1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội ok om bok của người khmer nam bộ tham chiếu qua các mối quan hệ văn hóa

294 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 294
Dung lượng 7,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2009, tác giả Phan An với công trình “Dân tộc Khmer Nam bộ” giới thiệu về lịch sử, điều kiện địa lý dân cư, thực trạng đời sống kinh tế - xã hội và đặc biệt là những sinh hoạt văn h

Trang 1

TRƯƠNG THỊ KIM THỦY

LỄ HỘI OK OM BOK CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ THAM CHIẾU QUA CÁC MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60310604

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRƯƠNG THỊ KIM THỦY

LỄ HỘI OK OM BOK CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ THAM CHIẾU QUA CÁC MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60310604

Người hướng dẫn khoa học: Thành phần Hội đồng:

TS Phan Anh Tú PGS.TS Phan Thu Hiền (Chủ tịch)

TS Trần Phú Huệ Quang (T hư ký) PGS.TS Trần Hồng Liên

TS Nguyễn Khắc Cảnh

TS Nguyễn Đệ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Đầu tiên, tôi xin phép gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Phan Anh Tú Thầy là người đã dìu dắt, hướng dẫn nhiệt tâm và có những đóng góp quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Kế đến, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Khoa học Xã Hội & Nhân Văn – ĐHQG HCM Cô là người luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện tôi tham gia cùng đề tài của Cô

“Sinh kế của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh phát triển hiện nay” để tôi thu thập tư liệu cho việc hoàn thành nghiên cứu của mình

Đồng thời, tôi cũng xin được gởi lời cảm ơn đến quý Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã Hội & Nhân Văn - ĐHQG HCM, Phòng Sau Đại học, quý Thầy

Cô Khoa Văn hóa học; cũng như quý Lãnh đạo, quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ (nơi tôi công tác) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi thân gửi lời cảm ơn đến nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Lợi, Thạc sỹ Dương Hoàng Lộc, Thạc sỹ Sơn Ngọc Khánh, anh Nguyễn Hoàng Tuấn; và các quý

cơ quan ban ngành, các vị sư sãi, achar chùa Khmer, các hộ gia đình Khmer trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn thân thương nhất đến gia đình, bạn bè của tôi – những người luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên tôi vượt qua khó khăn, có thêm nghị lực để học tập và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Cần Thơ, ngày 09 tháng 09 năm 2017

Trương Thị Kim Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung nghiên cứu của đề tài chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác Nếu có vấn đề gì, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ sở đào tạo, trước pháp luật và

xã hội

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trương Thị Kim Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC GIẢI THÍCH TIẾNG KHMER x

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13

7 Bố cục luận văn 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16

1.1 Văn hóa và những vấn đề liên quan 16

1.2 Lễ hội 25

1.3 Tổng quan về người Khmer Nam bộ 34

1.4 Ok Om Bok và các lễ hội của người Khmer Nam Bộ 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 56

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LỄ HỘI OK OM BOK VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LỄ HỘI KHÁC 58

2.1 Những diễn biến trong lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam Bộ 58

2.2 Lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ với nền văn hóa nông nghiệp 64

2.3 Lễ hội Ok Om Bok và mối quan hệ với Phật giáo 75

2.4 Lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ văn hóa với các lễ hội ở Ấn Độ và Đông Nam Á 82

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 104

Trang 6

CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI OK OM BOK

TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG 106

3.1 Biến đổi văn hóa trong lễ hội Ok Om Bok hiện nay 106

3.2 Vai trò của lễ hội Ok Ok Bok trong phát triển du lịch văn hóa hiện nay 131

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 151

KẾT LUẬN 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHỤ LỤC 1: HÌNH ẢNH 170

PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU QUA KHẢO SÁT ĐIỀN DÃ 183

PHỤ LỤC 3: CÁC BẢNG HỎI 247

PHỤ LỤC 4: CÁC BẢNG SỐ LIỆU XỬ LÝ 261

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH ẢNH

Hình 1: Lễ hội Ok Om Bok tại Ao Bà Om Trà Vinh 170

Hình 2: Gian hàng triển lãm văn hóa Khmer tại Ao Bà Om, Trà Vinh 170

Hình 3: Diễu hành rước hoa đăng tại Ao Bà Om, Trà Vinh 170

Hình 4: Thi giã cốm dẹp tại Ao Bà Om, Trà Vinh 170

Hình 5: Ghe Ngo chùa Ông Mẹt, Trà Vinh ở nhà ghe trước thi đấu 171

Hình 6: Lễ cúng ghe Ngo trước khi thi đấu 171

Hình 7: Các đội ghe Ngo Trà Vinh tranh tài 171

Hình 8: Đua thuyền thúng tại Ao Sen, Trà Vinh 171

Hình 9: Trò chơi đập bóng tại chùa 172

Hình 10: Chơi leo cột mỡ tại chùa 172

Hình 11: Các sư làm kiệu hoa đăng 172

Hình 12: Kiệu hoa đăng trước giờ cúng trăng tại chùa 172

Hình 13: Mâm lễ cúng trăng ở chùa 173

Hình 14: Văn nghệ ở chùa dịp Ok Om Bok 173

Hình 15: Phật tử đến chùa dịp Ok Om Bok 173

Hình 16: Achar thực hiện đút cốm dẹp tại chùa 173

Hình 17: Mâm lễ cúng trăng truyền thống tại nhà 174

Hình 18: Mẫm lễ cúng trăng tại nhà có biến đổi văn hóa 174

Hình 19: Nghi thức đút cốm dẹp tại nhà (Trà Vinh) 174

Hình 20: Nghi thức cúng trăng tại nhà (Trà Vinh) 174

Hình 21: Sân khấu hóa lễ hội Ok Om Bok tại Ao Bà Om, Trà Vinh 175

Hình 22: Thả kiệu hoa đăng tại Ao Bà Om, Trà Vinh 175

Hình 23: Achar thưc hiện nghi lễ thả hoa đăng cho du khách tại Ao Bà Om 175

Hình 24: Các sư trao hoa đăng cho du khách tại Ao Bà Om, Trà Vinh 175

Hình 25: Tổ nhện trong đèn gió 176

Hình 26: Các sư chuẩn bị đèn gió 176

Trang 8

Hình 27: Phật tử và du khách thả đèn gió (Trà Vinh) 176

Hình 28: Đèn gió được thả và bay cao 176

Hình 29: Tình trạng ăn xin ở lễ hội Ok Om Bok, Trà Vinh 177

Hình 30: Tờ rơi cảnh báo của ban tổ chức với khách tham dự lễ hội Ok Om Bok tại Ao Bà Om, Trà Vinh 177

Hình 31: Rác trong lễ hội Ok Om Bok tại Ao Bà Om, Trà Vinh 177

Hình 32: Rác sau lễ hội Ok Om Bok tại Ao Bà Om, Trà Vinh 177

Hình 33: Các linh vật trên ghe Ngo (Sóc Trăng) 178

Hình 34: Các đội ghe Ngo tranh tài ở Sóc Trăng 178

Hình 35: Lễ hạ thủy ghe Ngo trước thi đấu (Sóc Trăng) 178

Hình 36: Lễ rước ghe Ngo xuống nước thi đấu (Sóc Trăng) 178

Hình 37: Hội chợ dịp lễ Ok Om Bok (Sóc Trăng) 179

Hình 38: Hội thi ẩm thực Kinh-Hoa-Khmer (Sóc Trăng) 179

Hình 39: Diễu hành hoa đăng hội thi Loi protip (Sóc Trăng) 179

Hình 40: Ghe Cà Hâu trong cuộc thi Loi protip (Sóc Trăng) 179

Hình 41: Thắp đèn trong lễ Diwali 180

Hình 42: Bắn pháo hoa dịp Diwali 180

Hình 43: Cầu nguyện và dâng lễ chuẩn bị Mặt trời mọc ở Chandigarh, Ấn Độ 180

Hình 44: Cầu nguyện lúc mặt trời lặn ở Mumbai, Ấn Độ 180

Hình 45, Hình 46, Hình 47: Nghi lễ trong lễ hội cầu thần Mặt trăng Ấn Độ 181

Hình 48: Biểu diễn đua thuyền ở Campuchia 182

Hình 49:Thả đèn gió dịp Loy Krathong Thái Lan 182

Hình 50: Thắp đèn thuyền đăng ở Lào 182

Hình 51: Hội đua thuyền ở Lào 182

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1: Nghề nghiệp người dân Khmer tham dự lễ hội Ok Om Bok 108

Bảng 3.2: Tỷ lệ giới tính người Khmer tham dự lễ hội Ok Om Bok 113

Bảng 3.3: Độ tuổi người dân Khmer tham dự lễ hội Ok Om Bok 114

Bảng 3.4: Mức độ hài lòng của du khách về lễ hội Ok Om Bok 139

Trang 10

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Người dân Khmer Sóc Trăng tham dự lễ hội Ok Om Bok 2016 108

