Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt – Mỹ dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể phân loại các công trình này thành ba nhóm chính như sau: Thứ nhất, là nhó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: LỊCH SỬ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
Tên công trình:
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
TRONG VIỆC XÂY DỰNG QUAN HỆ VIỆT – MỸ
GIAI ĐOẠN 1995 – 2015
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Trần Hoài Thương, Lớp Tư tưởng Hồ Chí Minh K06, Khóa học
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 9
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
6 Đóng góp mới của đề tài 12
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 12
8 Kết cấu của đề tài 13
CHƯƠNG 1 14
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ 14
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 14
1.1.1 Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 14
1.1.2 Chủ nghĩa Mác – Lênin: cơ sở thế giới quan và phương pháp luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 15
1.1.3 Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc – cơ sở thực tiễn quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 17
1.2 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 20
1.2.1 Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển và tiến bộ của thế giới 20
Trang 31.2.2 Đoàn kết quốc tế là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới 23 1.2.3 Đoàn kết quốc tế với tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” 25 1.2.4 Đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ, thống nhất mục tiêu
và lợi ích 27 CHƯƠNG 2 36 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀO VIỆC XÂY DỰNG QUAN HỆ VIỆT – MỸ GIAI ĐOẠN 1995 – 2015 36 2.1 Bối cảnh lịch sử 36 2.1.1 Đặc điểm của tình hình thế giới cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI và những xu thế phát triển của thời đại 36 2.1.2 Việt Nam trên con đường đổi mới đất nước (1986 – 1995) 40 2.1.3 Khái quát quan hệ Việt – Mỹ đến giữa năm 1995 45 2.2 Quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế vào việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015 49 2.2.1 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2005 49 2.2.1.1 Vận dụng quan điểm đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển của cách mạng thế giới của Hồ Chí Minh trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ 49 2.2.1.2 Vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới của Hồ Chí Minh trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ 54 2.2.1.3 Vận dụng quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ 57 2.2.1.4 Vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự
Trang 4chủ, thống nhất mục tiêu và lợi ích của Hồ Chí Minh trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ 63 2.2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc phát triển quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 2006 – 2015 74 2.2.2.1 Luôn đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển của cách mạng thế giới khi phát triển quan hệ với Mỹ 74 2.2.2.2 Luôn xác định mục đích của việc phát triển quan hệ với Mỹ là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới 77 2.2.2.3 Phát huy tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước của
Hồ Chí Minh trong việc tình hình mới 79 2.2.2.4 Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, thống nhất mục tiêu và lợi ích khi phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 82 KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015” tập trung nghiên cứu về sự vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1995 đến năm 2015 bao gồm bối cảnh lịch sử, quá trình vận dụng, kết quả ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
Trước khi trình bày nội dung chính, đề tài đã đề cập đến cơ sở hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và những quan điểm cơ bản của người về đoàn kết quốc
tế Những quan điểm đó bao là: Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển và tiến bộ của thế giới; Đoàn kết quốc tế là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; Đoàn kết quốc tế với tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”; Đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ, thống nhất mục tiêu và lợi ích Đây chính là cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt –
Mỹ
Về bối cảnh lịch sử, đề tài đề cập 3 nội dung: Đặc điểm của tình hình thế giới cuối
thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI và những xu thế phát triển của thời đại; Việt Nam trên con đường đổi mới đất nước (1986 – 1995); Khái quát quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1975 đến năm 1995 Đây là những cơ sở thực tiễn để Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 –
2015
Về quá trình vận dụng, đề tài chia thành 2 giai đoạn: 10 năm đầu 1995 – 2005 và
10 năm sau 2006 – 2015 Trong đó giai đoạn đầu là giai đoạn hai nước bình thường hóa quan hệ và bước đầu hợp tác trên các lĩnh vực Giai đoạn sau là giai đoạn mà quan hệ hai nước đang phát triển mạnh mẽ, trở thành đối tác toàn diện, hướng tới quan hệ chiến lược Trong mỗi giai đoạn đề tài đề tài tập trung phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ với Hoa Kỳ, quá trình thực hiện và kết quả đạt được dựa trên nền tảng những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Trang 6Cuối cùng, đề tài đưa ra những kết luận chung về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015: khái quát lại quá trình vận dụng, rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm, đồng thời đưa ra những giải pháp, phương hướng cho việc vận dụng trong giai đoạn mới
Tuy nhiên, do khả năng của nhóm còn có hạn và chưa tiếp cận đường nguồn tài liệu nước ngoài nên đề tài chắc hẳn còn rất nhiều thiếu sót Hy vọng rằng những đề tài sau
sẽ có thể trình bày một cách đầy đủ và sâu sắc hơn quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt – Mỹ ở những giai đoạn tiếp theo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII (6 – 1991) đến nay, đã hơn 25 năm Đảng
ta khẳng định lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình, tức là Đảng ta khẳng định việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới, trong đó có việc hoạch định đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế
Cũng từ đó đến nay, nhờ thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập quốc tế theo tư tưởng chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực đối ngoại, góp phần tăng cường thêm sức mạnh cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Đặc biệt, nhờ vận dụng tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ với Hoa Kỳ mà trong suốt 20 năm quan, quan hệ Việt Nam đã có một bước tiến dài chưa từng thấy Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 7 – 2015, Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: 40 năm sau chiến tranh, 20 năm bình thường hóa quan hệ, từ chỗ là “cựu thù”, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trở thành “bạn”, và từ năm
Khẳng định trên của Tổng Bí thư là minh chứng rõ ràng nhất về kết quả và ý nghĩa
mà Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1995 đến năm 2015 Do đó, việc đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn 20 năm qua để làm nền tảng cho việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ trong giai đoạn mới là đều hết sức cần thiết Hơn nữa, vừa thực hiện, vừa tổng kết kinh nghiệm là truyền thống hoạt động của Đảng ta từ trước đến nay, đặc biệt tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (1 - 2016), Đảng ta coi đây là một bài học lớn trong quá trình hoạt động của mình “đổi mới về kinh tế cũng phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan,
1 http://vneconomy.vn/thoi-su/tong-bi-thu-noi-ve-chuyen-tham-my-lich-su-20150705085838568.htm
Trang 8xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi thể chế kinh tế với nhiều tác động bất thường của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang ở giai đoạn bắt đầu phục hồi nhưng chưa vững chắc gây tác động
tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ là đều hết sức cần thiết, từ đó
có thể rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm cho Đảng và Nhà nước ta, góp phần vào lý luận chung trong việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của nước ta nói chung
và phát triển quan hệ với Hoa Kỳ nói riêng trong thời gian tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt – Mỹ là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ Việt – Mỹ dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể phân loại các công trình này thành ba nhóm chính như sau:
Thứ nhất, là nhóm công trình liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và những hoạt động thực tiễn đoàn kết quốc tế của
Hồ Chí Minh, có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như: Cuốn “Hồ Chí Minh với
chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc” của Lê Văn Yên
(1998), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tác giả đã tập trung phân tích và chứng minh quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế giữa phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới, việc tổ chức kết hợp đoàn kết quốc tế nhằm mục tiêu độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, tác giả còn khái quát những quan điểm cơ bản thuộc chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng phân tích giá trị thực tiễn chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
2 sau-30-nam-doi-moi.aspx
Trang 9http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te-thi-truong-XHCN/2016/37466/Nhin-lai-nen-kinh-te-Viet-Nam-Cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ
đổi mới” của Đinh Xuân Lý (2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tác giả đã đi sâu
vào việc tìm hiểu những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, thành tựu của hoạt động đối ngoại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, quá trình Đảng ta nhận thức
và vận dụng tư tưởng đối ngoại của Người trong thời kỳ đổi mới
Ngoài ra còn kể đến một số công trình khác như “Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp
