Để góp phần làm rõ hơn về đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt ở Thái Lan, cụ thể là ở Udon Thani; lý giải được một cách khách quan văn hoá Việt trên đất Thái đã thay đ
Trang 1
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN
TỪ NĂM 1946 ĐẾN NAY
(Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, tỉnh Udon Thani)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3thống của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ năm 1946 đến nay (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, tỉnh Udon Thani)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phan Thị Hồng Xuân
Các tư liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Nguyễn Kiều Ngân
Trang 4thống của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ năm 1946 đến nay (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, tỉnh Udon Thani)” tác giả đã gặp không ít khó khăn
Tuy nhiên, nhờ sự động viên, giúp đỡ tận tình từ nhiều phía mà tác giả đã hoàn thành công trình này Qua đây, tác giả xin gửi lời tri ân đến những đơn vị và cá nhân đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, PGS
TS Phan Thị Hồng Xuân, người đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn, từ việc kết nối tác giả với cộng đồng nghiên cứu, hướng dẫn tận tình về mặt chuyên môn đến việc không ngừng động viên, khuyến khích để tác giả hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Hội Hữu nghị Việt Nam – Thái Lan, Hiệp hội Doanh nhân Thái – Việt Nam đã giúp đỡ hết sức tận tình
để tác giả tiếp cận cộng đồng nghiên cứu và có chuyến đi điền dã an toàn, thành công Đồng thời, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú Việt kiều Udon Thani đã hết lòng giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian điền dã, nhờ vậy mà tác giả có thể thu thập đầy đủ những thông tin, dữ liệu cần thiết cho luận văn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa Nhân học, những người đã truyền dạy cho tác giả những kiến thức nền tảng để thực hiện luận văn này Đồng cảm ơn những người bạn đã cùng tham gia, giúp đỡ tác giả trong chuyến đi điền dã đến Udon Thani, Thái Lan
Tác giả luận văn
Hoàng Nguyễn Kiều Ngân
Trang 52 Mục đích nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Bố cục đề tài 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14
1.1 Thao tác hoá các khái niệm 14
1.1.1 Văn hoá và các cách phân loại văn hoá 14
1.1.2 Biến đổi văn hoá 17
1.1.3 Cộng đồng 19
1.1.4 Di cư, tản cư, nhập cư 20
1.2 Lý thuyết nghiên cứu và những chính sách liên quan 21
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu 21
1.2.2 Nghị quyết của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài 23
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 25
1.3.1 Thông tin chung về Thái Lan 25
1.3.2 Miền Đông Bắc Thái Lan và tỉnh Udon Thani 28
1.4 Cộng đồng người Việt ở Thái Lan 30
1.4.1 Tộc danh và các tên gọi khác của người Việt ở Thái Lan 30
1.4.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan 32
1.4.3 Cộng đồng người Việt ở Udon Thani 38
Tiểu kết chương 1 40
Trang 62.1.1 Tình hình chính trị và chính sách đối ngoại của Thái Lan 42
2.1.2 Chính sách của chính quyền Thái Lan đối với cộng đồng người Việt 45
2.2 Hoạt động kinh tế và đời sống văn hoá vật chất của cộng đồng người Việt giai đoạn 1946 – 1988 54
2.2.1 Hoạt động kinh tế 54
2.2.2 Nhà ở, trang phục và ẩm thực 58
2.2.3 Chùa, đền thờ và nghĩa trang 60
2.2.4 Các công trình lưu niệm của Việt kiều hồi hương 62
