Về nội dung quản lý HĐGDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ bao gồm những nội dung: quản lý mục tiêu HĐGDKNS; quản lý kế hoạch, nội dung chương trình HĐGDKNS; quản lý hình thức, phương pháp tổ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI CƠ NHỠ TẠI CÁC TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI HUYỆN TÂN THÀNH
GVHD: Trần Thị Tuyết Mai
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ được hoàn thành tại trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý thầy cô trong Ban giám hiệu trường, phòng đào tạo sau đại học, khoa Giáo dục, đặc biệt là TS Trần Thị Tuyết Mai đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt, khai sáng tri thức và giúp chúng tôi có thêm nhiều kiến thức bổ ích để hoàn tất chương trình cũng như hỗ trợ trong nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Phòng Lao động Thương binh Xã hội huyện Tân Thành, Giám đốc, tập thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tại các trung tâm nhân đạo: Hộ Pháp, Từ Ân, Bồng Lai, Hồng Quang đã đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin, thực hiện khảo sát và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập
số liệu để phục vụ cho luận văn được hoàn thành
Thành kính tỏ lòng biết ơn sâu đậm đến những đóng góp quý báu và nhiệt tình của Sư trưởng tôn sư, chư vị giáo thọ, chư huynh đệ, thiện hữu tri thức, cha
mẹ, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn Đặc biệt là sự chia sẻ, động viên, khuyến khích và
hỗ trợ của quý vị là sự khích lệ đáng trân trọng và ghi nhận mà tác giả không thể nào quên
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô trong Hội đồng bảo vệ cùng quý thiện hữu tri thức để luận văn được hoàn thiện hơn
TP.HCM, tháng 07 năm 2017
Người viết
Đoàn Vũ Thị Hường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Đoàn Vũ Thị Hường
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn cũng như những số liệu đều rất chính xác và trung thực với những gì đã khảo sát, nghiên cứu và có trích dẫn rõ ràng theo đúng quy định của nhà trường
Những nội dung trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2017
Người thực hiện Luận văn
Đoàn Vũ Thị Hường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 4
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 4
7.3 Phương pháp xử lý thông tin 5
8 Ý nghĩa của đề tài 5
8.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài 5
8.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
9 Bố cục luận văn 6
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 7
KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI CÁC TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI 7
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài 7
1.1.1.1 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống 7
1.1.1.2 Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống 9
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở trong nước 10
1.1.2.2 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống 10
1.1.2.2 Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống 12
1.2 Một số khái niệm của đề tài 13
1.2.1 Trẻ em mồ côi, cơ nhỡ 13
1.2.1.1 Trẻ em 13
1.2.1.2 Trẻ em mồ côi 14
1.2.1.3 Trẻ em cơ nhỡ 14
1.2.2 Kĩ năng sống 15
1.2.3 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi, cơ nhỡ 18
1.2.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ 19
1.2.5 Quản lý & quản lý giáo dục 20
1.2.5.1 Quản lý 20
Trang 51.2.5.2 Quản lý giáo dục 21
1.2.6 Quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ 22
1.2.7 Trung tâm công tác xã hội 22
1.3 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm CTXH 24
1.4 Vai trò của công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm CTXH 26
1.5 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em MCCN tại các trung tâm công tác xã hội 27
1.5.1 Xây dựng kế hoạch HĐGDKNS cho trẻ em MCCN 27
1.5.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 28
1.5.3 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 31
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội 32
1.6.1 Các yếu tố liên quan đến nhận thức của các lực lượng giáo dục kĩ năng sống 32
1.6.2 Các yếu tố liên quan đến hoạt động của nhà quản lý 33
1.6.3 Các yếu tố liên quan đến điều kiện của hoạt động quản lý 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 37
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 37
2.1 Sơ nét về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 37
2.2 Giới thiệu tình hình chung về các trung tâm công tác xã hội tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 38
2.2.1 Tình hình chung về mảng công tác xã hội trên địa bàn huyện Tân Thành 38
2.2.2 Sự hình thành, quy mô, cơ cấu về các trung tâm nhân đạo nuôi trẻ MCCN tại huyện Tân Thành 39
2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên 41
2.2.4 Chất lượng nuôi dưỡng - chăm sóc và giáo dục 42
2.2.5 Cơ sở vật chất và các điều kiện khác 43
2.3 Khảo sát thực trạng GDKNS và HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành 43
2.3.1 Tổ chức khảo sát 43
2.3.1.1 Mẫu nghiên cứu thực trạng 43
2.3.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 44
2.3.1.3 Quy ước xử lý thông tin 46
2.3.2 Thực trạng KNS của trẻ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành 46
Trang 62.3.2.1 Đánh giá chung về KNS của trẻ 46
2.3.2.2 Đánh giá trình độ từng kĩ năng của trẻ 48
2.3.3 Thực trạng HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành 49
2.3.3.1 Đánh giá về việc thực hiện nội dung GDKNS cho trẻ 49
2.3.3.2 Đánh giá việc thực hiện các hình thức GDKNS cho trẻ 51
2.3.3.3 Đánh giá về phương pháp GDKNS cho trẻ 52
2.3.3.4 Đánh giá sự phối hợp các LLGD trong HĐGDKNS cho trẻ 53
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH 54
2.4.1 Đánh giá chung về quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH 54
2.4.2 Nhận định về việc thực hiện từng chức năng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm công xã hội 55
2.4.2.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch HĐGDKNS cho TEMCCN 55
2.4.2.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 57
2.4.2.3 Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 58
2.4.2.4 Thực trạng quản lý các điều kiện thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 59
2.4.3 Nhận định chung về công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH 60
2.4.3.1 Ưu điểm 60
2.5 Phân tích nguyên nhân của thực trạng quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 64
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI CÁC TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI HUYỆN TÂN THÀNH 66
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi, cơ nhỡ 66
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 66
3.1.2 Đảm bảo tính khách quan 66
3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 66
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 67
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Nội dung các biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH 68
3.2.1 Nâng cao nhận thức của CBQL, GV, NV và trẻ về HĐGDKNS 68
3.2.1.1 Mục tiêu 68
3.2.1.1 Nội dung và cách thức thực hiện 68
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, chương trình HĐGDKNS cho trẻ 70
Trang 73.2.2.1 Mục tiêu 70
3.2.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện 70
3.2.3 Tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDKNS cho trẻ 73
3.2.3.1 Mục tiêu 73
3.2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện 73
3.2.4 Thực hiện tốt công tác Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDKNS 76
3.2.4.1 Mục tiêu 76
3.2.5 Huy động các điều kiện thực hiện kế hoạch HĐGDKNS cho trẻ 77
3.2.5.1 Mục tiêu 77
3.2.5.2 Nội dung và cách thức thực hiện 77
3.2.6 Tăng cường Huy động các nguồn vốn của các cơ quan, ban ngành, tổ chức xã hội 79
3.2.6.1 Mục tiêu 79
3.2.6.2 Nội dung và cách thức thực hiện 79
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 82
3.3.1 Mục đích, nội dung, đối tượng và phương pháp khảo nghiệm 82
3.3.2 Kết quả khảo sát 83
3.3.2.1 Biện pháp Nâng nhận thức của các LLGD và trẻ về HĐGDKNS 83
3.3.2.2 Biện pháp Xây dựng & phổ biến kế hoạch, chương trình HĐGDKNS 84
3.3.2.3 Biện pháp Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGDKNS 85
3.3.2.4 Biện pháp Tăng cường kiểm tra, đánh giá HĐGDKNS cho trẻ 86
3.3.2.5 Biện pháp Huy động các điều kiện phục vụ cho HĐGDKNS 87
3.3.2.6 Biện pháp Huy động các nguồn vốn của các cơ quan, ban ngành, tổ chức xã hội 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Kiến nghị 94
2.1 Đối với cơ quan chức năng (Bộ - Sở - Phòng LĐTBXH) 94
2.2 Đối với các trung tâm CTXH 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU MẪU
1 Bảng 2.1: Những nội dung trẻ học tại trung tâm CTXH huyện Tân
thành
47
2 Bảng 2.2: Trình độ KNS của trẻ tại các trung tâm CTXX 47
3 Bảng 2.3: Đánh giá trình độ từng KN của trẻ tại các trung tâm
6 Bảng 2.6: Đánh giá mức độ thực hiện phương pháp GDKNS 53
7 Bảng 2.7: Đánh giá mức độ phối hợp và hiệu quả đạt được về sự
phối hợp các LLGD trong HĐGDKNS cho trẻ
12 Bảng 2.12: Mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc quản lý các
điều kiện thực hiện kế hoạch HĐGDKNS
60
13 Bảng 2.13: Nguyên nhân hạn chế thực trạng quản lý HĐGDKNS cho
trẻ tại trung tâm CTXH
61
14 Bảng 3.1: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 1 83
15 Bảng 3.2: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 2 84
16 Bảng 3.3: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 3 85
17 Bảng 3.4: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 4 86
18 Bảng 3.5: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 5 87
19 Bảng 3.6: Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 6 89
Trang 9đó là những nguyên nhân dẫn đến việc có rất nhiều trẻ mồ côi, những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của những tấm lòng hảo tâm
Đáp ứng nguyện vọng đó, cùng với tấm lòng thương yêu, vì cộng đồng, vì thế
hệ trẻ tương lai, các mái ấm tình thương, trung tâm công tác xã hội đã hình thành và chung tay góp sức đem lại đời sống tốt cho tất cả các em Song, tâm nguyện cũng như việc chăm lo cho các em có đủ cơm ăn áo mặc là điều kiện cần nhưng chưa đủ vì nó chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà không chuẩn bị cho trẻ một nghề nghiệp, một tương lai về sau Chính vì vậy, việc trang bị cho trẻ những kĩ năng sống, những thói quen tốt, điều chỉnh hành vi đạo đức… là điều quan trọng hơn bao giờ hết
Giáo dục kĩ năng sống là một nội dung giáo dục rất quan trọng nhằm giáo dục con người có hành động thích ứng và làm chủ các tình huống trong cuộc sống Đó là một quá trình giáo dục liên tục được bắt đầu vào những năm đầu đời và kéo dài suốt cuộc đời của con người Chính vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ
là điều rất cần thiết và quan trọng Mục tiêu của hoạt động giáo dục này là trang bị cho trẻ những kĩ năng cần thiết, phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ tự tin hơn với bản thân mình, biết sống và ứng xử phù hợp trong cuộc sống
Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống (HĐGDKNS) cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ là quản lý nguyên tắc, cấu trúc HĐGDKNS (mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, cách thức tổ chức…) Về nội dung quản lý HĐGDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ bao gồm những nội dung: quản lý mục tiêu HĐGDKNS; quản lý kế hoạch, nội dung chương trình HĐGDKNS; quản lý hình thức, phương pháp tổ chức; quản lý
sự phối hợp các lực lượng giáo dục (LLGD) trong HĐGDKNS; quản lý hoạt động của trẻ tại trung tâm; quản lý các điều kiện thực hiện HĐGDKNS
Trang 10Mặc khác, trẻ em mồ côi cơ nhỡ (MCCN) vốn dĩ đã thiếu tình thương và sự giáo dục từ cha mẹ, gia đình Vì vậy, để trẻ trở thành người có sức khỏe tốt, có trình
độ, có tư duy độc lập, có trách nhiệm, biết đóng góp cho xã hội, có kĩ năng sống tốt và nhất là kĩ năng hòa nhập cộng đồng, đòi hỏi những người quản lý và giáo viên, đội ngũ nhân viên làm tốt công tác của mình và đảm bảo chất lượng trong quá trình nuôi dưỡng, giáo dục Vì vậy, công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm là điều rất quan trọng và cần được quan tâm hàng đầu
Thực tiễn quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội (CTXH)
đã có những kết quả ban đầu đáng kể Phần lớn cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV), nhân viên (NV) đều nhận thấy được vai trò và ý nghĩa của HĐGDKNS cho trẻ Tuy nhiên, xét kĩ công tác quản lý HĐGDKNS tại các trung tâm vẫn còn sơ sài, hạn chế thậm chí có những trung tâm công tác này rất mờ nhạt Việc xây dựng kế hoạch, chương trình giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) chưa được rõ nét Các công tác khác như tổ chức - chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện tốt Các điều kiện phục
vụ, cơ sở vật chất còn hạn chế, nguồn kinh phí thiếu hụt… chưa đáp ứng được nhu cầu của việc GDKNS cho trẻ
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành.”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu, phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội của huyện Tân Thành Từ đó đề xuất những biện pháp thiết thực, cụ thể giúp việc quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt hơn
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục cho trẻ em mồ côi
cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội trên địa bàn
huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành,
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động giáo dục
kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
5 Câu hỏi nghiên cứu
Luân văn sẽ giải đáp một số câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thực trạng hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành như thế nào?
- Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ tại trung tâm CTXH huyện Tân Thành như thế nào? Có những ưu và nhược điểm nào?
- Những nguyên nhân nào dẫn đến công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ còn nhiều hạn chế?
- Xây dựng hệ thống những biện pháp nào nhằm nâng cao công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành?
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ
năng sống cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành Đặc biệt chú
trọng vào việc thực hiện các chức năng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho
trẻ tại các trung tâm công tác xã hội như: Xây dựng kế hoạch, chương trình
HĐGDKNS; Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGDKNS; Kiểm tra, đánh giá
HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành
- Về đối tượng khảo sát: Tập trung khảo sát đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ tại các trung tâm công tác xã hội đã được cấp phép hoạt động trên địa bàn huyện Tân Thành
Trang 12- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội huyện Tân Thành trong thời gian từ năm 2015 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể như sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa một số nội dung chủ yếu trong các tài liệu liên quan đến đề tài như: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, báo cáo, luận văn, luận án, tài liệu, kỷ yếu hội thảo, các văn bản pháp lý, v.v… Những thông tin quan trọng liên quan đến đề tài sẽ được trích dẫn phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Nhóm phương pháp này bao gồm: phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp trao đổi - phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu hồ
sơ
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: thu thập thông tin thực tiễn qua việc gởi phiếu hỏi cho CBQL, GV, NV và các trẻ tại các trung tâm CTXH trên địa bàn huyện Tân Thành Có ba loại bảng hỏi (bảng hỏi dành cho trẻ; bảng hỏi dành cho CBQL,
GV, NV và bảng hỏi khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản
lý HĐGDKNS dành cho CBQL, GV) Các bảng hỏi xoay quanh những nội dung liên quan đến HĐGDKNS và quản lý HĐGDKNS cho trẻ (phiếu hỏi dành cho mỗi loại đối tượng có thể có vài sự khác biệt) Từ đó, thu thập những số liệu cụ thể, chính xác và đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của mỗi trung tâm
- Phương pháp trao đổi - phỏng vấn: chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn với các CBQL, GV, NV, những vị có kinh nghiệm trong việc quản lý tại các trung tâm công tác xã hội, một số vị có thâm niên trong công tác giáo dục, giảng dạy KNS, quản lý HĐGDKNS Kết quả thu thập được đã giúp người viết thấy rõ được thực trạng HĐGDKNS và quản lý HĐGDKNS tại các trung tâm CTXH trên địa bàn huyện Tân Thành Từ nền tảng đó, hệ thống các biện pháp về quản lý HĐGDKNS được xây dựng nhằm giúp cho công tác quản lý HĐGDKNS tại các trung tâm này đạt chất lượng và hiệu quả hơn
- Phương pháp quan sát: Phương pháp này sử dụng để thu thập thêm những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: hoạt động GDKNS và quản lý
Trang 13HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH Khi tìm hiểu và xác định được lịch tổ chức các hoạt động GDKNS của các trung tâm, người viết đã tham dự để quan sát, xác định các kết quả, đề xuất các điểm cần thực hiện để đạt mục đích GDKNS Thời gian quan sát: từ tháng 4 năm 2016 đến nay
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Thu thập một số hồ sơ về nhiệm vụ, chức năng của các trung tâm công tác xã hội; một số văn bản pháp lý cấp phép thành lập các trung tâm; hồ sơ về cơ cấu tổ chức, kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, v.v…
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lý số liệu trong những phiếu điều tra
có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu
8 Ý nghĩa của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này sẽ cho chúng ta thấy rõ về cơ sở lý luận về vấn đề này, những nội dung liên quan và có thể làm tư liệu cho những nghiên cứu về sau
8.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Phân tích thực trạng của hoạt động giáo dục kĩ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm CTXH trong phạm vi huyện Tân Thành
- Trên cơ sở hệ thống nguyên tắc cơ bản và kết quả khảo sát, luận văn xây dựng
hệ thống các biện pháp quản lý HĐGDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm CTXH huyện Tân Thành Những biện pháp quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại trung tâm đã nói trên có thể áp dụng tại các trung tâm CTXH khác và cũng có thể áp dụng trong những môi trường giáo dục khác nhưng phải linh động cho phù hợp với điều kiện thực tế
- Một khi thực hiện việc giáo dục KNS và quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN đạt kết quả tốt và đảm bảo chất lượng, điều đó có nghĩa là chúng ta đã chuẩn
bị hành trang cho trẻ thích ứng với những thách thức trong cuộc sống một cách tích cực Đây là việc làm đầy ý nghĩa, thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển của cá nhân và
xã hội
Trang 149 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN tại các
trung tâm CTXH
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các
trung tâm CTXH huyện Tân Thành
Chương 3: Biện pháp quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH
huyện Tân Thành
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI CÁC TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
1.1.1.1 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống
Kĩ năng sống (KNS) và giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) là những thuật ngữ được biết đến khá sớm ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây Tuy nhiên, việc giáo dục KNS chỉ được xem là những hoạt động nhằm đào tạo người lao động các kĩ năng nghề nghiệp và được thực hiện bởi các chuyên gia Sau đó, đến những năm 1960, khái niệm KNS và GDKNS được nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lãnh vực như giáo dục, tâm lý, quản lý đã tìm hiểu, nghiên cứu với nhiều hướng khác nhau Một nhóm các nhà nghiên cứu như: P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V.Petropxki, v.v… đã nghiên cứu những kĩ năng ở mức khái quát và chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức, trí tuệ và phần lớn chỉ đề cập ở những khái niệm, lý thuyết một cách trừu tượng Một hướng khác, đó là nghiên cứu kĩ năng ở mức độ cụ thể dựa trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau Đại diện cho nhóm này phải kể đến nhà tâm lý - giáo dục V.V.Tseburseva, (bàn về kĩ năng lao động); X.I.Kixegops (kĩ năng hoạt động sư phạm), v.v… Đặc biệt, vào thời điểm này, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) đã chỉ ra ba yếu tố căn bản của việc giáo dục một con người trở thành người có nhân cách, đó là: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó nhấn mạnh đến yếu
tố kĩ năng và thái độ
Vào những năm cuối thế kỷ 20, khái niệm KNS và GDKNS được biết đến một cách rộng rãi và nó được xuất hiện trong một số các chương trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới, đặc biệt là trong lãnh vực giáo dục Phần lớn, các nghiên cứu đều muốn tìm một quan niệm chung để đi đến thống nhất về khái niệm của KNS và GDKNS Trong đó, tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) xem việc GDKNS cho trẻ em là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức thành thái độ và hành động cho trẻ Tổ chức này chia những KNS thành 3 nhóm: nhóm
kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình; nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác; nhóm kĩ năng ra quyết định, học tập và làm việc hiệu quả [2] Còn
Trang 16UNESCO chia các kĩ năng thành 2 nhóm [2]: nhóm kĩ năng chung (KN nhận thức, KN tương tác xã hội…) và nhóm kĩ năng theo từng vấn đề cụ thể (vấn đề về giới, phòng chống bạo lực…) Đối với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), họ quan niệm KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, hay nói cách khác, KNS là khả năng ứng phó, giải quyết một cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống [4] Tổ chức này chia hệ thống các kĩ năng thành ba nhóm: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng đương đầu với cảm xúc
Bước sang thế kỷ 21, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng chương trình giáo dục riêng, phần lớn đều chú trọng đến giáo dục KN và thái độ cho tất cả học sinh
ở các cấp học Theo tài liệu nghiên cứu của UNICEF, vào thời điểm này đã có hơn 155 quốc gia trên thế giới đưa GDKNS vào trong nhà trường
Từ đó đến nay, trải qua hơn nửa thế kỷ, khái niệm kĩ năng sống và GDKNS được bàn đến rất nhiều và dường như nó là vấn đề được nhiều người quan tâm, nhất là
ở lãnh vực giáo dục Hàng loạt những tác phẩm nghiên cứu về vấn đề này ra đời như:
Tác phẩm Life Skill Education and Curriculum (Chương trình giáo dục KNS) của