tác quốc tế và vận dụng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” của TS Đặng Văn
Thái (Chủ biên) (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí
Minh”, của Nguyễn Duy Niên (2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh” của Hội đồng chỉ đạo biên soạn sách giáo trình quốc gia các bộ môn
khoa học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội; “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối
không chuyên ngành chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)” của Bộ Giáo dục
và Đào tạo (2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; “Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng
quốc tế” của Phan Ngọc Liên – Trịnh Vương Hồng (2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội…
Nhìn chung, các công trình trên đã trình bày một cách cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và những hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong đoàn kết quốc tế Đồng thời các tác giả cũng trình bày sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế vào đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai là nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ Việt – Mỹ, có thể nêu ra một
số công trình tiêu biểu như: cuốn “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ - Thực trạng và triển
vọng” của Trần Nam Tiến (2010), Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, với nguồn tư
liệu xác định, tác giả đã dựng lại một bức tranh toàn cảnh về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
từ năm 1995 đến năm 2005, bên cạnh những thành tựu đạt được như về thương mại (đặc biệt từ năm 2001, khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực), đầu tư, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, an ninh – quốc phòng, vấn đề nhân đạo và các vấn đề quốc tế khác, tác giả còn đề cập những khác biệt còn tồn tại trong mối quan hệ giữa hai nước như về vấn đề ý thức hệ, nhân quyền, kinh tế… Đặc biệt, tác giả còn phân
Trang 10tích triển vọng mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai
Cuốn “Quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1976
– 2006” của Nguyễn Anh Cường (2015), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tác giả
đã làm rõ một cách hệ thống sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng với Hoa Kỳ và với thế giới, cũng như quan điểm của chính quyền Mỹ trong quan hệ với Đông Nam Á và Việt Nam, dựng lại quá trình lãnh đạo của Đảng tiến tới bình thường hóa trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1976 đến năm 1995 và thời kỳ phát triển quan hệ giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2006, qua đó thấy được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, những thuận lợi và những khó khăn phải lường trước trong quan hệ với Mỹ, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ
Ngoài ra còn kể đến một số công trình khác như “Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau
chiến tranh lạnh (1995 – 2000)” của PGS TS Lê Văn Quang (2005), Nxb Đại học quốc
gia Tp Hồ Chí Minh; “Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ” của Phạm Xanh (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Quan hệ Việt - Mỹ 1939 – 1954” của Phạm Thu Nga (2009), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; “Quan hệ Việt Nam –
Hoa Kỳ 1994 – 2010” của Bùi Thị Phương Lan (2011), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
“Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ” Ngô xuân Bình (Chủ biên) (2014), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng
về phía trước” của Nguyễn Mại (Chủ biên) (2008), Nxb Tri thức, Hà Nội.…
Nhìn chung các công trình trên đã khái quát những nét lớn, chủ yếu của lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đặc biệt các công trình trên cũng đã đi sâu phân tích, đánh giá một cách toàn diện quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực cơ bản: chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục,…
Thứ ba là nhóm công trình nghiên cứu về đường lối đối ngoại, đoàn kết quốc tế của Đảng ta trong giai đoạn 1995 đến nay, trong đó phải kể đến cuốn “Chính sách đối
ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (Đông chủ
biên) (2013), Nxb Chính trị hành chính, Hà Nội, tác giả đã trình bày một cách hệ thống
Trang 11về sự đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hơn 25 năm qua để hoạch định
và hình thành chính sách đối ngoại đúng đắn, từ đó nêu rõ tư tưởng, nguyên tắc, nhiệm
vụ, phương châm chỉ đạo, lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế lớn;… đồng thời tác giả cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đối ngoại trong thời gian tới
Cuốn “Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới” của Phạm
Bình Minh (Chủ biên) (2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, cuốn sách là sự tập hợp các công trình của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đối ngoại nhằm luận giải nội hàm các chủ trương định hướng quan trọng của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những phát triển mới trong tư duy về dối ngoại của Đảng ta qua những văn kiện Đại hội XI Trên cơ sở đánh giá kết quả hoạt động đối ngoại trên một số lĩnh vực, các tác giả cũng đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Ngoài ra còn phải kể đến công trình khác như “Chính sách đối ngoại đổi mới của
Việt Nam (1986 – 2010)” của Phạm Quang Minh (2012), Nxb Thế giới, Hà Nội; “Quan
hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam” của Trình Mưu, Nguyễn Hoàng Giáp
(Đồng chủ biên) (2003), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; “Qúa trình triển khai thực hiện
chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam” của Trình Mưu, Nguyễn
Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (Đồng chủ biên) (2005), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội;
“Qúa trình đổi mới đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam 1986 – 2012”
của PGS TS Đinh Xuân Lý (2013), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội…
Nhìn chung các công trình trên, đã giúp người đọc hiểu được quá trình hình thành, vận động và phát triển của chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng, Nhà nước ta từ năm
1986 đến nay, qua đó các công trình cũng đánh giá những thành tựu nổi bật, rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục, nhằm hoàn thiện chính sách đối ngoại trong thời gian tới
Ngoài những công trình và tác phẩm tiêu biểu kể trên, trong những năm qua còn có nhiều bài viết khác về tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và quan hệ
Trang 12Việt – Mỹ đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: GS NGND Vũ Dương Ninh (2013),
“Về quan điểm đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số
7); TS Đinh Xuân Lý (2004), “Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
theo đường lối đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 3); Vũ Dương Ninh (2015),
“Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 220 năm và 20 năm”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 9);
Đặng Đình Qúy (2015), “Quan hệ Việt – Mỹ 1995 – 2015: Tiếp cận từ góc độ lợi ích của
hai bên”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 7); Bùi Đình Thanh (2015), “Nhìn lại cuộc đấu
tranh hệ tư tưởng trong cuộc đụng đầu lịch sử Việt Nam – Mỹ (1954 – 1975)”, Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử (số 4); Ths Phùng Tuấn Hải (2013), “Chủ trương của Đảng về xây
dựng quan hệ đối tác trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 4);
PGS TS Đinh Xuân Lý (2012), “Quan điểm Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ trong đoàn
kết, hợp tác quốc tế và sự vận dụng của Đảng thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị
(số 3); …
Tựu chung lại, các công trình trên đều có đề cập đến tư tưởng đoàn kết quốc tế và hoạt động, chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ và sự vận dụng của Đảng ta trong hiện nay, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ hai nước Việt Nam, Hoa kỳ trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay, đặc biệt là năm 2015 – năm đánh dấu sự kiện 20 năm hai nước Việt Nam và Mỹ bình thường hóa trở lại trong khi quan hệ Việt – Mỹ trong những năm gần đây đang diễn ra ngày càng tốt đẹp với những hứa hẹn đầy triển vọng
Do đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015” để có một cái nhìn tổng quan hơn về quá trình Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015, đồng thời tổng kết kết quả, rút ra ý nghĩa và bài học kinh nghiệm từ quá trình vận dụng đó nhằm giúp cho người đọc thấy được những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong hoạt động đối ngoại, đoàn kết quốc tế trong hiện nay
Trang 133 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Lý do chọn đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6 – 1991), Đảng ta đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tạo điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đoàn kết toàn quốc tế của Người có một vị trí đặc biệt quan trọng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế bao gồm một hệ thống những quan điểm về đối tượng, mục tiêu, phương châm và phương pháp đoàn kết; về vai trò, vị trí của đoàn kết… Nhằm tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân loại, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới, Đảng
và Nhà nước ta đã mở rộng đoàn kết hợp tác quốc tế theo tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”4
Trong quá trình đó, một trong những đối tượng quan trọng mà Đảng và Nhà nước chủ trương cần thiết lập quan hệ chính là Hoa Kỳ
Năm 1995, chúng ta đã thành công trong việc chủ động bình thường hóa quan hệ với Mỹ Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ đã mở ra một trang mới trong lịch sử giữa hai nước, được ghi nhận bởi những sự kiện lớn như: Ký Hiệp định thương mại song thương Việt – Mỹ (7 – 2000); năm 2006 quy chế thương mại bình
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI,VII,VIII,IX,X),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 461.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI,VII,VIII,IX,X),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.365.