Biểu đồ 3.2: Người dân Khmer Trà Vinh tham dự lễ hội Ok Om Bok 2016 108

Biểu đồ 3.3: Địa điểm người Khmer tham dự lễ hội Ok Om Bok 110

Biểu đồ 3.4: Ý kiến của người dân Sóc Trăng về thời gian diễn ra 112

Biểu đồ 3.5: Ý kiến của người dân Trà Vinh về thời gian diễn ra 112

Biểu đồ 3.6: Ý nghĩa việc cúng trăng đối với người Khmer 115

Biểu đồ 3.7: Sự quan tâm của người Khmer Sóc Trăng về lễ hội đua ghe Ngo là lễ hội cấp quốc gia 116

Biểu đồ 3.8: Sự quan tâm của người Khmer Trà Vinh về lễ hội Ok om Bok là di sản văn hóa 116

Biểu đồ 3.9: Người dân Khmer Sóc Trăng, Trà Vinh biết về ý nghĩa đua ghe Ngo, thả hoa đăng, đèn gió dịp Ok Om Bok 117

Biểu đồ 3.10: Người dân Khmer Sóc Trăng với quy định cấm thả đèn gió 118

Biểu đồ 3.11: Người dân Khmer Trà Vinh với quy định cấm thả đèn gió 118

Biểu đồ 3.12:Ý kiến của người dân Khmer Sóc Trăng về việc thả đèn gió 119

Biểu đồ 3.13: Ý kiến của người dân Khmer Trà Vinh về việc thả đèn gió 119

Biểu đồ 3.14: Người dân Khmer Sóc Trăng, Trà Vinh thực hiện lễ cúng trăng trong gia đình 121

Biểu đồ 3.15: Người dân Khmer Sóc Trăng, Trà Vinh thực hiện nghi thức đút cốm dẹp trong lễ cúng trăng 122

Biểu đồ 3.16: Người dân Khmer Sóc Trăng, Trà Vinh trang trí cổng mía trong lễ cúng trăng 125

Biểu đồ 3.17: Lễ vật cúng trăng ở Sóc Trăng 126

Biểu đồ 3.18: Lễ vật cúng trăng ở Trà Vinh 126

Biểu đồ 3.19: Các hoạt động người dân Khmer Sóc Trăng 127

Biểu đồ 3.20: Các hoạt động người dân Khmer Trà Vinh tham dự 127

Biểu đồ 3.21: Ý kiến của người dân Khmer Sóc Trăng về hoa đăng 129

Trang 11

Biểu đồ 3.22: Ý kiến của người dân Khmer Trà Vinh về hoa đăng 129

Biểu đồ 3.23: Kênh thông tin du khách biết đến lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng 132

Biểu đồ 3.24: Kênh thông tin du khách biết đến lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh 132

Biểu đồ 3.25: Nguồn du khách đến lễ hội ok Om Bok Sóc Trăng 133

Biểu đồ 3.26: Nguồn du khách đến lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh 133

Biểu đồ 3.27: Số lần du khách tham dự lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng 135

Biểu đồ 3.28: Số lần du khách tham dự lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh 135

Biểu đồ 3.29: Hình thức du khách đến lễ hội Ok Om Bok 135

Biểu đồ 3.30: Điều hấp dẫn du khách đến lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng 136

Biểu đồ 3.31:Điều hấp dẫn du khách đến lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh 137

Biểu đồ 3.32: Các hoạt động du khách tham gia tại LH Ok Om Bok Sóc Trăng 138

Biểu đồ 3.33: Các hoạt động du khách tham gia tại LH Ok Om Bok Trà Vinh 138

Trang 12

DANH MỤC GIẢI THÍCH TIẾNG KHMER

3 បុណ្យបញ្ចុះសីមា Bôn Bon Banh chốs xây

ma

Lễ kết giới chính điện

4 បុណ្យចេញវសា Bôn chanh Vô sa Lễ xuất hạ

5 បុណ្យេូលឆ្នាំថ្មី Bôn Chôl Chnăm Thmây Tết vào năm mới

6 បុណ្យេូលវសា Bôn chôl Vôsa Lễ nhập hạ

7 បុណ្យក្ឋិន Bôn Kathin Lễ dâng y cà sa

8 បុណ្យអក្អាំបុក្ Bôn Ok Om Bok Lễ cúng trăng

9 បុណ្យភ្ចាំបិណ្ឌ Bôn Phchum Bin Lễ đặt cơm vắt

10 បុណ្យភនាំខ្សាេ់ Bôn Phnôm Kho sách Lễ đắp núi cát

11 បុណ្យពុទ្ធាភិចសក្ Bôn Pút thia phí sêk Lễ an vị tượng Phật

12 បុណ្យសសនដូនតា Bôn Sen Dolta Lễ cúng ông bà

13 បនទប់ចរ្ៀន Bon tup riên Phòng học

14 បុណ្យវវ សាខខ្សបូជា Bôn Ví sac Bô chia Lễ Phật Đản

18 ខ្លោងទ្វារវត្ត Khlo-ông thvia wot Cổng chính

20 ក្ៃតិក្ Kot đất / Kadak Tháng 10 theo Phật lịch

Nam tông

23 លយរបទីប Lôi pro tiêp Hoa đăng/đèn nước

phum sóc, cánh đồng, dòng sông

25 នំខ្ោរ Num chô/ nùm plách Bánh tai yến

27 នំពងមាន់ Num pôn mon/ nùm tiêl Bánh bông lan

Trang 13

29 ពិធីបសណ្ែៃរបទីប Pí thi bon đêt pro tiêp Lễ đưa nước / lễ thả đèn

nước

30 ពិធីបច្ហុះចោម Pí thi bong hó côm Lễ thả đèn gió

31 វង់ចភេងពិណ្ពាទយ Pinh Piêt Dàn nhạc ngũ âm

32 ពិធីអាពាហ៍

ពិពាហ៍

Píthi Apia Pípia Đám cưới

34 រពុះេនទ, រពុះសខ្ស Pré chane hoặc pré khê Thần mặt trăng

44 សចមេៀក្បាំពាក្់ការ្ Som liếc bom piêk ca Trang phục cưới

sóc, chỗ tạm dừng chân

Trang 14

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Ở Nam bộ, người Khmer tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, với dân số trung bình là 1.183.476 người, chiếm 93,9% tổng dân số đồng bào Khmer trong cả nước Cụ thể tập trung nhiều ở Trà Vinh (huyện Trà Cú, Châu Thành, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Cầu Kè, thành phố Trà Vinh), Sóc Trăng (huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, Long Phú, Thạnh Trị, thành phố Sóc Trăng), An Giang (vùng biên giới của hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên), Kiên Giang (huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Hòn Đất, An Biên, Kiên Lương, Châu Thành)1 Qua những tư liệu lịch sử, người Khmer ở Nam bộ tuy có chung nguồn gốc lịch sử tộc người với người Khmer ở Campuchia nhưng sự khác biệt về đặc điểm cư trú, kinh tế, văn hóa xã hội, người Khmer Nam bộ có những nét văn hóa tộc người đặc trưng và là một trong 54 tộc người hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam Điểm nổi bật trong đời sống văn hóa của người Khmer Nam bộ chính là văn hóa lễ hội Triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Khmer qua hình thức tổ chức lễ hội với ý nghĩa là những làm phước Chính vì lẽ đó mà đời sống xã hội của đồng bào Khmer trong năm không bao giờ thiếu bóng dáng của các lễ hội Người

Khmer dùng hai danh từ “Bon” (hoặc Bonya) và “Pithi” để chỉ chung cho phong tục và lễ hội của tộc người Chữ “Pithi” để gọi những loại hình lễ tục mang tính chất dân gian như đám cưới (pithi Apea Pineah), lễ vào năm mới (pithi Chôl Chnăm Thmây), lễ cúng ông bà (pithi Sen Dolta)… Còn các lễ tục liên quan đến Phật giáo thì gọi là “Bon” như lễ cúng trăng (Bon som Pés prés khe), lễ Phật Đản (Bon Visakh Bochea), lễ nhập hạ (Bon chôl Vossa)… [Trường Lưu 1993, tr.71]

Trong kho tàng lễ hội của người Khmer Nam bộ, lễ hội Ok Om Bok là một

trong những nghi lễ quan trọng nhất trong năm (sau lễ mừng năm mới Chol Chnam Thmay và lễ cúng ông bà Sen Dolta) vì hội tụ cả yếu tố dân gian và tôn giáo Tuy có

rất nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội Ok Om Bok nhưng hầu hết là tập trung

1 Theo Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê Việt Nam

Trang 15

chuyên sâu vào nội hàm của lễ hội, chưa có sự suy xét trong các mối quan hệ với các nền văn hóa khác Vì thế, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các giá trị văn hóa còn tiềm ẩn trong lễ hội Ok Om Bok, đặc biệt nhìn nhận nó trong mối quan hệ với nền văn hóa nông nghiệp, văn hóa tôn giáo, văn hóa lễ hội của Ấn

Độ và các quốc gia Đông Nam Á lục địa Trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay, lễ hội Ok Om Bok với các mối quan hệ văn hóa đã có những biến đổi nhất là khi lễ hội này được nâng cấp thành lễ hội đua ghe Ngo (ở Sóc Trăng năm 2013) và công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia (ở Trà Vinh năm 2014) Do đó,

lễ hội không còn là sản phẩm văn hóa riêng của một tộc người mà có sự gắn bó mật thiết trong sự phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt là hoạt động khai thác các giá trị văn hóa của lễ hội trong phát triển du lịch Vấn đề đặt ra là văn hóa và du lịch trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội cũng là một yêu cầu cấp bách hiện nay

