Mục tiêu nghiên cứu là phân tích những ảnh hưởng của sự kỳ thị đến người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng thông qua tìm hiểu những ảnh hưởng của mạng lưới xã h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN THUỲ
VẤN ĐỀ KỲ THỊ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ TRONG QUÁ TRÌNH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN THUỲ
VẤN ĐỀ KỲ THỊ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ TRONG QUÁ TRÌNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS: TRẦN HỮU QUANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Người đã cai nghiện ma tuý hiện nay gặp rất nhiều khó khăn khi trở về cộng đồng, tỷ lệ tái nghiện gần như 100% Xác định vấn đề kỳ thị chính là nguyên nhân
khiến họ không thể thoát nghiện nên tác giả chọn luận văn “Vấn đề kỳ thị đối với
người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng” làm
nghiên cứu để báo cáo tốt nghiệp
Mục tiêu nghiên cứu là phân tích những ảnh hưởng của sự kỳ thị đến người
đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng thông qua tìm hiểu những ảnh hưởng của mạng lưới xã hội cũng như các định kiến xã hội đối với họ để đưa ra những giải pháp nhằm làm giảm sự kỳ thị, giúp người đã cai nghiện ma tuý không còn gặp khó khăn trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng.Với mục tiêu đặt ra như trên, dựa vào các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học, tác giả đã phân tích và đưa ra một số kết quả như sau:
- Người đã cai nghiện ma tuý tại tỉnh Bình Dương hiện nay chưa nhận được
sự hỗ trợ từ các chính sách địa phương khi tái hoà nhập cộng đồng do chính sách đưa ra chưa được áp dụng hợp lý vào tình hình thực tế
- Bằng phương pháp phỏng vấn sâu người đã cai nghiện tại hai địa bàn được chọn, thảo luận nhóm người đã cai nghiện sinh hoạt tại điểm hỗ trợ, nhóm cán bộ quản lý tại địa phương và khảo sát bằng bản câu hỏi đối với 80 hộ dân trên địa bàn được chọn nghiên cứu, tác giả đã cho thấy được vấn đề kỳ thị hiện nay đối với người đã cai nghiện ma tuý còn nhiều bất cập Bản thân người đã cai nghiện tự kỳ thị chính mình, họ cảm giác bị người khác kỳ thị và chính xã hội kỳ thị, định kiến, gán nhãn người đã cai nghiện, phân biệt đối xử bằng những thái độ và hành động khiến họ không vượt qua được mặc cảm Chính vì thế, thay đổi nhận thức của người nghiện và của cộng đồng xã hội chính là điều cần thiết để giúp người đã cai nghiện giảm bớt được sự kỳ thị, giúp cho họ tái hoà nhập cộng đồng được thuận lợi hơn
Luận văn cũng đã đưa ra một số giải pháp về phía chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, trung tâm cai nghiện và gia đình người nghiện, hy vọng góp phần giúp cho người đã cai nghiện thuận lợi hơn khi tái hoà nhập cộng đồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Hữu Quang
đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Xã hội học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
TP.HCM, ngày tháng năm 2016
Trang 5LỜI CAM ĐOANTên tôi là Nguyễn Xuân Thuỳ, học viên cao học Khoa xã hội học khoá 2012-
2014 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Tôi
xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Vấn đề kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma tuý
trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu nghiên cứu thu được từ thực nghiệm và không sao chép Kết quả nghiên cứu là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có vấn đề xảy ra
Học viên
Nguyễn Xuân Thuỳ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thống kê người nghiện và người đã cai nghiện ma túy giai đoạn 2011-
2015 ở tỉnh Bình Dương 54 Bảng 2: Thống kê người cai nghiện ma túy từ 2 lần trở lên tại Trung tâm Giáo dục lao động – Tạo việc làm tỉnh Bình Dương 55 Bảng 3: Đặc điểm mẫu khảo sát bản câu hỏi 59 Bảng 4: Nguyên nhân người đã cai nghiện ma túy gặp khó khăn khi trở về tái hòa nhập cộng đồng 75 Bảng 5: Nguyên nhân người đã cai nghiện ma túy tái nghiện 75 Bảng 6: Mức độ đồng ý về việc cho con cái kết bạn với người đã cai nghiện ma túy 77 Bảng 7: Cảm giác của người dân khi gặp một người mới đi cai nghiện ma túy về 77 Bảng 8: Thái độ của người dân khi bạn bè của người thân trong gia đình là người nghiện ma túy đến nhà chơi 79 Bảng 9: Ứng xử của người dân khi biết người thân trong gia đình có ý định kết hôn với người đã cai nghiện ma túy 80 Bảng 10: Giá trị khoảng cách trong xử lý mức ý nghĩa khảo sát 82 Bảng 11: Kết quả mức ý nghĩa về sự đồng tình của người dân đối với những yếu tố giúp giảm bớt kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma túy 82 Bảng 12: Độ tuổi người dân được khảo sát trong bản câu hỏi nghiên cứu đối với
80 hộ dân được tác giả thống kê và chia ra 83 Bảng 13: Sự khác biệt về độ tuổi với mức độ đồng ý với các ý kiến về người đã cai nghiện ma túy 84 Bảng 14: Tình trạng hôn nhân của người dân được khảo sát trong bản câu hỏi nghiên cứu đối với 80 hộ dân được tác giả thống kê và chia ra 85 Bảng 15: Sự khác biệt về tình trạng hôn nhân với mức độ đồng ý với các ý kiến về người đã cai nghiện ma túy 90 Bảng 16: Tình trạng việc làm của người đã cai nghiện ma túy 90
Trang 7Sơ đồ 1: Kiểu mạng lưới tình cảm giữa người đã cai nghiện ma túy và gia đình, họ hàng 95
Sơ đồ 2: Mạng lưới kiểu chức năng của người đã cai nghiện ma túy 96
Trang 8MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Nội dung nghiên cứu 5
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 11
8 Kết cấu luận văn 11
9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 21
1.3 LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 37
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
2.1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 43
2.2 QUÁ TRÌNH TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ 50
2.2.1 Sự tiếp cận với chính sách hỗ trợ công tác tái hoà nhập cộng đồng 50
2.2.2 Công tác tổ chức quản lý người đã cai nghiện tại địa phương 54
Trang 92.3 BIỂU HIỆN CỦA SỰ KỲ THỊ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐÃ CAI NGHIỆN MA TUÝ
TRONG QUÁ TRÌNH TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG 59
2.3.1 Biểu hiện của sự kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng 59
2.3.1.1 Sự tự kỳ thị của người đã cai nghiện ma tuý 59
2.3.1.2 Định kiến xã hội đối với người đã cai nghiện ma tuý 65
2.3.2 Ảnh hưởng của sự kỳ thị đến việc làm và đời sống xã hội của người đã cai nghiện ma tuý 78
2.3.3 Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với cuộc sống của người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng 86
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Ma tuý đang là hiểm hoạ của các quốc gia và dân tộc trên thế giới, đó là nguyên nhân chủ yếu lan truyền đại dịch HIV/AIDS Với những mối nguy hại không chỉ cho sức khoẻ thể chất và tinh thần của người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn xã hội nên hiện nay trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng đã có rất nhiều biện pháp nhằm giúp đỡ những người
“lầm đường lỡ bước” quay về với gia đình và cộng đồng, tạo điều kiện cho họ
có cơ hội bắt đầu lại cuộc sống mới tốt đẹp hơn
Tuy nhiên trong những năm gần đây tình hình dần trở nên phức tạp, số đối tượng nghiện ngày càng tăng và số người tái nghiện cũng không có phần
thuyên giảm Theo báo cáo của ngành Công an (Hội nghị tổng kết của Ủy ban Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội ma túy và mại dâm, tổ chức tại Hải Phòng, tháng 3/2012), hiện tại cả nước có 140.000 người
sử dụng ma túy đang được quản lý Mặc dù vậy, công tác quản lý cai nghiện phục hồi và sau cai nghiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội Theo thống kê của Cục phòng chống tệ nạn xã hội thì hiện nay các trung tâm cai nghiện chỉ tiếp nhận được 30-40% số người nghiện; trong số còn lại chỉ có 20% được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng; vẫn còn gần 40% đối tượng bị nghiện chưa được quản lý và tổ chức cai nghiện Có thể nói rằng tại các tỉnh, thành phố có số dân nhập cư càng đông thì tệ nạn ma túy ngày càng khó kiểm soát Tại các vùng giáp ranh, công tác này trở nên khó khăn hơn do việc quản
lý người nghiện còn mang tính hành chính, chưa quan tâm đầy đủ đến nhu cầu
cá nhân của người nghiện, một số cán bộ ngại trách nhiệm hoặc thiếu gần gũi với người cai nghiện Hoạt động tư vấn, nâng cao động lực cho người nghiện
ít được chú trọng Công tác quản lý lâu dài dựa vào cộng đồng để dự phòng tái nghiện chưa được quan tâm đúng mức Trong tình hình đó, công tác tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng đã cai nghiện trở về địa phương gặp rất nhiều khó khăn, rất khó kiểm soát và đối tượng có nguy cơ tái nghiện cao
Trang 11Theo thống kê của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (năm 2011) hiện cả nước
vẫn còn hơn 80% số người tái nghiện Bên cạnh đó theo kết quả điều tra tỷ lệ
nhiễm HIV và hành vi nguy cơ của nhóm nghiện chích ma tuý do Cục Phòng chống HIV/AIDS thực hiện năm 2009, có đến 20,5% người nghiện chích ma tuý đã từng quan hệ tình dục với gái mại dâm và 15% trong số đó không bao giờ dùng bao cao su Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ
số sinh học HIV/STI của Sở Y tế Bình Dương năm 2013 cũng cho thấy độ tuổi trung bình của người nghiện chích ma tuý là 26, nhóm tuổi từ 20-30 chiếm tỷ lệ cao nhất 35%, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm nghiện chích ma tuý
là 9% Trong đó, tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi từ 25-30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 12,7%; tỷ lệ dùng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích ma tuý gần nhất là 79,7% Dù đã được truyền thông thay đổi hành vi và cung cấp bơm kim tiêm sạch, bao cao su, nhưng hiện tại vẫn còn 21,5% nam tiêm chích bơm kim tiêm trong tháng (tính tại thời điểm nghiên cứu) và có 38,7% nam sử dụng
ma tuý có quan hệ tình dục với phụ nữ mại dâm trong 12 tháng qua và chỉ 59,7% có dùng bao cao su với phụ nữ mại dâm trong lần quan hệ tình dục gần nhất Mặc dù cũng đã có nhiều chính sách của nhà nước về công tác hỗ trợ cũng như giúp đỡ tạo công ăn việc làm, cho vay vốn… và các chương trình thí điểm “Điểm hỗ trợ tư vấn tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện” tại một số tỉnh, thành trong cả nước nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như
mong muốn.Vậy những điều còn tồn tại đó là gì?
