứu trường hợp (Case Study) là Qúa trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới (新 宗 教の解読 運 動の展開過程 の解読 展 開 過 程, NXB Sobunsha, 1989) của tác giả MoriokaKiyomi- nhà xã hội học nổi tiếng Từ việc nghiên cứu Rissho Koseikai, một tổ chứctôn giáo theo hệ Phật giáo, lấy giáo lý là Pháp Hoa kinh, với những bước thăng trầmtrong lịch sử, từ việc bắt đầu xây dựng cơ sở vật chất, thu hút tín đồ, mở rộng cơ sở
ở nước gọi chung là “chu trình” của tổ chức này, tác giả đã giúp người đọc hìnhdung về tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật, vì một tổ chức tôngiáo không thể nằm ngoài bước tiến chung của cả trào lưu Về việc cập nhập côngnghệ thông tin của các tổ chức tôn giáo mới, có bài viết của tác giả Huang Lvping
(2001), nhan đề Nghiên cứu trường hợp “Negai no miya”, về các vị thần thông dụng trong thời đại Internet (インターネット時代の流行神時代の流行神の解読流行神―「願いの宮」を事いの解読宮」を事を事事例にーにー,黄緑萍), thuộc Kho thông tin trường đại học Tohoku (Tohoku UniversityRepository, cập nhập 2012) Đây là bài viết nghiên cứu về Konkokyo, tổ chức tôngiáo mới theo phái Thần đạo, họ đã tận dụng thế mạnh và sự tiện lợi của Internet
để đơn giản hóa việc thờ cúng cũng như cầu nguyện trước vị thần của mình, rấtphù hợp và tiết kiệm thời gian cho đông đảo tín đồ, đồng thời giúp số người đếnvới tổ chức tăng lên
Tiếp theo là cuốn Mười tôn giáo mới, lớn nhất của Nhật Bản (日本の の解読 10 大
新宗 教の解読 ) (NXB Gentosha, 2007) của tác giả Shimada Hiromi, trong cuốn sáchnày, chân dung của 10 tổ chức tôn giáo mới lớn nhất ở Nhật Bản hiện nay hiện lênchi tiết, bắt đầu từ sự ra đời, tới giáo lý, người sáng lập, điểm thu hút tín đồ… chotới tình hình hiện nay của các tổ chức này Đối với người đang muốn tìm hiểu vềcác tổ chức tôn giáo mới nổi bật ở Nhật Bản, đây là một tài liệu hữu ích Tuy vậy,
do sắp xếp theo thứ tự giảm dần về qui mô của các tổ chức này, nên người đọc chưahình dung được về tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật sau Chiếntranh Thế giới II Một trong những công trình rất được chú ý liên quan đến chủ đề
tôn giáo mới Nhật Bản phải kể đến là “Tôn giáo mới Nhật Bản chưa phải là chuyện
đã xong nếu chúng ta chưa hiểu –phía sau của phía sau thị trường khổng lồ hai trăm
Trang 24triệu người bị thuyết phục khi đọc” (知らないではすまされない日本の「新らないではすまされない日本の の解読「新宗教の解読 」を事 ― 読 ん で ナ ッ ト時代の流行神 ク “2 億 人 ” 巨 大 市 場の裏のウラ の解読 裏のウラ の解読 ウ ラ) của IshikuraHiroshi (NXB Bunko Gingado, 2008) Trong cuốn sách này, tác giả lý giải vì saotôn giáo nói chung lại có sức hút đối với con người, sau đó so sánh tôn giáo NhậtBản với tôn giáo thế giới Tiếp theo tác giả đi vào phân tích điểm khác nhau giữahai cách gọi “tân hưng tôn giáo” (tôn giáo mới nổi) và “tân tôn giáo” (tôn giáo mới),
và các cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo mới, giải thích nguyên nhân tôn giáomới được tin theo, thậm chí đưa ra cách gọi “Kombini hóa tôn giáo mới”, do tôngiáo mới đáp ứng được các yêu cầu: tiện lợi, thân thiết, dễ dàng không khác gì với
“Kombini”, tức cách gọi các cửa hàng tiện ích ở Nhật Bản (cửa hàng mở cửa suốt
24 giờ một ngày, có đủ các thứ nhu yếu phẩm phục vụ sinh hoạt) Sau đó tác giả đisâu phân tích các đặc trưng như “thần thông hóa”, “siêu nhiên hóa” để thuyết phụctín đồ của tôn giáo mới, rồi sự liên kết với truyền thông của họ…Tất cả những đặctrưng cũng như cách thức hoạt động thường thấy của tôn giáo mới như có một bộphận đông đảo người sáng lập là nữ giới, sự liên kết với chính trị, sự kinh doanhnúp bóng tôn giáo, mở rộng địa bàn ra nước ngoài… đều được đề cập Có thể nói,tuy không có tiêu đề là “từ điển tôn giáo mới”, song cuốn sách thực sự là một cuốn
từ điển khá cụ thể về tôn giáo mới, là tư liệu quan trọng cho người muốn nghiêncứu về tôn giáo mới ở Nhật
Cuốn sách “Nhà tôn giáo như một chức nghiệp- những bí quyết trong đời sống tinh thần của Okawa Ryuho” (職業としての宗教家、隆法大川 スピリチとしての解読宗教の解読家、隆法大川 スピリチ スピリチ ュアル・ライフの極意の解読極意) (NXB Kofuku no Kagaku, 2015), với tác giả chính làOkawa Ryuho- người sáng lập ra tổ chức tôn giáo mới Kofuku no Kagaku (Khoahọc Hạnh phúc), cho người đọc hình dung về quan điểm hoạt động của một nhàsáng lập tôn giáo mới Cuốn sách này được viết theo hình thức đối thoại giữaKirara- diễn viên chính bộ phim “Với thiên sứ-Tôi ổn” (天使に“アイム・ファイに アイム・フの極意ァイ“
ン ”)- một trong những bộ phim do Ryuho Okawa chế tác và chỉ đạo sản xuất- vớichính Ryuho Okawa Qua đó, những bí quyết về phương pháp học tập, phương
Trang 25pháp thuyết giảng, tới việc ghi âm lại những thuyết giảng của mình như một kỹthuật“đằng sau sân khấu ” đều được Ryuho Okawa bộc bạch Qua đó, ta thấy ôngcoi những nhà hoạt động tôn giáo phải như một viên chức, có những kỹ năng, cótrách nhiệm rõ ràng và có những bí quyết để đạt năng suất cao hơn Đây là mộtcuốn sách quý báu dành cho người nghiên cứu tôn giáo mới nói chung và tổ chứcKofuku no Kagaku nói riêng.