Trang 14thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ với Việt Nam có hiệu lực; năm 2013 hai nước Tuyên
bố xác lập quan hệ đối tác toàn diện; đặc biệt gần đây chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 7 – 2015 có ý nghĩa lịch sử quan trọng vào dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Sự tiến triển liên tục trong quan hệ giữa hai nước đã góp phần khẳng định và nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế Những kết quả đạt được trong 20 năm qua kể từ khi quan hệ ngoại giao Việt –
Mỹ được bình thường hóa chính là sự nỗ lực không ngừng của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời khẳng định những đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quá trình hội nhập quốc
tế
Nhận thấy việc nghiên cứu tìm hiểu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng
và Nhà nước ta vào việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn nhằm tổng kết kết quả và rút ra những bài học kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới là một điều hết sức cần thiết Vì lý do trên
chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng
quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Mục tiêu đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm những mục tiêu sau:
Phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 - 2015 Đó là những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, quá trình hoạt động thực tiễn và chỉ đạo cách mạng Việt Nam trong tiến trình lịch sử quan hệ Việt – Mỹ
Làm rõ quá trình vận dụng những tư tưởng đó của Đảng ta đối với việc xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1995 (khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hóa trở lại) đến nay trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng và kết quả đạt được trong giai đoạn này Từ đó rút ra được ý nghĩa, bài học kinh nghiệm, góp một phần nhỏ vào việc triển khai và thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại với nước Mỹ của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới
Trang 15Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ:
Thứ nhất, phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng, Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 –
2015 Đó là những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, những thắng lợi trong chính sách đoàn kết và hợp tác quốc tế gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ (1941 – 1969)
Thứ hai, tìm hiểu quá trình vận dụng những tư tưởng đó của Đảng, Nhà nước ta đối với việc xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ từ năm 1995 (khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hóa trở lại) đến nay trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng và kết quả đạt được trong giai đoạn này
Thứ ba, rút ra một số ý nghĩa, bài học kinh nghiệm, góp một phần nhỏ vào việc triển khai và thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại với nước Mỹ của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử nhằm vận dụng các sự kiện lịch sử trong nước và quốc tế để trình bày những hoạt động, chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ trước năm 1995 và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015
Phương pháp logic nhằm phân tích vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nói chung để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ với một quốc gia nói riêng và làm rõ sự vận dụng những nội dung đó của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra nhóm còn sử dụng các phương pháp như so sánh, tổng hợp, phân tích…để làm rõ nội dung đề tài
Trang 165 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và
sự vận dụng của Đảng, Nhà nước ta trong việc xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn
1995 – 2015, bao gồm cơ sở hình thành và những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, hoạt động đoàn kết quốc tế trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ của Người từ năm 1941 – 1969; những chủ trương, chính sách vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế vào việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ trong giai đoạn 1995 –
2015, kết quả, ý nghĩa và bình học kinh nghiệm từ quá trình vận dụng đó
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trong thời gian từ năm 1995 đến năm 2015 tức là từ khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hóa trở lại đến hết nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng Không gian nghiên cứu là bối cảnh thế giới và Việt Nam trong những năm 1995 –
2015
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015” đem lại một góc nhìn mới về quá trình phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong suốt 20 năm qua theo hướng tiếp cận của chuyên ngành Tư tưởng
Hồ Chí Minh Có thể thấy rằng trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ với Hoa
Kỳ, mọi chủ trương và hành động của Đảng và Nhà nước ta đều được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng Qua đó thấy được giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Về lý luận: Đề tài góp phần bổ sung vào lý luận chung của Đảng ta trong việc hoạch định chính sách đối ngoại nói chung và quan hệ với Hoa Kỳ nói riêng trong thời kỳ mới dựa trên những bài học kinh nghiệm đúc kết từ quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1995 – 2015
Về thực tiễn: Đề tài có thể được sử dụng vào việc tuyên truyền đến sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Đồng
Trang 17thời đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên nghiên cứu các nội dung liên quan, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Quan hệ quốc tế…
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được chi làm hai chương:
Chương 1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Chương 2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng quan hệ Việt –
Mỹ giai đoạn 1995 – 2015
Trang 18CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
1.1.1 Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Ý thức quốc gia, dân tộc, làm chủ đất nước của cộng đồng người Việt có từ ngàn xưa gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Cuộc chiến đấu với thiên nhiên, giặc ngoại xâm trong lịch sử đã hình thành nên truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, đó là tình yêu nước nồng nàn, độc lập tự chủ, kiên cường bất khuất, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, nhân ái khoan dung
Trước hết, là chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến
trình lịch sử của dân tộc Việt Nam Những nội dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã từng bước được đúc kết, hình thành một hệ thống nguyên lý với tư tưởng của các anh hùng hào kiệt như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung,… Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Đó cũng là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo quốc tế III Truyền thống yêu nước của dân tộc được Nguyễn Tất Thành tiếp thu từ những ngày ở quê hương và trên con đường bôn ba khắp năm châu bốn bể Người đã đến với những người lao động trên thế giới, đến với tình hữu ái vô sản và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là con người đường cứu nước giải phóng dân tộc
Thứ hai, là Tinh thần đoàn kết, truyền thống tương ái được hình thành cùng một
lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và yêu cầu đấu tranh chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm Người Việt Nam quen gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau Vì vậy Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa và phát huy sức mạnh truyền thống đoàn kết của dân tộc, yêu thương con người, hòa hiếu nhân ái, yêu chuộng hòa bình, tiến
Trang 19bộ, để hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế, phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển
Thứ ba, là ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng là một yếu tố không thể thiếu