Gracious Thomas (2006) đã chú trọng đến vai trò của giáo viên và huấn luyện viên
trong việc trang bị các KNS cho trẻ em Quyển The Indispensable – Book of Practical Life Skills (Quyển sách về những kĩ năng thực hành thiết yếu) của Nic Compton (2009)
giới thiệu phương thức giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, những xung đột, lo lắng; xử lý những tình huống từ đơn giản đến phức tạp
Pat Broadhead (2004) với tác phẩm Early Years Play and Learning: Developing social skill and Cooperation (Phát triển kĩ năng xã hội và hợp tác thông qua học tập và vui chơi trong những năm đầu đời của trẻ) đã đưa ra những cách thức
để giáo viên dạy trẻ các kĩ năng căn bản của cuộc sống, hướng dẫn các trò chơi phát triển kĩ năng và cách nhận xét, đánh giá qua các hoạt động vui chơi đó
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, mọi người đã quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho con em của họ ngay từ lúc còn rất nhỏ Ở Mỹ và các nước Tây – Âu chú trọng giáo dục kĩ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển năng lực của chính mình Đặc biệt chú trọng rèn luyện con người có được sự mạnh mẽ, bản lĩnh, tư duy độc lập, sáng tạo và tinh thần tự do dân chủ Các kĩ năng được giáo dục như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy độc lập, tư duy phê phán, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng nhận
Trang 17thức bản thân, v.v…
Ở Bangladesh: Giáo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kĩ năng hoạt động xã hội, kĩ năng phát triển, kĩ năng chuẩn bị cho tương lai Còn ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực con người Các KNS được khai thác giáo dục là các kĩ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng quan hệ liên nhân cách, v.v… Giáo dục KNS
ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kĩ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là giáo dục các kĩ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kĩ năng nghề nghiệp Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới ba góc độ: các kĩ năng thao tác bằng tay,
kĩ năng thương mại và đấu thầu, kĩ năng sống trong đời sống gia đình
1.1.1.2 Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống
Từ những năm 1990, hoạt động giáo dục kĩ năng sống được nhiều người quan tâm và các tổ chức cũng bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động Tuy nhiên, phần lớn ở các nước, việc quản lý hoạt động này đều do chính phủ quản lý, hoặc cũng do các Bộ
có liên quan với chính phủ quản lý Mỗi nước đều xây dựng chương trình giáo dục riêng tùy theo điều kiện, đặc điểm của mỗi quốc gia
Tại các nước như Mỹ, Úc, Canada và một số nước khác xem việc quản lý HĐGDKNS là việc huấn luyện những kĩ năng cần thiết cho người lao động trong nhiều lãnh vực khác nhau Một số nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu mô hình quản lý nhà trường về việc GDKNS cho học sinh như: Comer (1998), Richard P Barth (1993), Kort C Prince, Adward A Ho Bach Harrison (2010), Cata-Lano (1998), Pedersen, Vitaro, v.v…[4,17-18] Bên cạnh đó, vài vấn đề khác liên quan đến việc quản lý cũng được tìm hiểu như: vấn đề phối hợp giáo dục KNS cho học sinh (sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội) gồm các nhà nghiên cứu như: Catalano, Howard (1986); Kube, Ratigan (1991); Morrison, Lena, Domingeuz (1993), v.v… [4,19]
Một vấn đề cũng rất quan trọng, đó là nghiên cứu việc quản lý nội dung, phương pháp, các điều kiện của HĐGDKNS cho trẻ cũng được quan tâm Trong đó có Duke Gifted Letter (2006), Ahmed (2009), v.v…
Trang 181.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở trong nước
1.1.2.2 Nghiên cứu về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống
Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống là những thuật ngữ được biết đến khá sớm ở nhiều nước trên thế giới, còn ở nước ta mãi đến những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, khi xu thế phát triển chung của thế giới đang hướng đến thì khái niệm về thuật ngữ KNS và GDKNS mới được hiểu rõ Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc giáo dục kĩ năng sống có mầm móng từ rất lâu qua việc ông cha chúng ta dạy cho con cháu cách đối phó với thiên nhiên, cách đối nhân xử thế, hoặc việc học ăn, học nói, học gói, học mở, v.v… Đó là những kĩ năng đơn giản mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống con người ở những thời điểm khác nhau
Có thể nói, tại nước ta, thuật ngữ kĩ năng sống được biết đến từ chương trình UNICEF vào năm 1996 (Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV cho thiếu niên trong và ngoài nhà trường) đã giáo dục cho thanh thiếu niên một số các kĩ năng để tự bảo vệ sức khỏe và phòng chống được bệnh tật, đặc biệt là bệnh HIV Nhưng mãi cho đến những năm đầu thế kỷ 21 (từ năm 2000), nội hàm về kĩ năng sống mới được hiểu rõ và sử dụng rộng rãi Bên cạnh việc chính phủ, bộ, ngành liên quan ban hành các chính sách văn bản đề cập đến việc trang bị cho học sinh những kĩ năng căn bản nhất Tại hội thảo với chủ đề “chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” được tổ chức tại Hà Nội do UNICEF và Viện Chiến lược tổ chức đã giới thiệu một số
mô hình tiêu biểu về GDKNS và bàn luận một số vấn đề và phương pháp để GDKNS cho học sinh Sau đó, một số chương trình và dự án như chương trình thực nghiệm
“giáo dục sống khoẻ mạnh và kĩ năng sống cho trẻ vị thành niên” đã được triển khai và rất nhiều thí điểm tại rất nhiều trường ở các tỉnh, chương trình này do UNICEF tài trợ
Và cũng chính từ năm 2003 ở nước ta đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước Ví dụ ở bậc Tiểu học đã thực hiện giáo dục kĩ năng sống thông qua việc lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: môn Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Giáo dục đạo đức, Tự nhiên - Xã hội (ở lớp 1, lớp 3)
Gần đây, ngành giáo dục cũng như mọi người đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên Nhất là từ năm học 2007-2008, Bộ GD-ĐT
đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Điều này có nghĩa là việc tạo dựng môi trường học tập ở trường thân thiện là điều kiện
để học sinh được học tập, vui chơi, rèn luyện mình trở thành người tích cực, sáng tạo,
Trang 19hay nói cách khác hơn là chú trọng nhiều đến kĩ năng và thái độ của học sinh
Một số các tác phẩm nghiên cứu, các tài liệu tập huấn cũng như giáo trình về kĩ năng sống như:
Bộ sách của Bộ GD-ĐT (2011), Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học đã đưa ra những vấn đề chung về KNS và GDKNS như: các quan niệm về
KNS cũng như cách phân loại, tầm quan trọng của KNS; phương pháp, hình thức GDKNS; hướng dẫn giáo viên lồng ghép GDKNS vào các môn học, bài học, v.v…
Bùi Ngọc Diệp, Bùi Phương Nga & Bùi Thanh Xuân (2010) với tác phẩm Giáo dục kĩ năng sống dành cho học sinh Trung học là tài liệu dành cho giáo viên, nêu cách
thức, phương pháp để hướng dẫn giáo viên dạy và lồng ghép nội dung GDKNS cho học sinh ở bậc Trung học
Nguyễn Thị Mỹ Lộc & Đinh Thị Kim Thoa (2010) Giáo dục Giá trị sống &
Kĩ năng sống dành cho học sinh Trung học Đây là tài liệu tập huấn/bồi dưỡng cho
Giáo viên ở bậc Trung học Quyển sách cung cấp cho giáo viên về tâm sinh lý của học sinh trung học, hình thức, phương pháp và nội dung GDKNS Sách còn đưa ra một số
ví dụ cụ thể nhằm giúp cho giáo viên áp dụng thực hiện việc giảng dạy GDKNS trong nhà trường
Đề tài “Giáo dục một số kĩ năng sống cho học sinh Phổ thông trung học” là một
đề tài cấp bộ do TS Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm đã nghiên cứu về thực trạng
kĩ năng sống cho học sinh và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Sách đã cho thấy nhu cầu về kĩ năng sống của học sinh trung học Phổ thông
là rất cao, nhưng thực tế, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Phổ thông trung học vẫn còn rất sơ xài và chưa được áp dụng một cách đúng mực
Ngoài ra, còn rất nhiều tài liệu khác đã nghiên cứu về nội dung này, thậm chí có
nhiều giáo trình về GDKNS như: Nguyễn Công Khanh với tác phẩm Phương pháp giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống [17], Huỳnh Văn Sơn với tác phẩm Phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên sư phạm [33], v.v…
Như vậy, từ những năm 1990, với sự phát động những phong trào của Bộ Giáo dục - Đào tạo và những chương trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới, việc nghiên cứu về KNS và GDKNS tại nước ta bắt đầu khởi sắc và ngày một phát triển mạnh mẽ Cho đến nay, trải qua hơn 20 năm học tập và nghiên cứu, một số lượng lớn
về những công trình nghiên cứu về KNS và GDKNS đã có nhiều đóng góp giá trị làm
Trang 20nền tảng cho việc GDKNS, cũng như những nghiên cứu khác có liên quan
1.1.2.2 Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống
Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống ban đầu rất hiếm hoi, chỉ thuộc phần quản lý ở cơ quan giáo dục cấp cao, thậm chí phần lớn các nơi đều chưa xây dựng được kế hoạch tổ chức HĐGDKNS cho học sinh một cách cụ thể Về sau, từ năm học 2007-2008, bộ Giáo dục-Đào tạo phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã thúc đầy nhiều nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu tìm hiểu, nghiên cứu về HĐGDKNS và quản lý HĐGDKNS Rất nhiều những tác phẩm ra đời trong những năm gần đây như:
Trần Thị Mỹ Hạnh (2010) Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở tại Quận
11 – TP Hồ Chí Minh Trường ĐHSP TP.HCM
Lương Thị Hằng (1012) Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và
kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Nam Cừ, tỉnh Hưng Yên
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Huỳnh Lâm Văn Chương (2015) Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học tại TP Hồ Chí Minh Luận án Tiến Sĩ
Lưu Thu Thủy & Tgk (2006) Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Viện chiến lược và chương trình giáo dục Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc
gia
Các nghiên cứu này nhìn chung đã nghiên cứu được ba vấn đề chính trong quản
lý HĐGDKNS: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý HĐGDKNS, nghiên cứu thực trạng của việc quản lý HĐGDKNS và những biện pháp quản lý HĐGDKNS
Như vậy, quản lý HĐGDKNS là một mảng nghiên cứu mới của giáo dục nước
ta Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng cơ sở
lý luận về HĐGDKNS và mô tả thực trạng của công tác quản lý trên Điều đáng chú ý
là những tác giả này đã đề xuất một số biện pháp cần thiết giúp nhà quản lý vận dụng cho công tác quản lý này tại mỗi đơn vị Thế nhưng, trên thực tế, kế hoạch này được triển khai và việc đồng bộ thực hiện của tất cả các trường thì còn gặp nhiều hạn chế, một số thực hiện chỉ để kiểm tra và mang tính hình thức Thật sự cho đến nay, việc GDKNS cho trẻ và quản lý HĐGDKNS còn nhiều bất cập, quản lý còn rời rạc, thiếu
sự thống nhất, tổ chức; vẫn còn nhiều nơi triển khai nội dung giáo dục này chỉ mang
Trang 21tính đối phó, hình thức
Hiện nay, chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
em mồ côi cơ nhỡ tại các trung tâm công tác xã hội Vì vậy, đề tài “Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội”
là một nghiên cứu mới cần được tìm hiểu và đưa vào áp dụng thực tế tại các trung tâm công tác xã hội trên địa bàn huyện Tân Thành nói riêng và các trung tâm công tác xã
hội khác nói chung
1.2 Một số khái niệm của đề tài
1.2.1 Trẻ em mồ côi, cơ nhỡ
1.2.1.1 Trẻ em
Trẻ em là một khái niệm bao quát dành cho một bộ phận công dân còn hạn chế nhất định trong năng lực ứng xử và năng lực pháp lý của bản thân Khái niệm “trẻ em” được quốc tế sử dụng thống nhất và đề cập trong nhiều văn bản Các tổ chức của Liên hiệp quốc và quốc tế như UNICEF, UNFPA, ILO, UNESSCO đều xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi Tại Việt Nam, đến năm 1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành và tiếp tục hoàn thiện đã khẳng định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [26]
Nhìn chung, mỗi nước có quy định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc quy định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh
lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó, có những quốc gia quy định độ tuổi thanh niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về quyền trẻ em Tuy
độ tuổi của trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm chung về trẻ em như sau: thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành; cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội về mọi mặt Như vậy, chúng ta có thể
khái niệm: Trẻ em là một bộ phận công dân dưới 18 tuổi còn hạn chế về thể chất, năng lực, trí tuệ và cần được chăm sóc về mọi mặt Do đó, dưới gốc nhìn của các nhà xã hội
học, trẻ em là giai đoạn xã hội hoá mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người Vì vậy, trong giai đoạn này, trẻ cần được chăm sóc, giáo dục một cách hợp lý mà tất cả xã hội phải quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế còn biết bao trẻ không hưởng được quyền lợi đó, thậm chí bị bỏ rơi, không nơi nương tựa và lang thang kiếm sống đó đây Đó chính là những trẻ em mồ côi, cơ nhỡ
Trang 221.2.1.2 Trẻ em mồ côi
Trẻ em mồ côi cơ nhỡ được luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em định nghĩa: “Trẻ em mồ côi cơ nhỡ còn gọi là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất và tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng” [26] Trước đây, Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội, trẻ mồ côi được định nghĩa: “Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 88 của Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật” [40]
Trong đó, trẻ em mồ côi là những trẻ không có bố mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng với bố mẹ: “Trẻ em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp
và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” [38] Nguyên nhân chính khiến trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi là do cha mẹ chết trong tai nạn, bệnh tật, chết trong thiên tai, lũ lụt, hay cha mẹ vì lý do nào đó không nuôi dưỡng chúng, vứt bỏ chúng,
hoặc bị thất lạc… Như vậy, trẻ em mồ côi là trẻ dưới 18 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không còn nơi nương tựa và hoàn toàn bị mất các quyền nuôi dưỡng
Theo một số thống kê vào năm 2014, Việt Nam có khoảng trên 150.000 trẻ em
mồ côi nhưng chỉ có gần 12.000 em được nuôi dưỡng tại các trung tâm bảo trợ xã hội (chiếm tỷ lệ chưa đến 10%) Còn nhiều địa phương có số lượng trẻ mồ côi rất đông và Nhà nước hầu như không đủ sức thực hiện công tác chăm sóc trẻ em mồ côi, nên họ cần phải kêu gọi sự hảo tâm của các cơ quan, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ trong lĩnh vực này
1.2.1.3 Trẻ em cơ nhỡ
Theo luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành năm 2004: Trẻ em cơ nhỡ còn gọi là trẻ em lang thang, là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định, trẻ em cùng với gia đình đi lang thang [26] Có thể nói, trẻ em cơ nhỡ là những trẻ mà sự nuôi dưỡng của chúng trong gia đình là suy yếu, hoặc là chúng đã bỏ hẳn gia đình để đi lang thang tự kiếm sống như đi xin ăn, bán vé
số, lượm ve chai; hoặc chúng phải chia sẻ trách nhiệm với gia đình bằng cách làm
Trang 23nhiều công việc khác nhau để phụ giúp gia đình Số trẻ này thường tập trung nhiều ở
các khu vực phố thị nên còn được gọi là trẻ em đường phố Như vậy, trẻ em cơ nhỡ là những trẻ em lang thang, rời bỏ tổ ấm gia đình, tự kiếm sống và nơi cư trú không ổn định
Theo thống kê, hiện nay số lượng trẻ lang thang, cơ nhỡ trên toàn quốc là khoảng 1.5 triệu trẻ Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20% trẻ trong số này được nuôi dưỡng tại các trung tâm do nhà nước quản lý còn lại tập trung tại các cơ sở nuôi dưỡng tư nhân, các cơ sở thiện nguyện [41] Thật đau lòng, khi ngoài xã hội còn biết bao nhiêu trẻ thơ ở lứa tuổi cần được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo bọc của người lớn vậy mà chúng phải sống cảnh lang thang không nơi nương tựa, bị bỏ rơi, bị đối xử tàn nhẫn, bị bạo hành, bị áp bức lao động, v.v…Vì vậy, mỗi chúng ta cần có trách nhiệm để bảo vệ chúng
Trong nghiên cứu này, triển khai hai đối tượng là trẻ em bị mồ côi cha mẹ và trẻ em lang thang, cơ nhỡ Cả hai đối tượng này gọi chung là trẻ em mồ côi cơ nhỡ
1.2.2 Kĩ năng sống
Để hiểu rõ về kĩ năng sống, trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu về khái niệm của
kĩ năng Kĩ năng là một vấn đề phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau Theo quan điểm của K K Platônôp, kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ Với quan điểm này thì người có kĩ năng là người phải hiểu rõ, nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện những hành động có kết quả tốt nhất có thể Hay nói một cách ngắn gọn hơn, người có kĩ năng là người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế cuộc sống Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kĩ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kĩ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định Vì vậy, từ những khái niệm trên cho thấy
Trang 24Như vậy, có thể nói, kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình, là năng lực ứng dụng kiến thức vào trong thực tế cuộc sống Hay nói khác hơn, kĩ năng là biết cách thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa những cách thức tốt nhất nhằm đem lại kết quả cao nhất có thể
Khái niệm kĩ năng sống cũng không kếm phần phức tạp, bởi có nhiều định nghĩa khác nhau và đứng trên những quan niệm khác nhau để bàn, vì vậy, đi tìm một định nghĩa chung nhất về khái niệm này thật không phải dễ Các tổ chức Quốc tế cũng
đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm này Theo UNESCO: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày Kĩ năng sống được gắn liền với bốn trụ cột của giáo dục, đó là: học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống Còn theo WHO: kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực để có thể ứng xử một cách hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống Kĩ năng sống ở đây được bàn đến là những
kĩ năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng giao tiếp nhằm giải quyết có hiệu quả những tình huống trong cuộc sống UNICEF định nghĩa: kĩ năng sống là tập hợp các khái niệm mô tả sự hình thành thái độ, hành vi thích ứng với cuộc sống, là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới, mà nói một cách rộng ra có nghĩa là
Kĩ năng sống là cụm từ được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động; là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó; là năng lực tâm
lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Kĩ năng sống cũng chính là sự biểu hiện năng lực sống của con người, điều này đã được một số nhà nghiên cứu đánh giá: “Kĩ năng sống như là hệ thống các kĩ năng nói lên
Trang 25năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện có kết quả công việc, thành công trong cuộc sống” [18] Như chúng ta biết, giữa nói và làm luôn có một khoảng cách rất xa Người ta có thể nói được, nhưng làm được hay không là phải chờ kết quả của hành động mà người ấy thực hiện Nếu chúng ta chỉ có kiến thức thôi, mà không thực hành, cũng như chưa có kĩ năng cuộc sống và chưa biết sử dụng linh hoạt các kĩ năng này thì không đảm bảo được là chúng ta có làm tốt mọi thứ hay không
Như vậy, có nhiều quan niệm về KNS, bản chất của KNS là khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Qua những khái niệm trên, chúng ta
đi đến kết luận chung nhất: Kĩ năng sống là tất cả những kĩ năng cần thiết cùng với kiến thức, phẩm chất, hành vi giúp cá nhân học tập, làm việc có hiệu quả và sống tốt hơn Hay nói cách khác, kĩ năng sống là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra
Thông thường khi nói đến kĩ năng, người ta thường phân chúng thành hai loại:
kĩ năng cứng và kĩ năng mềm Những kĩ năng “cứng” (hard skills) là chỉ trình độ, học vấn của một người, nó thường xuất hiện trên bằng cấp, bản lý lịch, khả năng học vấn, kinh nghiệm về chuyên môn Kĩ năng "mềm" (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ những kĩ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc (EQ) của con người như: sự tế nhị, kĩ năng ứng
xử, sự lạc quan, xác định mục tiêu, chân thành, kĩ năng làm việc theo nhóm… Những
kĩ năng này học được rất ít ở nhà trường, nó không liên quan đến kiến thức chuyên môn, ngành học… nhưng nó xác định được năng lực của mỗi người và là thước đo hiệu quả cao trong công việc Ví dụ, một giáo viên có lí lịch trích ngang: trình độ học vấn: cử nhân, chuyên ngành: Ngữ văn Anh, kinh nghiệm: 15 năm đứng lớp Với trình
độ và kinh nghiệm trên không đủ để chúng ta đánh giá giáo viên đó là giáo viên giỏi,
có kĩ năng sống tốt hoặc thành công trong cuộc sống và công việc Vì trong thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kĩ năng mềm họ được trang bị Chìa khóa dẫn đến thành công thực sự là chúng ta phải biết kết hợp cả hai kĩ năng này [25] Vì vậy, có thể nói kĩ năng sống là tổng hòa giữa kiến thức, thái độ và hành vi; kĩ năng sống được thể hiện ở hành vi của mỗi người, những hành vi này phải mang tính tích cực, phù hợp với cuộc sống
Trang 26Có nhiều cách phân nhóm cho những kĩ năng sống, ở đây, chúng ta tạm phân thành ba nhóm chính như sau:
- Dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực sức khỏe, UNESCO đưa ra cách phân loại
Kĩ năng sống thành 3 nhóm: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng đương đầu với
cảm xúc và nhóm kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác
- Một số khác thì phân theo: nhóm kĩ năng sống liên quan đến thể chất / sức
khoẻ, nhóm kĩ năng liên quan đến tình cảm / tinh thần và nhóm kĩ năng sống liên quan đến trí tuệ / thực hành
- Trong tài liệu về giáo dục kĩ năng sống hợp tác với UNICEF (Bộ Giáo dục & Đào tạo) phân thành 3 nhóm[3]:
+ Nhóm kĩ năng sống liên quan đến nhận biết và sống với chính mình gồm: kĩ năng tự nhận thức; lòng tự trọng; sự kiên định; đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng
+ Nhóm kĩ năng liên quan đến nhận biết và sống với người khác bao gồm: kĩ
năng quan hệ / tương tác liên nhân cách; sự cảm thông; đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả
+ Nhóm kĩ năng sống liên quan đến việc ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các kĩ năng: Tư duy phê phán; Tư duy sáng tạo; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề
1.2.3 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi, cơ nhỡ
Giáo dục là một khái niệm chung và rất rộng của Giáo dục học, được giải thích qua hai mức độ rộng và hẹp: theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình hình thành toàn vẹn nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có hệ thống qua hai hoạt động dạy và học; theo nghĩa hẹp, giáo dục để làm phát triển các sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, giúp họ tham gia có hiệu quả vào đời sống xã hội [14,38] Như vậy, nói một cách ngắn gọn, dễ hiểu: nói đến giáo dục là nói đến việc dạy, việc truyền thọ kinh nghiệm về kĩ năng, kiến thức, đạo đức, thẩm mỹ của người dạy cho người học, từ thế
hệ trước cho thế hệ sau Thế hệ sau lĩnh hội, thu nhận, kế thừa những kinh nghiệm, những tri thức để tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người, thúc đẩy xã hội ngày một tiến bộ Theo John Dewey:
Giáo dục là sự phát triển mọi khả năng ở một cá nhân cho phép người ấy kiểm soát được môi trường của mình và phát huy mọi năng lực của bản thân Và giáo dục
Trang 27chính là bản thân cuộc sống, nhà trường không thể tách khỏi hoạt động thực tiễn và kiến thức không thể được áp đặt từ bên ngoài, đồng thời, nó phải là quá trình của người học chứ không phải của người dạy, giáo dục chính là quá trình lấy người học làm trung tâm [16,9]
Giáo dục KNS là rèn luyện năng lực tâm lý – xã hội cho con người, giúp họ có những thái độ, hành vi tích cực và thay đổi thái độ, hành vi, những thói quen tiêu cực
Như vậy, Giáo dục KNS cho trẻ em MCCN là giúp các em thích ứng và làm chủ mọi tình huống trong cuộc sống hàng ngày Nhiệm vụ của giáo dục KNS cho trẻ em
MCCN là hình thành cho trẻ những kĩ năng cụ thể để trẻ có thể ứng dụng một cách hiệu quả các tình huống trong cuộc sống
Nội dung giáo dục KNS cho trẻ em MCCN là hệ thống những KNS cơ bản, cần thiết cho trẻ nhằm đáp ứng các yêu cầu trong học tập, sinh hoạt và xử các tình huống trong cuộc sống hằng ngày Hơn nữa, trong thời kỳ hội nhập, mỗi chúng ta đều mong muốn tất cả mọi người sống tốt, sống yêu thương vì mình, vì tất cả mọi người, sống quan tâm đến bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội; sống có tinh thần trách nhiệm, can đảm, dám nghĩ dám làm trong công việc và trong cuộc sống; sống với một tinh thần lạc quan, một lý tưởng cao đẹp, một niềm tin vững vàng, một thái độ tự tin để hội nhập quốc tế [21] Chính vì vậy, nội dung giáo dục KNS cho trẻ bao gồm hệ thống các
kĩ năng cơ bản như đã trình bày ở phần trên Tuy nhiên, việc giáo dục KNS cho trẻ em MCCN mang tính đặc thù hơn, vì vậy ở đây chúng ta tập trung một số kĩ năng cần thiết nhất và được xếp theo thứ tự về mức độ cần thiết như sau:
- Nhóm KN cá nhân gồm: KN tự nhận thức, KN thể hiện sự tự tin, KN kiểm soát với cảm xúc, KN xác định giá trị,
- Nhóm KN xã hội gồm: KN lắng nghe, KN cảm thông, KN giao tiếp, KN tìm kiếm sự hỗ trợ, KN hợp tác, KN giải quyết mâu thuẫn,
- Nhóm KN học tập & làm việc gồm: KN giải quyết vấn đề, KN đảm nhận trách nhiệm, KN tư duy sáng tạo, KN tìm kiếm và xử lý thông tin, KN quản lý thời gian, KN đặt mục tiêu…
1.2.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ
Từ quan niệm về giáo dục, giáo dục KNS trên, chúng ta dễ dàng thấy rõ về khái niệm của hoạt động giáo dục KNS Có thể nói, HĐGDKNS trước hết chính là một hoạt động giáo dục cụ thể, mà hoạt động này giúp người học hình thành và phát triển
Trang 28những thói quen, hành vi ứng xử, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng bản thân phát triển tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống [1,1] Huỳnh Lâm Văn Chương khi nghiên cứu về Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh đã phát biểu: “HĐGDKNS là hoạt động, trong đó, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục, học sinh chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những khả năng, hành vi thích hợp và tích cực để ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của
xã hội.” [4,45]
Như vậy, có thể thấy HĐGDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ là một hoạt động giáo dục dưới sự tác động chủ đạo của người giáo dục (CBQL, GV, NV), người được giáo dục (trẻ) chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những khả năng, hành vi phù hợp với cuộc sống trước những biến đổi phức tạp của xã hội