Cuốn sách “Soka Gakkai, tại sao lại phát triển mạnh tới như vậy ?” (なぜ 、これほどまでに強いのか?『創価学会』いの解読か?『創価学会』創価学会』』)(NXB Mainichi Shinbun, 2018) của
tác giả Tahara Souichiro, là công trình đi sâu vào nghiên cứu nguyên nhân thànhcông của Soka Gakkai ở Nhật Bản, thậm chí hiện nay Soka Gakkai đã có mặt tại
192 quốc gia và vùng lãnh thổ Tác giả là người chuyên nghiên cứu nhiều năm vềSoka Gakkai, bản thân ông cũng từng gặp Hội trưởng đời thứ ba Ikeda Daisaku củaSoka Gakkai hai lần, từng gặp và phỏng vấn Hội trưởng đời thứ sáu Harada Minorucủa Soka Gakkai (Ikeda Daisaku sau khi từ nhiệm chức Hội trưởng vẫn giữ chức vụHội trưởng danh dự của tổ chức này) Bản thân ông đã mất ba năm thu thập tài liệu
và chấp bút viết nên cuốn sách này Ông phân tích tại sao Soka Gakkai đạt đượcthành tựu to lớn cả về mặt tín đồ và quy mô, đó là do các đời Hội trưởng của SokaGakkai đã rất khéo léo vượt qua mọi khó khăn và thách thức đến với tổ chức, từ mặttruyền bá giáo lý, tới việc đối phó với dư luận khi thành lập đảng chính trị CôngMinh (Komeito).Trong đó, ông nhấn mạnh vai trò rất lớn của Ikeda Daisaku- Hộitrưởng đời thứ ba của Soka Gakkai Đây là một công trình rất hữu ích cho nhữngngười nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản và nghiên cứu về Soka Gakkai
1.2 Các công trình nghiên cứu về tác động của tôn giáo mới ở Nhật Bản
1.2.1 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới đời sống chính trị- xã hội Nhật Bản
Trong các công trình nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt, đầu tiên thể kể tới
bài viết Tác động của tôn giáo đến đời sống chính trị Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX của tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh (Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 3/2001), Tôn giáo Nhật Bản hiện đại: Sự vận động của tự do tín
Trang 26ngưỡng của tác giả Trần Văn Trình (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 1/2007) Các
công trình này cung cấp những thông tin, phân tích, đánh giá của các học giả ViệtNam về sự phát triển, cũng như ảnh hưởng chính trị- xã hội của tôn giáo ở Nhật Bản
từ sau Chiến tranh Thế giới II, trong đó có tôn giáo mới Bài viết của tác giảNguyễn Thị Thúy Anh nêu lên hai khuynh hướng nổi trội trong việc đánh giá vai tròcủa tôn giáo trong đời sống chính trị của Nhật Bản thập niên 90 của thế kỷ XX: một
là, tôn giáo mới với chính trị có những hình thức mới để tạo thành một liên minh cótính chính trị; hai là, khả năng xuất hiện nhiều giáo phái mới gây phương hại tới anninh chính trị và trật tự an toàn Bài viết của tác giả Trần Văn Trình khẳng định việcxác lập nguyên tắc tách biệt chính trị với tôn giáo, không cho phép Nhà nước canthiệp vào tôn giáo và cũng không cho phép tôn giáo nắm quyền lực chính trị để bảo
vệ tự do tín ngưỡng đang trở thành vấn đề quan trọng ở Nhật Bản Tuy nhiên, vaitrò và ảnh hưởng của tôn giáo mới vẫn chưa được đề cập nhiều, chủ yếu chỉ nhắctới một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật như Soka Gakkai (Sáng Giá học hội) hoặcgiáo phái Chân lý Aum
Đề cập trực tiếp tới tác động chính trị- xã hội của tôn giáo mới, có cuốn Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay (NXB Khoa học Xã hội, HN, 2005), do tác giả
Phạm Hồng Thái chủ biên, cuốn sách đã đưa ra được một số vấn đề chủ yếu xuấthiện trong đời sống tôn giáo Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay, trong đó có sựbùng phát của tôn giáo mới, tác động xã hội của trào lưu này, và việc Chính phủNhật Bản đã có những chính sách tôn giáo như thế nào cho phù hợp với thực tế.Đây là tài liệu thực sự bổ ích cho bạn đọc khi nghiên cứu về Nhật Bản nói chung và
tôn giáo Nhật Bản nói riêng Tiếp theo là các bài viết của cùng tác giả như Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau 1945 tới nay (Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á,
số 5/2005) nêu lên nguyên nhân xuất hiện, đặc điểm của tôn giáo mới sau Chiến
tranh Thế giới II ở Nhật Bản; Vấn đề tôn giáo mới trong xã hội Nhật Bản hiện đại (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10/2007) khẳng định mặt tích cực và tiêu cực đối với đời sống chính tri- xã hội Nhật Bản của tôn giáo mới; Hiện tượng tôn giáo mới
ở Nhật Bản và Việt Nam: Những tương đồng và khác biệt (Tạp chí Nghiên cứu