trong sự hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, ngoại giao truyền thống Việt Nam xem trọng việc giữ hòa khí, đoàn kết hữu nghị với các nước, phấn đấu cho sự thái hòa, yêu chuộng hòa bình là bản chất của ngoại giao Việt Nam Trong khi lập trường nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược của các ngoại bang, Đại Việt luôn kiên trì đường lối hòa bình trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng Hòa hiếu là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt đúng như nhà sử học Phan Huy Chú đã đúc kết lịch sử ngoại bang của đất nước chúng ta: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng là việc lớn”
Qua đây ta thấy được, nhân dân Việt Nam luôn luôn có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xem trọng việc giữ gìn hòa khí, khiêm nhường với nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang, phấn đấu cho sự thái hòa Đây cũng chính là những yếu
tố góp phần hình thành nên tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh
1.1.2 Chủ nghĩa Mác – Lênin: cơ sở thế giới quan và phương pháp luận hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Sau nhiều năm bôn ba ở các nước, cuối năm 1917 Nguyễn Ái Quốc trở lại nước Pháp, tham gia phong trào công nhân Pháp và gia nhập Đảng Xã hội Pháp Những năm
1919 – 1920, Người rất quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa phái ủng hộ việc gia nhập Quốc
tế III với phái đối lập và phái giữa trong Đảng Xã hội Pháp Sau khi biết Quốc tế III do Lênin sáng lập có chủ trương đoàn kết các dân tộc thuộc địa và nhất là khi đọc được “Bản
sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đăng trên báo L’Humanite’ (Nhân đạo) ngày 16 và 17 – 7 – 1920, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc biết có
một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức Luận cương
của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải
phóng các dân tộc thuộc địa Luận cương tạo ra một bước chuyển biến căn bản trong nhận
Trang 20thức tư tưởng về vấn đề đồng minh về xác định kẻ thù Luận cương là lời giải đáp hợp lý nhất, đúng đắn nhất mà Nguyễn Ái Quốc tìm thấy được về con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc, đó là “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua (tháng 12 – 1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Đảng ra nhập Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đã đánh dấu bước chuyển biến về tư tường chính trị của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản; từ một người yêu nước trở thành người cộng sản Cũng từ đây, Người gia sức học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt về vấn đề đoàn kết quốc tế của các dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: “vì chủ tư bản là một hệ thống thống trị thế giới, do đó các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản mang quy mô quốc tế; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sứ mệnh có ý nghĩa quốc tế sâu sắc Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân phải liên kết, tập hợp lực lượng trên quy mô quốc tế, không chỉ trong phạm vi giai cấp mình mà còn phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức trong đó đặc
muốn thắng lợi thì phải liên kết chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế
Thấm nhuần những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề đoàn kết quốc
tế của các dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Nguyễn Ái Quốc đã luôn nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa đối với cách mạng vô sản ở chính quốc và phải có những hoạt động đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Đặc biệt, Người còn viết những bài tham luận, phát biểu trong các kỳ sinh hoạt đảng và các cuộc họp của các tổ chức xã hội khác, đồng thời Người
5 TS Đinh Xuân Lý (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.20
6 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr.299.
Trang 21cũng tham gia lãnh đạo Ban Nghiên cứu về thuộc địa, sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, ra báo Người cùng khổ, viết nhiều bài đăng trên các báo Nhân đạo, tạp san Thư tín quốc tế… Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, tranh thủ sự ủng
hộ của dư luận tiến bộ Pháp và thế giới, hình thành mặt trận đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức Người đã tiếp thu sâu sắc và sáng tạo những khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác – Lênin, “Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại”, “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”
Như vậy, quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị thế giới quan, phương pháp luận cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc
tế Hồ Chí Minh tiếp thu và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, trên cơ sở đó Người xây dựng và phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của mình
1.1.3 Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc – cơ sở thực tiễn quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Trên hành trình, Nguyễn Tất Thành đã sống bằng đôi bàn tay lao động của mình, lăn lộn trong phong trào đấu tranh của nhân dân các nước Từ đó, Người hiểu rõ về đời sống của những người bị áp bức, thấy rõ sự bóc lột, thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, thực dân Chính khi hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của những người cần lao đã làm nảy nở trong Người sự đồng cảm, yêu thương sâu sắc, tình đoàn kết bền chặt với những người lao động
bị áp bức Đây chính là bước tích lũy về lượng trong nhận thức tư tưởng vấn đề bạn đồng minh, vấn đề đoàn kết quốc tế
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận họp “Hòa bình” ở Vécxây (Pháp) năm 1919, Nguyễn Ái Quốc nhân danh những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến bản yêu sách đòi quyền tự do, dân chủ tối thiểu của dân tộc Việt Nam Bản yêu sách này đã không được các nước lớn và Chính phủ pháp xem xét, giải quyết Qua sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc;
cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách
Trang 22mạng thế giới”7
Thời gian sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia hoạt động ở Đảng Xã hội Pháp (1919), bởi vì theo Người thì: “chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là
tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba và khi được hỏi, tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Đệ tam quốc tế? Nguyễn Ái Quốc trả lời “rất đơn giản… Đệ tam quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa Đệ tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tư do và độc lập của họ Còn Đệ nhị quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các
trên đây đã chứng tỏ ý thức của Nguyễn Ái Quốc trong hoạt động đoàn kết quốc tế vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa
Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp tập trung vào tố cáo, lên án chủ nghĩa thực dân là kẻ “ăn cướp”, “giết người” cướp bóc tài sản ruộng đất sức lao động ở các nước thuộc địa một cách tinh vi xảo quyệt, qua đó nhân dân các nước thuộc địa và chính quốc nhận rõ hơn bộ mặt thật của chủ nghĩa thực dân đặc biệt làm cho giai cấp vô sản ở chính quốc hiểu rõ hơn về thuộc địa thấy sự cần thiết phải đoàn kết lại với nhau Sinh hoạt trong Đảng Cộng sản Pháp Nguyễn Ái Quốc nhận thấy trách nhiệm là góp phần vào việc Bônxêvich hóa Đảng, nhất là vấn đề dân tộc và thuộc địa Tháng 6 -
1921 theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp thành lập
“Ban nghiên cứu thuộc địa” Trong “Ban nghiên cứu thuộc địa” về Đông Dương, Người
đã có rất nhiều đóng góp cho tình đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước với dân tộc thuộc địa bị áp bức Được sự đồng tình và ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiến hành vận động, trao đổi với những người Angiêri, Tuynidi, Marốc… Ngày 26 –
6 – 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng họ họp bàn thành lập “Hội Liên hiệp thuộc địa”, Nguyễn
Ái Quốc đã soạn thảo Điều lệ, Tuyên ngôn của Hội, trong Điều lệ ghi rõ mục đích của
7 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr 441.