Với những ý nghĩa trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Lễ hội Ok Om Bok của

người Khmer Nam bộ tham chiếu qua các mối quan hệ văn hóa” làm đề tài luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

2 Lịch sử vấn đề

Các công trình nghiên cứu về lễ hội Khmer Nam bộ vô cùng phong phú và đa dạng nên chúng tôi chỉ chọn những công trình tiêu biểu Trong luận văn này, chúng tôi tạm khái quát các công trình nghiên cứu thành hai nhóm chính và chỉ tập trung

các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Đó là các công trình nghiên cứu về văn hóa,

lễ hội của người Khmer Nam bộ nói chung; và các công trình nghiên cứu lễ hội Ok

Om Bok nói riêng

2.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa, lễ hội của người Khmer Nam bộ

Đầu tiên có thể kể đến quyển “Người Việt gốc Miên” của tác giả Lê Hương

(năm 1969) Tác giả đã quan sát, ghi chép tỉ mỉ và sưu tầm tài liệu về nguồn gốc dân cư, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, địa danh, thắng cảnh của người Khmer Nam bộ Công trình có giá trị khoa học cao vì là một trong số ít những công trình đầu tiên nghiên cứu về văn hóa người Khmer Nam Bộ, giúp người đọc có cái nhìn

Trang 16

khái quát về tộc người Khmer Tuy nhiên, phần lễ hội được tác giả trình bày ngắn gọn về tên gọi, không gian, thời gian diễn ra lễ hội và sự tích của các lễ hội

Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và cộng sự với công trình “Người Khơ-me tỉnh Cửu Long” (năm 1987) Đây là công trình hợp tác giữa Viện Văn hóa (bộ phận

thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh) và Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Cửu Long lúc bấy giờ Công trình giới thiệu khái quát đặc điểm dân cư, nhà ở, thiết chế xã hội; tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội; văn học, nghệ thuật của người Khmer Riêng các lễ hội của người Khmer, nhóm tác giả trình bày chủ yếu dưới dạng mô tả, tổng hợp

Năm 1993, Viện Văn hóa xuất bản công trình “Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” do tác giả Trường Lưu chủ biên Là hội viên Hội văn

học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hoạt động trong ngành văn hóa huyện

Kế Sách tỉnh Sóc Trăng nên tác giả đã mô tả khá trọn vẹn văn hóa Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong công trình này Cụ thể tác phẩm đã khái quát về người Khmer, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật

âm nhạc và biểu diễn, nghệ thuật tạo hình Lễ hội Ok Om Bok đã được tác giả trình bằng hình thức mô tả phần diễn trình lễ hội và hoạt động đua ghe Ngo

Năm 1998, Nguyễn Khắc Cảnh xuất bản công trình “Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long” Đây là công trình bắt nguồn từ luận án tiến sĩ Dân tộc

học của tác giả thể hiện kết quả nghiên cứu thực địa về người Khmer ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Vĩnh Long, An Giang và là chuyên khảo đầu tiên viết về phum sóc của người Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Cùng năm 1998, tác giả Sơn Phước Hoan (chủ biên) công trình “Các lễ hội truyền thống của người Khmer Nam bộ” (song ngữ - tiếng Việt và tiếng Khmer

Theo tác giả, lễ hội truyền thống của người Khmer Nam bộ gồm tám lễ hội chính: lễ vào năm mới, lễ cúng ông bà, lễ cúng trăng, lễ cưới, lễ tang, lễ cầu an, lễ dâng y Công trình này trình bày về nguồn gốc, các tích truyện, diễn biến, ý nghĩa của các lễ hội, dưới dạng song ngữ - tiếng Việt và tiếng Khmer nhưng chỉ dừng lại ở dạng mô

tả

Trang 17

Năm 1999, tác giả Trường Lưu biên soạn công trình “Một số lễ tục dân gian người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đi sâu giới thiệu nguồn gốc, xuất

xứ của tục hội thông qua các truyền thuyết, truyện cổ tích Trong công trình này, tác giả phân chia lễ tục của người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành ba loại hình chính: lễ tục vòng đời, lễ tục sinh hoạt và lễ tục tôn giáo Trong đó, lễ đút cốm dẹp (Ok Om Bok) thuộc lễ tục sinh hoạt với hai phần chính là lễ cúng trăng và

lễ đua ghe Ngo Hai phần lễ này được miêu tả gắn kết với các tích truyện cổ xưa về đức Phật

Năm 2002, bổ sung thêm trong công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer

Nam bộ, tác giả Trần Văn Bổn biên soạn công trình “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam bộ” Nội dung nghiên cứu về các lễ tục gắn với vòng đời người

Khmer như lễ tục trong sinh đẻ và nuôi dạy con, lễ cưới, lễ tang và tục thờ tổ tiên

Ngoài ra, tác giả Nguyễn Mạnh Cường cũng có những đóng góp lớn trong

việc nghiên cứu văn hóa Khmer Nam bộ qua công trình “Vài nét về người Khmer Nam bộ” (năm 2002) Công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành tộc người, thiết

chế xã hội, hệ thống văn hóa vật thể và phi vật thể, Phật giáo Nam tông Khmer Ngoài ra, tác giả còn nêu ra hướng tiếp cận mới trong việc nhìn nhận bản sắc văn hóa người Khmer Nam bộ cần được bản tồn và phát huy, hiện trạng đời sống văn hóa của người Khmer

Năm 2004, tác giả Trần Văn Bính (chủ biên) xuất bản công trình “Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra” Công trình thuộc đề

tài khoa học cấp nhà nước (năm 2001-2005) tập hợp nhiều bài viết; đã đánh giá phân tích toàn diện về thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số vùng Tây Nam Bộ trong công cuộc đổi mới Đồng thời nhóm tác giả dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp nhằm phát triển đời sống văn hóa các dân tộc dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong phần đời sống văn hóa và xu

hướng phát triển văn hóa của dân tộc Khmer Tây Nam Bộ, đáng chú ý có bài “Văn hóa lễ hội của dân tộc Khmer trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

Trang 18

Đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Việt Hùng Tác giả đã đề cập đến

những giá trị văn hóa lễ hội Khmer và đề xuất phương hướng bảo tồn

Năm 2009, tác giả Phan An với công trình “Dân tộc Khmer Nam bộ” giới

thiệu về lịch sử, điều kiện địa lý dân cư, thực trạng đời sống kinh tế - xã hội và đặc biệt là những sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc của người Khmer Nam bộ

Năm 2011, tác giả Huỳnh Thanh Quang xuất bản công trình “Giá trị văn hóa Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn

hóa của người Khmer Nam bộ Công trình đã nêu ra một số giá trị cơ bản trong văn hóa Khmer, thực trạng việc phát huy giá trị văn hóa trong thời gian qua; từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp Ở mục những giá trị tinh thần tiêu biểu, tác giả

đã nêu lên được những đặc điểm của lễ hội truyền thống tộc người Khmer và trình bày sơ lược về các lễ hội

Cùng hướng nghiên cứu về phong tục lễ nghi của người Khmer Nam bộ, tác

giả Sang Sết đã xuất bản công trình “Phong tục, lễ nghi và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam bộ” (năm 2012) Nội dụng công trình góp phần tìm hiểu về phong tục

thờ cúng, các lễ nghi Phật giáo, lễ tết, lễ hội truyền thống, tranh ký tự, tranh vẽ, tranh khắc đá của người Khmer Trong mục lễ tết, lễ hội truyền thống, tác giả tiếp cận theo hướng lý giải các nghi lễ, vật cúng và hình thức tổ chức của lễ hội

Cũng trong năm 2012, cuốn sách “Văn hóa Khmer Nam bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam” của nhóm tác giả Phạm Thị Phương Hạnh (chủ biên) nhận

được Giải khuyến khích Sách hay Việt Nam (2012) Cuốn sách trình bày khái quát

về người Khmer Nam bộ; tín ngưỡng – tôn giáo; lễ hội; văn hóa – nghệ thuật; tập quán; ngành nghề truyền thống Từ đó, khẳng định sự quan tâm, chăm sóc và tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển mọi mặt của người Khmer Nam bộ

Năm 2012, tác giả Trần Dũng và Đặng Tấn Đức cũng xuất bản cuốn sách

“Diện mạo văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian Trà Vinh” Với lợi thế sinh sống

tại Trà Vinh, nhóm tác giả đã có sự phân tích sâu sắc về tín ngưỡng và lễ hội dân gian của tộc người Việt, Hoa, Khmer tại nơi này; đặc biệt là về văn hóa dân gian

Trang 19

ven biển Mỹ Long và lễ hội cúng biển ở Mỹ Long Từ đó, công trình giúp người đọc có thêm nhiều thông tin về văn hóa địa phương của tỉnh Trà Vinh