Trang 27Đông Bắc Á,số 11/2013) nêu lên những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữatôn giáo mới ở Nhật Bản và Việt Nam, mặc dù hoàn cảnh xã hội và thời điểm xuấthiện của tôn giáo mới giữa hai quốc gia từ sau 1945 tới nay có những điểm khácnhau, nhưng những nguyên nhân xuất hiện của tôn giáo mới, đặc điểm và tác độngcủa chúng có rất nhiều điểm đáng chú ý, cần phải tiếp tục nghiên cứu quá trình pháttriển của hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở so sánh nó vớinhững diễn biến tại Nhật Bản Trong các công trình của tác giả Phạm Hồng Thái,vấn đề tôn giáo mới đã được phân tích cụ thể, đưa ra những nét đặc trưng, qúa trìnhphát triển và ảnh hưởng tới việc hoàn thiện chính sách tôn giáo của Nhật Bản cuốinăm 1995 Cũng chung chủ đề này là bài viết của tác giả Trương Văn Chung với
nhan đề Tôn giáo mới với xã hội và Nhà nước Nhật Bản trong cuốn “Nhật Bản: Giao thoa văn hóa” (NXB Đại học Quốc gia Tp HCM, 2016) Ở bài viết này, vấn
đề tôn giáo mới và ảnh hưởng đối với xã hội và Nhà nước ở Nhật Bản được nêu lên,kèm theo các dẫn chứng sinh động Tuy vậy, việc đi sâu phân tích tỉ mỉ qúa trìnhphát triển của tôn giáo mới ở Nhật Bản vẫn chưa được đề cập tới
Số lượng công trình được dịch ra tiếng Việt khá ít ỏi, chỉ có bài viết của tác
giả Hirochika Nakamaki với nhan đề Người Nhật và tôn giáo: Tiếp cận từ góc độ tiêu dùng, (tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2001), đề cập tới việc người Nhật coi
tôn giáo là một vấn đề thực hành, thực tế, có quan hệ hiện thực, thể hiện bản chất vịlợi của người Nhật Đọc bài viết này, chúng ta hiểu được tại sao tôn giáo mới ởNhật dễ lôi kéo người dân tham gia, nhờ đi vào giải quyết những vấn đề thực tế củađời sống Về cống hiến xã hội của các tổ chức tín ngưỡng, trong đó có đề cập tới
Tenrikyo, có bài viết của tác giả Horiuchi Kazunobu, nhan đề Cống hiến xã hội của các tổ chức tín ngưỡng- vốn xã hội dựa trên tín ngưỡng ở Nhật Bản trong cuốn
“Nhật Bản: Giao thoa văn hóa” (NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2016) Ở đây,
tác giả nhận định tín ngưỡng đã tạo ra nguồn vốn xã hội có tính tôn giáo và đónggóp cho sự hình thành một trật tự xã hội ổn định, cho sự liên kết các thành viêntrong xã hội Cụ thể, Tenrikyo đã tiến hành các hoạt động từ thiện dựa trên các giá
trị tôn giáo của họ là Hinokishin và Tatsukeai Đặc biệt, Tenrikyo đã có những hoạt
Trang 28động rất tích cực và cụ thể trong việc cứu trợ sau thảm họa đại động đất sóng thần ởĐông Nhật Bản ngày 11 tháng 3 năm 2011.
Về tài liệu tiếng Anh nghiên cứu ảnh hưởng của tôn giáo mới ở Nhật Bản tớiđời sống chính trị- xã hội trong những thập niên gần đây, phải kể đến cuốn
Japanese New Religions in Global Perspective (Tôn giáo mới Nhật Bản trong phối cảnh toàn cầu, NXB Curzon, Anh, 2000) do Peter B Clarke biên tập Đây là công
trình tập hợp các bài viết về tình hình các tôn giáo mới của Nhật Bản ở một số khuvực và quốc gia, từ bài viết phân tích về tôn giáo mới Nhật Bản ở phương Tây, đếnhoạt động của một số tổ chức tôn giáo mới ở các nước, như Úc, Braxin, Đức, Anh,
Mỹ (tiêu biểu là sự phát triển của Tensho Kotai Jingukyo ở Hawai), và bài viếtmang tính nhận định về thành công cũng như thất bại của tôn giáo mới Nhật Bản ởnước ngoài Có thể nói, đây là một tư liệu quý giá để tìm hiểu, nhận định về tầm ảnhhưởng của tôn giáo mới Nhật Bản trên phạm vi toàn cầu, cũng như phương thức thuhút tín đồ ở nước ngoài của từng tổ chức Mỗi tổ chức lại có một cách thu hút tín đồriêng, như Tenrikyo nhấn mạnh vào liệu pháp chữa bệnh thì Soka Gakkai lại tậptrung tuyên truyền về việc bản thân là một tổ chức Phật giáo, khiến nhiều tín đồ chủtrương theo Phật giáo dễ bị thu hút Tuy nhiên, do chủ đề của cuốn sách là về ảnhhưởng ở nước ngoài của tôn giáo mới Nhật Bản, nên chỉ đi vào phân tích tình hình
ở nước ngoài chứ chưa đề cập nhiều tới chính bản thân tổ chức tôn giáo đó ở trongnước Với chủ đề sử dụng Internet để thu hút tín đồ của các tôn giáo ở Nhật Bản,
trong đó có các tổ chức tôn giáo mới, bài viết Online-Religion in Japan:Website and Religious Counseling from a Comparative Cross-Cultural Perspective (Tôn giáo online ở Nhật Bản: Webiste và những tư vấn tôn giáo từ góc nhìn so sánh văn hóa) của hai tác gải Akira Kawabata vàTakanori Tamura trên Tạp chí Thông tin Máy tính- Truyền thông (số 12-2007), Hiệp hội Thông tin Quốc tế (Journal of
Computer-Mediated Communication, International Communication Association).Đây là một bài viết rất hữu ích cho việc nghiên cứu các tổ chức tôn giáo đã sử dụngInternet để làm tăng ảnh hưởng của tổ chức của mình như thế nào, đặc biệt là việc
mở rộng dịch vụ tư vấn qua mạng của Tenrikyo và Konkokyo- hai tôn giáo mới hệ
Trang 29Thần đạo, ban đầu là tư vấn tâm lý, sau dần dần người nhận tư vấn sẽ cảm thấy sứchút từ tôn giáo mà người tư vấn đang theo Đây là một bước đi rất khéo léo.