Trên số báo ra ngày 25/3/2013 của trang http://vntimes.com.vn, bài viết
“Hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng – cần cách làm phù hợp” đã đưa ra được sự
cần thiết của chính sách hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng đã cai nghiện ma tuý Tuy nhiên công tác này hiện nay vẫn chưa thực sự hiệu quả Phải chăng các địa phương chưa biết cách liên kết các tổ chức vi mô với nhóm đối tượng này hay do xã hội vẫn chưa có cái nhìn đúng đắn với các đối tượng này?
Trang 12Theo nhận định của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội thì công tác giúp đỡ tạo việc làm cho người đã cai nghiện vẫn gặp những khó khăn nhất định, đó là: đa phần người đã cai nghiện không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định, trong khi đó trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, bản thân lười lao động, quen với lối sống buông thả nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc giúp đỡ, giới thiệu và tạo việc làm cho họ Bên cạnh đó thì sự nhìn nhận của các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và cộng đồng về người nghiện vẫn còn nặng nề, nên hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn e ngại, né tránh trong việc tiếp nhận người sau cai nghiện vào làm việc tại cơ sở
Không thể phủ nhận nguyên nhân người đã cai nghiện ma tuý bị tái nghiện là
do chính bản thân họ không kiềm chế được sự thèm nhớ đối với ma tuý Tuy nhiên, sự tác động bên ngoài cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện ma tuý Bài viết “Những nguyên nhân chính dẫn đến tái nghiện ma tuý” đăng ngày 05/11/2014 trên trang báo
http://www.lamdong.gov.vn/vi-VN/a/tuyentruyen/tuyentruyen/matuy/.aspx đã nhận định người nghiện sau cai vốn dĩ thường mang tâm lý buồn bã, chán nản nếu không có sự giúp đỡ, động viên, chăm sóc, yêu thương của người thân giúp họ vượt qua những cơn khủng hoảng tâm lý, đồng thời cũng giữ vai trò giám sát, ngăn ngừa họ tìm đến ma túy, họ sẽ dễ dàng buông thả, bất cần và nhanh chóng trở lại với ma túy
Bên cạnh trách nhiệm của gia đình, người thân không thể không nói đến vai trò của cộng đồng xã hội Sự kỳ thị, không tin tưởng, thậm chí quay lưng lại và chối bỏ của người sống xung quanh tác động xấu đến hành trình hoàn lương của họ Việc người nghiện sau cai trở về thiếu công ăn việc làm, bí bách túng quẫn về kinh tế, nguy hiểu hơn là trong trạng thái “nhàn cư vi bất thiện”, hầu như sẽ tiếp tục đẩy họ quay về với ma túy nhanh hơn
Nguyên nhân chính dẫn đến tái nghiện, xét cho cùng vẫn là do người nghiện đã không tự chủ, thiếu quyết tâm giải thoát bản thân trước sức cám dỗ của ma tuý Nhưng cũng phải thừa nhận những lý do khác như sự mặc cảm, kỳ
Trang 13thị của những người xung quanh; thái độ thờ ơ, lãnh đạm của chính gia đình; thất nghiệp và nguy hiểm nhất là sự kết nối của bạn nghiện đã khiến
những người đi cai nghiện về, vốn đang trong tâm lý chán chường, trở lại con đường cũ Việc người nghiện sau khi đi cai trở về tái nghiện, ngoài lý do từ
chính bản thân người nghiện không đủ quyết tâm, bị tác động từ môi trường liên quan đến ma túy, bị bạn bè xấu tiếp tục rủ rê, lôi kéo… Thì thái độ thờ ơ, thiếu quan tâm của người thân, tác động rất lớn đến người đã một thời lầm lỗi Cùng với thực trạng chung của cả nước, quá trình tái hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma tuý tại tỉnh Bình Dương hiện nay cũng đang tồn tại nhiều khó khăn, các chính sách cũng như các chương trình hỗ trợ vẫn chưa đạt được hiệu quả cao và số đối tượng tái nghiện ngày càng khó kiểm soát, nhất là ở các vùng mới được đô thị hoá trong những năm gần đây Theo thống
kê của Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Bình Dương, tính đến năm
2012 toàn tỉnh hiện có 1.665 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý, trong đó
có 410 đối tượng được quản lý sau cai nghiện tại địa phương, riêng hai khu vực Thuận An và Dĩ An thì số đối tượng được quản lý sau cai nghiện chiếm 41,7% trong tổng số đối tượng hiện quản lý của toàn tỉnh (171/410 đối tượng)
Số người tiến bộ và có việc làm ổn định ở Dĩ An là 10 người, Thuận An là 18 người, số người còn lại tái nghiện hoặc bỏ địa phương đến các khu vực, địa bàn lân cận sinh sống nên việc quản lý tại địa phương chủ yếu về mặt hồ sơ, việc tiếp cận các đối tượng cũng không dễ dàng Là địa bàn giáp ranh với các tỉnh, thành phố lớn nên việc tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng đã cai nghiện xong tại Thuận An và Dĩ An hết sức khó khăn Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó ngoài nguyên nhân từ phía người nghiện ma tuý thì sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía cộng đồng và gia đình được xem là nguồn cơn của
việc không từ bỏ được ma tuý và bỏ nơi cư trú của các đối tượng “Sự kỳ thị không chỉ giết chết một con người mà là giết nhiều người, trở thành tiềm ẩn nguy cơ cho cả cộng đồng xã hội Chống phân biệt đối xử, chống kỳ thị là trách nhiệm không của riêng ai, mà là của cộng đồng” – Ý kiến của đại tá
Trang 14Trần Mạnh Hùng – Giám thị Trại giam Vĩnh Quang (bộ Công An) Kỳ thị làm cho quá trình tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện còn nhiều khó
khăn Để làm rõ những tồn tại hiện nay, tác giả đã chọn đề tài “Vấn đề kỳ thị
đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng”
để có cái nhìn đầy đủ về vấn đề này và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm giúp những người đã cai nghiện có thêm nhiều cơ hội tái hoà nhập cộng đồng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là phân tích những ảnh hưởng của
sự kỳ thị đến quá trình tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện ma tuý thông qua việc tìm hiểu những ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với người
đã cai nghiện ma tuý, cũng như các định kiến xã hội đối với họ để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm làm giảm sự kỳ thị để người đã cai nghiện không còn gặp khó khăn khi tái hoà nhập cộng đồng
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Những biểu hiện của sự kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
3.2 Ảnh hưởng của sự kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
3.3 Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
3.4 Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm làm giảm sự kỳ thị
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: vấn đề kỳ thị đối với người đã cai
nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
Xác định rào cản lớn khiến cho người đã cai nghiện ma tuý khó tái hoà nhập cộng đồng là do bị kỳ thị nên tác giả đã chọn đối tượng nghiên cứu là vấn đề kỳ thị người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng Quá trình nghiên cứu sẽ đưa ra được thực trạng cũng như những ảnh hưởng của mạng lưới xã hội và định kiến xã hội đối với người đã cai nghiện
Trang 15ma tuý, từ đó thấy được bức tranh tổng quát và một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người đã cai nghiện ma túy để đưa
ra những khuyến nghị và đề xuất nhằm giúp những người đã cai nghiện ma tuý có thêm nhiều cơ hội tái hoà nhập cộng đồng
4.2 Khách thể nghiên cứu: các đối tượng đã cai nghiện ma túy tái
hòa nhập cộng đồng, 80 hộ dân được chọn tại địa bàn hai thị xã Thuận An và
Dĩ An, và các cán bộ quản lý công tác tái hoài nhập cộng đồng tại địa phương
Sở dĩ công trình nghiên cứu này chọn các đối tượng trên là vì những lý
do sau:
- Người đã cai nghiện là đối tượng chịu thiệt thòi, phần lớn không được gia đình, cộng đồng quan tâm, giúp đỡ về công ăn việc làm cũng như về mặt tâm lý, và do vậy họ rất cần được sự quan tâm của toàn xã hội Khi tái hòa nhập cộng đồng, họ phải đối mặt với những khó khăn từ nhiều phía và khả năng quay lại con đường cũ rất cao