2.3 Đời sống văn hoá tinh thần – xã hội của cộng đồng người Việt giai đoạn 1946 – 1988 63
2.3.1 Hoạt động tín ngưỡng – tôn giáo 63
2.3.2 Nghi lễ vòng đời 65
2.3.3 Lễ hội truyền thống trong năm 67
2.3.4 Ngôn ngữ và giáo dục 68
2.3.5 Nếp sống trong gia đình 70
2.3.6 Cách thức tổ chức đời sống cộng đồng và ứng xử trong xã hội Thái Lan 71
2.3.7 Tinh thần yêu nước của Việt kiều 73
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3: ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN TỪ NĂM 1988 ĐẾN NAY (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, Udon Thani) 77
3.1 Chính sách của chính quyền Thái Lan đối với cộng đồng người Việt 77 3.1.1 Tình hình chính trị và quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1988 đến nay 77
3.1.2 Chính sách của chính quyền Thái Lan đối với cộng đồng người Việt từ 1988 đến nay 80
3.1.3 Địa vị pháp lý của người Việt ở Thái Lan 82
Trang 73.2.2 Trang phục, ẩm thực và nhà ở 87
3.2.3 Chùa, đền thờ và nghĩa trang 89
3.2.4 Trụ sở Hội người Việt Nam tỉnh Udon và Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh 91
3.3 Đời sống văn hoá tinh thần – xã hội của cộng đồng người Việt ở Udon Thani 93
3.3.1 Hoạt động tín ngưỡng – tôn giáo 93
3.3.2 Nghi lễ vòng đời 97
3.3.3 Lễ hội truyền thống trong năm 99
3.3.4 Ngôn ngữ và vấn đề bảo lưu tiếng Việt 101
3.3.5 Nếp sống trong gia đình và cách ứng xử ngoài xã hội 103
3.3.6 Các tổ chức chính trị – xã hội, hội đoàn của cộng đồng người Việt ở Udon Thani 105
3.3.7 Mối liên hệ của Việt kiều Udon với quê hương Việt Nam 106
3.4 Dự báo xu hướng phát triển của cộng đồng người Việt ở Udon Thani và một số kiến nghị 109
3.4.1 Khó khăn và thuận lợi trong việc bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống 109
3.4.2 Dự báo xu hướng phát triển của cộng đồng 112
3.4.3 Một số kiến nghị nhằm góp phần bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt ở Udon Thani 114
Tiểu kết chương 3 116
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 8DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước” Theo thông tin của Bộ Ngoại giao, hiện có khoảng 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang sinh sống, lao động, học tập tại 104 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới [27] Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất đa dạng, phát triển nhanh từ các thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra ở nước ngoài, người lao động xuất khẩu, tu nghiệp sinh, du học sinh, công dân kết hôn với người nước ngoài Địa bàn cư trú của cộng đồng được mở rộng hầu khắp các vùng lãnh thổ quốc gia trên thế giới, kể cả những khu vực nghèo và đang phát triển như ở châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ hoặc các đảo nhỏ ở Thái Bình Dương Tuy nhiên, đại bộ phận (khoảng 98%) vẫn tập trung ở 21 nước thuộc năm khu vực địa lý: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Úc, trong đó hơn 80% đã nhập quốc tịch nước sở tại [27] Cuộc sống và hoạt động của cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều có những đóng góp và ảnh hưởng nhất định đối với quốc gia sở tại cũng như quan hệ của quốc gia đó với quê hương Việt Nam
Nói về người Việt Nam ở nước ngoài thì cộng đồng người Việt ở Thái Lan
có lịch sử hình thành tương đối sớm và có nhiều đóng góp cho Việt Nam cả trong giai đoạn chiến tranh lẫn hiện tại Theo tài liệu của Uỷ ban người Việt Nam ở nước ngoài (2005) thì đã có “nhiều thương gia và thợ thủ công người Việt đến Thái Lan