8 Trần Dân Tiên (1986), Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.42
9 Trần Dân Tiên (1986), Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.44- 45.
Trang 23Hội là tuyên truyền, giáo dục, tổ chức lực lượng cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hội kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa sống trên đất Pháp phải đoàn kết giúp đỡ nhau Theo Tuyên ngôn và Điều lệ của Hội thì Hội Liên hiệp thuộc địa là một tổ chức đoàn kết mặt trận đầu tiên của dân tộc thuộc địa liên minh với giai cấp vô sản chính quốc cùng đấu tranh và tổ chức Hoạt động tiêu biểu của Hội là cho ra đời tờ báo Le Paria do Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập, chủ biên kiêm chủ bút, tờ báo vừa ngang nhiên tấn công kẻ thù ngay tại hang ổ của nó, vừa tỏa rộng sức mạnh cổ vũ, đoàn kết các dân tộc thuộc địa, đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc tiến theo con đường cách mạng vô sản
Tháng 12 – 1921 tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp họp tại Mácxây, trong bản tham luận lên án chủ nghĩa thực dân, Người kết luận: Chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản người ta mới thấy tình hữu ái mới thực sự là quyền bình đẳng, và chỉ có nó chúng ta mới có thể thực hiện sự hòa hợp và hạnh phúc ở chính quốc và các nước thuộc địa Trong bài “Mấy suy nghĩ về vấn đề thuộc địa” đăng trên báo L' Humanité ngày 25 – 5 – 1922, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu Đảng cần thực hiện lời chỉ dẫn quan trọng của Lênin: Nhiệm vụ của giai cấp công nhân các nước đi chiếm thuộc địa là phải giúp đỡ một cách tích cực nhất phong trào giải phóng ở các nước thuộc địa, phải tăng cường đoàn kết để phá tan thủ đoạn chia rẽ của tư bản, đế quốc Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu soạn thảo nhiều văn bản quan trọng như: Lời kêu gọi, Truyền đơn của Đảng gửi đến thuộc địa
Trong “Truyền đơn” Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống áp bức
Năm 1923 Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Liên Xô để học tập và làm việc Tại đây Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia nhiều diễn đàn quốc tế như: Đại hội V Quốc tế Cộng sản và tham gia công tác tại tổ chức này; quốc tế nông dân lần thứ nhất (1923); Đại hội “Liên đoàn chống đế quốc (Brúcxen, 1927); Đại hội Thanh niên quốc tế; Phụ nữ quốc tế; Dự Đại hội III Quốc tế Công đoàn;… Tại các diễn đàn trên, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh nhằm thống nhất nhận thức đúng đắn trong phong trào cách mạng quốc tế về tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa, qua đó yêu cầu quốc tế cộng sản phải quan tâm hơn nữa đến các thuộc địa Những hoạt động của người đã đặt cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn sự cần thiết phải xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng phương đông với cách mạng
Trang 24thế giới
Thông qua hoạt động ở Hội Liên hiệp thuộc địa, đặc biệt thông qua tờ báo Le Paria của Hội, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đến các thuộc địa, thức tỉnh nhân dân các dân tộc bị áp bức, kêu gọi đoàn kết giữa nhân dân các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc
Như vậy, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm đường cứu nước, đã giúp Người nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của đoàn kết quốc tế đối với cách mạng thuộc địa Đồng thời, hình thành những quan điểm đoàn kết quốc tế của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về thời đại; tiếp thu sáng tạo truyền thống tốt đẹp của dân tộc như chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết,… thực tiễn hoạt động cách mạng của người trên lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
1.2.1 Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển và tiến bộ của thế giới
giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Do đó, Người đã đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển và tiến bộ của thế giới Đó là tư duy lý luận hết sức sâu sắc của Hồ Chí Minh, là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm mục tiêu đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã nhận ra rằng không chỉ ở Việt Nam mà ở đâu cũng có áp bức bóc lột, cũng có phân biệt đối sử, đằng sau sự “văn minh”, “tiến bộ” dối trá mà bọn thực dân đang rêu rao là những người dân lao động bần cùng đang bị vùi xuống dưới đáy tận cùng của xã hội Đó là những cảnh hành xử người theo kiểu Linsơ đầy man rợ, là người thủ thủy da đen bị chết đuối ở Đa Ca, là cảnh “thuế máu” trong chiến tranh thế giới, là những người dân đang bị lừa dối và đầu độc bởi rượu
Trang 25và thuốc phiện, bởi chính sách ngu dân Do đó, Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng Việt Nam không chỉ đấu tranh cho độc lập, tự do của bản thân mà còn đấu tranh cho sự phát triển và tiến bộ của nhân loại, và khi thế giới đã phát triển và tiến bộ thì sẽ tạo môi trường thuận lợi cho cách mạng Việt Nam
việc các dân tộc thuộc địa phải đoàn kết với nhau, và đoàn kết với vô sản ở chính quốc để đánh đổ chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân nhằm xóa bỏ áp bức bóc lột đem lại công bằng, bình đẳng và tiến bộ cho xã hội Người khẳng định tính tất yếu của sự liên kết này là vì chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai cái vòi, “một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục
mạng ở chính quốc như hai cánh của một con chim phải phối hợp nhịp nhàng
Xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh nêu rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ
tộc, tự do thực sự Vận dụng những dự báo khoa học của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học vào những điều kiện riêng, đặc thù của các dân tộc phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: chủ nghĩa xã hội không phải chỉ phù hợp với những nước châu Âu
đã trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa mà là học thuyết đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển xã hội loài người nói chung Bằng lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã làm cho các dân tộc thuộc đại nhận thức rõ chủ nghĩa xã hội là phương hướng, là mục tiêu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là con đường tiến lên của các dân tộc thuộc địa sau khi giành độc lập Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới
10 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr.320
11 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.15, tr.392.
Trang 26thoát khỏi ách nô lệ”12
Người khẳng định vai trò của cách mạng Việt Nam đối với cách mạng thế giới bằng việc nêu lên luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, bởi vì “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc
tế đều lấy ở các xứ thuộc địa Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó,
“nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa” Theo Người, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, cách mạng thuộc địa có tầm quan trọng đặc biệt Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn Do đó, phải “Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước tới nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”14
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại Năm 1921, khi còn đang hoạt động ở Pari, Người đã cùng một số nhà yêu nước châu Phi thành lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa để cùng nhau đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Trong những năm 1925 – 1927, tại Trung Quốc, cùng với một số nhà yêu nước Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Miến Điện, Người đã tích cực vận động cho sự ra đời của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (9 – 7 – 1925), một tổ chức cách mạng mang tính quốc tế nhằm “đoàn kết các dân tộc nhỏ yếu, bị áp bức trong một tổ chức cách mạng để giải phóng đất nước khỏi ách thực dân, đưa các dân tộc bị nô lệ vào con đường đấu tranh
chủ nghĩa phát xít trên phạm vi toàn cầu, Người cũng đã xác định “dân tộc ta đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít”, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam
12 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.12, tr.563
13 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr.263.