- Vì xác định yếu tố quan trọng nhất dẫn đến những khó khăn trên là do
sự kỳ thị của cộng đồng xã hội nên tác giả đã chọn đại diện từ phía cộng đồng
là các cán bộ quản lý công tác tái hoà nhập cộng đồng và 80 hộ dân được chọn
từ hai địa bàn nghiên cứu để có cái nhìn khái quát và khách quan về những rào cản mà người cai nghiện gặp phải, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp hơn để giảm sự kỳ thị đối với họ
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Người đã cai nghiện ma tuý không nhận được sự quan tâm, chia sẻ, giúp
đỡ từ phía xã hội do định kiến xã hội
Trang 16- Các mối quan hệ trong gia đình của người đã cai nghiện ma tuý là mối quan hệ mạnh và có vai trò quan trọng hơn so với các mối quan hệ yếu như hàng xóm và bạn bè cũ, bạn học Tuy nhiên mối quan hệ yếu lại có ý nghĩa quan trọng trong việc tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện ma tuý
- Mô hình thí điểm “Hỗ trợ người sau cai nghiện ma tuý tái hoà nhập
cộng đồng” làm cho cán bộ và người dân thay đổi nhận thức, có cách nhìn
thân thiện hơn với người đã cai nghiện ma túy và tạo điều kiện giúp đỡ họ vượt qua khó khăn, từ bỏ ma túy vươn lên làm người có ích cho gia đình và xã hội
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Đối với dữ liệu thứ cấp: tác giả sử dụng phương pháp phân tích tư
liệu sẵn có bao gồm các số liệu thống kê từ các báo cáo của Cục phòng chống
tệ nạn xã hội, Bộ Công An, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Bình Dương, Trung tâm Giáo dục Lao động – Tạo việc làm tỉnh Bình Dương và Phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý (PC47) thuộc Công an tỉnh Bình Dương
- Đối với dữ liệu sơ cấp: Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp định tính và phương pháp định lượng để nghiên cứu
Việc thu thập các dữ liệu nghiên cứu được tiến hành như sau:
+ Để thu thập thông tin định lượng: Tác giả sử dụng công cụ khảo sát
bằng bản câu hỏi với các câu hỏi được xây dựng sẵn
Với các câu hỏi đóng và mở, tác giả muốn thu thập thông tin về cách nhìn cũng như những suy nghĩ của người dân về người đã cai nghiện trở về địa phương Với 30 câu hỏi được xây dựng nhằm đánh giá hai nội dung: (1) Nhận thức, quan điểm, thái độ của người dân với người đã cai nghiện ma tuý; (2) mức độ đồng ý của người dân với các ý kiến đề tài đưa ra Cuộc khảo sát được tiến hành với 80 bản câu hỏi cho 80 hộ dân trong khu vực nghiên cứu
Trang 17+ Để thu thập thông tin định tính: Tác giả sử dụng phương pháp
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp với mong muốn tìm hiểu sâu hơn và kỹ hơn vấn đề nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm áp dụng trong đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng cũng như những mong muốn của các đối tượng đã cai nghiện trở về địa phương khi tác giả tiếp xúc với họ và khi tác giả đến các điểm sinh hoạt dành cho người đã cai nghiện Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu những tồn tại, vướng mắc của địa phương thông qua các cán bộ thực hiện công tác quản lý sau khi cai nghiện
Phương pháp quan sát tham dự: là cách thức, quy tắc để tiếp cận và thu nhận thông tin thực nghiệm từ thực tế Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát tham dự từng phần khi phỏng vấn sâu tại gia đình các đối tượng đã cai nghiện ma tuý được chọn phỏng vấn và quan sát tham dự toàn phần tại điểm hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma
tuý
Với nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để khai thác thông tin
về nội dung cần nghiên cứu, tác giả mong muốn có cái nhìn đầy đủ và khái quát hơn về vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp chọn mẫu
Cuộc nghiên cứu tiến hành chọn mẫu phi xác suất như sau:
- Mẫu phi xác suất (thu thập thông tin định lượng):
Việc thu thập thông tin định lượng được thực hiện thông qua việc thu thập thông tin từ bản câu hỏi khảo sát với 80 hộ dân được chọn của hai địa bàn nghiên cứu bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện nhằm đánh giá một cách khách quan về sự kỳ thị của người dân đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
Tác giả chọn 80 hộ dân ở hai thị xã Thuận An và Dĩ An (Thuận An: 40
hộ, Dĩ An: 40 hộ) Với phương pháp chọn mẫu điển hình, tác giả chọn ở mỗi
Trang 18thị xã một phường điển hình Trong đề tài, tác giả chọn phường An Thạnh (thị
xã Thuận An) và phường Tân Đông Hiệp (thị xã Dĩ An) Trong mỗi phường, tác giả chọn một khu phố điển hình Tại phường An Thạnh (thị xã Thuận An) tác giả chọn khu phố Thạnh Hoà A; tại phường Tân Đông Hiệp (thị xã Dĩ An) tác giả chọn khu phố Chiêu Liêu Tại mỗi khu phố tác giả chọn 40 hộ dân thông qua sự dẫn dắt của các cán bộ địa phương để thực hiện khảo sát bằng bản câu hỏi Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, tác giả gặp phải nhiều khó khăn do nhiều hộ dân từ chối trả lời với lý do sợ ảnh hưởng đến gia đình và chính bản thân mình, họ cho rằng người đã cai nghiện ma túy rất đáng sợ nên không thể thu thập được số mẫu như dự kiến ban đầu Do đó, tác giả đã phải thay đổi cách chọn mẫu
- Tại thị xã Thuận An (40 mẫu): tác giả chọn ba xã, phường để nghiên cứu là xã An Sơn (xã nông thôn mới), phường Lái Thiêu (phường có số người nghiện cao nhất thị xã), phường An Thạnh (phường có điểm hỗ trợ người đã cai nghiện ma túy)
- Tại thị xã Dĩ An (40 mẫu): tác giả chọn phường Dĩ An và phường Đông Hòa để thực hiện khảo sát Phường Dĩ An là phường có số người nghiện cao nhất trong thị xã và phường Đông Hoà là phường giáp ranh với thành phố
Hồ Chí Minh và Đồng Nai
Trong các xã, phường được chọn trên, tác giả phân làm hai nhóm: nhóm trung tâm thị xã (bao gồm phường Lái Thiêu và phường Dĩ An), nhóm ngoại ô (bao gồm xã An Sơn, phường An Thạnh và phường Đông Hòa)
Tác giả cũng tiến hành chọn mẫu như cách thức chọn lần trước, được
sự dẫn dắt và giới thiệu của các cán bộ tại địa phương, tác giả tiến hành phát bản câu hỏi ở các xã, phường được chọn nghiên cứu (phường Lái Thiêu: 20 bản câu hỏi, phường Dĩ An: 20 bản câu hỏi, xã An Sơn: 10 bản câu hỏi, phường An Thạnh: 10 bản câu hỏi, phường Đông Hoà: 20 bản câu hỏi)
Ở mỗi hộ dân, tác giả chọn chủ hộ để thực hiện khảo sát bằng bản câu hỏi Tuy nhiên, trên thực tế, khi đến khảo sát thì chủ hộ thường ủy quyền cho
Trang 19người có trình độ học vấn cao trong gia đình trả lời bản câu hỏi với lý do các chủ hộ đưa ra là để nhanh và thuận tiện trao đổi khi có thắc mắc
- Mẫu phi xác suất (thu thập thông tin định tính):
Với những người đã cai nghiện ma tuý, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 10 người đã cai nghiện ma tuý tại hai địa bàn nghiên cứu để khai thác thông tin về những băn khoăn, trăn trở cũng như tâm
tư, nguyện vọng của họ Đối tượng đã cai nghiện ma tuý là đối tượng rất khó tiếp xúc, do đó đề tài chọn mẫu theo hướng điển hình để thu thập thông tin dễ dàng hơn
Với phương pháp thảo luận nhóm, tác giả chọn hai nhóm: một nhóm đại diện các cán bộ quản lý công tác sau khi cai nghiện ma tuý của hai thị xã Dĩ An và Thuận An và một nhóm là những người đã cai nghiện đang sinh hoạt tại các câu lạc bộ và các điểm hỗ trợ, tư vấn người đã cai nghiện ma tuý tại phường An Thạnh thuộc thị xã Thuận An (mỗi nhóm khoảng từ 5 tới 7 người)
+ Nhóm đại diện các cán bộ làm công tác quản lý sau cai nghiện ma tuý được tác giả tìm hiểu nhằm đưa ra sự so sánh về nhận thức, thái độ, hành vi của họ đối với người đã cai nghiện ma tuý so với những hộ dân được nghiên cứu để từ đó có cái nhìn đúng đắn và tổng quát hơn về sự kỳ thị đối với người