từ thế kỷ XV” [8, tr.7] Số liệu của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài và Đại
sứ quán Việt Nam ở Thái Lan cho biết, ở Thái Lan hiện có hơn 100.000 người Việt sinh sống, phân bố rộng ở nhiều vùng như miền Bắc, miền Nam, miền Đông Bắc, miền Trung tâm [9, tr.96] Thế hệ người Việt đầu tiên đến Thái Lan vì nhiều nguyên nhân như đi tìm thị trường buôn bán mới, sinh kế, do loạn lạc, chiến tranh,… rồi dần dần định cư trên đất Thái Trong số đó, cộng đồng người Việt tản cư chiến tranh
Trang 9vào Đông Bắc Thái Lan năm 1946 chiếm số lượng lớn nhất (khoảng 60.000 người được thống kê vào thời điểm tản cư) Đây cũng là cộng đồng người Việt chiếm đa
số ở Thái Lan hiện nay [20, tr28-29]
Ngày nay, miền Đông Bắc là nơi tập trung nhiều người Việt sinh sống nhất Thái Lan Trong đó, người Việt tập trung đông hơn cả ở các tỉnh Nong Khai, Mukdahan, Udon Thani, Nakhon Phanom, Sakon Nakhon, Khon Kaen,… Đặc biệt, tỉnh Udon Thani được xem là “thủ phủ” của cộng đồng người Việt tại Thái Lan do
có số lượng lớn Việt kiều đang sinh sống (khoảng 12.000 người) và nắm vai trò kinh tế quan trọng ở địa phương cũng như có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước Thái
Udon Thani được ví như thủ phủ của Việt kiều Thái Lan không chỉ bởi người Việt tại đây rất thành công trên lĩnh vực kinh tế mà còn vì họ vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá Việt Nam của mình Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, cộng đồng người Việt ở Udon Thani nói riêng và Đông Bắc nói chung vừa ứng biến với các chính sách của chính phủ Thái Lan, vừa ra sức đóng góp cho cuộc kháng chiến dành độc lập của dân tộc, đồng thời cố gắng xây dựng kinh tế, những khó khăn phải đối diện là không sao kể hết Tuy nhiên, họ vẫn luôn hướng về cội nguồn và có ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Vì vậy, tuy trải qua nhiều thăng trầm, văn hoá Việt vẫn không ngừng được bảo tồn và đơm hoa trên đất Thái Đây là một điều có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan, đồng thời cũng là một điểm sáng đáng tự hào của dân tộc Việt Nam Điều này còn là sự cổ động tích cực
để các cộng đồng người Việt ở nước ngoài ra sức bảo lưu và phát huy văn hoá truyền thống của mình nơi quê hương mới
Để góp phần làm rõ hơn về đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt ở Thái Lan, cụ thể là ở Udon Thani; lý giải được một cách khách quan văn hoá Việt trên đất Thái đã thay đổi ra sao qua từng thời kỳ biến động chính trị của hai quốc gia Việt Nam, Thái Lan và khu vực; nhận thức đúng đắn hơn về vai trò,
vị thế của cộng đồng người Việt và cũng như sự tác động của họ đến mối quan hệ
Trang 10Thái Lan – Việt Nam, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ năm 1946 đến nay (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, tỉnh Udon Thani)” Luận văn này nhắm đến những mục tiêu sau:
- Tìm hiểu đời sống văn hóa truyền thống của người Việt tại Đông Bắc Thái Lan nói chung (giai đoạn 1946 – 1988) và Udon Thani nói riêng (giai đoạn
1988 đến nay) Trong các giai đoạn đó, đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt đã có những thay đổi gì, yếu tố nào mất đi, yếu tố nào được thêm vào, yếu tố nào đã từng bị phai nhạt nay hồi sinh trở lại mạnh mẽ, yếu tố nào được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh sống, v.v…, những biến đổi đó tác động ngược trở lại đến đời sống của cộng đồng như thế nào