Về việc tận dụng truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng hiệnđại để cách thu hút tín đồ của các tôn giáo mới Nhật Bản, không thể không kể tới
cuốn Japanese Religions on the Internet, Innovation, Representation and Authority (Tôn giáo Nhật Bản trên Internet, sự đổi mới, thể hiện và quyền lực, NXB Routledge, London, Anh, 2011) của ba tác giả Erica Baffelli, Ian Reader and Birgit
Staemmler Ở đây, các vấn đề giữa việc tận dụng truyền thông, Internet của các tôngiáo truyền thống cũng như những mặt trái của việc này được đề cập, kể cả việc tạotrang Web chính thức để quảng cáo của các tổ chức tôn giáo Về tôn giáo mới, có bàiviết về tôn giáo mới nói chung xung quanh việc sử dụng các Blogger để tuyêntruyền, và bài viết về Soka Gakkai, đề cập tới việc Soka Gakkai sử dụng diễn thuyết
để lôi kéo người sử dụng Internet Tuy chưa phải là công trình đi sâu vào phân tíchảnh hưởng của tôn giáo mới trên Internet, nhưng cuốn sách đã giúp người đọc cóhình dung chung về mối liên hệ giữa tôn giáo và Internet ở Nhật Bản, trong đó
không thể thiếu tôn giáo mới Cuốn Tôn giáo mới mê hoặc các bà vợ (主婦を魅すを事魅すする新宗教新宗教の解読, NXB Tanizawa, 1988) của tác giả Inoue Setsuko đã phân tích sức ảnh
hưởng của tôn giáo mới từ một góc độ mới Ở Nhật Bản, người vợ thường chỉ ở nhàlàm nội trợ, trụ cột gia đình là người chồng lo việc kiếm tiền, vì vậy vị trí người phụ
nữ nói chung trong xã hội Nhật Bản không được coi trọng như nam giới Song cómột điều thú vị là lượng tín đồ tham gia vào tôn giáo mới là các bà nội trợ khá đôngđảo Để lý giải điều này, tác giả đã đưa ra các nguyên nhân chính như người sáng lậphoặc đồng sáng lập tôn giáo mới cũng có một số lượng đáng kể là phụ nữ, tham giavào tôn giáo mới giúp người phụ nữ tìm được chỗ đứng của mình, thực chất thamgia tôn giáo mới chính là đấu tranh cho phong trào bình đẳng nam nữ thậm chíchính là một cách ngầm đả kích lại chính thể… Đây là một cuốn sách cần thiết đốivới người nghiên cứu về tôn giáo mới Nhật Bản, giúp họ có cái nhìn đầy đủ hơn vềảnh hưởng của tôn giáo mới tới đời sống xã hội
Trang 30Trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo mới ở Nhật Bản, không thể không nhắctới một học giả nổi tiếng, đó là Shimazono Susumu Quan điểm của ông về tôn giáo
mới được thể hiện trong cuốn Tôn giáo hiện đại cứu tế luận (現代の流行神救済宗教の解読論,NXB Seikyusha, 1992) Trong đó, tôn giáo được coi như một sự trợ giúp về tinhthần, trong thời đại hiện nay, khi tôn giáo đang tích cực để mang tính đại chúng hơnnữa, mối liên hệ chung giữa Phật giáo Đại thừa và tôn giáo mới là đều hướng tớicứu giúp tinh thần con người thì những ảnh hưởng của tôn giáo mới đối với một bộphận đông đảo tín đồ là điều dễ hiểu Cuốn sách giúp người đọc sáng tỏ hơn nữa vềbản chất của tôn giáo mới trong xã hội Nhật Bản hiện đại
Từ góc độ một nhà nghiên cứu nước ngoài, Richard W Anderson đã thuật lại
quá trình trải nghiệm tôn giáo mới Nhật Bản trong cuốn Trải nghiệm- câu chuyện
về sự trải nghiệm tôn giáo mới Nhật Bản (体験、ニッポン新宗教の解読の解読体験談フフの極意ォークロア, NXB Gendai, 1994) Tác giả đã có những trải nghiệm trong các tổ
chức tôn giáo mới như Rissho Koseikai, Zenrinkai, tham gia vào các buổi nóichuyện, tìm hiểu về cách hành lễ, nói chuyện với các tín đồ, thậm chí đi sâu tìmhiểu về cuộc sống tinh thần của một số tín đồ, chứng kiến cách họ giải quyết cácvấn đề trong cuộc sống…từ đó rút ra kết luận về chính xã hội Nhật Bản Ở đây sựtrải nghiệm không phải chỉ với tác giả, mà chính là sự trải nghiệm của chính các tín
đồ đối với tôn giáo mới mà họ tham gia Cuốn sách là một tư liệu khá hữu ích, giúpngười đọc đi sâu tìm hiểu được đời sống tinh thần của tín đồ tôn giáo mới của NhậtBản cũng như ảnh hưởng của tôn giáo mới đối với xã hội
Một tư liệu thống kê quý giá không thể thiếu với người nghiên cứu về tôn
giáo mới ở Nhật Bản là cuốn Databook, tôn giáo của người Nhật hiện đại (データブック現代の流行神日本の 人の解読宗教の解読, NXB Shinyo, 2007) của Ishi Kenji Tuy hàng năm CụcVăn hóa Nhật Bản đều đưa ra Niên giám Tôn giáo mới, thống kê khá đầy đủ, cậpnhập về số lượng tín đồ, cơ sở vật chất, địa chỉ nhưng ở cuốn sách này, không chỉdừng lại ở đó, còn đưa ra các số liệu thống kê bảng hỏi, điều tra về thái độ củangười dân đối với tôn giáo, với các vấn đề tâm linh, Đây thực sự là một tư liệu quý,đáng tin cậy để người nghiên cứu về tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôn giáo mới