đã cai nghiện ma tuý Đặc điểm của nhóm được phỏng vấn: các thành viên trong nhóm đều làm công tác quản lý người đã cai nghiện ma túy tại địa bàn nghiên cứu (bao gồm hai cán bộ phụ trách công tác phòng chống tệ nạn xã hội của thị xã Thuận An và thị xã Dĩ An; hai cán bộ phụ trách công tác hỗ trợ người đã cai nghiện ma túy của điểm hỗ trợ người đã cai nghiện tái hoà nhập cộng đồng phường An Thạnh; hai công an thị xã Thuận An và thị xã Dĩ An phụ trách công tác quản lý người nghiện và người đã cai nghiện ma tuý)
+ Nhóm những người đã cai nghiện ma tuý đang sinh hoạt tại các câu lạc bộ và điểm hỗ trợ được chọn thảo luận nhóm nhằm mục đích để tác giả hiểu sâu hơn về những mong muốn và chia sẻ khách quan của họ kể từ khi trở
Trang 20về cộng đồng Đặc điểm mẫu: đây là những người đã hoàn thành việc cai nghiện và đang làm công tác hỗ trợ người nghiện và người vừa mới hoàn thành cai nghiện tái hoà nhập cộng đồng và tìm kiếm việc làm; giúp đỡ cán bộ địa phương trong quá trình nắm bắt thông tin của người nghiện mới và người vừa mới đi cai nghiện về để đề xuất những phương án tốt nhất hỗ trợ những đối tượng này tái hoà nhập cộng đồng
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng nhiều lý thuyết xã hội học vào thực tiễn, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, mong muốn của tác giả là có thể bổ sung cho hệ thống những kiến thức chuyên ngành xã hội học về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng có thể làm cơ sở để các đề tài nghiên cứu khác có thể tham khảo
- Với những giải pháp đưa ra, đề tài hy vọng sẽ góp phần tích cực và là
cơ sở để các cơ quan, ban ngành, đoàn thể có những văn bản chỉ đạo phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý cai nghiện và sau cai nghiện tại tỉnh Bình Dương
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và kiến nghị cùng với một số phụ lục thì phần chính của đề tài gồm hai chương:
Trang 21Chương 1 trình bày cơ sở lý luận của đề tài về những vấn đề lý luận làm nền tảng cho việc phân tích các kết quả nghiên cứu của đề tài bao gồm các
lý thuyết tiếp cận và các khái niệm liên quan
Chương 2 phân tích kết quả nghiên cứu của đề tài về công tác tái hoà nhập cộng đồng đối với người đã cai nghiện ma tuý từ các chính sách hỗ trợ, công tác quản lý người đã cai nghiện tại địa phương, sự ảnh hưởng của việc kỳ thị đến đời sống trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng, vấn đề kỳ thị và tự kỳ thị của người đã cai nghiện ma tuý thông qua những biểu hiện của sự kỳ thị từ phía cộng đồng đối với người đã cai nghiện ma tuý cùng với việc nghiên cứu mạng lưới xã hội của họ để thấy rõ hơn về vấn đề kỳ thị
9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn
Tuy không thể phủ nhận rằng những kết quả của phương pháp nghiên cứu định tính đã mang lại cho tác giả một cái nhìn sâu sắc hơn về chủ đề nghiên cứu dựa trên tiếp cận chủ quan của chủ thể hành động, nhưng việc áp dụng phương pháp này dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc do chính tác giả luận văn thực hiện, lại lấy mẫu điển hình nên hạn chế của để tài thể hiện trước hết ở chỗ không thể khái quát hóa cho toàn bộ những người đã cai nghiện ở tỉnh Bình Dương, cũng như ở những nơi khác
Một hạn chế khác xuất phát từ chính bản thân người nghiên cứu Do tác giả chưa nắm bắt rõ tâm lý cũng như cách thức trao đổi với những người đã cai nghiện đang trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng, nên điều này có thể làm cho các cuộc trò chuyện trở nên hạn chế
Với những giới hạn như trên, đề tài đã có một số hướng khắc phục như:
Lấy thêm thông tin thứ cấp từ các nguồn khác nhau nhằm có được các dữ liệu định lượng liên quan đến đề tài, xử lý số hóa các thông tin định tính Đối với hạn chế về mặt trao đổi với người đã cai nghiện, tác giả cố gắng khắc phục bằng cách tiếp xúc nhiều hơn với cộng đồng, tạo sự tin tưởng, gặp gỡ nhiều lần để có sự thân thiết, đồng thời cố gắng đặt câu hỏi một cách dễ hiểu nhất,
Trang 22cũng như tham gia vào một số hoạt động của họ nhằm tạo sự gần gũi tiện lợi
cho sự quan sát
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiện ma tuý bị xem là một hành vi lệch lạc và gây nguy hại đến những người sử dụng cũng như gia đình và cộng đồng xã hội Để khắc phục hậu quả, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều luật, nghị định, nghị quyết, thông tư nhằm giúp các đối tượng đã cai nghiện có cơ hội và điều kiện trở về với cộng đồng Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương, công tác quản lý sau cai nghiện được thực hiện theo các văn bản của chính phủ: Nghị định 94/2009/NĐ-CP ngày 26 - 10 - 2009 quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống ma tuý về quản lý sau cai nghiện ma tuý; Thông tư 33/2010/TT-BLĐTBXH ngày 01 - 10 - 2010 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 94/2009/NĐ-CP ngày 26 - 10 - 2009 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống
ma túy về quản lý sau cai nghiện ma túy về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp
quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số
121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú; chế độ đóng góp và hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý tại trung tâm quản lý sau cai nghiện; Thông tư số 21/2010/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 5- 8- 2010 Ban hành Quy chế quản lý, tư vấn, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm Quản lý sau cai nghiện và Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội; Thông tư số 05/2011/TT-BLĐTBXH ngày 23 - 3 - 2011 ban hành biểu mẫu thống kê hướng dẫn thu thập thông tin về công tác cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 127/2009/QĐ-TTg ngày 26 - 10 - 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống ma tuý; Quyết định số 19/QĐ-LĐTBXH ngày 9 - 1 - 2012 quy định về phê duyệt kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống và kiểm soát ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 trong lĩnh vực cai nghiện ma
Trang 24tuý và quản lý sau cai nghiện giai đoạn 2012-2015… Các chương trình hỗ trợ công tác quản lý sau cai nghiện: Tổ chức thí điểm mô hình “Tái hoà nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện” tại phường An Thạnh, thị xã Thuận An; các câu lạc bộ giúp người sau cai nghiện tái hoà nhập cộng đồng Mặc dù đã có nhiều quy định cũng như các chương trình hỗ trợ, nhưng công tác tái hoà nhập vẫn còn gặp khó khăn Do đó, để tìm hiểu nguyên nhân thì cần có nghiên cứu
cụ thể nhằm đưa ra những lập luận thoả đáng cho vấn đề này
Tái hoà nhập cộng đồng cho các đối tượng đã cai nghiện ma tuý là một vấn đề được rất nhiều sự quan tâm của nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như các tổ chức phi chính phủ Công tác này hiện đang diễn ra mạnh mẽ tại các địa phương trên cả nước nhằm làm giảm tối đa nguy cơ tái nghiện, có nhiều chương trình hỗ trợ và tư vấn giúp các đối tượng có cơ hội tái hoà nhập được thuận lợi hơn Song song đó có rất nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về vấn đề này cũng như rất nhiều cuộc hội thảo được thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma tuý Để
có cái nhìn khái quát hơn về những công trình nghiên cứu về tái hoà nhập cho người đã cai nghiện, dưới đây là một số nội dung
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về vấn đề việc làm và nhu cầu việc làm của người đã cai nghiện ma tuý trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng
Vấn đề việc làm được xem là vấn đề cơ bản và đầu tiên giúp người đã cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng Đó không chỉ là liệu pháp tốt nhất trị liệu cho người nghiện ma tuý mà còn là biện pháp dự phòng tái nghiện sau khi họ hoàn thành cai nghiện Tuy nhiên, hiện nay cơ hội việc làm và ổn định kinh tế cho người đã cai nghiện ma tuý còn vấp phải rất nhiều rào cản Theo thống kê của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội năm 2012, chỉ có khoảng 6% người đã cai nghiện ma tuý có việc làm Kết quả khảo sát mới nhất của cơ quan này cho thấy, tình trạng kỳ thị trong tuyển dụng người đã cai nghiện xong ma tuý rất cao Chỉ 0,7% doanh nghiệp vừa và nhỏ (tương đương 300