- Tìm hiểu những nguyên nhân tác động dẫn đến sự thay đổi trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt tại Thái Lan: sự thay đổi trong chính sách của chính phủ Thái Lan, ý thức hệ của cộng đồng, quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá, các yếu tố khác, v.v…
- Góp phần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong phát triển, vai trò của cộng đồng người Việt ở Thái Lan đối với hai nước Việt Nam – Thái Lan
và ý nghĩa của việc xem cộng đồng người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam – gắn với bối cảnh nhất thể hóa Đông Nam Á, xây dựng cộng đồng ASEAN, cộng đồng văn hóa ASEAN, tầm nhìn cộng đồng ASEAN 2025
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn này nhắm đến những mục đích sau:
- Tìm hiểu đời sống văn hóa truyền thống của người Việt tại Đông Bắc Thái Lan nói chung (giai đoạn 1946 – 1988) và Udon Thani nói riêng (giai đoạn
1988 đến nay) Trong các giai đoạn đó, đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt đã có những thay đổi gì, yếu tố nào mất đi, yếu tố nào được thêm vào, yếu tố nào đã từng bị phai nhạt nay hồi sinh trở lại mạnh mẽ,
Trang 11yếu tố nào được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh sống, v.v…, những biến đổi đó tác động ngược trở lại đến đời sống của cộng đồng như thế nào
- Tìm hiểu những nguyên nhân tác động dẫn đến sự thay đổi trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt tại Thái Lan: sự thay đổi trong chính sách của chính phủ Thái Lan, ý thức hệ của cộng đồng, quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá, các yếu tố khác, v.v…
- Góp phần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong phát triển, vai trò của cộng đồng người Việt ở Thái Lan đối với hai nước Việt Nam – Thái Lan
và ý nghĩa của việc xem cộng đồng người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam – gắn với bối cảnh nhất thể hóa Đông Nam Á, xây dựng cộng đồng ASEAN, cộng đồng văn hóa ASEAN, tầm nhìn cộng đồng ASEAN 2025
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
- Nội dung chính của luận văn phân tích dưới góc nhìn nhân học về đời sống văn hóa truyền thống của cộng đồng người Việt ở Udon Thani, Thái Lan từ năm 1946 đến nay
- Tổng hợp và phân tích những khái niệm về tộc danh và tên gọi của người Việt ở Thái Lan theo lịch đại và đồng đại
- Góp phần khẳng định sự cần thiết của nghiên cứu động thái văn hóa trong các nghiên cứu về văn hóa tộc người
Ý nghĩa thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giới thiệu về đồng người Việt ở Thái Lan nói chung, đời sống văn hóa của người Việt tại huyện Mương, Udon Thani nói riêng
- Nội dung của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo về việc hoạch định chính sách của nhà nước đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan (Udon Thani) ví như khai thác thế mạnh của họ trong nhiệm vụ phát triển đất nước, tăng
Trang 12cường khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt, v.v…
- Góp phần khẳng định vai trò văn hóa trong phát triển, tầm quan trọng của công tác kiều bào (đặc biệt là cộng đồng người Việt sinh sống ở các quốc gia Đông Nam Á) đối với Việt Nam trong bối cảnh xây dựng tầm nhìn cộng đồng ASEAN 2025, đẩy mạnh liên kết, hợp tác toàn diện trong nội khối
- Đề xuất một số kiến nghị góp phần giúp cộng đồng người Việt ở Udon Thani bảo lưu và phát huy văn hoá truyền thống
- Nội dung luận văn có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về cộng đồng người Việt ở Thái Lan
Trần Trọng Đăng Đàn với cuốn sách Người Việt Nam ở nước ngoài (1997),