Trang 31nói riêng, đưa ra những nhận định của mình về tình hình tôn giáo ở Nhật, ảnhhưởng của tôn giáo đối với đời sống tinh thần người dân Cũng ra đời với mục đíchnhư một quyển hướng dẫn những người mới tìm hiểu về tôn giáo Nhật Bản, cuốn
Guide book (sách hướng dẫn) mới nhất về các tổ chức tôn giáo (最新「宗教の解読」を事教の解読団ガイドブックガイドブック,NXB KK Best Book (KK ベスト時代の流行神ブック),Tokyo, 2011) củaTân hội nghiên cứu Tổ chức tôn giáo Nhật Bản (宗教の解読教の解読団ガイドブック新研究会』), trong đógiới thiệu về người sáng lập,trụ sở, người đứng đầu hiện tại, số tín đồ của 81 tổ
chức tôn giáo (tiếng Nhật gọi tổ chức là Kyodan-教の解読団ガイドブック- giáo đoàn) Trùng hợp là rấtnhiều tổ chức trong cuốn sách này là tổ chức tôn giáo mới Vì vậy, đối với ngườimuốn tìm hiểu cụ thể về tôn giáo mới của Nhật Bản, đây thực sự là một tài liệu hữuích
1.2.2 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới chính sách của Chính phủ Nhật Bản
Bài viết của tác giả Phạm Hồng Thái với nhan đề Tìm hiểu chính sách tôn giáo của nhà nước Nhật Bản trong cuốn “Nhà nước và giáo hội” (Chủ biên: Đỗ
Quang Hưng, NXB Tôn giáo, HN, 2003) Bài viết phân tích nguyên tắc tự do tôngiáo và tôn giáo tách biệt khỏi nhà nước đã được áp dụng trong các chính sách tôngiáo của Nhà nước Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới II Tới nay,Nhật Bản đã đạt những tiến triển vượt bậc, đặc biệt trong lĩnh vực dân chủ hoá đờisống xã hội, bài viết nêu lên những biến đổi của chính sách tôn giáo của Chính phủNhật Bản thông qua nghiên cứu quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách tôn giáo củaNhà nước Nhật Bản từ 1945 đến nay Về chủ đề này còn thấy trong luận văn thạc sĩ
Châu Á học của Dương Kim Oanh, với đề tài Chính sách tôn giáo của Nhật Bản giai đoạn 1945 – 1951 (bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Châu Á học,
khoa Đông Phương học, Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia HàNội, 2013) Đây là một công trình khá đầy đủ và công phu, phân tích quá trình cảicách và triển khai chính sách tôn giáo của Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, cụthể là sự ra đời của Luật Pháp nhân tôn giáo năm 1951 Tuy công trình lấy phạm vithời gian nghiên cứu là năm 1951, nhưng cũng đề cập tới những mặt tích cực và cầnhoàn thiện hơn nữa của Luật này, thể hiện trong qúa trình thực hiện Ở đây, một số
Trang 32tổ chức tôn giáo mới như giáo phái Chân lý Aum hay Soka Gakkai đã được đề cậptới, song vẫn chỉ ở mức độ phân tích ảnh hưởng của chúng đối với việc sửa đổi LuậtPháp nhân Tôn giáo năm 1995, còn các tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu khác chưađược đề cập, do luận văn chỉ tập trung vào phân tích Luật Pháp nhân Tôn giáo vànhững yếu tố trực tiếp tác động đến nó.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiếntranh Thế giới II ở nước ta, tuy đã có nhưng chưa hệ thống, đã đề cập tới diện mạocủa một số tôn giáo mới nổi bật, cũng như phân tích những tác động xã hội, cả mặttích cực và tiêu cực của các tôn giáo mới, đồng thời nêu lên được ảnh hưởng của nótới việc hoàn thiện chính sách tôn giáo Nhật Bản, nhưng chưa cung cấp một cáchtổng thể, hệ thống và toàn diện về quá trình phát triển, đặc điểm, ảnh hưởng xã hội
của trào lưu này ở Nhật Bản Liên quan tới mảng đề tài về chính sách tôn giáo của
Chính phủ Nhật Bản của tác giả nước ngoài, có bài viết của tác giả Chen Choumei,
Phân tích việc sửa đổi Luật pháp nhân Tôn giáo của Nhật Bản, trong “Tôn giáo và đời sống hiện đại” - tập 3 (Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 1999) Ở đây, nêu lên
vụ việc giáo phái Chân lý Aum thực hiện vụ tấn công bằng khí độc ở hệ thống tàuđiện ngầm Tokyo năm 1995 và việc một số tổ chức tôn giáo mới can thiệp vàochính trị, là những tác nhân chính dẫn tới việc sửa đổi Luật Pháp nhân Tôn giáo của
Nhật Bản Tiếp theo là cuốn sách của tác giả Sakurai Yoshihide, Thắc mắc về
‘‘Cult’’- nguy cơ mang tên ‘‘Tự do tín giáo’’ (「カルト時代の流行神」を事を事問い直すい直すす-信教の解読の解読自
由というリスクというリスクリスク,Nxb Công luận Trung ương, Nhật Bản,2006) Cuốn sách đề cậptới việc các tổ chức tôn giáo mới dần dần trở thành ‘‘Cult’’, ở đây khái niệm
‘‘Cult’’ được hiểu như các giáo phái mới, đi theo hướng cuồng tín, và vấn đềgiáo phái Chân lý Aum được đề cập và phân tích rất nhiều Tác giả quan tâm tớiviệc tại sao giới sinh viên và giới trẻ nói chung lại đi theo giáo phái Aum đôngđảo như vậy, nguyên nhân bắt nguồn một phần từ việc cho phép tự do tôn giáo