1.2.5 Quản lý & quản lý giáo dục
1.2.5.1 Quản lý
Khái niệm “quản lý” được quan tâm và nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế
kỷ 20 Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các học giả trong và ngoài
nước đã giải thích và đưa ra những khái niệm về quản lý không giống nhau Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ đầu thế kỷ
21, các quan niệm về quản lý càng trở nên phong phú
Theo Henry Fayol, quản lý là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5
nhiệm vụ: dự tính (kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra [27,3] Cũng
tương tự như vậy, Stoner cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo
và kiểm tra công việc của tất cả thành viên và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra [9]
F.W Taylor cho rằng quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác và hoạch định cái gì cần làm với phương pháp tốt nhất và ít tốn kém nhất Đồng thuận với quan điểm trên, Mary Parker Follett đã khẳng định: quản lý là nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác, là một quá trình liên tục, tiến triển chứ không phải tĩnh tại [27,5]
Nhằm hướng đến mục đích có tính định hướng, Trần Kiểm định nghĩa: “Quản
lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị
Trang 29quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định” [20] Từ
quan niệm của các học giả, Trần Khánh Đức (2014) đã khái quát: “Quản lý là hoạt
động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và điều kiện nhất định” [7,393-394]
Như vậy, có thể nói, quản lý là hoạt động của con người nhằm xây dựng, tổ chức và sử dụng hiệu quả các nguồn lực một cách liên tục để đạt được mục tiêu đề ra Hay nói một cách ngắn gọn quản lý là nghệ thuật xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất
1.2.5.2 Quản lý giáo dục
Song song với hàng loạt những định nghĩa về quản lý, quản lý giáo dục cũng có rất nhiều những khái niệm dựa trên những lập trường, quan niệm khác nhau Nhưng nhìn chung, hiện nay, khái niệm này được tiếp cận theo hai cấp độ: quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô và quản lý giáo dục ở cấp vi mô
Khi nghiên cứu về quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô, Trần Kiểm đã định nghĩa:
“Quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt đẹp nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [20,10] Cũng với cái nhìn tương tự nhưng nhấn mạnh đến vai trò, đường lối giáo dục của Đảng và nhà nước, Nguyễn Ngọc Quang đã phát biểu:
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện chính sách của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31,35] Cũng nói về khái niệm này, TS Trần Thị Tuyết Mai đã định nghĩa một cách khái quát và ngắn gọn: “quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [27,9]
Quản lý giáo dục ở cấp vi mô phần lớn đều xem đó là việc quản lý cấp cơ sở (trường học) Khi nói về việc quản lý trường học, Trần Ngọc Giao đã định nghĩa:
“Quản lý trường học là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy
Trang 30luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục” [8] Nguyễn Ngọc Quang xem việc quản lý trường học là việc thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, nghĩa là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục đã đề ra [31]
Như vậy, có thể nói quản lý giáo dục ở cấp vi mô, tức quản lý trường học là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích, là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường Từ quan điểm này, chúng ta đi đến kết luận: Quản lý giáo dục tại các trung tâm công tác xã hội là sự tác động liên tục có kế hoạch, có tổ chức; là hệ thống những tác động có chủ đích của chủ thể quản lý (ban giám đốc trung tâm) đến tập thể giáo viên, nhân viên, trẻ sống tại trung tâm và các lực lượng xã hội khác nhằm thực hiện một cách hiệu quả, chất lượng mục tiêu giáo dục của trung tâm
1.2.6 Quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ em mồ côi cơ nhỡ
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động của nhà giáo dục đến đối tượng được giáo dục, mà HĐGDKNS là hoạt động trong đó nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo, người được giáo dục chủ động tự giáo dục nhằm hình thành
và phát triển những khả năng tích cực phù hợp với nhu cầu, thách thức của cuộc sống
Như vậy, quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý của trung tâm CTXH đến HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm nhằm thực hiện mục tiêu HĐGDKNS cho trẻ em MCCN Trong đó, CBQL gồm CBQL
phòng chức năng, CBQL của mỗi trung tâm và người trực tiếp quản lý HĐGDKNS cho trẻ là CBQL tại trung tâm và giáo viên phụ trách Mục tiêu của việc quản lý HĐGDKNS cho trẻ là nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục KNS, hình thành KNS để thích ứng và làm chủ các tình huống trong cuộc sống của trẻ
1.2.7 Trung tâm công tác xã hội
Trước khi tìm hiểu về trung tâm công tác xã hội, chúng ta cần hiểu rõ thế nào là công tác xã hội? Công tác xã hội có thể hiểu một cách nôm na, đó là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp của cá nhân hoặc tập thể nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình
và cộng đồng xã hội nhằm nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức
Trang 31năng xã hội Bên cạnh đó, nó còn thúc đẩy môi trường xã hội về những chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội Quan niệm của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW): “Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [32] Và sứ mệnh cao cả của hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp là “nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần của mọi người, và giúp họ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mọi người với mối quan tâm cụ thể hơn đến các nhu cầu và những hình thức trao quyền cho đối tượng dễ bị tổn thương, bị áp bức và sống trong nghèo đói” [32]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể định nghĩa: Trung tâm công tác xã hội là đơn vị sự nghiệp (có thể là của nhà nước hoặc tư nhân hay của tôn giáo) cung cấp dịch vụ công tác xã hội; là nơi nuôi dưỡng, bảo vệ cho các đối tượng cần sự bảo
vệ khẩn cấp như trẻ em bị bỏ rơi, nạn nhân bị xâm hại tình dục, bị bạo lực gia đình, bị cưỡng bức lao động, người cao tuổi, người khuyết tật, người bệnh tâm thần, v.v
Đồng thời, nơi đây sẽ là ngôi nhà, là nơi nương tựa giúp những đối tượng trên nâng cao về sức khỏe thể chất và an ổn về mặt tinh thần
Trung tâm công tác xã hội trước kia được gọi là trung tâm bảo trợ xã hội, là đơn
vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp huyện Chức năng của những đơn vị này cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho các đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp như: trẻ em bị bỏ rơi, nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị cưỡng bức lao động, người cao tuổi; người khuyết tật, người tâm thần và người rối nhiễu tâm trí, người nhiễm HIV/ADIS, người nghèo, trẻ
em, nạn nhân của phân biệt về giới, người nghiện ma túy, người bán dâm, người sau cai nghiện, cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ khẩn cấp và các đối tượng khác có nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội, v.v…
Nhiệm vụ của Trung tâm công tác xã hội là tiếp nhận đối tượng cần sự bảo vệ; đánh giá nhu cầu của đối tượng; bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của đối tượng như: nơi cư trú tạm thời trong thời gian tối đa 30 ngày, thức ăn, quần áo, chi phí đi lại Bên cạnh đó, Trung tâm công tác xã hội còn thực hiện tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; xây dựng kế hoạch can thiệp
và trợ giúp đối tượng; thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn
Trang 32cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực; hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng [43]
1.3 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm CTXH
Hoạt động giáo dục KNS cho trẻ em MCCN là một hoạt động giáo dục cụ thể giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách, có thái độ tích cực, lành mạnh, biết cách ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội Khi nói đến hoạt động GDKNS cho trẻ là nói đến nguyên tắc và cấu trúc của hoạt động GDKNS
Nguyên tắc giáo dục KNS:
Kĩ năng sống là năng lực tâm lý xã hội thể hiện bằng hành vi, thái độ, vì vậy hoạt động GDKNS cần đảm bảo những nguyên tắc giáo dục KNS như: nguyên tắc tương tác, nguyên tắc trải nghiệm, nguyên tắc thay đổi hành vi, nguyên tắc tiến trình, nguyên tắc thời gian – môi trường giáo dục…
Cấu trúc hoạt động giáo dục KNS cho trẻ em MCCN bao gồm: mục đích, nội
dung, hình thức, phương pháp DGKNS cho trẻ em MCCN
- Mục đích giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em MCCN: mục đích, mục tiêu giáo