Năm 2014, nhà văn Nguyễn Anh Động với công trình “Vài nét về văn hóa dân gian của người Khmer Nam bộ Công trình này thuộc dự án “Công bố, phổ biến

tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam”; nên tác giả công bố những sưu tầm ghi chép riêng về một số nét lĩnh vực sinh hoạt trong dân gian xưa và nay như các tập tục, tín ngưỡng quỷ thần, pháp sư, bùa phép, ngôn ngữ, văn thơ, nghệ thuật diễn xướng… Theo nhận định của tác giả, trong công trình này không đưa thành khái niệm lễ hội mà chỉ có tục đút cốm dẹp (trong lễ Ok Ang Bok), tục đua ghe Ngo (lễ đua nước) và được trình bày dưới dạng miêu tả các tài liệu ghi chép và sưu tầm được

Năm 2015, nhóm tác giả Tiền Văn Triệu, Lâm Quang Vinh với cuốn sách

“Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam bộ” trên cơ sở sưu tầm, điền dã đã bổ

sung thêm nhiều tư liệu quý về văn hóa tộc người Khmer Công trình giới thiệu khái quát về người Khmer Nam bộ, về tín ngưỡng, tôn giáo, chùa chiềng, văn hóa lễ hội, phân tích các lễ hội của người Khmer Nam bộ dưới góc nhìn văn hóa dân gian Đồng thời, nhóm tác giả cũng đề xuất những giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của người Khmer

Trong số những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về người Khmer Nam bộ, có luận văn của Dương Thị Ngọc Tú chuyên ngành Văn hóa học, trường Khoa học xã

hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài “Lễ hội của người Khmer miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa học (trường hợp tỉnh Sóc Trăng)” (năm 2012)

Luận văn nghiên cứu nguồn gốc, diễn biến, ý nghĩa, sự biến đổi của các lễ hội Chol Chnam Thmay, Sen Đonta, Ok Om Bok Đề tài khá rộng nên chỉ dừng lại ở việc mô

tả từng lễ hội Ngoài ra, còn có luận văn của Lê Thúy An chuyên ngành Văn hóa học, trường Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài

“Nước (tưk) trong văn hóa của người Khmer Nam bộ” (năm 2012) Luận văn phân

tích mối quan hệ của nước trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người Khmer Nam bộ; trong đó có đề cập đến yếu tố nước trong một số nghi lễ vòng đời

Trang 20

người, lễ hội Chol Chnam Thmay, Ok Om Bok…Ngoài ra, còn có luận văn của tác giả Mai Thị Huệ, chuyên ngành Văn hóa học, trường Đại học Trà Vinh với đề tài

“Lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh” (năm 2014) Đề tài nghiên cứu diễn

biến của các lễ hội Phật giáo và mối quan hệ với các lễ hội dân gian như Chol Chnăm Thmây, Sen Dolta, Ok Om Bok Đồng thời khảo cứu về vai trò của lễ hội Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam bộ Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở phần mô tả diễn biến và giới hạn đối tượng nghiên cứu là lễ hội Phật giáo

ở địa bàn tỉnh Trà Vinh

2.2 Các công trình nghiên cứu lễ hội Ok Om Bok

Tháng 4 năm 1981, Viện nghiên cứu lý luận và lịch sử nghệ thuật, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức hội nghị Khoa học, văn hóa, văn nghệ truyền thống của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả hội thảo được xuất bản thành

kỷ yếu (bản đánh máy) mang tên: “Văn hóa, văn nghệ truyền thống của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long” Các bài viết tập trung vào các lĩnh vực như:

sự hình thành và phân bố dân cư, lễ tết, tín ngưỡng, văn nghệ, nghệ thuật của người

Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long … Trong mục lễ hội có bài “Cuộc đua ghe ngo trong Ok Am Bok” của tác giả Hà Hùng Tiên đề cập đến lễ hội Ok Om Bok nhưng

chủ yếu tập trung mô tả về cuộc đua ghe Ngo (mà ở đây tác giả cho là một tập tục hơn là một lễ hội)

Năm 1992, tác giả Sorya xuất bản quyển sách dưới dạng chuyện kể “Sự tích hội đua ghe Ngo Khmer Nam bộ” Tác giả nhìn nhận tục đua ghe Ngo là một phần

hội không thể thiếu của lễ cúng trăng, nên đã tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử của chiếc ghe Ngo, mô tả hình dáng và công dụng của nó, nơi tổ chức những cuộc đua ghe Ngo; bổ sung thêm những các bài thơ liên quan đến hội đua ghe Ngo Do viết dưới dạng chuyện kể nên bài viết chỉ có tính chất mô tả và thông tin tham khảo, chưa đi sâu vào khía cạnh văn hóa của lễ hội Ok Om Bok

Ngày 29/05/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch phối hợp cùng Phân viện văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại thành phố Hồ

Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Bảo tồn phát huy lễ hội Óc Om Boc –Đua

Trang 21

ghe Ngo Sóc Trăng” Đây là một trong những hội thảo đầu tiên về lễ hội Ok Om Bok với nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng tham dự Đáng chú ý là các bài viết “Oc

Om Bok, lễ nghi nông nghiệp của người Khmer Nam bộ” của Phan An; bài “Tâm thức ứng xử với nước của người Khmer qua lễ hội Ok-Angbok - Tiếp cận sinh thái văn hóa” của Phan Thị Yến Tuyết; bài “Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa của lễ hội cúng trăng, Loy-Protip, đua ghe Ngo của người Khmer” của Hứa Sa Ni Đa phần

các bài viết tập trung nghiên cứu về lễ hội Ok Om Bok ở Sóc Trăng và các bài viết

về lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam bộ nói chung theo hướng tiếp cận lễ hội Ok Om Bok là lễ nghi nông nghiệp, hoặc là lễ nghi tôn giáo.

Qua đó, chúng tôi nhận thấy dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội

Ok Om Bok của người Khmer Nam bộ nhưng chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu vào các mối quan hệ văn hóa của lễ hội, vấn đề biến đổi văn hóa trong lễ hội và định hướng khai thác phát triển du lịch lễ hội gắn với yếu tố bảo tồn Do đó, chúng tôi sẽ thực hiện khai thác những vấn đề này trong luận văn của mình và hướng nghiên cứu của đề tài hoàn toàn không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước tác

Sự tham chiếu này giúp chúng tôi giải mã các lớp tàn tích văn hóa như Bà La Môn giáo, tín ngưỡng dân gian, Phật giáo Nam tông tồn tại trong lễ hội Ok Om Bok

Trang 22

Lễ hội Ok Om Bok ngày nay đã trở thành sự kiện văn hóa cấp quốc gia thu hút không chỉ người dân địa phương mà còn cả khách du lịch Trước xu thế phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay, lễ hội Ok Om Bok không chỉ bị biến đổi trong nội tại của những người dân địa phương mà còn bị tác động bởi những hoạt động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, đề tài cũng hướng đến phân tích sự biến đổi văn hóa của lễ hội Ok Om Bok từ đời sống của người dân Khmer địa phương và từ hoạt động phát triển du lịch Qua đó, đề tài đề xuất những định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của lễ hội Ok Om Bok được tốt hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: lễ hội Ok Om Bok

Chủ thể nghiên cứu: người Khmer Nam bộ Trong nghiên cứu này, chúng tôi

sử dụng khái niệm “người Khmer Nam bộ” vì khái niệm này thể hiện hai yếu tố: một là, “xét trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, danh tộc Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer”; hai là “xét trong cộng đồng miền của người Việt Nam, họ là người Nam bộ” [Phạm Thị Phương Hạnh 2013, tr.8]

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nằm ở cuối lưu vực sông Mekong, Sóc Trăng giáp với các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bạc Liêu và biển Đông Đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện Dân số toàn tỉnh năm 2015 là 1.310.700 người; trong đó người Khmer chiếm 28% dân số và tập trung nhiều ở các địa bàn như Vĩnh Châu, Trần Đề, Châu Thành, Long Phú2 Sinh kế chủ yếu của người Khmer Sóc Trăng là trồng lúa, cây ngắn ngày, chăn nuôi, đánh cá và các nghề thủ công nên đời sống văn hóa nhất là lễ hội của họ cũng gắn liền với nông nghiệp Ok Om Bok là lễ hội được

tổ chức lớn nhất trong năm của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng vì có sự kiện giải đua ghe Ngo cấp quốc gia

2 Dẫn theo website Tổng cục Du lịch Việt Nam,

http://www.vietnamtourism.com/index.php/about/provinces/8479

Trang 23

Trà Vinh nằm ở hạ lưu sông Mekong được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long, phía Tây và Tây Nam giáp Sóc Trăng, phía Đông giáp biển Đông Đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 7 huyện Dân số toàn tỉnh năm 2015 là 1.034.600 người, trong đó người Khmer chiếm 31,62% dân số, tập trung đông nhất ở huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Cầu

Kè, Tiểu Cần… Ngành nghề chủ yếu của họ là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 3 Địa thế bán đảo hai mặt sông một mặt biển đã tạo cho Trà Vinh sự biệt lập nhất định; quy định tín ngưỡng và lễ hội có những nét đặc thù gần với truyền thống hơn so với các tỉnh lân cận của Đồng bằng sông Cửu Long [Trần Dũng – Đặng Tấn Đức 2012, tr.12] Vì vậy, lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh được vinh dự nhận bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2014

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn hai địa bàn Sóc Trăng và Trà Vinh, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, đồng thời có hai sự kiện tiêu biểu gắn với lễ hội Ok Om Bok (giải đua ghe Ngo và công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể) để tiến hành nghiên cứu về lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam bộ Thời gian chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực địa từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 11 năm