và các chính sách ưu tiên cho tôn giáo ở Nhật Bản Từ đó việc sửa đổi Luật Phápnhân Tôn giáo là rất cần thiết, để hạn chế bớt các quyền và sự ưu tiên cho các tổchức tôn giáo pháp nhân
Trang 331.3 Những kết quả đã đạt được và vấn đề cần nghiên cứu
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới chủ
đề tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thê giới II , có thể đi đến một số nhậnxét như sau:
1.3.1 Những kết quả đã đạt được
Nói chung, các công trình nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôngiáo mới nói riêng, đã có một số nhận định, đánh giá khá hữu ích cho những ngườibắt đầu đi sâu tìm hiểu về lĩnh vực này Đặc biệt, đã có nhiều công trình về một số
tổ chức tôn giáo mới nổi bật, đó là Soka Gakkai, giáo phái Chân lý Aum, Omotokyo,Tenrikyo…giúp người đọc có được hình dung ban đầu về tôn giáo mới- một tràolưu nổi bật trong đời sống tôn giáo Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II Ngoài ra,vấn đề giáo phái Chân lý Aum, do tính thời sự cao, nên đã được dịch ra tiếng Việtkhá nhiều, cung cấp cho người đọc cái nhìn khá cụ thể, tỉ mỉ về hoàn cảnh ra đời,nguyên nhân tạo được một số lượng tín đồ không nhỏ ở Nhật Bản và cả nước ngoài,cũng như những hậu quả nặng nề giáo phái này gây ra cho xã hội, và là một trongnhững nguyên nhân chính đưa tới việc Luật pháp nhân Tôn giáo ở Nhật cần phảisửa đổi cuối năm 1995 Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, và mang nhiều quanđiểm khác nhau, tôn giáo mới ở Nhật Bản thực sự là một lĩnh vực rộng lớn với khánhiều công trình hữu ích, đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tỉ mỉ về tôn giáo mới ởNhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, cũng như những ảnh hưởng tới đời sống xãhội, những bước phát triển của các tổ chức này Nếu không được tiếp cận với nhữngtài liệu này, người đọc sẽ không thể hình dung được tính phức tạp, đa dạng trongđời sống tôn giáo Nhật Bản, nhất là tôn giáo mới Tôn giáo mới, bằng những điểmthu hút trong giáo lý, cách tiến hành nghi lễ cũng như cách thức hoạt động của mình,tạo được sự tin tưởng của tín đồ vào sự lựa chọn của mình, sau đó dần tác động tớinhững người thân xung quanh, giúp tôn giáo mới ngày càng gia tăng số tín đồ củamình Hầu hết các tôn giáo mới đều hướng tới việc hoạt động đứng đắn, không viphạm pháp luật, đáp ứng được các nhu cầu về tinh thần cho tín đồ, đó cũng là cách
để họ tồn tại dài lâu
Trang 341.3.2 Những vấn đề chưa được làm rõ
- Chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, cung cấp một cách tổngthể và toàn diện về quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm, tác động xã hội củatrào lưu này ở Nhật Bản
- Về mặt tài liệu, các tài liệu tiếng Việt và dịch ra tiếng Việt còn khá ít, chủyếu mang tính khái quát, giới thiệu lịch sử tôn giáo Nhật Bản và những đặc trưngcủa từng thời kỳ, chưa đề cập nhiều tới tôn giáo mới
- Có các công trình đi sâu nghiên cứu về giáo phái Chân lý Aum- một giáophái mới mang tính tiêu cực, nhưng chưa giúp người đọc hiểu được trào lưu tôngiáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, mà chỉ khắc họa một giáo pháitiêu biểu
- Có một số bài viết về các tổ chức tôn giáo mới cụ thể, nhưng vẫn mang tính
lẻ tẻ, chưa hệ thống Việc phân tích các tổ chức này một cách riêng biệt, không đềcập nhiều tới bối cảnh và sự chuyển biến xã hội khi chúng ra đời, khiến cho ngườiđọc chưa hình dung được sự phát triển của trào lưu tôn giáo mới này
- Các tài liệu tiếng Nhật tuy rất đa dạng nhưng chủ yếu đi vào phân tích tôngiáo mới về góc độ tâm lý học, về ảnh hưởng tinh thần của các tổ chức này, nên cáccông trình trên mang tính nghiên cứu xã hội học hoặc tâm lý xã hội học
1.3.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Từ những vấn đề chưa được làm rõ trong các công trình đi trước, luận án đặt
ra mục tiêu giải quyết để làm rõ những vấn đề sau::
- Thứ nhất, cần làm rõ bối cảnh hình thành trào lưu tôn giáo mới sau Chiếntranh Thế giới II, những nhân tố dẫn tới sự hình thành trào lưu này
- Thứ hai, phân tích quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bảnsau Chiến tranh Thế giới II cho đến năm 2018 theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Từthực tiễn phát triển của các giai đoạn này, rút ra đặc điểm chung của trào lưu tôngiáo mới
- Thứ ba, phân tích tác động đối với đời sống xã hội Nhật Bản, cả mặt tíchcực và tiêu cực của trào lưu này
Trang 35- Thứ tư, liên hệ với thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnhtiến hành công cuộc “đổi mới”.