dục là dự kiến trước mô hình nhân cách của người được giáo dục, có vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển nhân cách của hoạt động giáo dục Mục đích của GDKNS cho trẻ em MCCN nhằm giúp các em thích ứng và làm chủ các tình huống trong cuộc sống hàng ngày Nhiệm vụ của GDKNS cho trẻ em MCCN là hình thành cho trẻ những kĩ năng sống cụ thể để trẻ có thể vận dụng và giải quyết những vấn đề trong cuộc sống
- Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em MCCN: Nội dung giáo dục KNS
cho trẻ em MCCN là hệ thống những kĩ năng sống cần thiết để trẻ có thể đáp ứng các yêu cầu cần thiết trong cuộc sống như: học tập, sinh hoạt, làm việc và xử lý được các tình huống trong cuộc sống hằng ngày Trong luận văn này, nội dung giáo dục KNS cho trẻ được phân làm 3 nhóm KNS cụ thể như đã trình bày phần trước
- Hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em MCCN: hình thức tổ
chức giáo dục KNS cho trẻ được thực hiện thông qua việc dạy học KNS và tổ chức các hoạt động giáo dục KNS
Dạy học KNS cho trẻ em MCCN là hình thức cơ bản của GDKNS cho trẻ nhằm cung cấp cho trẻ hệ thống tri thức cơ bản về KNS Dạy học KNS cho trẻ gồm hai hình thức chính: dạy học lồng ghép các nội dung GDKNS trong các môn học và dạy KNS
Trang 33như một môn học độc lập Dựa trên mục đích, nội dung, yêu cầu của GDKNS cho trẻ, giáo viên lựa chọn cách thức phù hợp để thực hiện
Tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho trẻ em MCCN: lồng ghép các nội dung GDKNS trong các hoạt động ngoài giờ; lồng ghép các nội dung GDKNS trong sinh hoạt hằng ngày của trẻ; lồng ghép các nội dung GDKNS trong sinh hoạt cá nhân, lồng ghép các nội dung GDKNS hoạt động tham vấn, tư vấn, v.v…
- Phương pháp giáo dục KNS cho trẻ em MCCN: Phương pháp giáo dục KNS
cho trẻ là các cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa CBQL, GV và trẻ được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục nhằm đạt được mục đích GDKNS cho trẻ đã đề ra Trong đó, phương pháp GDKNS là tổ hợp các phương pháp dạy học như: Phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành, phương pháp đóng vai, phương pháp chơi trò chơi, v.v…
- Nhà giáo dục trong HĐGDKNS cho trẻ em MCCN: Nhà giáo dục là những
người tham gia HĐGDKNS cho trẻ, là những người có vai trò định hướng, điều khiển,
tổ chức, khuyến khích, giám sát trẻ trong việc thực hiện các hoạt động tự giáo dục một cách có kế hoạch, có mục đích Nhà giáo dục tham gia HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm CTXH là các LLGD gồm: giám đốc, phó giám đốc, GV, NV và các LLGD khác bên ngoài trung tâm Mỗi lực lượng giáo dục đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành KNS cho trẻ một cách cụ thể như: giám đốc trung tâm có vai trò định hướng, tổ chức, chỉ đạo và đánh giá HĐGDKNS cho trẻ; giáo viên là người tổ chức, thực hiện, điều chỉnh, đánh giá trình độ KNS cho trẻ, v.v…
- Đối tượng giáo dục trong HĐGDKNS: trẻ em MCCN tại các trung tâm
CTXH là đối tượng tiếp nhận sự tác động của nhà giáo dục trong HĐGDKNS và cũng
là chủ thể tự giáo dục KNS
- Kết quả giáo dục KNS cho trẻ em MCCN: kết quả giáo dục KNS được xem
xét dưới nhiều góc độ phát triển nhân cách, hành vi, động cơ, thái độ… của trẻ Kết quả GDKNS cho trẻ được đánh giá ở trình độ KNS của trẻ được thể hiện qua việc trẻ hình thành được tri thức, kĩ năng hành động, trẻ thích nghi và làm chủ các tình huống trong cuộc sống hằng ngày Kết quả của việc GDKNS phụ thuộc vào rất nhiều các yếu
tố, trong đó, ban giám đốc trung tâm, giáo viên và trẻ là những yếu tố có tính quyết định
Trang 341.4 Vai trò của công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm CTXH
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của một con người, trong
đó, yếu tố bẩm sinh di truyền, yếu tố môi trường giáo dục là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Trong đó, môi trường giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển tính cách, nhân cách
ở trẻ Môi trường giáo dục ở đây, ngoài trường học mà các trẻ theo học chương trình Phổ thông, môi trường giáo dục quan trọng mà chúng ta quan tâm đó chính là các trung tâm CTXH, nơi trẻ đang sinh sống Điều này, Jonh Dewey đã nói: “Dinh dưỡng
và sinh sản quan trọng như thế nào với sự sinh tồn của động vật, thì giáo dục quan
trọng như thế đối với đời sống xã hội” [16,26] Do đó, công tác giáo dục và quản lý
hoạt động giáo dục cho trẻ tại các trung tâm này vô cùng quan trọng và có vai trò quyết định cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cũng như việc trang bị
những kĩ năng cần thiết cho trẻ tại các trung tâm
Vai trò của công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội được thể hiện rõ qua những chức năng cơ bản của công tác quản lý như sau:
- Xây dựng kế hoạch DGKNS bao gồm các phần việc như: xác định mục tiêu, nội dung GDKNS; xác định hình thức, phương pháp thực hiện; xác định khoảng thời gian, kinh phí, các điều kiện cần thiết và các lực lượng tham gia; xây dựng hệ thống những tiêu chí đáng giá HĐGDKNS… Một khi kế hoạch được xây dựng một cách hoàn thiện và cụ thể thì xem như con đường đã được vạch sẵn với những chỉ dẫn cụ thể để dễ dàng thực hiện kế hoạch và đạt đến mục tiêu cuối cùng
- Công tác tổ chức, chỉ đạo chính là việc thực hiện kế hoạch trên Công việc này cũng không kém phần quan trọng, bao gồm các phần việc như: thành lập ban chỉ đạo HĐGDKNS; phân công & quy nhiệm vụ, quyền lợi cho các bộ phận, cá nhân; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên, nhân viên; chỉ đạo việc lồng ghép, tích hợp GDKNS vào việc giảng dạy và các hoạt động khác; giám sát thực hiện, theo dõi, đôn đốc, động viên giáo viên, nhân viên trong việc thực hiện HĐGDKNS,v.v… Nhờ vào công tác tổ chức, chỉ đạo này mà HĐGDKNS được thực hiện một cách tốt nhất có thể, đem lại hiệu quả cao cho việc dạy và học
- Kiểm tra, đánh giá và quản lý các điều kiện giúp cho việc thực hiện kế hoạch một cách tốt hơn Nhờ kiểm tra, đánh giá mà hoạt động dạy và học được diễn ra một
Trang 35cách đều đặn, mang lại kết quả tốt; khi quản lý các điều kiện tốt thì HĐGDKNS được duy trì và phát huy Điều này sẽ mang lại một hiệu quả tốt nhất, đạt được mục tiêu mà
kế hoạch đã đề ra
Như vậy, công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống đóng một vai trò rất quan trọng giúp trẻ có những kĩ năng sống tốt, kĩ năng hoà nhập cộng đồng xã hội như những trẻ bình thường khác và chuẩn bị nghề nghiệp để trẻ có thể có đời sống độc lập, xây dựng gia đình hạnh phúc ấm no, v.v… Để làm tốt công tác này, tất cả mọi thành viên tại trung tâm, nhất là những người quản lý cần thấy rõ vai trò của nó và nỗ lực xây dựng kế hoạch trên điều kiện thực tế tại trung tâm của mình; sau đó tổ chức, chỉ đạo; phối hợp và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục… Điều này sẽ giúp cho HĐGDKNS đạt được kết quả tốt Từ đó, các em có được một môi trường giáo dục tốt, đặc biệt rèn luyện cho các em có được những kĩ năng cần thiết nhất trong cuộc sống,
để sống tốt hơn và trang bị những kiến thức kĩ năng hòa nhập cộng đồng sau này
1.5 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em MCCN tại các trung tâm công tác xã hội
1.5.1 Xây dựng kế hoạch HĐGDKNS cho trẻ em MCCN
Xây dựng kế hoạch là một chức năng quan trọng, là bước đầu tiên trong các hoạt động của nhà quản lý, nó xác định giai đoạn cho các chức năng tiếp theo Có thể nói “xây dựng kế hoạch là quá trình quyết định một cách chính xác những gì chúng ta muốn thực hiện và cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu” [22,41] Xây dựng kế hoạch cho công tác quản lý HĐGDKNS cho trẻ em MCCN là thực hiện một số công việc theo các bước cụ thể như sau:
- Tìm hiểu nhu cầu GDKNS và phân tích thực trạng GDKNS cho trẻ: Giám đốc trung tâm tổ chức tìm hiểu nhu cầu cần thiết của GDKNS cho các trẻ tại trung tâm và nhu cầu GDKNS cho trẻ của CBQL, xã hội, các LLGD khác Bên cạnh đó, cần phân tích thực trạng HĐGDKNS của trẻ tại trung tâm; tìm ra những ưu điểm, những hạn chế
về HĐGDKNS, về trình độ KNS của trẻ, về trình độ, năng lực, phẩm chất của CBQL,
GV, NV và các LLGD khác
- Xác định mục tiêu của tổ chức: Trung tâm cần xác định các kết quả mong muốn một cách cụ thể; phải biết rõ mục đích GDKNS cho trẻ để làm gì? Hiện tại HĐGDKNS tại trung tâm đạt đến mức độ nào? Trung tâm cần biết rõ việc GDKNS cho trẻ là giáo dục những nội dung nào? Chương trình ra sao?
Trang 36- Xác định tổ chức đang ở đâu so với mục tiêu đặt ra: Đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ hiện tại so với các kết quả trung tâm mong muốn; cần biết rõ HĐGDKNS cho trẻ tại trung tâm hiện tại đang ở vị trí nào trên lộ trình hướng đến mục tiêu đã đề ra; biết rõ những điểm mạnh của trung tâm để phát huy hiệu quả, những điểm yếu cản trở cần phải khắc phục và vượt qua
- Phát triển các giả thuyết về điều kiện tương lai: Cần có tầm nhìn và dự đoán được các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai Điều nào có thể trợ giúp và điều nào kìm hảm, cản trở làm ảnh hưởng đến việc đạt / không đạt được mục tiêu GDKNS cho trẻ mà trung tâm đã đề ra?