2016

5 Cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý thuyết

Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các lý thuyết nghiên cứu sau:

- Sinh thái học văn hóa (Cultural ecology): Lý thuyết này được vận dụng

nghiên cứu lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ thống nhất và tương tác giữa tự nhiên và cộng đồng người Khmer Nam bộ; sự gắn kết của lễ hội Ok Om Bok với những hình tượng nông nghiệp như mặt trăng, cốm dẹp, nguồn nước, gió…

- Sinh thái học tâm linh (Spiritual ecology): Lý thuyết này được vận dụng để

nghiên cứu môi trường sinh thái nông nghiệp có ảnh hưởng to lớn trong văn hóa lễ hội của người Khmer Nam bộ, đặc biệt là lễ hội Ok Om Bok Chính lý thuyết này là

cơ sở lý giải vì sao lễ hội Ok Om Bok vừa là lễ hội dân gian và lễ hội Phật giáo

3 Dẫn theo website Ban tuyên giáo tỉnh ủy Trà Vinh,http://travinh.gov.vn/wps/portal/tuyengiao/

Trang 24

- Du lịch văn hóa (Cutural tourism): Lý thuyết này được vận dụng để chứng

minh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch; từ đó tạo cơ sở hình thành những định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lễ hội trong điều kiện phát triển du lịch

- Địa văn hóa (Geographical Culture): Lý thuyết này được vận dụng nghiên

cứu nét văn hóa đặc trưng của lễ hội Ok Om Bok ở các vùng cư trú khác nhau của người Khmer (Trà Vinh, Sóc Trăng) và với một số lễ hội khác có chung nguồn gốc

- Chức năng luận (Functionism): Lý thuyết này được vận dụng nghiên cứu vai

trò và chức năng của lễ hội Ok Om Bok trong nền văn hóa nông nghiệp và văn hóa Phật giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống cấu trúc (Structural Method): Phương pháp này được

chúng tôi sử dụng để tiếp cận lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ các thành tố khác trong hệ thống văn hóa của người Khmer Nam bộ Dựa vào mối quan hệ tương tác này, chúng tôi ghi nhận về nguồn gốc, giá trị văn hóa, sự biến đổi của lễ hội Ok

Om Bok trong đời sống văn hóa của cộng đồng Khmer Nam bộ

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Inter-Disciplnary Method): Phương

pháp này được vận dụng để nghiên cứu và tổng hợp các thành tựu khoa học từ các chuyên ngành có liên quan như: tôn giáo học, biểu tượng học, du lịch học … để tham chiếu với các giá trị văn hóa của lễ hội Ok Om Bok

- Phương pháp so sánh (Comparative Method): Chúng tôi vận dụng phương

pháp này để tiếp cận mối quan hệ nguồn gốc của lễ hội Ok Om Bok ở Nam Bộ và một số lễ hội ở Ấn Độ và Đông Nam Á Từ đó, ghi nhận được những nét đặc trưng

và tính đặc thù của lễ hội Ok Om Bok trong văn hóa lễ hội của người Khmer Nam

bộ Đồng thời, từ phương pháp này chúng tôi đã tìm thấy quá trình biến đổi văn hóa của lễ hội Ok Om Bok dưới tác động của nền kinh tế - xã hội trong cộng đồng Khmer, cũng như sự tác động của du lịch khi khai thác lễ hội thành sản phẩm du lịch đặc thù

Trang 25

- Phương pháp nghiên cứu thực địa (Field Work Study Meethod): Vận dụng

phương pháp này, chúng tôi tiến hành được ba cuộc khảo sát thực tế tại Sóc Trăng, Trà Vinh (nơi có đông đồng bào Khmer và cũng là nơi có nhiều sự kiện tổ chức trong lễ hội OK Om Bok) vào tháng 11/2015, 8/2016 và 11/2016 Với tư cách là thành viên tham gia lễ hội cùng cộng đồng địa phương, chúng tôi đã thu thập được nhiều hình ảnh và tư liệu về lễ hội Ok Om Bok

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Vận dụng phương pháp này để tiến hành

phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố lịch sử các đối tượng được lựa chọn (các vị Achar,

sư sãi trong chùa, đại diện ban tổ chức, người dân Khmer tham dự lễ hội Ok Om Bok) cũng như những thao tác chính trong quá trình thu thập dữ liệu tại hiện trường Qua đó, chúng tôi thu thập được nhiều nguồn tư liệu, hình ảnh, ý kiến đóng góp quý báu từ những người “trong cuộc” trực tiếp tham gia lễ hội OK Om Bok Đồng thời thấy được nguồn gốc, giá trị văn hóa, những biến đổi của lễ hội

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Chúng tôi tiến hành thiết kế bảng hỏi

định lượng để khảo sát 200 đối tượng là người dân Khmer và 100 đối tượng du khách ở nơi khác đến tham dự lễ hội Ok Om Bok tại Sóc Trăng, Trà Vinh Từ đó, chúng tôi xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 để xác định được sự biến đổi văn hóa trong lễ hội Ok Om Bok, cũng như đánh giá của du khách về lễ hội này Chúng tôi đã ghi nhận lại nhận thức của du khách về giá trị văn hóa lễ hội Ok Om Bok qua

ba hình thái cảm nhận: trước, trong và sau khi tham dự lễ hội Cụ thể các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng gồm: phân tích thống kê mô tả (tần suất (%),

số trung bình) và đánh giá mức độ hài lòng của du khách bằng thang đo Likert 5

mức độ (1: Hoàn toàn không hài lòng, 2: Không hài lòng, 3: Bình thường, 4: Hài lòng, 5: Hoàn toàn hài lòng) Giá trị khoảng cách của các mức độ và ý nghĩa của

từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng cách như sau:

Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minnimum)/n = (5-1) = 0,8

- Giá trị trung bình từ 1,00 đến 1,80: Hoàn toàn không hài lòng

- Giá trị trung bình từ 1,81 đến 2,60: Không hài lòng

- Giá trị trung bình từ 2,61 đến 3,40: Bình thường

Trang 26

- Giá trị trung bình từ 3,41 đến 4,20: Hài lòng

- Giá trị trung bình từ 4,21 đến 5,00: Rất hài lòng 4

5.3 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu đầu tiên chúng tôi tiếp cận là những công trình, kết quả nghiên cứu thuộc các lĩnh vực chuyên môn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến văn hóa,

lễ hội của người Khmer Nam bộ Chúng bao gồm: lịch sử hình thành tộc người, đặc trưng phân bố dân cư, đặc điểm văn hóa vật chất và tinh thần, nhất là văn hóa lễ hội; đời sống kinh tế - xã hội của người Khmer Nam bộ Từ đó, chúng tôi có cơ sở tiếp cận lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ văn hóa của cộng đồng Khmer Nam bộ được hoàn chỉnh hơn

Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành thu thập nguồn tư liệu từ khảo sát điền dã, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố lịch sử; để có cơ sở tham chiếu giữa nguồn tư liệu thực tế sinh động với những nguồn tư liệu kế thừa của các công trình đi trước Những ghi chép điền dã, những tư liệu sưu tầm giúp chúng tôi có thể đưa ra những nhận định thuyết phục hơn, so sánh được sự biến đổi văn hóa trong lễ hội Ok Om Bok, cũng như tìm ra được những hướng mới khi nghiên cứu đề tài luận văn

Cuối cùng, để hoàn thành luận văn này, ngoài nguồn tài liệu bằng tiếng Việt, chúng tôi còn sử dụng những nguồn tại liệu phong phú khác bằng tiếng Anh, tiếng Campuchia (được dịch thuật lại từ những cuộc phỏng vấn hoặc các công trình trước) hoặc có thể tham khảo tại các thưviện, website…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

4 https://phantichspss.com/y-nghia-gia-tri-trung-binh-trong-thang-do-khoang.html (30/7/2015)

Trang 27

Om Bok Đồng thời, đề tài cũng xét đến sự tương tác của văn hóa nông nghiệp, văn hóa Phật giáo đan xen, tồn tại chan hòa trong lễ hội Ok Om Bok Ngoài ghi nhận những giá trị di sản văn hóa của lễ hội, chúng tôi cũng xét đến sự biến đổi của những giá trị này khi đời sống kinh tế-xã hội của chính cộng đồng người dân bị thay đổi và sự tương tác của yếu tố bên ngoài (chính là du khách tham gia hoạt động du lịch) khi lễ hội Ok Om Bok được nâng lên thành sự kiện văn hóa du lịch cấp quốc gia Đó là cơ sở thiết thực để đề tài đưa ra những định hướng thuyết phục trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lễ hội Ok Om Bok trong điều kiện hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với những hướng tiếp cận trên cơ sở lý thuyết về biến đổi văn hóa lễ hội, về mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; chúng tôi hy vọng luận văn sẽ làm phong phú hơn nguồn tài liệu nghiên cứu về văn hóa lễ hội Khmer nói chung và lễ hội Ok Om Bok nói riêng Từ đó góp phần giúp các Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh có những định hướng đúng đắn trong chiến lược phát triển địa phương, nhất là văn hóa và du lịch