14 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.2, tr.124
15 Bảo tàng Hồ Chí Minh (2015), Hồ Chí Minh Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.84
Trang 27với cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít của nhân loại Trong những năm kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược lần thứ hai, mặc dù với quyết tâm đánh giặc tới cùng nhưng Người vẫn nhiều lần nêu rõ thiện chí của nhân dân Việt Nam là được chung sống hòa bình với nhân dân Pháp Năm 1953, khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp diễn ra, Người lại một lần nữa nói rõ lòng mong muốn hòa bình và thiện ý của nhân dân Việt Nam:
“Hiện nay, nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam bằng đường lối hòa
Tuy nhiên, do thực dân Pháp ngoan cố muốn tiếp tục chiến tranh để nô dịch nhân dân ta nên đã chuốc lấy thảm hại trước sức mạnh của quân dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ lập lại hòa bình ở Đông Dương Cho đến khi từ giã cõi đời, Người vẫn không quên căn dặn toàn Đảng và toàn dân ta:
“đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với sự phát triển và tiến bộ của thế giới
là một quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh, đó là một trong những cơ sở quan trọng cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế theo tư tưởng của Người
1.2.2 Đoàn kết quốc tế là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới
nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; thực hiện đoàn kết quốc tế không phải chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước, mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời đại đã chấm dứt thời
16 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.340.
17Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.15, tr.624
Trang 28kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng cho các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài người
Ngay sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng Việt Nam, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Trong quá trình đó, Người không chỉ phát huy triệt để sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mình, mà còn kiên trì đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng thế giới đấu tranh cho mục tiêu chung: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Người cho rằng, Đảng phải lấy toàn bộ thực tiễn của mình để chứng mình: chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2 – 1951), Người chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc
thức chính trị (1954), Người nói rõ hơn: “Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới, chống chính sách xâm lược
và chính sách chiến tranh của đế quốc… giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích
chung, các đảng cộng sản phải kiên trì chống lại mọi khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa
cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sôvanh… những khuynh hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất các lực lượng cách mạng thế giới Nói cách khác, các đảng cộng sản phải tiến hành có hiệu quả việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mấy thế kỷ qua là thắng lợi của tư tưởng
18 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr.39
19 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.272
Trang 29Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Nhờ kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đã được bổ sung thêm nguồn lực mới, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nhờ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ quốc tế, huy động sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại, làm cho sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội, chiến thắng được kẻ thù có sức mạnh to lớn hơn mình về nhiều mặt
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc và thời đại Bởi lẽ, chúng ta không chỉ chiến đấu vì độc lập, tự do cho đất nước mình mà còn vì độc lập, tự
do cho các nước khác, không chỉ bảo vệ những lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn
vì những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Để làm được như vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa sôvanh và mọi thứ chủ nghĩa cơ hội khác
1.2.3 Đoàn kết quốc tế với tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”
quốc tế của người là không giới hạn, bao gồm tất cả các quốc gia, các lực lượng dân chủ
và tiến bộ trên thế giới dự trên cơ sở đảm bảo độc lập, chủ quyền và lợi ích của dân tộc
Khi nước ta mới giành được độc lập, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhiều lần tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là
Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường (Liên Xô,
đối đầu với nhiều kẻ thù, Người vừa thực hiện chủ trương “Hoa – Việt thân thiện” với quân Tưởng khi chúng kéo vào nước ta, vừa nhân nhượng có nguyên tắc với thực dân Pháp, vừa kêu gọi Liên Xô và Mỹ công nhận và ủng hộ cho cách mạng Việt Nam với mục tiêu “thêm bạn bớt thù” tránh cho Việt Nam khỏi tình trạng bị bao vây, cố lập
20 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.39
21 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.163
Trang 30Tháng 9 năm 1947, trong dịp trả lời phỏng vấn một nhà báo người Mỹ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khái quát nhiệm vụ và phương hướng đối ngoại chủ yếu của Việt Nam
hiện mục tiêu chính nghĩa hợp thời đại của cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam và thiện chí của Việt Nam muốn mở rộng quan hệ quốc tế với các lực lượng tiến bộ xã hội khác bên ngoài, đặc biệt là nước Pháp và nhân dân Pháp lúc đó Mặt khác, quan điểm của Hồ Chí Minh cũng phù hợp với bối cảnh cuộc kháng chiến đang trong vòng vây hãm của thế lực thù lực, không có mối liên hệ nào giữa cuộc kháng chiến với các lực lượng cách mạng thời đại Đồng thời đây cũng là mục tiêu của chính sách đối ngoại thể hiện mong muốn hòa hiếu thêm bạn bớt thù, xóa bỏ mọi hiềm khích dân tộc, tranh thủ những lực lượng còn
mơ hồ với những diễn biến chính trị phức tạp ở Đông Dương và Việt Nam, tìm mẫu số chung với mọi lực lượng hòa bình, công lý, yêu chuộng tự do, dân chủ trong quan hệ quốc
tế Năm 1949, trả lời phỏng vấn một nhà báo người Mỹ hỏi: sau khi độc lập, Việt Nam có hoan nghênh tư bản ngoại quốc không? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: “Bất kỳ nước nào thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh Việt Nam sẽ rất nghênh, còn nếu mong đưa
đối với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng hợp tác với nhân dân Pháp Người Pháp,
dù là tư sản hay công nhân, nhà buôn hay trí thức, nếu họ muốn thành thực hợp tác với
thù oái với một ai”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành ưu tiên cho mối quan hệ với các nước láng giềng gần gũi trong khu vực, nhất là các nước có chung biên giới với Việt Nam, trước hết là Lào với Campuchia, nhằm hình thành liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung Người nêu rõ “chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến
Vì vậy chúng ta giúp đỡ anh em Miên, Lào giúp kháng chiến Miên, Lào và tiến đến thành
22 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.256
23 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.145
24 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.77
Trang 31lập mặt trận thống nhất các dân tộc Việt – Miên – Lào”25 Đối với Trung Quốc – một nước có quan hệ lịch sừ - văn hóa lâu đời với Việt Nam, phát huy truyền thống hòa hiếu của cha ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bằng những hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế kỷ, xây đắp nên mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Người đặc biệt hết sức coi trọng việc thiết lập mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp với các nước trong khu vực có chế độ chính trị khác nhau Người còn đi thăm cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ ta đi thăm Ấn Độ, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a, hình thành trục hữu nghị Hà Nội – Niu Đê-li – Gia-các-ta Bên cạnh ngoại giao Nhà nước, Hồ Chí Minh còn đẩy mạnh ngoại giao nhân dân, cho đại diện các tổ chức của nhân dân Việt Nam tiếp xúc, hợp tác với các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa của nhân dân thế giới, của nhân dân Á – Phi…, xây dựng các quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các lực lượng tiến bộ thế giới
Dựa trên cơ sở các quan hệ về địa lý – chính trị và tính chất chính trị - xã hội trong khu vực và thế giới, cũng như tình hình nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ, Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng và củng cố khối đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các trào lưu cách mạng thời đại, góp phần thực hiện thắng lợi của cách mạng Việt Nam Có thể xem quan điểm đoàn kết quốc tế trên tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” của Hồ Chí Minh là tư tương tưởng đặt nền móng cho phương