trong đó có đánh giá tổng quan về người Việt tại Thái Lan Gần đây, tác giả xuất
bản cuốn Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có “Việt kiều” (2005), chủ yếu
đề cập đến tên gọi tổ chức, hoạt động của Việt kiều tại Thái Lan
Công trình Việt kiều Lào – Thái với quê hương của Trần Đình Lưu (Trần
Đình Riên) (2004) đã trình bày về quá trình hình thành cộng đồng người Việt trên đất Lào – Thái, phong trào yêu nước của họ qua từng thời kỳ lịch sử và khái quát về cuộc sống của Việt kiều ở Thái Lan từ năm 1964 đến năm 2004 với các truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau và luôn hướng về quê hương, không tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa của Việt kiều
Đề tài Tìm hiểu cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan (chủ nhiệm: PGS TS
Nguyễn Quốc Lộc) công bố năm 2004 đã đưa ra cái nhìn toàn diện về cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan về quá trình hình thành, các phong trào đấu tranh yêu
Trang 13nước của cộng đồng trong hai giai đoạn 1945 – 1954 và 1954 – 1975 Nhóm nghiên cứu cũng trình bày về đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan giai đoạn từ năm 1975 trở về sau ở các mặt quy mô, cấu trúc cộng đồng, các khu vực kiều cư, hoạt động kinh tế, đời sống văn hoá, xã hội, chính sách của Thái Lan đối với Việt kiều,… Trong công trình này, yếu tố văn hoá chỉ là một trong những khía cạnh nghiên cứu chứ không phải là đối tượng khai thác chuyên sâu
Năm 2006, một công trình khác cũng của PSG TS Nguyễn Quốc Lộc được
xuất bản là cuốn sách Người Việt ở Thái Lan – Campuchia – Lào Đây là bức tranh
khái quát về cộng đồng người Việt ở ba nước Thái Lan, Lào, Campuchia Tác giả đi sâu nghiên cứu, phân tích về quá trình di cư và hoạt động yêu nước của người Việt
ở ba quốc gia này, khía cạnh đời sống và văn hoá chưa được khai thác sâu
Cũng trong năm 2006, cuốn sách Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Việt
Nam – Thái Lan đã được xuất bản bằng hai thứ tiếng Đây là công trình nghiên cứu
hợp tác khoa học giữa trường Đại học Chulalongkorn – Thái Lan và Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam dưới sự tài trợ của quỹ Rockerfeller, Mỹ bởi tiến sĩ Thanyathip Sripana (người Thái) và tác giả Trịnh Diệu Thìn Có thể nói đây là công trình mô tả đầy đủ nhất về Việt kiều tại Thái Lan Các tác giả đã tiếp cận được rất nhiều nguồn tài liệu của cả hai nước để phân tích rõ quá trình di cư của người Việt sang đất Thái, vai trò của người Việt trong quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thái Lan, phong trào yêu nước của Việt kiều, các chính sách của chính phủ Thái đối với họ, hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của người Việt kể cả những người Việt đang sống ở Thái Lan và đã hồi hương về nước Ngoài ra, tác giả Thanyathip Sripapa cũng có một bài viết khác đăng trước đó (2004) trên tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á là bài viết Cộng đồng người Việt Nam ở Đông Bắc Thái
Lan Trong bài viết này, tác giả trình bày về tên gọi của cộng đồng người Việt ở
Thái Lan, cuộc di cư của Việt kiều vào Thái Lan tháng 3/1946, chính sách của chính phủ Thái đối với người Việt Nam tản cư trong quá khứ và tiềm năng của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc
Trang 14Bài viết Quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của người Việt ở Đông Bắc
Thái Lan của tác giả Nguyễn Hồng Quang đăng trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam
Á số 5/2011 đã khái quát cơ bản về việc bảo lưu văn hóa Việt và hội nhập văn hóa Thái thông qua việc phân tích một số nét văn hóa cơ bản như ngôn ngữ, văn hóa ẩm thực, các phong tục cưới hỏi, tang ma,…, những nguyên nhân tác động đến sự bảo lưu và hội nhập văn hóa của người Việt ở Đông Bắc Thái Lan (thế hệ di cư sau năm 1945)
Tác giả Phan Thị Hồng Xuân với bài viết Truyền thống yêu nước của người
Việt Nam ở Thái Lan trong giai đoạn hiện nay đăng trong Tuyển tập Nhân học và
Cuộc sống số 01/2014 cho thấy truyền thống yêu nước của cộng đồng người Việt ở Thái Lan trong giai đoạn hiện nay với những biểu hiện cụ thể đó là bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống; làm sứ giả về chủ quyền biển đảo Việt Nam; mong muốn chính phủ Việt Nam tạo điều kiện để được góp phần xây dựng quê hương, được quan tâm hơn trên lĩnh vực văn hóa, tinh thần Đặc biệt, trong bài viết tác giả còn
đề cập đến cộng đồng người Việt ở Thái Lan với vai trò như là cầu nối cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Thái Lan
Các nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở tỉnh Udon Thani nói riêng có các bài viết của các tác giả sau:
Loạt bài viết về cộng đồng người Việt ở Udon Thani cũng của tác giả Phan
Thị Hồng Xuân như Chùa Việt tại Thái Lan: Biểu tượng văn hoá và cầu nối cho
mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan (Trường hợp chùa Việt tông ở tỉnh Udon Thani, Đông Bắc Thái Lan) đăng trên tập san Giáo Hội Phật giáo Việt Nam 35 năm hình
thành và phát triển; Cộng đồng người Việt ở Udon Thani, Thái Lan (Đôi điều ghi
nhận từ những chuyến đi điền dã dân tộc học), tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu
Á số 7/2016; Vài nét về đời sống của cộng đồng người Việt ở tỉnh Udon Thani, Thái
Lan, Tạp chí Dân tộc học, số 1 (199)/2017 Trong các bài viết này, tác giả đã giới
thiệu sơ lược về cộng đồng người Việt ở Udon Thani, trình bày về sự kết nối trong cộng đồng, việc giữ gìn bản sắc văn hoá Việt của Việt kiều và khẳng định địa vị
Trang 15mới của cộng đồng thông qua các hoạt động kinh tế Riêng bài viết về chùa Việt, qua việc phân tích hình ảnh chùa Việt tại Udon Thani (chùa Khánh An), tác giả đã góp phần chứng minh chùa Việt và Phật giáo Việt tông là chiếc cầu nối văn hoá quan trọng góp phần làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Thái Lan
Bài viết Một số đặc điểm về kinh tế – văn hoá của cộng đồng người Việt định
cư ở tỉnh Udon Thani (Thái Lan) của tác giả người Thái Pisit Amnuayngerntra
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 12 (201)/2016 Trong bài viết, tác
giả khái quát về tỉnh Udon Thani và sự hình thành cộng đồng người Việt ở Udon cũng như đời sống của họ qua các giai đoạn lịch sử Từ đó, tác giả trình bày về đời sống kinh tế và văn hoá của cộng đồng
Trên đây là một số công trình nghiên cứu cơ bản nhất về người Việt ở Thái Lan Hầu hết các công trình này mang tính khoa học và có độ tin cậy lớn, có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về người Việt ở Thái Lan Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu vào khai thác, như trước sự thay đổi chính sách của chính phủ Thái Lan, văn hoá của cộng đồng người Việt ở Thái Lan (cụ thể là ở miền Đông Bắc) đã thay đổi ra sao Toàn cầu hoá và sự hình thành Cộng đồng ASEAN đã tác động đến văn hoá của cộng đồng người Việt ở Thái Lan như thế nào,… Điểm luận, kế thừa cũng như phản biện những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi tiếp cận và nghiên cứu đề tài trong bối cảnh hiện nay, đi sâu vào tìm hiểu những biến đổi trong văn hóa của người Việt tại huyện Mương, Udon Thani, với mong muốn góp thêm một cái nhìn mới mẻ, khách quan về đời sống của cộng đồng người Việt tại Udon Thani nói riêng và Thái Lan nói chung