Như vậy, nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có
hệ thống về toàn bộ quá trình hình thành, phát triển cũng như tác động xã hội củatrào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018, điều
mà các công trình nghiên cứu đi trước chưa thực hiện
Trang 362.1.1 Khái niệm tôn giáo
Lịch sử phát triển của loài người không tách rời lịch sử phát triển của cáctôn giáo Về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một mặt phản ánhtồn tại xã hội, nhưng cũng có khả năng tác động lại và làm ảnh hưởng ít nhiềuđến tồn tại xã hội – mảnh đất đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Cùng với sự biếnđổi tồn tại xã hội, của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo Đa số các nhà khoahọc đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với các hìnhthức sơ khai như Tô-tem giáo (thờ vật tổ), Ma thuật giáo,…Trong tôn giáo học
có nhiều định nghĩa về tôn giáo, xuất phát từ các quan điểm khác nhau như quanđiểm thần học, quan điểm triết học, quan điểm xã hội học, quan điểm sinh học,quan điểm tâm lý học
Theo định nghĩa thần học (của giáo hội) thì tôn giáo là mối liên hệ của conngười với Thượng đế, với thần linh, với cái Tuyệt đối, với một lực lượng siêu việtnào đó, … Nhà thần học và triết học người Đức nổi tiếng theo phái Luther, R.Otto(1869-1937) đã cho rằng, tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh”, còn đối tượngcủa nó là bản chất lý tính (tiếng La tinh: Numen- ý Chúa, quyền lực, sức mạnh củaChúa), tức lực lượng sinh ra từ Chúa [24,tr.25] Nhà thần học và triết học Chính
Thống giáo P.A.Phlorensky (1882-1937) đã xác định tôn giáo như sau: “…nếu xét
về mặt bản thể luận, tôn giáo là sự sống của chúng ta trong Chúa và của Chúa trong chúng ta, thì xét về mặt hiện tượng học, tôn giáo là hệ thống những hành vi
và cảm xúc đảm bảo sự giải thoát, cứu rỗi tâm hồn Nói cách khác, sự giải thoát theo nghĩa tâm lý học rộng nhất của từ này là sự cân bằng của đời sống tâm thần”[24,tr.26].
Trang 37Các định nghĩa triết học và xã hội học về tôn giáo là rất đa dạng, được phânbiệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phương pháp xuất phát C.Mác (1818-1883), Ph.Ăngghen (1820-1895) và những nhà nghiên cứu Mác-xít đã nêu đặc trưngtôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người.
Họ cho rằng tôn giáo không có lịch sử của riêng mình, không có bản chất đặc biệt
và nội dung đặc biệt nằm ngoài thế giới Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử
xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất xãhội, của hệ thống quan hệ xã hội Trong tôn giáo, con người biến thế giới kinhnghiệm của mình thành một bản chất tưởng tượng, đứng đối lập với nó như một vật
xa lạ Theo C.Mác: “…tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy , xã hội
ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là logic dưới hình thức phổ cập của nó,
là vấn đề danh dư duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ”[24,tr.27] Tôn giáo thể hiện là một hiện tượng xã hội mà sự
xuất hiện và tồn tại được quy định bởi những quan hệ xác định đã hình thành trong
xã hội- tính hạn chế của hoạt động sinh hoạt vật chất của con người và quan hệ xã hội
hạn chế sinh ra từ đó Ph.Ăngghen viết: “…tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo- vào trong đầu óc của con người- của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[24,tr.28] Như vậy, theo
quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, có thể coi tôn giáo là sản phẩm của con người,
do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xãhội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng conngười vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy địnhnhững luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân theo
Trang 38Các định nghĩa xuất phát từ quan điểm sinh học và tâm lý học thì khác hẳn.Các quan điểm sinh học tìm kiếm cơ sở của tôn giáo trong quá trình sinh học haytâm sinh học của con người Xét từ góc độ này, cái cấu thành cơ sở của tôn giáo là
“bản năng tôn giáo”, là tình cảm tôn giáo, tức là cái “tham gia vào bản năng tự vệcủa cá nhân hay của nhóm” và thể hiện như là “công cụ của cuộc đấu tranh vì sựsống”, “là gen tôn giáo” Tôn giáo là “chức năng tâm sinh lý của cơ thể”, là đỉnhđiểm của xu hướng cơ bản của cơ thể trong việc phản ứng một cách đặc biệt đối vớinhững tình thế mà cuộc sống đặt nó vào, “là tình dục, là một bộ phận của bản tínhcon người”, là cái thức tỉnh những tình cảm mạnh mẽ sâu xa nhất, v.v… Các quanđiểm tâm lý học tách tôn giáo ra từ tâm lý cá nhân hay tâm lý nhóm Phổ biến nhất
là việc tìm tòi cơ sở của tôn giáo trong lĩnh vực tình cảm Người ta coi những tìnhcảm khác nhau nhất là “tế bào tình cảm”- lệ thuộc và sợ hãi, sùng kính và kínhtrọng, tình yêu, sự thể hiện nghiêm cái vô hạn, xấu hổ, tình cảm đạo đức, ý chí vềcái cao cả, cũng có các lý luận tách tôn giáo ra từ lĩnh vực trí tuệ hay lĩnh vực ý chí.Một trong những người sáng lập ra tâm lý học tôn giáo- nhà triết học theo chủ nghĩathực dụng người Mỹ,V.Jemes (1842-1910), đã phát triển các tư tưởng của khuynhhướng chức năng trong tâm lý học dựa trên quan điểm động cơ sinh học về tâm lýnhư một hình thức tính tích cực của cơ thể, như một phương tiện thích nghi với môi