châm đa dạng hóa, đa phương hóa, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 1.2.4 Đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ, thống nhất mục tiêu và lợi ích
Một là, đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ
Đoàn kết quốc tế là để tranh thủ nguồn ngoại lực, gia tăng thêm nội lực, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng Với một cách nhìn biện chứng, Hồ Chí Minh cho rằng, trong các nguồn lực, nội lực là nhân tố quyết định, còn ngoại lực chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nội lực Từ quan điểm đó, trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao phương châm: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người
25 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr.40
Trang 32ta giúp cho thì trước hết, mình phải tự giúp lấy mình đã”26 Nghĩa là, theo Hồ Chí Minh trong đoàn kết, hợp tác quốc tế, phải quán triệt quan điểm độc, lập tự chủ Người giải thích: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có
hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, “phải vạch rõ những phương pháp
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, tự do, hạnh phúc cho nhân dân - như Người từng căn
tự chủ trong hoạch định đường lối, chủ trương đối ngoại theo quan điểm Hồ Chí Minh
Độc lập tự chủ còn được thể hiện qua bản lĩnh và ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm khẳng định quyền được hưởng tự do và độc lập trong quan hệ chính trị
quốc tế Ngày 2 – 9 – 1945 , qua Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở của nước Việt Nam trong quan hệ chính trị quốc tế Trong quan hệ giữa các đảng, Người xác định: “Các đảng dù lớn dù nhỏ đều độc
Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn vững tin về sức mạnh của nhân dân Việt Nam - chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc truyền thống “đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ
phóng dân tộc Trong đấu tranh giành chính quyền, Người chủ trương “đem sức ta mà
giải phóng cho ta” Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được
26 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.2, tr.320
27 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.162
28 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.10, tr.401
29 Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.112
30 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.587
31 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.12, tr.732
32 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr.40.
Trang 33độc lập”33 Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh: phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn…
Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm: “Nước ta là một bộ phận của thế giới Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến
khổ dân tộc thuần tuý, bởi những hoạt động đó “có muôn ngàn sợi dây liên hệ” với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ Vì vậy, mục tiêu và nhiệm vụ đối ngoại của một quốc gia dân tộc phải vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ từ thực tiễn trong nước, lại vừa phải phù hợp với đặc điểm và xu thế quốc tế đương đại Đồng thời, khi nhấn mạnh yêu cầu độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại của quốc gia, Hồ Chí Minh cũng cảnh báo hai khuynh hướng cần phải tránh: một là, nếu “không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm
tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em,
kết quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ là nhằm đảm bảo lợi ích dân tộc, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản Nhưng độc lập, tự chủ, tự cường hoàn toàn xa lạ với sự biệt lập và chủ nghĩa biệt phái Để chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, Người coi đây
là vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam
Sẵn sàng mở rộng cửa trong quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế, nhưng phải trên nền tảng độc lập tự chủ, Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ giữ vững lập trường,
nguyên tắc, giữ vững chiến lược, theo tinh thần “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách
33 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr.445
34 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.346
35 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.97
36 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.97-98.
37 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.555
Trang 34trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác”38
Thực tế lịch sử cho thấy, giữ vững độc lập tự chủ trong đoàn kết, hợp tác quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tranh thủ và phát huy được sức mạnh của thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng đất nước, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc Nhờ kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị với các nước theo quan điểm Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1946 - 1954), Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ của phong trào nhân dân thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, góp phần đưa cuộc cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi; qua đó nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954 - 1975), mặc dù diễn ra sự bất đồng sâu sắc giữa Liên Xô với Trung Quốc về đường lối quốc tế và cả về đường lối kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, nhưng nhờ kiên trì thực hiện chủ trương giữ vững quan điểm độc lập tự chủ trong đoàn kết hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, mà cách mạng Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của cả hai nước lớn xã hội chủ nghĩa
Cũng trên cơ sở độc lập, tự chủ và đề cao chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, chúng ta đã khai thác được triệt để mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ với các đồng minh của Mỹ; giữa phái chủ chiến với phái chủ hoà, giữa các tập đoàn có lợi ích khác nhau trong giới cầm quyền Mỹ; giữa Mỹ với các nước phụ thuộc, giữa Mỹ với chính quyền tay sai; giữa nhà cầm quyền Mỹ với các tầng lớp nhân dân Mỹ; đồng thời, ta cũng tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ khác Từ đó, cách mạng Việt Nam đã xây dựng được một mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ nhân dân ta chống Mỹ xâm lược
Hai là, đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích
Cũng như xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, muốn thực hiện được đoàn kết quốc
tế trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế phải
38 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.7, tr.445.
Trang 35tìm ra được những điểm tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc, các lực lượng tiến bộ và phong trào cách mạng thế giới Đây là vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc trong tập hợp lực lượng Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của thời đại, kết hợp lợi ích của Việt Nam với trào lưu cách mạng thế giới và nhận thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp chung của loài người tiến bộ
Để đoàn kết với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất giữa các đảng cộng sản và công nhân trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, để thực hiện đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản công nhân quốc tế thì đoàn kết giữa các đảng “là điều kiện quan trọng để bảo đảm cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vị đại cho
phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, quán triệt sâu sắc những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản Nhưng Hồ Chí Minh cũng xác nhận rằng, do điều kiện chủ quan và khách quan đã xảy sinh sự bất đồng về chiến lược và sách lược cách mạng, dẫn đến mất đoàn kết giữa các đảng, nhất là giữa các đảng đang cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa Bằng tâm huyết và tài năng của mình, Người đã cùng Đảng ta hoạt động không mệt mỏi để khôi phục lại sự đoàn kết nhất trí của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, “có lý”, “có tình”
“Có lý” đòi hỏi các đảng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của nghĩa Mác –
Lênin, phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới Tuy nhiên việc trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi mỗi đảng phải vận dụng sáng tạo, có hiệu quả những nguyên lý của chủ nghĩa Mác phù hợp thực tiễn cách mạng của mỗi nước, tránh giáo điều
Hồ Chí Minh cho rằng, lý luận không phải là cái gì “cứng nhắc” mà đầy tính sáng tạo, nên
39 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.12, tr.732.