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thức tiễn Chương này khái quát cơ sở lý luận

về văn hóa, văn hóa tộc người, di sản văn hóa, du lịch, lễ hội và cơ sở thực tiễn xét

lễ hội Ok Om Bok trong bối cảnh đời sống vật chất và tinh thần của người Khmer Nam bộ Từ đó, làm tiền đề cho việc phân tích những mối quan hệ văn hóa trong lễ hội Ok Om Bok và sự định hướng tốt trong công việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội

Chương 2: Giá trị văn hóa của lễ hội Ok Om Bok và mối quan hệ với các

lễ hội khác Chương này tham chiếu lễ hội Ok Om Bok trong mối quan hệ văn hóa

nông nghiệp, văn hóa Phật giáo và văn hóa lễ hội với một số lễ hội Ấn Độ và Đông

Trang 28

Nam Á Từ đó chúng tôi muốn làm sáng tỏ nguồn gốc các lễ hội, nhằm phân tích những nét tương đồng và khác biệt của các lễ hội

Chương 3: Biến đổi văn hóa và vai trò của lễ hội Ok Om Bok trong phát triển du lịch Chương này, chúng tôi phân tích những nguyên nhân cũng như yếu tố

tích cực, hạn chế của sự biến đổi văn hóa từ bên trong lẫn tác động từ bên ngoài vào

lễ hội Trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu đưa ra định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội Ok Om Bok; làm thế nào để gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống nhưng đồng thời cũng phát huy nó trong điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội như hiện nay

      

Trang 29

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Văn hóa và những vấn đề liên quan

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa học là ngành khoa học hình thành khá muộn so với các ngành khoa

học khác; được đánh dấu sự ra đời bằng công trình Văn hóa nguyên thủy 5 của E.B

Tylor năm 1871 [Viện Văn hóa – Thông tin 2007, tr.7] Ở phương Tây, thuật ngữ

“văn hóa” được nhắc đến đầu tiên năm 1909 là “Kunturkunde” (tương ứng với tiếng Pháp “Culturologie”) do triết gia người Đức Wilhelm Ostwald sử dụng Theo Wilhelm Ostwald “chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hóa” [Dẫn theo Phạm Đức Dương 2013, tr.35] Còn ở phương Đông, thuật ngữ

“văn hóa” đã xuất hiện sớm nhất trong Chu Dịch của Trung Quốc “quan hồ văn dĩ hóa thành thiên hạ” (trong quẻ Bi với ý nghĩa xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ) [Trần Quốc Vượng 1998, tr.18] Qua đó, thuật ngữ “văn hóa”

xuất hiện sớm nhất dù ở phương Đông hay phương Tây đều được xác định gắn liền với hoạt động của xã hội loài người

Tuy ngành Văn hóa học xuất hiện muộn nhưng đã hình thành rất nhiều khái niệm “văn hóa” Định nghĩa văn hóa được nhắc đến sớm nhất là của nhà nhân học

người Anh, E.B.Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy (1987): “Văn hóa hay văn minh hiểu theo ý nghĩa dân tộc học bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực, tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách thành viên của xã hội”

[Dẫn lại theo Phạm Đức Dương 2013, tr.37] Quan điểm của E.B Tylor cho thấy ông không xem văn hóa là một chỉnh thể mà miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa nhưng không bao gồm văn hóa vật chất Còn Leslie Alvin White – người sáng

lập ra bộ môn Văn hóa học đã cho rằng “Văn hóa là lớp vật thể và các hiện tượng phụ thuộc vào khả năng tượng trưng hóa của con người, được xem xét trong một

5 Tylor Edward B 1871, Primitive Culture: Researches into the Development of Mythology,

Philosophy, Religion, Language, Art and Custom, London: J.Murray

Trang 30

văn cảnh” [Dẫn theo Đỗ Lai Thúy 2000, tr.14] Có thể thấy văn hóa đối với ông là

hình thức tổ chức hoàn chỉnh đời sống của con người, theo cách giải thích vật thể - vật chất Đến năm 1952, hai tác giả A.Kroeber và C.Kluckhohn đã nghiên cứu công

trình “Văn hóa: tổng quan về khái niệm và định nghĩa” và đã thống kê được 164 định nghĩa về văn hóa Theo các tác giả, “văn hóa bao gồm những chuẩn mực, nằm

ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu tượng; văn hóa xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ bản của văn hóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt Hệ thống văn hóa có thể được xem xét, một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác như là những sự điều chỉnh những hoạt động đó” [Dẫn theo Đỗ Lai Thúy 2000, tr.14] Qua đó, các tác giả đã nhấn mạnh văn hóa

là kết quả của hoạt động con người, nghiên cứu văn hóa là nghiên cứu các khuôn mẫu hành vi và những đặc điểm của chúng Vì có quá nhiều định nghĩa khác nhau

về văn hóa nên tác giả L.G.Ionin đã tóm tắt những điểm chung nhất của các định

nghĩa kể trên và đã nhận được các tác giả nhất trí Họ thống nhất rằng “Văn hóa: đó

là cái phân biệt con người với động vật; văn hóa đó là đặc trưng của xã hội loài người và không được kế thừa về mặt sinh học mà phải có sự học tập, thâu hóa Văn hóa gắn với những tư tưởng tồn tại và được chuyển tải dưới hình thức biểu trưng thông qua ngôn ngữ” [Dẫn theo Phạm Đức Dương 2013, tr.39] Ngày nay, trên cơ

sở kế thừa những quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, tổ chức UNESCO6 đã

đưa ra định nghĩa văn hóa được nhiều nhà khoa học trên thế giới nhất trí: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [Dẫn theo Phạm Đức Dương 2013, tr.55] Theo ý nghĩa đó, tổ chức

6UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization): tổ chức Giáo dục,

Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

Trang 31

UNESCO đã phân biệt có hai loại di sản văn hóa, đó là di sản văn hóa vật thể

(Tangible cultural heritage) và di sản văn hóa phi vật thể (Intangible cultural heritage)

Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2000), thuật ngữ “văn hóa” có đến năm nghĩa: “(i) Là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (ii) Là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (iii) Là tri thứ, kiến thức khoa học (iv) Là trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (v) Là nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên

cơ sở một tổng thể những di vật tìm thasy có những đặc điểm giống nhau” [Dẫn

theo Pham Đức Dương 2013, tr.50] Như vậy, trong tiếng Việt, thuật ngữ “văn hóa” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ đời sống tinh thần, kiến thức và trình độ Còn về định nghĩa văn hóa, các nhà nghiên cứu nước ta cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời cũng đã phát biểu một quan điểm

về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

[Dẫn theo Chu Xuân Diên 2007, tr.10] Theo quan điểm của Bác, văn hóa rất gần gũi và dễ hình dung qua những sinh hoạt hằng ngày của cuộc sống con người Nhà

nghiên cứu Phan Ngọc trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam (2004) thì nhận định “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này

mô hình hóa theo mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [Phan Ngọc 2004, tr.18] Theo quan niệm này, tác

giả chỉ chú ý đến khía cạnh biểu hiện bên ngoài của văn hóa; những kiểu lựa chọn

khác nhau của cá nhân hay tộc người theo những yêu cầu, những mục đích “bất di

Trang 32

bất biến” để tạo thành bản sắc văn hóa, chứ không phải là biểu hiện khác nhau của

các kiểu lựa chọn Còn theo tác giả Trần Ngọc Thêm, dựa trên phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (xem văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như giá trị, như hoạt động, như ký hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã

hội…); ông đã đưa ra định nghĩa văn hóa với 4 đặc trưng cơ bản: “Văn hóa là một

hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 1999, tr.6] Theo tác giả, bốn đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa như tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử; sẽ thực hiện bốn chức năng của văn hóa, đó là chức năng tổ chức xã hội, chức năng điều chỉnh xã hội, chức năng giao tiếp và chức năng giáo dục Thật vậy, tính hệ

thống của văn hóa giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết, những đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của một nền văn hóa Từ đó, văn hóa được xem là “nền tảng của xã hội” Bên cạnh đó, văn hóa được xem là “thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người”; giúp con người và xã hội không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường Văn hóa là thành quả sáng tạo của con người, trải qua quá trình tích lũy có sự điều chỉnh nên văn hóa còn có tác dụng gắn kết và giáo dục con người trong xã hội Từ định nghĩa văn hóa, tác giả

Trần Ngọc Thêm cũng xác định cấu trúc của hệ thống văn hóa gồm 5 thành tố - văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

[Trần Ngọc Thêm 1999, tr.11-13] Các thành tố của hệ thống văn hóa tùy theo nguyên tắc phân loại các hoạt động sáng tạo của con người mà có sự thay đổi về số lượng thành tố Như tác giả Chu Xuân Diên, văn hóa được phân thành ba thành tố

chính – văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần [Chu Xuân Diên

2007, tr.23] Còn tác giả Trần Quốc Vượng liệt kê chi tiết khá nhiều thành tố của văn hóa như lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn chương,

nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công…[Trần Quốc Vượng 2002, tr.73]

Trang 33

Qua những phân tích từ trong đến ngoài nước, chúng tôi nhận thấy định nghĩa

về văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng Số lượng đinh nghĩa văn hóa dường như không thống kê cụ thể được vì “có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa” [Trần Ngọc Thêm 2014, tr.30] Trong nghiên cứu này, chúng tôi xin ghi nhận định nghĩa văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) làm cơ sở nghiên cứu đối tượng “lễ hội