Trang 25trong số hơn 417 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa) tại Việt Nam tiếp nhận người đã cai nghiện vào làm việc Do đó việc tổ chức kết nối giữa các doanh nghiệp và người đã cai nghiện là thật sự cần thiết và rất quan trọng, góp phần
hỗ trợ và khắc phục khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người cai nghiện ma tuý nói riêng và phát triển xã hội nói chung
Nhu cầu việc làm và ổn định kinh tế luôn là vấn đề cần được giải quyết trước tiên, không là vấn đề của riêng một cá nhân nào mà là vấn đề chung của toàn xã hội, chú trọng giải quyết nhu cầu việc làm cho thanh niên, đặc biệt là những thanh niên đã cai nghiện ma tuý Có công ăn việc làm ổn định sẽ giúp con người có cuộc sống lành mạnh hơn, tránh xa thói hư tật xấu và các tệ nạn
xã hội
Nghiên cứu về việc giải quyết việc làm cho người đã cai nghiện hiện nay ở Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và các
cơ quan chức năng với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau:
Nghiên cứu về nhu cầu việc làm của người đã cai nghiện ma tuý được thể hiện rõ trong đề tài nghiên cứu thứ nhất, tác giả Trần Nhu và Hồ Bá Thâm (2008) đã đề cập đến những yếu tố bên trong (sinh học, tâm lý học cá nhân), các yếu tố bên ngoài (tâm lý – xã hội) như hệ thống tác động trực tiếp đến nhu cầu học nghề và nhu cầu việc làm của người đã cai nghiện ma tuý.Thách thức lớn nhất mà người đã cai nghiện ma tuý đang phải đối mặt đó là vấn đề việc làm và thoả mãn nhu cầu việc làm của họ [23]
Bên cạnh đó nghiên cứu của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với tổ chức Chemonics (2008) đã đưa
ra các số liệu liên quan đến các vấn đề hạn chế trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm, thoả mãn nhu cầu việc làm cho người đã cai nghiện, những khó khăn, thách thức từ các mô hình trợ giúp hiện tại Nghiên cứu này đã đề xuất cho Chính phủ Việt Nam trong việc hỗ trợ học nghề và thoả mãn nhu cầu việc làm của người đã cai nghiện Mặc dù đã có nhiều đóng góp thiết thực, tuy
Trang 26nhiên, nghiên cứu này chưa xây dựng được thang đo mức biểu hiện nhu cầu việc làm của người đã cai nghiện ma tuý nên chưa thực sự sâu sắc
Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp và tổ chức việc làm cho người đã cai nghiện ma tuý được tác giả Lê Hồng Minh (2007) đề cập đến Tác giả chỉ
ra vai trò quan trọng của tư vấn hướng nghiệp cho người đã cai nghiện ma tuý,
tư vấn hướng nghiệp phải là những người có kinh nghiệm, hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động Đội ngũ tư vấn viên phải được bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ hướng nghiệp khoa học Hoạt động hướng nghiệp phải là
sự phối hợp của các ban ngành địa phương Tác giả đã nêu được khía cạnh thực tế của việc đào tạo việc làm cho người đã cai nghiện ma tuý khi ở trung tâm cai nghiện Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả về mặt tổ chức cũng như nội dung hoạt động của chương trình mà chưa nói lên được những chính sách cụ thể trong việc hỗ trợ người đã cai nghiện ma tuý
Cục Phòng chống tệ nạn xã hội với nghiên cứu trao đổi về tình hình và giải pháp tạo việc làm cho người đã cai nghiện ma tuý đã nhận thấy được nguyên nhân dẫn tới người đã cai nghiện không tìm được việc làm, trước hết
là do họ bị hạn chế về mặt thể chất và cả tâm lý Mặc dù được điều trị tại các trung tâm, song sự suy yếu về sức khỏe, biến đổi về hình thức, phong thái vẫn còn biểu hiện rõ nét khiến cho người đã cai nghiện bất lợi khi đi xin việc Mặt khác, ngành nghề đào tạo tại các trung tâm hiện nay tính khả thi không cao, dạy nghề mang tính đồng loạt, đa số người nghiện không thể ứng dụng những nghề được đào tạo sau khi trở về cộng đồng Người đã cai nghiện còn gặp trở ngại do kém năng động, thiếu tự tin thậm chí là tự ti khi tiếp xúc, trả lời phỏng vấn Nghiên cứu này cũng đã đưa ra các giải pháp để giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người đã cai nghiện ma tuý Tuy đã nhìn nhận được nguyên nhân hạn chế của người đã cai nghiện khó xin được việc làm khi trở về cộng đồng nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận từ phía chính bản thân họ mà chưa thấy được những yếu tố tác động bên ngoài ảnh hưởng đến vấn đề việc làm của người đã cai nghiện ma tuý
Trang 27Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về việc làm và nhu cầu việc làm trên
đã nêu bật lên được rằng việc làm là yếu tố quan trọng nhất làm giảm tỷ lệ tái nghiện, nhu cầu việc làm là nhu cầu thiết thực và cần được đáp ứng đầu tiên khi người đã cai nghiện trở về cộng đồng Khi có công ăn, việc làm ổn định thì người đã cai nghiện sẽ không bị chèo kéo, dụ dỗ bởi các thành phần xấu, từ đó
họ sẽ có nhiều cơ hội trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội Tuy nhiên, các
đề tài nghiên cứu trên chủ yếu hướng vào nguyên nhân khiến cho người đã cai nghiện ma tuý khó xin được việc làm, cách thức tổ chức cũng như việc cần thiết của các tổ chức hỗ trợ Các nghiên cứu đưa ra chủ yếu dựa vào phân tích những yếu tố từ phía chính bản thân người đã cai nghiện ma tuý mà chưa xem xét hết tất cả các khía cạnh có ảnh hưởng đến vấn đề việc làm của họ, đặc biệt
là sự tác động từ phía cộng đồng
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự kỳ thị người nghiện ma tuý
Sự kỳ thị chính là rào cản khiến cho người nghiện ma tuý gặp khó khăn trong tìm kiếm công việc, tình yêu, hôn nhân, từ đó họ dễ tái nghiện và làm tăng nguy cơ nhiễm HIV của các đối tượng Các đối tượng đã cai nghiện ma tuý gặp phải những khó khăn, thách thức khi bắt đầu thực hiện những dự định,
kế hoạch xây dựng cuộc sống mới như “một người bình thường” Có thể thấy rằng sự kỳ thị có liên quan trực tiếp đến hình ảnh người nghiện ma tuý, nó gắn liền với những vi phạm pháp luật, “tệ nạn xã hội” và căn bệnh HIV/AIDS Nhóm nghiên cứu Phạm Thị Thu Huyền, Lê Minh Giang, Đinh Thị Thanh Thuý, Claire Edington trong chuyên sang Giới, Tình dục và Sức khoẻ do Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và dân số xuất bản, số 25/2012 đã phân tích được những xuất phát điểm của sự kỳ thị đối với người nghiện ma tuý, sự thể hiện hình ảnh người sử dụng ma tuý luôn có sự chồng chéo giữa những quan điểm cho họ là nạn nhân – tội nhân – bệnh nhân đã khiến cho người nghiện ma tuý ngày càng bị xem là tội phạm khi trong Bộ Luật hình sự năm 1999, tại điều 199 có quy định người sử dụng ma tuý bị chính thức coi là tội phạm.Đến những năm 2000 với sự xuất hiện các phong trào giảm hại và đặc biệt là
Trang 28chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam từ năm 2008 những người sử dụng ma túy lúc này được gắn với hình ảnh là những bệnh nhân Bộ Luật hình
sự 2009 đã chính thức bỏ điều khoản coi người sử dụng ma túy là tội phạm Việc chuyển đổi diễn ngôn chủ đạo về người sử dụng ma túy cho thấy những quan điểm tích cực hơn đối với người sử dụng ma túy so với hình ảnh của họ trước đây Tuy nhiên, sự mâu thuẫn giữa những quan niệm về người sử dụng
ma túy là nạn nhân- tội nhân- bệnh nhân đã và đang tạo ra những thách thức với không chỉ với quá trình lập chính sách mà cả việc thực thi các chính sách với người sử dụng ma túy tại Việt Nam.Điều đó đã làm cho người nghiện ma tuý thực sự khó khăn và không được sự quan tâm cũng như giúp đỡ của xã hội khi họ tái hoà nhập cộng đồng Sau đó, khi có những chương trình hỗ trợ can thiệp nhằm giảm thiểu tác hại của nghiện ma tuý thì lại xem họ là những bệnh nhân cần được điều trị Chính sự nhập nhằng trên đã khiến cho những người