Trang 36lý luận cần được bổ sung bằng những kết luận mới, rút ra từ thực tiễn sinh động Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc, từng nơi, cần “chú trọng đến đặc điểm dân tộc mình… Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các dân tộc anh em, thì sẽ mắc sai ầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”40
“Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần, tình cảm của những
người cùng chúng lý tưởng, cùng chung mục tiêu đấu tranh; phải khắc phục tư tưởng sôvanh, “nước lớn”, “đảng lớn”; không “áp đặt”, công kích nhau, hoặc dùng các giải pháp
về chính trị, kinh tế… gây sức ép với nhau “Có tình” đòi hỏi trong mọi vấn đề phải chờ đợi nhau cùng nhận thức, cùng hành động vì lợi ích chung Lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi đảng phải được tôn trọng Song lợi ích đó không được phương hại đến lợi ích chung, cũng như lợi ích của các đảng khác, dân tộc khác
“Có lý”, “có tình” vừa thể hiện tính nguyên tắc vừa là một nội dung của chủ nghĩa
nhân văn Hồ Chí Minh – chủ nghĩa nhân văn cộng sản Nó có tác dụng rất lớn không chỉ trong việc củng cố khối đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân mà còn củng cố tình đoàn kết trong nhân dân lao động
Là một chiến sĩ cách mạng quốc tế kiên định, Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đoàn kết, thống nhất giữa các lực lượng cách mạng thế giới, trước hết là trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lực lượng tiên phong của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Để đoàn kết với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc
lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Độc lập tự do cho mỗi dân tộc là tư tưởng nhất quát, được Hồ Chí Minh coi chân
lý, là “lẽ phải không ai chối cãi được” Tư tưởng đó được Người khẳng định trong Tuyên
ngôn Độc lập: “… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào
40 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.97.
Trang 37cũng có quyền sống, quyến sung sướng vá quyền tự do”41 Tháng 2 – 1947, khi trả lời các
Sau này Người khái quát thành khẩu hiệu có ý nghĩa thời đại: “không có gì quý hơn độc
lập tự do”
Hồ Chí Minh không chỉ suốt đời đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập tự do của các dân tộc khác Trong quan hệ giữa Việt Nam với Lào, Campuchia, Trung Quốc, cũng như với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh thực hiện nhất quán quan điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó
Những quan điểm trên được Người thể chế hóa sau khi Việt Nam giành được độc lập Trong lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
“đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trên
mọi lĩnh vực” Tháng 1 – 1950, Người tuyên bố với các nước trên thế giới: “Căn cứ trên
quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc
Tháng 6 – 1955, khi sang Trung Quốc, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung
Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tổ chức, mà còn là người cổ vũ và ủng hộ nhiệt thành nhất cuộc đấu tranh của các dân tộc vì các quyền dân tộc cơ bản Nêu cao tư tưởng độc lập tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh trở thanh người khởi
41 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.1
42 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.9
43 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.311
44 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.12, tr.12
Trang 38xướng và là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình, đồng thời thúc đẩy cho sự hiểu biết lẫn nhau, thực hiện đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới với Việt Nam vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước
Để đoàn kết với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, để thực hiện đại đoàn kết, Hồ
Chí Minh giương cao ngọn cờ hòa bình trong công lý
Giương cao ngọn cờ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược là một trong những nội dung quan trọng, bất di bất dịch trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng đó bắt nguồn từ truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những giá trị nhân văn nhân loại
Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và đấu tranh cho hòa bình Song đó không phải là một nền hòa bình trừu tượng, mà là “một
sự cho tất cả các dân tộc – hòa bình trong độc lập tự do Suốt 24 năm đứng đầu Nhà nước,
Hồ Chí Minh đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc
Mỹ vì độc lập và thống nhất đất nước Song cũng trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh này, Người luôn luôn nỗ lực tìm kiếm mọi giải pháp để gìn giữ hòa bình và vãn hồi hòa bình
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trước dã tâm lược của thực dân Pháp, trên cơ sở kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã có những nhân nhượng có lợi cho Pháp để tránh một cuộc chiến tranh có thể xảy ra Người nói: “dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng
muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt Nam ngừng chảy Những dòng máu đó
diện cho Chính phủ Pháp trực tiếp ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 – 3 – 1946 với Hồ Chí Minh đã thừa nhận: “Những lời nói, những hành động, thái độ của Người, tất cả đều
45 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.77
46 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.104
47 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.24
Trang 39thuyết phục là Người không muốn dùng giải pháp bạo lực”48
Vào đầu những năm 60, khi phải tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trả lời một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất
Người tuyên bố: “Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn giải quyết hòa bình, thì họ phải… chứng
tỏ điều tỏ bằng việc làm thật sự, phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom
Tháng 8 – 1969, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R.Níchxơn, Người nhấn mạnh: “Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động khi thấy ngày càng có nhiều tahnh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam vì chính sách của nhà cầm quyền Mỹ Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự… Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam… Đó là con đường để Mỹ
Giương cao ngọn cờ hòa bình và đấu tranh bảo vệ hòa bình là tư tưởng bất di bất dịch của Hồ Chí Minh Nhưng đó không phải là một nền hòa bình trừu tượng, mà là “một
kháng chiến, quan điểm hòa bình trong công lý, lòng thiết tha mong muốn hòa bình trong
sự tôn trọng độc lập và thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh đả làm rung động trái tim nhân loại Nó có tác dụng cảm hóa, lôi kéo các lực lượng tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống các lực ượng đế quốc xâm lược và hiếu chiến, góp phần kết thúc thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
48 Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.130
49 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.14, tr.615
50 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.15, tr.34
51 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.15, tr.603
52 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.77
Trang 40CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀO VIỆC
XÂY DỰNG QUAN HỆ VIỆT – MỸ GIAI ĐOẠN 1995 – 2015
2.1 Bối cảnh lịch sử
2.1.1 Đặc điểm của tình hình thế giới cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI và những xu thế phát triển của thời đại
Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta vào đầu những năm
90 của thế kỷ XX đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của lịch sử nhân loại Từ thập niên
90 đến nay, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng với những đặc điểm, xu thế phát triển phức tạp, đặt các quốc gia và toàn nhân loại trước những cơ hội phát triển cũng như nhiều nguy cơ, thách thức to lớn
Từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng thoái trào, phong trào cộng sản rơi vào tình thế bất lợi
Từ một hệ thống to lớn trên thế giới, đến nay chỉ còn lại 5 quốc gia theo chế độ xã hội hội chủ nghĩa là Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Cu ba, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên Từ những năm 80 của thế kỷ XX, để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng chung của hệ thống xã hội chủ nghĩa, hầu hết các nước này đã tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa đều là những nước đang phát triển Đặc biệt là Trung Quốc, hiện đang vươn lên trở thành một cường quốc với nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới (chỉ sau Mỹ) Sự tồn tại và phát triển của các quốc gia xã hội chủ nghĩa trên cho thấy triển vọng tương lai của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, một thực tế cũng cho thấy là phong trào cộng sản và công nhân quốc tế không thể được phục hồi như trước kia bởi sự điều chỉnh chính sách của các nước tư bản chủ nghĩa và sự nhận thức mới về lợi ích quốc gia của các dân tộc Đồng thời, giữa các nước cùng theo chế xã hội chủ nghĩa cũng đang bộc lộ ra những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích quốc gia, dân tộc Song, mục tiêu chung của các nước này nhằm