- Phân tích các phương án hành động, lựa chọn phương án tối ưu và quyết định cách thực hiện: Liệt kê và đánh giá chi tiết những công việc, hành động có thể được tiến hành; chọn hình thức, phương pháp để thực hiện; xác định thời gian, kinh phí, các điều kiện thực hiện…; miêu tả từng bước những việc cần làm để theo đúng quy trình hành động đã đề ra
- Thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả: Xây dựng và thực hiện kế hoạch đã
đề ra có thể theo năm học, học kỳ, tháng, tuần hoặc các sự kiện lễ hội… Xây dựng tiêu chí đánh giá HĐGDKNS cho trẻ và đánh giá những tiến bộ về GDKNS cho trẻ tại trung tâm trong việc tiến tới mục tiêu; đánh giá kết quả; có thể điều chỉnh và sửa đổi
kế hoạch nếu thấy cần thiết
1.5.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGDKNS
* Công tác tổ chức
Tổ chức là chức năng cơ bản của quản lý, nó quyết định sự thành công của nhà quản lý Có thể nói, tổ chức là “quá trình sắp xếp nhân lực và các nguồn lực khác để cùng nhau làm việc nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể” [22,66] Như vậy, tổ chức liên quan trực tiếp đến việc phân công lao động thực hiện các nhiệm vụ và việc điều phối các kết quả nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Kế hoạch có được thực thi hay không là phụ thuộc vào năng lực tổ chức của nhà quản lý Tổ chức HĐGDKNS cho trẻ một cách hợp lý sẽ đem lại kết quả giáo dục cao và ngược lại, nó được thực hiện bởi những công việc cụ thể sau:
- Thành lập ban chỉ đạo HĐGDKNS cho trẻ: Đây là một bộ phận quan trọng để điều hành toàn bộ và chịu trách nhiệm về chất lượng GDKNS cho trẻ tại trung tâm Vì vậy, thành lập Ban chỉ đạo là điều rất cần thiết, bao gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc
Trang 37trung tâm, các tổ trưởng, một vài vị khác ở các lực lượng giáo dục khác như đại diện Phòng chức năng, chính quyền địa phương, đại diện một số tổ chức xã hội tham gia thường xuyên với trung tâm, v.v…
- Xây dựng lực lượng giáo viên, nhân viên nồng cốt: kiểm tra trình độ, năng lực, phẩm chất của GV, NV, sau đó lựa chọn những người có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết về GDKNS làm lực lượng chính trong HĐGDKNS tại trung tâm Nếu trung tâm chưa có GV chuyên trách về GDKNS thì nên tuyển dụng Đồng thời, rà soát những GV dạy các môn học khác và khuyến khích họ lồng ghép nội dung GDKNS vào các môn học
- Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, cá nhân tham gia HĐGDKNS: Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân một cách cụ thể, đúng người đúng việc Như chúng ta biết đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của một tổ chức Đó là quá trình sắp xếp con người và các nguồn lực trong một đơn vị hoặc một tổ chức để thực hiện và điều phối các kết quả nhằm đạt được năng suất như mong muốn [22,88]
- Ban hành quy định về tổ chức, thực hiện HĐGDKNS cho trẻ: Sau khi đã thống nhất các quy định, nhiệm vụ, quyền hạn cho các LLGD về công tác GDKNS, Ban chỉ đạo cần ban hành các quy định về việc HĐGDKNS cho các LLGD biết rõ để thực hiện
- Tổ chức triển khai, hướng dẫn các LLGD thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDKNS: Ban chỉ đạo tổ chức triển khai, hướng dẫn cho các LLGD biết và hiểu rõ các kế hoạch về HĐGDKNS cho trẻ Sau đó, Ban chỉ đạo cần xem xét, lắng nghe và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các LLGD làm tốt nhiệm vụ được giao
* Công tác chỉ đạo
Chỉ đạo hay còn gọi lãnh đạo là “quá trình khích lệ mọi người cùng cố gắng làm việc để hoàn thành các nhiệm vụ một cách tốt đẹp” [22,91] Hay nói cách khác, lãnh đạo là một quá trình truyền cảm hứng cho người khác để họ làm việc chăm chỉ nhằm đạt được các nhiệm vụ quan trọng Việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGDKNS cho trẻ gồm những công việc như sau:
- Ra quyết định thực hiện chương trình GDKNS: Quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục KNS được thực hiện bởi cán bộ quản lý tại trung tâm, gồm nhiều yếu tố như: xây dựng chương trình dạy học, kế hoạch dạy học, các quy định của ngành, của trung tâm, v.v…
Trang 38- Quản lý hoạt động dạy & học kĩ năng sống: Quản lý hoạt động giáo dục KNS thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ theo mục tiêu đào tạo của trung tâm Việc quản lý này thực chất là quản lý quá trình sư phạm của giáo viên, nhân viên, hoạt động học tập – tự giáo dục của trẻ, diễn ra trong quá trình dạy học và những hoạt động khác trong cuộc sống của trẻ Công tác này chủ yếu được thực hiện thông qua các nội dung như: phân công giáo viên phù hợp với trình độ, năng lực; kiểm tra hình thức tổ chức lớp học, trang trí lớp, tổ chức giờ học, các hoạt động học tập; dự giờ thăm lớp; kiểm tra hồ sơ sổ sách của giáo viên…
Nhiệm vụ của hoạt động dạy & học KNS là điều khiển, tổ chức cho trẻ ôn lại nắm vững hệ thống tri thức khoa học mà các em được học ở trường Phổ thông và rèn luyện cho các em hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng; giúp trẻ hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; giúp trẻ hình thành những phẩm chất đạo đức và phát triển nhân cách; đặc biệt trang bị cho trẻ vốn sống, kinh nghiệm và những kĩ năng hòa nhập cộng đồng
- Hướng dẫn các LLGD thực hiện kế hoạch GDKNS: Hướng dẫn cũng như khuyến khích các LLGD phối hợp để thực hiện kế hoach GDKNS như đã đề ra Quản
lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong HĐGDKNS là quản lý sự phối hợp giữa CBQL, GV, NV, các lực lượng giáo dục khác và quản lý các mối quan hệ giữa các lực lượng giáo dục trong HĐGDKNS Việc quản lý này gồm các phần việc: Quản lý tổ chức đoàn thể trong mỗi trung tâm; Quản lý GV dạy học, tổ chức HĐGDKNS cho trẻ; Quản lý NV tại trung tâm trong các hoạt động có liên quan đến GDKNS; Quản lý các LLGD khác trong việc phối hợp các tổ chức thực hiện công tác GDKNS cho trẻ tại các trung tâm
- Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo các LLGD và tổ chức giao lưu học tập kinh nghiệm về GDKNS: Trước tiên cần trang bị cho CBQL, giáo viên, nhân viên có nhận thức đúng đắn về vai trò của HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm Một khi có nhận thức đúng đắn thì việc triển khai, thực hiện kế hoạch GDKNS mới có hiệu quả, nếu nhận thức sai lầm, lệch lạc dẫn đến hậu quả khôn lường Việc tổ chức bồi dưỡng này gồm các phần việc: thống kê trình độ của các LLGD về GDKNS; tìm hiểu nhu cầu nâng cao trình độ của các LLGD; xác định mục đích, nội dung cần tập huấn; tổ chức bồi dưỡng, tập huấn…
Trang 39Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về nội dung GDKNS
để họ thực hiện đúng nhiệm vụ được giao và tạo môi trường tốt để tất cả các em được học những KNS một cách tốt nhất Có thể có nhiều hình thức để đào tạo và bồi dưỡng như: cho đi học tập thêm, giao lưu với các trường, các trung tâm khác về GDKNS, tổ chức chuyên đề hoặc tọa đàm về GDKNS cho trẻ có sự tham dự của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về GDKNS, v.v…
- Điều chỉnh các điều kiện thực hiện HĐGDKNS cho trẻ: để HĐGDKNS được
thực hiện tốt, người dạy và người học có đủ điều kiện để tham gia giảng dạy và học tập một cách tốt nhất, phải đảm bảo những điều kiện: phân bố phòng học, thiết bị, đồ dùng để thực hiện HĐGDKNS (cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phù hợp, an toàn, đảm bảo cho việc tổ chức các HĐGDKNS cho trẻ tại trung tâm); phân bổ thời gian hợp lý cho các LLGD thực hiện các hình thức dạy KNS cho trẻ; trang bị tài liệu về HĐGDKNS và các nguồn lực cần thiết cho HĐGDKNS; Tạo dựng môi trường thuận lợi cho công tác GDKNS cho trẻ (tạo môi trường thân thiện, xanh, sạch đẹp, sân chơi lành mạnh để trẻ được học tập, vui chơi nhằm nâng cao vốn sống, vốn hiểu biết của trẻ); Phát động phong trào, động viên các LLGD thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra (Tổ chức các phong trào thi đua GDKNS; Hỗ trợ các điều kiện cần thiết; tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của các LLGD và trẻ để khuyến khích họ thực hiện kế hoạch một cách hiệu quả và theo đúng tiến độ; khen thưởng, tuyên dương các cá nhân, tập thể xuất sắc
trong HĐGDKNS)
- Quản lý hình thức, phương pháp giáo dục kĩ năng sống: Quản lý hình thức
giáo dục KNS là quản lý hình thức tổ chức HĐGDKNS cho trẻ được thực hiện thông qua việc dạy học KNS và các hoạt động giáo dục KNS Quản lý những hình thức giáo dục KNS bao gồm: Quản lý việc dạy học (dạy học lồng ghép các nội dung GDKNS
trong các môn học hoặc dạy KNS như một môn học độc lập); Quản lý việc tổ chức các
hoạt động giáo dục KNS (lồng ghép các nội dung GDKNS trong các hoạt động ngoài giờ, trong sinh hoạt hằng ngày, trong sinh hoạt cá nhân, hoạt động tham vấn, tư vấn…); Quản lý phương pháp giáo dục là quản lý các cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa CBQL, GV và trẻ (Phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành, phương pháp đóng vai, phương pháp
chơi trò chơi, v.v…)
1.5.3 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGDKNS
Trang 40Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể thiếu của hoạt động giáo dục “Kiểm tra
là một quá trình đo lường việc thực hiện và hành động để bảo đảm những kết quả mong muốn Mục đích của kiểm tra là minh bạch, để đảm bảo các kế hoạch được thực hiện đầy đủ và đáp ứng các mục tiêu” [22,120] Có thể nói nó là động lực để thúc đẩy
sự phát triển quá trình dạy học của người giáo viên và sự đổi mới trong quá trình quản
lý hoạt động này Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGDKNS cho trẻ gồm một số công việc như:
- Xác định mục đích, nội dung kiểm tra, đánh giá HĐGDKNS cho trẻ tại các trung tâm: kiểm tra, đánh giá CBQL, GV, NV thực hiện HĐGDKNS; kiểm tra hoạt động dạy học, cách thức tổ chức lớp học, phương pháp dạy học của giáo viên; kiểm tra, đánh giá các LLGD có sự phối hợp để tổ chức HĐGDKNS cho trẻ…
- Xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá: Phổ biến các tiêu chí đánh giá cho các LLGD; hướng dẫn, giải thích, trao đổi với các LLGD về các tiêu chí đánh giá…
- Xác định hình thức, phương pháp và tổ chức thực hiện việc kiểm tra, đánh giá:
sử dụng khéo léo và kết hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp hoặc kết hợp đan xen; kiểm tra đánh giá các LLGD trong các HĐGDKNS; thực hiện kiểm tra định kỳ (hàng tháng/học kỳ/năm), kiểm tra đột xuất; kiểm tra, đánh giá tất cả các khâu: chuẩn bị, tổ chức, quy trình thực hiện, đánh giá kết quả cuối cùng…
- Nhận xét tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng: Sau mỗi giờ học/mỗi hoạt động có lồng ghép GDKNS/mỗi môn học/mỗi sự kiện lớn/mỗi tháng, v.v… nên có những nhận xét, tổng kết và rút kinh nghiệm Đồng thời, khen thưởng cá nhân và tập thể xuất sắc trong việc tổ chức HĐGDKNS cho trẻ; nhắc nhở, phê bình những tập thể,
cá nhân chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại các trung tâm công tác xã hội
1.6.1 Các yếu tố liên quan đến nhận thức của các lực lượng giáo dục kĩ năng sống
Tất cả mọi hành động của chúng ta đều bắt đầu từ nhận thức, nếu nhận thức đúng thì sẽ có hành động đúng, nếu nhận thức sai thì dẫn đến những hành động sai trái Nhận thức chính là cơ sở của mọi hành động Vì vậy, để công tác GDKNS cho trẻ