đã cai nghiện ma tuý trở nên tự ti, mặc cảm và cộng đồng xã hội khó thay đổi được suy nghĩ khi những đối tượng này vẫn còn liên quan nhiều đến các vụ án hình sự [17]
Đề tài đã cho chúng ta thấy được những nguyên nhân của sự kỳ thị nặng nề đối với người sử dụng ma tuý, nghiên cứu về phân tích diễn ngôn trên các phương tiện thông tin đại chúng đã được tiến hành và dựa trên lý thuyết văn hoá nguy cơ Đề tài nghiên cứu này giới thiệu một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu chính sách, đó là tìm hiểu việc truyền thông các chính sách và định hướng về vấn đề ma tuý và giảm tác hại tới cộng đồng thông qua diễn ngôn báo chí Do đây là phương pháp mới nên bài viết cũng còn hạn chế là chưa thực hiện được những so sánh giữa diễn ngôn trên các tờ báo Đề tài nghiên cứu cũng không có cơ hội tìm hiểu về quan điểm của những người viết bài cũng như quá trình hình thành các bài viết
Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu Lê Thị Mai Phương, Lùng Bích Ngọc,
Lê Minh Giang, trong chuyên san Giới, Tình dục và Sức khoẻ của Trung tâm
Sáng kiến Sức khoẻ và dân số xuất bản và giữ bản quyền, số 26/2012 đã có cái
Trang 29nhìn sâu sắc về sự kỳ thị đối với người nghiện ma tuý và người đang điều trị cai nghiện ma tuý bằng Methadone Công trình nghiên cứu này chia đối tượng
ra thành các nhóm: những người có gia đình và những người chưa có gia đình; người có trình độ học vấn cao và người có trình độ học vấn thấp; nam và nữ…nhằm cho chúng ta thấy được sự khác biệt về sự kỳ thị cũng như tự kỳ thị của các nhóm người nghiện khác nhau, mỗi nhóm đều có sự kỳ thị và bị kỳ thị theo một hướng khác nhau, chính những rào cản đó làm cho họ khó tái hoà nhập cộng đồng và khả năng quay về con đường cũ là rất cao Kỳ thị và những
ám ảnh quá khứ đã thách thức sự nỗ lực thực hiện những dự định trong tương lai cuộc sống của những người nghiện và cả trong việc điều trị bằng thuốc Methadone [24]
Các tác giả đã có những nhìn nhận xác thực về những băn khoăn, trăn trở của những người đang điều trị nghiện ma tuý bằng Methdone cũng như những thách thức mà họ phải vượt qua và bài viết cũng đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp người điều trị Methadone vượt qua sự kỳ thị, tái hoà nhập cộng đồng Tuy nhiên do nghiên cứu chỉ dựa vào phương pháp nhân học nên còn hạn chế về việc thu thập thông tin, nghiên cứu chỉ dựa trên các phát
hiện từ đề tài nghiên cứu “Giảm thiểu tác hại sau thời kỳ đổi mới ở Việt
Nam: thay đổi chính sách và tác động” được thực hiện tại Hải Phòng trong
thời gian từ tháng 10-2008 đến tháng 12-2009 và chỉ nghiên cứu trên phạm vi nhỏ là nhóm người đang điều trị bằng Methadone chứ chưa có cái nhìn tổng quát đối với những người cai nghiện ma tuý nói chung
1.1.3 Đánh giá chung các nghiên cứu về việc tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện ma tuý
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân cũng như hiện trạng tái hoà nhập cộng đồng của người đã cai nghiện hiện nay, sự kỳ thị và những nguyên nhân của sự kỳ thị, các giải pháp cũng như sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ đối với người nghiện, đã chỉ ra được việc làm là yếu tố cần thiết nhất để người đã cai nghiện có cơ hội ổn định cuộc sống và từ
Trang 30bỏ được ma tuý Mặc dù đã có nhiều quy định về việc quản lý cũng như hỗ trợ công tác tái hoà nhập, tuy nhiên vấn đề vẫn còn tồn tại hiện nay là nhiều địa phương chưa nắm rõ một số quy định mới nên còn lúng túng trong công tác quản lý Nghiên cứu về vấn đề tái hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma tuý nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận và báo giới, đặc biệt chú trọng tại các tỉnh, thành phố lớn có số di dân cao Bình Dương hiện nay cũng là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế thuộc hàng đầu trong cả nước, số lượng di dân đến ngày càng tăng, sự phát triển kinh tế kéo theo những hệ luỵ
xã hội, trong đó tệ nạn ma tuý là khó tránh khỏi, do đó công tác quản lý cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là trong các vùng giáp ranh với các tỉnh, thành phố khác Dù hiện nay vấn đề đảm bảo trật tự xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội được các cấp lãnh đạo tỉnh rất quan tâm và tạo điều kiện để công tác đạt hiệu quả, nhưng tình hình này cũng chỉ nắm được qua các báo cáo từ địa phương, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào để có cái nhìn thiết thực và trọn vẹn hơn, chưa có giải pháp nào tối ưu để người đã cai nghiện ma tuý từ bỏ mặc cảm và để xã hội nhìn nhận họ một cách bình thường Vì vậy, tác giả
chọn đề tài “Vấn đề kỳ thị đối với người đã cai nghiện ma tuý trong quá
trình tái hoà nhập cộng đồng” làm báo cáo luận văn tốt nghiệp nhằm mục
đích tìm hiểu rõ nét hơn một khía cạnh trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội tại tỉnh Bình Dương Không chỉ chú trọng đến các công tác tái hoà nhập bằng các biện pháp về kinh tế mà kể cả những biện pháp hỗ trợ về mặt tinh thần, thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của xã hội đối với người đã cai nghiện ma tuý
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Định kiến xã hội
Định kiến xã hội được hiểu là thái độ của một cá nhân trong từng nhóm
xã hội, nó thường là tiêu cực đối với người khác, nhóm khác trong quan hệ với nhau Và trong thực tế, mỗi nhà nghiên cứu có cách hiểu khác nhau về định
kiến xã hội Theo Ficher (1992) trong “Những khái niệm cơ bản của tâm lý
Trang 31học xã hội”, định kiến xã hội là những thái độ bao hàm sự đánh giá một chiều
và sự đánh giá đó là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác tuỳ theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ Nói cách khác, định kiến là một loại phân biệt đối xử bao gồm hai thành tố chính là nhận thức và ứng xử Theo Godefrod
(1998) trong cuốn“Những con đường của tâm lý học”, định kiến là sự phán
xét “tốt” hay “xấu” của chúng ta đối với người khác, ngay cả trước khi ta biết
rõ họ hoặc biết được lý do hành động của họ Theo từ diển của J.P Chapin, định kiến là thái độ có thể tích cực hoặc tiêu cực được hình thành trên cơ sở của yếu tố cảm xúc Là niềm tin hoặc cách nhìn thường là không thiện cảm dẫn đến cho chủ thể một cách nghĩ hoặc ứng xử tương tự với người khác [14]
Trong cuốn từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, định kiến xã hội
là quan niệm đơn giản, máy móc thường không đúng sự thật, thể hiện trong lĩnh vực nhận thức hằng ngày về một khách thể nào đó Định kiến xã hội tìm kiếm những đặc tính không đặc trưng của khách thể dù chúng có thể có tính bền vững tương đối Những hiện tượng xuất hiện trong lĩnh vưc giao tiếp giữa các cá nhân và trong tri giác xã hội như tâm thế xã hội, ấn tượng của vinh quang, những biểu hiện lần đầu mới tạo điều kiện cho tồn tại và mở rộng định kiến xã hội
Theo Krames và Manne, định kiến là một thành tố của nhận thức, tình cảm, hành vi Nó là biểu hiện của trí tuệ, nó khơi dậy tình cảm hoặc cảm xúc của con người, là thực sự thực thi những suy nghĩ của mình về người khác bằng những hành vi cụ thể
G.Allport quan niệm một cách đơn giản rằng định kiến được xem như thái độ có tính ác cảm và thù địch đối với các thành viên nhóm nào đó
Định nghĩa của Trần Hiệp: định kiến là thái độ có sẵn về đối tượng, về một sự kiện nào đó, thường mang hàm ý xấu Định kiến xã hội được hiểu là thái độ của một cá nhân trong từng nhóm xã hội, nó thường là tiêu cực đối với người khác, nhóm khác trong mối quan hệ xã hội với nhau
Trang 32Một quan niệm khác của Albert Ellis nhìn nhận định kiến là sự tổng hợp của ba yếu tố như sau
Một là, sự tác động của yếu tố cảm xúc (affects); hai là, xu hướng hành