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt tại miền Đông Bắc Thái Lan và tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani
Trang 16Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cộng đồng người Việt miền Đông Bắc Thái Lan nói chung từ năm 1946 đến 1988 (trong đó bao gồm cộng đồng người Việt tại Udon Thani) và cộng đồng người Việt tại huyện Mương, Udon Thani nói riêng từ năm 1988 đến nay Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thu thập thông tin từ những người Việt đang sinh sống tại bốn ngôi làng Việt: Sàng Luổng, Bạn Chích, Xì Dẹc, Hà Dẹc Đây là những nơi người Việt tập trung sinh sống đông
và lâu đời
Do phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani nên đề tài chỉ có giá trị trong không gian khảo sát, không có giá trị bao quát cho toàn đất nước Thái Lan Tuy nhiên, chúng tôi hi vọng rằng kết quả nghiên cứu cũng
có thể có giá trị tham khảo hữu ích về những vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa truyền thống của người Việt tại Thái Lan trên phạm vi rộng lớn hơn
Đề tài này vì những giới hạn của tư liệu về cộng đồng người Việt tại Udon, cũng như những điều kiện nghiên cứu về thời gian, kinh phí (nghiên cứu ở địa bàn ngoài nước) và năng lực của tác giả có hạn nên chỉ dừng lại ở những mô tả dân tộc học là chính, chủ yếu phác họa những nét văn hóa đặc thù và cơ bản của cộng đồng tại đây Đề tài cũng có một số lý giải đối với hiện trạng văn hóa, ngôn ngữ, ý thức tộc người nhưng chưa ở mức độ chuyên sâu về lý giải cho hành vi của chủ thể và văn hóa Chúng tôi mong muốn trong thời gian tới tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn những nội dung còn bỏ ngõ trong luận văn này
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Lịch sử và Dân tộc học/Nhân học, cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Nghiên cứu đời sống văn hoá truyền thống gắn với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng qua hai giai đoạn lịch sử từ năm 1946 – 1988 và từ năm 1988 đến nay
Trang 17- Phương pháp nghiên cứu Dân tộc học/Nhân học: Chủ yếu là nghiên cứu định tính qua tư liệu điền dã dân tộc học, phỏng vấn, quan sát tham dự, so sánh đối chiếu,… với các thao tác sau:
+ Phỏng vấn sâu: được tiến hành trong bối cảnh tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani, Thái Lan Phỏng vấn sâu nhằm lí giải những hiện trạng văn hóa của người Việt hiện nay tại Udon Nội dung phỏng vấn chính yếu là các vấn đề cơ bản cần được khái quát như kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo,
+ Phỏng vấn lịch sử qua lời kể: Người Việt tại Thái Lan (Udon Thani) cũng có những trải nghiêm đặc thù riêng biệt tại Thái Lan Những biến đổi về quan điểm chính trị, tình hình đất nước Thái Lan qua từng thời kỳ khác nhau thì chính sách dành cho người Việt cũng khác nhau Những câu chuyện cá nhân đời người luôn là một phần của lịch sử cộng đồng ở một góc độ này hay góc độ khác Phỏng vấn lịch
sử qua lời kể sẽ giúp cho tác giả có thể kết nối được diễn trình câu chuyện đời người Việt tại Udon bối cảnh sống từ quá khứ đến hiện tại
Kết hợp hai phương pháp phỏng vấn trên phần nào sẽ giúp cho đề tài có được những tư liệu sơ cấp định tính trực quan đáng tin cậy để từ đó tác giả dùng làm cơ sở đánh giá và kết luận cho những nội dung mà tác giả sẽ nghiên cứu