Ok Om Bok” của người Khmer Nam bộ Cộng đồng người Khmer Nam bộ trong quá trình định cư, hoạt động kinh tế - xã hội đã giúp họ hình thành nên những giá trị văn hóa hết sức phong phú và độc đáo Lễ hội Ok Om Bok là một trong những thành tố tạo nên nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer Nam bộ Lễ hội này không chỉ thể hiện văn hóa của cộng đồng (chủ thể văn hóa của lễ hội) trong phum sóc, mà còn mang nhiều ý nghĩa biểu tượng văn hóa và các mối quan hệ văn hóa khác với môi trường tự nhiên và xã hội

1.1.2 Tộc người và văn hóa tộc người

Theo học giả Pháp R Breton trong công trình nghiên cứu Các tộc người (Les

Ethnies, 1981) thuật ngữ “Ethnies” (tộc người) mới trở nên thông dụng từ sau chiến

tranh thế giới thứ II Theo ông, “Sự thành công của thuật ngữ ethnie không phải là kết quả thúc đẩy của các tư tưởng của chủ nghĩa quá khứ, của chủ nghĩa chủng tộc hay của chính sách chia rẽ; mà nó chứng tỏ nhu cầu đối với việc phải phân tích khách quan các nhóm người và nó cho phép tiên đoán về một sự tiến bộ nhằm giúp

ta đánh giá được một cách hợp lý hơn và chính xác hơn những bộ phận cấu thành khác nhau của nhân loại” [Dẫn theo Nghiêm Văn Thái 2001, tr.165-166]

Các học giả phương Tây đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tộc người nhưng đáng lưu ý nhất là các quan niệm của R Breton (Pháp), Iu.V.Bromlei và

V.I.Kozlov (Liên Xô cũ) Trong công trình Các tộc người (Les Ethnies, 1981), học giả Pháp R Breton lý giải tộc người theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng “Tộc người (ethnie) theo nghĩa hẹp là một nhóm các cá nhân cùng chung tiếng mẹ đẻ (nhóm nói tiếng mẹ đẻ) Còn theo nghĩa rộng, tộc người là một nhóm cá nhân liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung – về mặt nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị -

Trang 34

lịch sử… mà sự kết hợp các tính chất đó làm thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa là chủ yếu: một nền văn hóa Như thế, tộc người được coi là một tập thể, hay đúng hơn là một cộng đồng gắn bó với nhau bởi một nền văn hóa riêng biệt” [Dẫn theo Nghiêm Văn Thái 2001, tr.167-168] Qua đó, tộc người theo nghĩa

hẹp của R.Breton thiếu tính vững chắc khi dựa vào ngôn ngữ sắp xếp các nhóm người vào cùng một tộc người; chỉ có theo nghĩa rộng, tộc người mới được hiểu

hoàn thiện nhất Đến năm 1987, trong chuyên khảo Những quá trình tộc người trong thế giới hiện đại, Viện sĩ Iu.V.Bromlei cho rằng “Tộc người được hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa Mỗi tộc người đều có ý thức về nguồn gốc tộc người của mình” [Dẫn theo Ngô Văn Lệ 2004, tr.21] Quan điểm này của Iu.V.Bromlei đã

có ảnh hưởng sâu sắc trong giới Dân tộc học, Nhân học Xô Viết và cả thế giới, trong đó có Việt Nam Năm 1995, kế thừa các thành tựu của Dân tộc học Xô Viết,

V.I.Kozlov đã bổ sung thêm các luận điểm về tộc người trong chuyên luận Hệ vấn

đề tính tộc người: “Tộc người là một cộng đồng người bền vững được hình thành

về mặt lịch sử mà những điều kiện nảy sinh ra nó là tính cộng đồng lãnh thổ và ngôn ngữ… Trong diễn tiến quá trình hình thành tộc người hình thành nên những nét chung của nền văn hóa vật chất và tinh thần, và dấu hiệu quan trọng nhất của tộc người chính là ý thức tộc người biểu lộ đặc biệt ra cách dùng tên tự gọi chung (tộc danh)” [Dẫn theo Ngô Văn Lệ 2004, tr.22] Ở đây V.I.Kozlov đã làm rõ thêm

định nghĩa tộc người qua việc xác định tính cộng đồng lãnh thổ, ngôn ngữ, tộc danh

và ý thức tộc người

Ở Việt Nam, thuật ngữ “tộc người” (Ethnie) và “dân tộc” (Nations) vẫn không

bị nhầm lẫn trong sử dụng Giới khoa học có sự ý thức trong việc phân biệt hai khái niệm này nhưng còn lại vẫn có thói quen sử dụng từ dân tộc thay thế cho tộc người

Kế thừa luận điểm của Bromlei, năm 1998, nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Ngô

Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp đã đưa ra định nghĩa về tộc người như sau: “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực

cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở

Trang 35

những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình” [Đặng Nghiên Vạn (cb) 1998, tr.20] Còn nhóm tác giả Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng nhấn mạnh “Khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên – lịch sử” [Lê Sỹ Giáo (cb) 1999, tr.8]

Qua ba định nghĩa của các học giả tiêu biểu, có thể nhận thấy việc xác định một định nghĩa về tộc người vẫn còn nhiều tranh luận Do đó, mỗi học giả đều đưa

ra các yếu tố đặc trưng cấu thành tộc người để minh chứng cho quan điểm của

mình Học giả Pháp R Breton đã đưa ra 10 tiêu chí xác định tộc người, đó là: ngôn ngữ, chủng tộc, dân số, lãnh thổ, kinh tế, giai cấp, văn hóa, mạng lưới đô thị, thủ

đô, thể chế chính trị Các nhà dân tộc học và nhân học Xô Viết thì dựa vào 4 tiêu chí: lãnh thổ, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, ý thức dân tộc trong tự giác dân tộc [Dẫn theo Ngô Văn Lệ 2004, tr.25-29] Đây cũng là những tiêu chí định hướng ảnh

hưởng quan trọng cho các nhà dân tộc học và nhân học Việt Nam Ngay từ những năm 70, Viện Dân tộc học Việt Nam tổ chức hai hội thảo và được sự nhất trí của

các nhà khoa học về 3 tiêu chí xác định dân tộc (tộc người) – có tiếng nói chung (ngôn ngữ), có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc (tộc người) [Dẫn theo Ngô Văn Lệ 2004, tr.34] Sau này, ba

tiêu chí được nhiều học giả bổ sung góp ý Tiêu biểu là nhóm tác giả Ngô Văn Lệ,

Nguyễn Văn Tiệp trong giáo trình Dân tộc học đại cương (1996) và giáo trình Dân tộc học đại cương (1999) do Lê Sỹ Giáo chủ biên đều thống nhất 4 tiêu chí: ngôn ngữ, lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế của tộc người, các đặc trưng sinh hoạt – văn hóa và ý thức tự giác tộc người [Lê Sỹ Giáo 2015, tr.103-124]

Các tiêu chí xác định tộc người dù phong phú nhưng không thể phủ nhận: trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi tộc người đều không ngừng sáng tạo những giá trị văn hóa riêng biệt, phù hợp với trình độ kinh tế - xã hội của chính tộc người

đó Vì vậy, trong nghiên cứu dân tộc học, “văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt

Trang 36

tộc người này và tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người” [Ngô Văn Lệ 2004, tr.318] Qua đó nhận thấy,

văn hóa tộc người là thể thống nhất, là một phạm trù rộng không phải chung chung

về văn hóa mà là toàn bộ các khía cạnh đời sống của tộc người như ngôn ngữ, trang phục, tín ngưỡng, văn hóa dân gian, tri thức dân gian, tâm lý dân tộc, hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội…tạo nên sắc thái bản sắc riêng mang tính đặc trưng

và đặc thù của tộc người Mỗi một tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đã

hình thành nên bản sắc văn hóa của mình Trong thực tế, văn hóa của một tộc người

là một thể thống nhất, giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần có sự hòa hợp giao thoa nhau Những giá trị văn hóa đó có sự kế thừa và thay đổi trong cộng đồng Trong quá trình hình thành, phát triển một tộc người còn diễn ra quá trình giao lưu (acculturation), đồng hóa (assimilation), cố kết văn hóa (consolidation) tạo nên những thành tố văn hóa mới của một tộc người Giao lưu văn hóa khác hẳn với đồng hóa và cố kết văn hóa Đồng hóa là sự mất đi hoàn toàn hay gần như hoàn toàn cái bản thân và thay thế hoàn toàn bằng một trạng thái văn hóa mới Cố kết văn hóa

là sự hình thành một sự thống nhất mới lớn hơn, trên cơ sở một loạt những cộng đồng thân thuộc nhỏ hơn, bất cứ sự xâm nhập lẫn nhau giữa các văn hóa của những cộng đồng khác nhau, trong khi những cộng đồng đó vẫn còn giữ lại những nét cơ bản đặc thù riêng của chúng Còn giao lưu văn hóa là sự tiếp thu những nét cơ bản

từ một trạng thái văn hóa ngoại sinh, trong khi vẫn còn giữ lại những nét cơ bản của trạng thái văn hóa nội sinh (ban dầu) ở một dạng phát triển hơn [Ngô Văn Lệ 2004, tr.333]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ tộc người cho

cộng đồng người Khmer Nam bộ, dựa vào định nghĩa trong giáo trình Dân tộc học đại cương (1998) của tác giả Đặng Nghiêm Vạn: “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình” [Đặng