vi (behavion tendency); ba là, sự nhận thức của cá nhân (cognition) Người ta gọi đó là các thành tố ABC của thái độ Một người có định kiến trước hết không có cảm tình với khách thể, sau đó có sự tin tưởng mù quáng vào cảm nhận đó và có khuynh hướng phân biệt đối xử [29]
Từ những quan điểm trên, ta có thể nêu ra định nghĩa về định kiến xã hội như sau: định kiến xã hội là những thái độ tiêu cực được nảy sinh trên cơ
sở của những cảm nhận không có cơ sở chắc chắn, những đặc điểm bề ngoài, những ấn tượng xấu…về một cá nhân, một nhóm người hay một cộng đồng người nào đó
Như vậy, tuy có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề định kiến, nhưng suy cho cùng, các tác giả đều có nhìn nhận giống nhau một cách
cơ bản trên một số điểm Hầu hết họ đều thừa nhận định kiến là một kiểu thái
độ tiêu cực, bất hợp lý đối với người khác dựa trên những nhận thức thiếu căn
cứ, phiến diện của chủ thể là người mang định kiến
Có nhiều công trình nghiên cứu về định kiến như định kiến giới, định kiến dân tộc, chủng tộc, tôn giáo…Nhiều công trình đã lý giải nguồn gốc hình thành, duy trì định kiến và những biểu hiện của định kiến Xuất phát từ quan niệm về thành kiến dân tộc và phân biệt chủng tộc, R.Merton đã xác định bốn loại người theo thang đánh giá thái độ mang tính chất định kiến và hành vi mang tính chất phân biệt chủng tộc
Nhóm người thứ nhất theo Merton là những người “không phân biệt, không thành kiến” hay gọi là người phóng khoáng, dễ dãi
Nhóm người thứ hai bao gồm những người không tin vào sự bình đẳng
Họ là những người “có định kiến nhưng không phân biệt” và Merton gọi những người này là “những người mù quáng nhút nhát” (người vội xét đoán nhưng không phân biệt đối xử)
Trang 33Nhóm người thứ ba trong mô hình của Merton bao gồm người “không định kiến nhưng phân biệt” Merton gọi nhóm này là “người phóng khoáng tuỳ hứng” Những người này có mức độ thành kiến rất thấp nhưng họ có khuynh hướng phân biệt khi bị ảnh hưởng đến quyền lợi của họ
Nhóm cuối cùng trong mô hình của Merton là những người “thành kiến phân biệt” hay “những người mù quáng tích cực” (người vội xét đoán và phân biệt đối xử) Mức độ thành kiến và phân biệt của những người này đều cao
Trong đề tài này, tác giả vận dụng quan điểm của Merton để đo lường mức độ định kiến xã hội đối với những người đã cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng
Một người bị kỳ thị là một người bị xem là có nhân cách hư hỏng, người bị xem là vô giá trị trong con mắt những người khác (Erving Goffman, 1963) Kỳ thị không phải là một suy nghĩ mà là một tiến trình làm giảm giá trị của một người
Sự kỳ thị hình thành do:
- Nhu cầu kiểm soát xã hội khi có vấn đề
- Nhu cầu thể hiện quyền lực đối với những người bị coi là vô giá trị
- Nhu cầu tách bản thân mình ra khỏi nhóm người bị coi là hạ đẳng
- Kỳ thị liên quan đến việc chúng ta nhìn nhận về thế giới như thế nào Các biểu hiện của kỳ thị:
- Xa lánh: tránh gần gũi, đụng chạm, sử dụng đồ dùng chung
Trang 34- Từ chối: mất chỗ ở, mất việc làm, học tập, bị đùn đẩy khi khám chữa
bệnh
- Cô lập: Ở riêng trong gia đình, khu riêng trong bệnh viện ; sự bàn tán,
nói xấu của cộng đồng, mất dần vị trí trong gia đình và xã hội; mất khả năng tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho cuộc sống: nhà ở, việc làm, chăm sóc sức khỏe
- Tự kỳ thị: Mặc cảm tội lỗi, tự ti, mất tự tin và tự cô lập; chán nản, tuyệt
vọng trong cuộc sống và mọi mối quan hệ; từ bỏ các ước muốn của cuộc sống: việc làm, thăng tiến nghề nghiệp, hạnh phúc gia đình
- Kỳ thị thứ cấp: Người bị kỳ thị là gia đình, bạn bè, người chăm sóc, biểu
hiện của kỳ thị như đối với người nhiễm HIV [33]
Với các biểu hiện của kỳ thị như đã được đề cập, tác giả vận dụng vào
đề tài nhằm phân tích rõ hơn về sự kỳ thị không chỉ của cộng đồng đối với người đã cai nghiện ma tuý mà còn ở chính bản thân họ
1.2.3 Phân biệt đối xử
Phân biệt đối xử là một thuật ngữ xã hội học nhằm chỉ tới một sự đối xử
đối với một cá nhân hay một nhóm nhất định dựa vào sự phân loại tầng lớp hay đẳng cấp Phân biệt đối xử thực tế là một hành vi đối với một nhóm khác
Nó bao gồm việc loại bỏ hoặc hạn chế các thành viên trong một nhóm khỏi những cơ hội mà những nhóm khác được tiếp cận Liên Hiệp Quốc giải thích như sau: "Những hành vi phân biệt đối xử có nhiều hình thức, nhưng tất cả chúng đều có liên quan đến một số hình thức loại trừ và từ chối"[36, tr.324]
Đề tài sử dụng khái niệm phân biệt đối xử của tổ chức Protection & Advocacy System của California để phân tích những nội dung của vấn đề nghiên cứu Theo tổ chức Protection & Advocacy System của California thì phân biệt đối xử là biểu hiện bằng hành vi của thái độ kỳ thị Phân biệt đối xử diễn ra khi các cá nhân hoặc tổ chức tước đoạt quyền và các cơ hội cuộc sống của những người khác một cách bất công do kỳ thị Phân biệt đối xử có thể dẫn đến việc loại trù hoặc gạt con người ra ngoài lề và tước đoạt của họ các
Trang 35quyền công dân như quyền tiếp cận các sự lựa chọn gia cư công bằng, các cơ hội việc làm, giáo dục và tham gia đầy đủ trong đời sống dân sự
Phân biệt đối xử bao gồm “đối xử khác biệt hoặc khác hẳn” trên cơ sở kỳ thị
Phân biệt đối xử cũng bao gồm việc không cung cấp chỗ ở hợp lý cho người mà họ kỳ thị
1.2.4 Tự kỳ thị
Theo cơ quan Dịch Vụ Sức Khỏe Tâm Thần California (CalMHSA) thì tự
kỳ thị hay còn gọi là “kỳ thị bản thân” xảy ra khi một cá nhân gắn mình vào các quan niệm sai lầm của xã hội về sức khỏe tâm thần Bằng cách tự mình gắn với các niềm tin tiêu cực, các cá nhân hoặc các nhóm có thể trải qua những cảm giác xấu hổ, giận dữ, thất vọng hoặc tuyệt vọng làm cho họ xa lánh
sự hỗ trợ xã hội, việc làm hoặc điều trị cho tình trạng sức khỏe tâm thần của
họ
Theo định nghĩa của Luật nhân quyền: “Kỳ thị” là đối xử tệ với một người nào đó vì lý do chủng tộc, khiếm khuyết, giới tính, các đặc điểm cá nhân Đối với những người sử dụng ma túy khó tránh khỏi sự kỳ thị của mọi người với bản thân họ Tuy nhiên, ngoài sự kỳ thị từ những người xung quanh đối với họ thì chính bản thân họ cũng tự kỳ thị mình Tự kỳ thị của người nghiện ma túy
là thái độ của họ cảm thấy thất vọng, xấu hổ, lên án chính bản thân mình thông qua những hành vi mình đã làm Chính điều này khiến họ gặp nhiều khó khăn khi cai nghiện ma túy
Biểu hiện tự kỳ thị của người nghiện ma túy, đã và đang cai nghiện
ma túy
- Tách mình ra khỏi gia đình, người thân và cộng đồng: Những người sử dụng ma tuý sống khép kín, không thích giao lưu, chia sẻ với mọi người, kể cả những người thân yêu trong gia đình như bố mẹ, vợ con
- Không tin mình có thể làm được, thất vọng vì tái nghiện nhiều lần, cảm thấy khó khăn khi cai nghiện ma túy Sau nhiều lần thất bại không hoàn thành
Trang 36những công việc được giao, không từ bỏ được ma túy nên xuất hiện sự tự ti, mặc cảm với mọi người
- Cho rằng mình không thông minh, giỏi giang, quyết đoán như những người khác
- Luôn có suy nghĩ mọi người không chấp nhận mình, coi thường mình
Từ đó họ xây lên bức tường ngăn cách, tách mình ra khỏi gia đình, người thân và cộng đồng Đây cũng chính là yếu tố dẫn đến khó khăn cho họ trong quá trình cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng
Với các khái niệm như trên, đề tài sử dụng kết hợp khái niệm tự kỳ thị được đưa ra trong Luật Nhân quyền và của cơ quan Dịch Vụ Sức Khỏe Tâm
Thần California (CalMHSA) để làm cơ sở phân tích nội dung đề tài
Trang 37gian được chăm sóc tại cơ sở chữa bệnh tuy không biệt lập hoàn toàn với xã hội nhưng bị cách ly khỏi đời sống xã hội đời thường, bị hạn chế một số quyền
tự do dân chủ Vì vậy, khi trở về cộng đồng, họ không thế tránh khỏi những khó khăn, lúng túng cả về nhận thức, hành vi ứng xử, những rào cản của xã hội Do đó, tái hoà nhập cho người đã cai nghiện ma tuý không có nghĩa chỉ đưa họ từ cơ sở chữa bệnh về nơi cư trú, về với gia đình, cộng đồng dân cư nơi