trường Ông giải thích tôn giáo nhờ xuất phát từ tâm lý cá thể: “Chúng ta thỏa thuận gọi tôn giáo là tổng thể những tình cảm, hành vi và kinh nghiệm của cá nhân riêng biệt vì nội dung của chúng quy định quan hệ với cái mà tôn giáo tôn sùng- Thượng đế”[24,tr.30] Tôn giáo bắt nguồn từ lĩnh vực tình cảm trong tâm lý cá nhân V.Jemes viết: “ tình cảm là nguồn gốc sâu xa nhất của tôn giáo, còn các hệ thống triết học và thần học chỉ là thượng tầng phái sinh, giống như bản phiên dịch văn bản gốc sang ngôn ngữ khác” Ông cho rằng tính chân thực của tôn giáo và của
niềm tin vào Chúa sinh ra từ tính hữu ích, tính thuận lợi của chúng: chức năng tâm
lý chung của mọi tôn giáo là chuyển từ nỗi đau khổ tinh thần sang sự giải phóngdần dần khỏi nó Tôn giáo có một năng lực huyền diệu là biến những đau khổ lớnnhất của tâm hồn con người thành hạnh phúc sâu xa và vững chắc nhất [24,tr.43]
Trang 39Tôn giáo được xem xét với tư cách là hiện tượng phổ biến của văn hóa Nhàdân tộc học người Anh, B Malinowski (1884- 1942) phân tích tôn giáo trong quan
hệ của nó với khoa học và ma thuật, dựa trên tư liệu về văn hóa không chữ viết chủyếu là của cư dân các đảo Trobriand phía Nam Thái Bình Dương Khoa học là sựkhai thác hiện thực một cách duy lý Khoa học thể hiện là “sự đối xử duy lý” với thếgiới bao quanh một cách phù hợp với tri thức và kỹ thuật hiện có, nó kiến tạo nênthế giới hàng ngày, “thế tục” Bên cạnh lĩnh vực này còn có lĩnh vực “thiêng liêng”
bao gồm có ma thuật và tôn giáo Ma thuật được xác định là “niềm tin vào khả năng đạt tới thắng lợi nhờ các công thức và các lễ nghi có phép màu”[24,tr.45] Nếu mục
đích của mỗi hành động trong ma thuật được xác định chính xác và được hạn chế,thì lễ nghi được thực hiện theo một cách khác trong tôn giáo Tôn giáo có quan hệkhông phải với những ấm ức cụ thể của cuộc sống hàng ngày, mà có quan hệ với
những vấn đề cơ bản của tồn tại người B.Malinowski viết: “ Xét về văn hóa giáo lý của mình- tôn giáo thường xuyên thể hiện mình với tư cách là hệ thống những luận điểm mang tính răn dạy niềm tin, hệ thống này quy định vị trí của con người trong
vũ trụ, giải thích nguồn gốc của nó và giả định mục đích Cá nhân thường cần tới tôn giáo một cách thực dụng để khắc phục linh cảm làm bàng hoàng, làm tê liệt về cái chết, sự bất hạnh và số phận” [24,tr.49] Tôn giáo không bao giờ trở nên thừa vì
những vấn đề nêu trên về nguyên tắc là không loại bỏ được
Như vậy, thông qua các định nghĩa về tôn giáo từ các quan điểm thần học,triết học và xã hội học, sinh học và tâm lý học, và từ việc coi nó là một hiện tượngphổ biến của văn hóa, tác giả nhận thấy một điểm chung là tôn giáo đều được đánhgiá là một hiện tượng tất yếu trong đời sống tinh thần con người, dù trong bất kỳthời đại nào, tôn giáo đều đóng vai trò cần thiết trong đời sống, đáp ứng những nhucầu tinh thần của con người, như nhu cầu cần được che chở từ một thế lực linhthiêng để có thể thực hiện những niềm tin tôn giáo của mình, nhu cầu xoa dịu và lýgiải những nỗi đau về tinh thần, nhu cầu kết nối và giao lưu với những tín đồ đồngđạo khác, nhu cầu khẳng định mình về mặt đức tin…
Trang 40Ở Nhật Bản, khi nói tới tôn giáo, chúng ta thường gặp từ “giáo đoàn tôn giáo”(宗教の解読教の解読団ガイドブック) Từ “giáo đoàn” này bao gồm cả các pháp nhân tôn giáo (宗教の解読法人- tổchức tôn giáo có tư cách pháp lí độc lập được nhà nước công nhận) và phi phápnhân (宗教の解読 非法人- tổ chức tôn giáo chưa được nhà nước công nhận tư cách pháp líđộc lập) Giáo đoàn chia làm hai loại chính, một là các “đoàn thể tôn giáo baoquát1” (包括宗教の解読団ガイドブック体) và hai là “giáo đoàn tôn giáo đơn vị” (単位宗教の解読教の解読団ガイドブック)[108,tr.29] Giáo đoàn bao quát chính là các dòng chính của các tông phái Phật giáo,Thần đạo, Kito giáo lớn, bao quát trong đó nhiều giáo đoàn nhỏ hơn như các chùachiền, nhà thờ Ví dụ như dòng Honganji và dòng Otani của tông phái Phật giáoTịnh Độ Chân tông đều được coi là các giáo đoàn bao quát Các chùa chiền, đềnthờ nằm trong các dòng này thường được gọi là “đoàn thể tôn giáo bị bao quát”(被包括宗教の解読団ガイドブック体) Giáo đoàn đơn vị thì thường nhỏ hơn, một mặt nó gồm cả cácgiáo đoàn bị bao quát, ngoài ra là các giáo đoàn không nằm trong một dòng pháichính nào của các tông phái, mà tự tách ra hoặc từ đầu đã được xếp vào các tôn giáomới Vì vậy, ngay cả Soka Gakkai tuy có nhiều tín đồ song vẫn được xếp vào giáođoàn đơn vị Theo đó, nói tới các tôn giáo mới ở Nhật Bản, thường trong tiếng Nhật,
sẽ kèm theo từ “giáo đoàn” Để phù hợp với tiếng Việt, trong luận án, từ “giáođoàn” sẽ được thay bởi từ “tổ chức tôn giáo” Trong luận án, khái niệm tổ chức tôngiáo được hiểu với nội hàm như định nghĩa trong Luật Pháp nhân Tôn giáo củaNhật Bản, là những tổ chức mà mục đích chính của chúng bao gồm việc tuyêntruyền giáo lí, tiến hành nghi lễ và giáo dưỡng tín đồ Đó là: (1) các đền, chùa, nhàthờ và các tu viện được lập ra để thờ cúng và các tổ chức tương tự khác; (2) Cácgiáo đoàn, tông phái, giáo đoàn, chi hội bao chứa những tổ chức như đã đề cập vàcác tổ chức khác [48,tr.196]
2.1.2 Khái niệm tôn giáo mới và trào lưu tôn giáo mới
Từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt từ giữa thế kỷ XX tới nay, có rất nhiều hiệntượng tôn giáo có đặc tính khác biệt xuất hiện trên phạm vi toàn thế giới mà sau này
1 Từ “giáo đoàn bao quát” dịch nguyên nghĩa từ cụm từ chữ Hán trong tiếng Nhật, với ý nghĩa bao hàm Ở đây tác giả vẫn để nguyên từ “bao quát’’ nhằm làm rõ ý nghĩa nguyên gốc của từ này.