Nghiên Vạn (cb) 1998, tr.20] Cộng đồng người Khmer Nam bộ với tiếng nói, chữ

Trang 37

viết riêng, không gian phum sóc phân bố đặc trưng, sinh sống chủ yếu dựa vào kinh

tế nông nghiệp đã hình thành nên những nét văn hóa tộc người riêng biệt Trên cơ

sở kế thừa lý thuyết về tộc người và văn hóa tộc người, chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu những giá trị văn hóa tiêu biểu của cộng đồng người Khmer Nam bộ (chủ thể văn hóa trong nghiên cứu lễ hội Ok Om Bok) và thành tố văn hóa lễ hội Ok

Om Bok trong quá trình giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội của tộc người này

1.1.3 Du lịch văn hóa

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước được đánh giá có nhiều tiềm

năng phát triển du lịch văn hóa Theo Tổ chức du lịch thế giới UNWTO (United Nation World Tourism Oganization) du lịch văn hóa là loại hình du lịch hướng đến các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” [Dẫn theo Trần Thúy Anh 2011, tr.7] Còn theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích ICOMOS

(International Coucil Monuments and Sites), định nghĩa du lịch văn hóa được gắn

kết với khái niệm bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích, di chỉ: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” [Dẫn theo Trần Thúy Anh 2011, tr.7] Ở Việt Nam, với lợi thế là quốc gia có 54 tộc người cùng sinh

sống với nhiều bản sắc văn hóa đặc sắc độc đáo là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn gợi cảm hứng cho các chương trình du lịch văn hóa Vì vậy Luật du lịch Việt

Nam đã định nghĩa: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [Dẫn theo Trần Thúy Anh 2011, tr.7] Qua các định nghĩa, chúng

Trang 38

tôi nhận thấy mối quan hệ khăng khít của du lịch và văn hóa Văn hóa là tài nguyên

du lịch nhân văn tiềm năng để khai thác và phát triển sản phẩm du lịch thêm phong

phú Du lịch ngược lại, khi khai thác di sản và truyền thống văn hóa các dân tộc, tộc

người phải kết hợp với gìn giữ, phát huy, quảng bá giá trị nhân văn cùng bản sắc

văn hóa của cộng đồng Một yếu tố được nhân mạnh khi phát triển du lịch văn hóa

mà Luật du lịch việt Nam đề cập đến, đó chính là “sự tham gia của cộng đồng” –

chủ thể của của các giá trị văn hóa mà du lịch đưa vào khai thác Sự tham gia này sẽ tạo điều kiện phát triển du lịch khách quan, không vì lợi nhuận du lịch mà làm biến tướng các giá trị văn hóa của cộng đồng, hướng đến sự phát triển du lịch một cách bền vững Đó chính là giá trị mà ngành du lịch thế giới quan tâm và hướng đến khi

phát triển loại hình du lịch văn hóa tại các cộng đồng địa phương

Như vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy du lịch văn hóa dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch bền vững Chủ thể chính tham gia du lịch là cộng đồng Khmer tại địa phương Họ sẽ không chỉ nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ; mà còn nhận được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên

du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp

lý của du khách để mọi tầng lớp dân cư đều có thể được sử dụng, tiêu dùng sản phẩm du lịch

1.2 Lễ hội

1.2.1 Khái niệm lễ hội

Theo tác giả Hồ Hoàng Hoa trong Lễ hội – một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng (1998), trước đây chỉ có khái niệm “lễ” hoặc “hội”; còn khái niệm

lễ hội chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam khoảng vài chục năm trở lại đây [Hồ Hoàng

Hoa 1998, tr.24] Thuật ngữ “lễ hội” hay “hội lễ” cho đến nay vẫn chưa có sự thống

nhất trong giới nghiên cứu Chẳng hạn như trong cuốn Hội hè Việt Nam (1990) các tác giả sử dụng thuật ngữ “hội và lễ hội”; hay như trong cuốn Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (1994) tác giả Đinh Gia Khánh dùng từ “hội lễ” Còn

Trang 39

thuật ngữ “lễ hội” được sử dụng phổ biến hơn như tác giả Hoàng Lương Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc (2002), Huỳnh Quốc Thắng Lễ hội dân gian ở Nam bộ (2003), Vương Tuyển trong Lễ hội dân gian Việt Nam (2009), Nguyễn Quang Lê Bản sắc văn hóa qua lễ hội của người Việt (2014)…Theo tác giả Bùi Thiết giải thích trong Từ điển Hội lễ Việt Nam (2000) “lễ

là các hoạt động đạt đến trình độ lễ nghi; hội là các hoạt động lễ nghi đã phát triển

ở mức cao hơn, có các hoạt động văn hóa truyền thống Khi phần hội phong phú hơn thì gọi là hội lễ; còn phần lễ tổ chức nhiều hơn gọi là lễ hội” [Bùi Thiết 2000:

tr.5] Thuật ngữ lễ hội dường như được sử dụng thống nhất qua văn bản của Bộ Văn hóa Thông tin7 về việc ban hành quy chế tổ chức lễ hội, cũng sử du ̣ng cu ̣m từ “lễ

hô ̣i” Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử du ̣ng khái niệm lễ hô ̣i

Khái niệm lễ hội được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập đến Tác giả Alessandro Falasi nhìn nhận lễ hội như là bộ phận của khoa học xã hội, với tính

chất định kỳ có tác động đến bản sắc văn hóa của cộng đồng“festival (lễ hội) có nghĩa là một hoạt động kỷ niệm định kỳ bao gồm vô số các hình thức và các sự kiện nghi lễ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến tất cả các thành viên của một cộng đồng và công khai ngấm ngầm biểu lộ các giá trị cơ bản, hệ tư tưởng và thế giới quan của các thành viên trong cộng đồng đó, và là nền tảng bản sắc xã hội của họ”

[Dẫn theo Đức Thịnh, tr.131] Còn theo học giả người Nhật Kurahayashi quan niệm

lễ hội gắn liền với sự phát triển văn hóa của một cộng đồng“Xét về tính chất xã hội của lễ hội, lễ hội là quảng trường tâm hồn; xét về tính chất văn nghệ, lễ hội là cái nôi sinh sản và nuôi dưỡng nghệ thuật, mỹ thuật, nghệ thuật giải trí, trò diễn và với

ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên hệ mật thiết với sự phát triển của văn hóa” [Dẫn

theo Võ Văn Thanh, tr.320] Các học giả trong nước cũng có nhiều lý giải về lễ hội

Trong cuốn Bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống người Việt, tác giả Nguyễn

Quang Lê quan niệm lễ hội là một hiện tượng văn hóa – xã hội gắn liền với phong

tục “Lễ hội truyền thống chính là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang

7 Quyết đi ̣nh số 39/2001/ QĐ – BVHTT ngày 23/08/2001 của Bô ̣ Văn hóa – Thông tin về viê ̣c ban hành quy chế tổ chức lễ hô ̣i

Trang 40

đậm bản sắc văn hóa dân tộc Đó là một hiện tượng văn hóa – xã hội rất phong phú

về mặt nội dung và đa dạng về mặt hình thức, song vô cùng phức tạp Cả ba thành tố: lễ, hội, phong tục gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể không thể chia tách được” [Nguyễn Quang Lê 2014: tr.27-29] Theo tác giả Dương Văn Sáu khi

xét mối quan hệ giữa lễ hội và phát triển du lịch đã nhấn mạnh vào tính sự kiện của

lễ hội (có không gian, thời gian, sự tương tác với nhau của cộng đồng) “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội” [Dương Văn Sáu 2004, tr.35] Cùng

quan điểm với tác giả Dương Văn Sáu, trong cuốn Địa lý du lịch (2010) tác giả

Nguyễn Minh Tuệ cụ thể hóa các sự kiện của lễ hội “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một

sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được” [Nguyễn Minh Tuệ 2010, tr.71]

Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam bộ được biết đến là lễ hội nông nghiệp và mang cả màu sắc Phật giáo với nghi lễ cúng tạ ơn thần Mặt trăng mang lại mùa màng tươi tốt, cùng với các hoạt động náo nhiệt như đua ghe Ngo, thả hoa đăng, thả đèn gió Tuy nhiên, theo chúng tôi cả phần lễ và hội trong lễ hội Ok Om Bok là không thể tách rời vì đây là một chỉnh thể, thể hiện mối quan hệ giữa chu kỳ thời tiết với phong tục canh tác nông nghiệp của đồng bào Khmer Nam bộ Vì vậy, qua phân tích những định nghĩa về lễ hội của các tác giả Việt Nam và quốc tế, trong

nghiên cứu này, chúng tôi xin kế thừa và thống nhất khái niệm lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người, diễn ra bối cảnh không gian và thời gian xác định; với các thành tố “lễ” và “hội” có quan hệ hữu

cơ không thể tách rời

Ngày đăng: 22/04/2021, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w