họ sinh sống mà là quá trình giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện để họ xoá bỏ những mặc cảm, bảo đảm các quyền cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và tạo lập cuộc sống bình thường trong cộng đồng một các thuận lợi Hay nói cách khác, tái hoà nhập cộng đồng được hiểu là quá trình “tái xã hội hoá” của cá nhân thông qua giao tiếp với cộng đồng để nhận thức lại, tiếp thu
và chuyển hoá các giá trị, chuẩn mực pháp lý, văn hoá ứng xử, đạo đức xã hội,
từ đó thích nghi và hội nhập được với cuộc sống hiện tại
Như vậy quá trình tái hoà nhập cộng đồng có thể giúp cho người đã cai nghiện ma tuý:
+ Đảm bảo được các quyền cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân như quyền tự do thân thể, tự do đi lại, quyền có nơi cư trú hợp pháp, quyền lao động để có thu nhập hợp pháp cho bản thân và gia đình; quyền học tập để phát triển; quyền được sống hạnh phúc trong gia đình với tình cảm và bổn phận của người cha, người mẹ, vợ, chồng, con cháu cũng như quyền được tham gia vào các tổ chức và hoạt động xã hội
+ Tạo điều kiện cho họ có việc làm và tham gia vào các hoạt động sản xuất tạo thu nhập có thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu và duy trì được sự độc lập về tài chính;
+ Giúp họ có khả năng sống độc lập hơn và tham gia một cách tích cực trong các hoạt động kinh tế cũng như hoạt động cộng đồng [14]
1.2.6 Mạng lưới xã hội
Trong công trình nghiên cứu của mình, khi mô tả tổ chức xã hội tại Bremnes, nhà nhân học người Anh J.A Barnes (1954) đã phân tích các mối
Trang 38liên hệ giữa các thành viên trong cộng đồng và đã sáng tạo ra thuật ngữ mạng lưới xã hội Theo Barnes, mạng lưới xã hội là các mối quan hệ của con người Trong một công trình nghiên cứu khác B Wellman and D.BerkoWitz (1988) lại hiểu mạng lưới xã hội là cấu trúc của các mối liên hệ xã hội, tương tác xã hội và quan hệ xã hội giữa các cá nhân và đưa ra lời giải thích về tác động của các đặc điểm của cấu trúc mạng lưới xã hội đối với hành vi của cá nhân, các thành viên tham gia cấu trúc đó Lê Minh Tiến (2006) nhấn mạnh mạng lưới
xã hội là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi chung là các actor Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn
là các nhóm xã hội, các tổ chức, các thiết chế, các công ty, xí nghiệp và cả các quốc gia Các mối quan hệ giữa các actor cũng có thể mang nhiều nội dung khác nhau từ sự tương trợ, trao đổi thông tin cho đến việc trao đổi hàng hoá, trao đổi các dịch vụ Khái niệm mạng lưới xã hội cũng còn có thể được hiểu là phức hợp các mối quan hệ của các cá nhân trong các nhóm, các tổ chức, các cộng đồng Các mối quan hệ bao gồm các quan hệ đan chéo chằng chịt từ quan
hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, láng giềng cho tới các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, tầng lớp, hiệp hội, đảng phái, nghề nghiệp…
Mặc dù đã có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng tựu trung, mạng lưới
xã hội thường được định nghĩa xoay quanh những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau: nói đến cấu trúc của một xã hội, phức hợp các mối quan hệ xã hội, lợi ích của mạng lưới xã hội
- Đặc điểm của mạng lưới xã hội:
+ Là một thành tố quan trọng của cơ cấu xã hội Nó hữu ích cho các cá nhân và quan trọng trong hầu hết các xã hội Thông qua mạng lưới xã hội, thông tin, kiến thúc và các nguồn nhân lực được chia sẻ giữa các cá nhân
và các nhóm xã hội, từ đó tăng sức mạnh cho cá nhân và cho cả xã hội; mặt khác nó làm cho xã hội vận hành một cách gắn bó, hài hoà, trôi chảy
+ Mạng lưới xã hội không có ranh giới rõ ràng, các thành viên có thể có hoặc không tương tác trên một cơ sở đều đặn Hơn nữa, con người trong
Trang 39các mạng lưới xã hội không thường xuyên có nhận thức rằng họ thuộc về mạng lưới đó Trong một mạng lưới xã hội, con người phải xử lý phức hợp nhiều mối quan hệ xã hội mà nó không bắt buộc phải thực hiện một cách cứng nhắc Tuy nhiên, không có một cá nhân nào lại đứng ngoài mạng lưới xã hội
+ Mạng lưới xã hội có quy mô, kích cỡ không đồng nhất
+ Hình thức mạng lưới xã hội giúp xác định tính hữu ích của mạng lưới đối với các cá nhân của nó Những mạng nhỏ và kín hơn thì ít hữu ích đối với các thành viên hơn là các mạng có nhiều liên kết lỏng với những cá nhân ở bên ngoài
- Thành phần của mạng lưới xã hội:
Yếu tố đầu tiên trong mạng lưới xã hội là chủ thể Chủ thể ở đây
có thể được hiểu là những người có hành vi tương tác Trong đề tài, chủ thể của mạng lưới xã hội là người đã cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng
Thành phần thứ hai là các quan hệ đan chéo chằng chịt, từ quan
hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, láng giềng, đến các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, đảng phái, nghề nghiệp… Trong xã hội, không một cá nhân nào không sống trong những nhóm, tập thể nhất định cho nên các nhóm, tổ chức
xã hội mà các cá nhân là thành viên có những tác động, chi phối và quy định các quan hệ của cá nhân Tuỳ thuộc mối quan hệ là yếu hay mạnh mà sự quy định đó mang tính chất mạnh yếu cũng khác nhau
Như vậy, trong đề tài, những yếu tố cơ bản tạo nên mạng lưới xã hội của người đã cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng là gia đình, họ hàng, hàng xóm, người quen, bạn bè; những nhóm, tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ mật thiết nhất trong quá trình sống
- Kiểu loại mạng lưới xã hội:
Trong công trình Phân công lao động xã hội, Durkheim đã phân biệt
hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội (đoàn kết xã hội là khái niệm chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội) là đoàn kết cơ giới và đoàn kết hữu cơ
Trang 40+ Đoàn kết cơ giới: là kiểu đoàn kết xã hội mà các cá nhân liên
hệ với nhau dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, nhất trí, sự thống nhất của các giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, phong tục tập quán
+ Đoàn kết hữu cơ: là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự phong phú, đa dạng của sự phân hoá các chức năng, các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội
Trên cơ sở hai kiểu đoàn kết xã hội, Durkheim khẳng định rằng mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại
và mạng lưới quan hệ phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy móc của
xã hội truyền thống
Dựa trên đặc trưng của các mối liên hệ chúng ta có thể phân biệt khái quát ba kiểu mạng xã hội:
+ Kiểu mạng tình cảm: là quan hệ của các cá nhân dựa trên quan
hệ họ hàng, huyết thống, xuất hiện từ rất sớm và được Durkheim cho rằng đó
là kiểu đoàn kết máy móc- đặc trưng cho các xã hội nông nghiệp, lạc hậu
+ Kiểu mạng hiện đại: các cá nhân chủ yếu thực hiện các quan
hệ chức năng với các cơ quan, tổ chức và với các thiết chế xã hội khác như y
tế, giáo dục, pháp luật, tôn giáo, đạo đức…Quan hệ của các cá nhân là quan hệ chức năng, theo Durkheim đó là đoàn kết hữu cơ, chỉ xuất hiện trong xã hội công nghiệp hiện đại
+ Kiểu mạng hỗn hợp: được đánh giá là phổ biến nhất hiện nay
Ở kiểu mạng này, các cá nhân không chỉ thiết lập các quan hệ trên cơ sở huyết thống, thân tộc mà còn cộng gộp cả kiểu quan hệ chức năng Trong xã hội hiện đại, kiểu quan hệ hỗn hợp tỏ ra có hiệu quả cao hơn hẳn so với hai kiểu mạng lưới xã hội trước đó
- Cấu trúc của mạng lưới xã hội:
Theo M Gramnovwtter, khi tiến hành phân tích mạng lưới xã hội, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu cấu trúc của mạng lưới xã hội Cấu trúc của mạng lưới xã hội chính là tập hợp những mối liên hệ của một hay nhiều các quan hệ