Chọn mẫu: Thiết kế của đề tài sẽ chọn mẫu tại cả bốn làng Việt tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani Chọn mẫu tại địa bàn nghiên cứu của bốn làng này vì đây
là khu vực tiêu biểu có đông dân cư người Việt định cư Chúng tôi chọn mẫu dựa trên việc phân chia mẫu thành hai nhóm: Nhóm giữ các chức vụ trong cộng đồng và nhóm không giữ các chức vụ lãnh đạo trong cộng đồng
Nhóm giữ các chức vụ trong cộng đồng trước tiên là thành viên Ban chấp hành Hội người Việt Nam tỉnh Udon Phỏng những thành viên của Hội này vì qua quá trình đi thực địa điền dã tác giả nhận thấy những người này hiện nay có vai trò quan trọng trong việc duy trì và củng cố văn hóa của cộng đồng người Việt tại Thái Lan Có thể nói phỏng vấn nhóm này cũng nhằm hiểu rõ hành vi của cá nhân họ vì
Trang 18công việc giữ gìn bản sắc tộc người và hành động duy trì văn hóa là dựa trên ý thức
tự giác tộc người của họ
Một nhóm có chức vụ trong cộng đồng nữa là thành viên Ban chấp hành Hội Doanh nhân Thái – Việt Nam tỉnh Udon Thani Những doanh nhân này vừa là con người duy lý vừa mang tính ý thức tự giác tộc người vì họ đa số là những nhà tài trợ hoặc vận động tài trợ cho các chương trình bảo tồn và phát triển văn hóa của người Việt tại Udon Ở họ có yếu tố duy lý trong kinh doanh và có cả yếu tố hành động vì
ý thức tự giác tộc người Hai yếu tố này cùng tồn tại trong họ và tương hỗ lẫn nhau
Có thể nói vai trò của nhóm này không hề kém hơn những người có chức sắc trong Hội người Việt Nam tỉnh Udon thay thậm chí là hơn Hoạt động của nhóm này thậm chí còn mang tính xuyên quốc gia vì những công việc đâu tư kinh doanh ra nước ngoài, đầu tư về Việt Nam
Nhóm không giữ các chức vụ: Nhóm này được hiểu theo nghĩa là nhóm cộng đồng còn lại với hoạt động mưu sinh nhiều ngành nghề khác nhau nhưng chủ yếu là kinh doanh Phỏng vấn nhóm này để thấy rõ những nét văn hóa, ý thức tự giác tộc người và ngôn ngữ người Việt được thể hiện như thế nào trong cộng đồng Tính đa dạng và thông tin chiều sâu của nội dung đề tài phần nào sẽ được lý giải nếu kết hợp thông tin từ hai nhóm này sẽ cho đề tài một bức tranh tương đối hoàn chỉnh và cơ bản về cộng đồng người Việt tại đây
Bên cạnh đó, chúng tôi còn giữ mối liên hệ thường xuyên với một vài Việt kiều thông qua mạng xã hội (facebook) để tiếp tục trò chuyện, cập nhật thông tin, hình ảnh và những hoạt động văn hoá của Việt kiều trong thời gian sau khi kết thúc điền dã tại Udon Thani, Thái Lan (đã được sự cho phép của chủ các tài khoản facebook đó)
+ Quan sát tham dự: Cùng với phương pháp phỏng vấn sâu, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát tham dự trong suốt quá trình đi thực địa tại Udon Thani Phương pháp này cho chúng tôi cái nhìn tổng quát hơn về đời sống của người Việt tại huyện Mương, Udon Thani và những hoạt động văn hóa của họ cũng như thái độ,
Trang 19hành vi, cách ứng xử của họ trước những thay đổi của văn hoá đã và đang diễn ra Các thông tin thu thập từ phương pháp này được chúng tôi ghi lại dưới dạng chú thích và nhật ký điền dã, và được thể hiện trong đề tài dưới dạng miêu tả
+ So sánh đối chiếu: So sánh đối chiếu những biến đổi văn hóa giữa các giai đoạn lịch sử ở Việt Nam và Thái Lan có tác động đến cộng đồng nghiên cứu, giữa các nhóm người Việt ở cùng và khác độ tuổi để tăng thêm độ sâu cho đề tài
+ Thu thập và xử lý thông tin hình ảnh: Hình ảnh được thu thập trong quá trình nghiên cứu thực địa bằng cách quay phim, chụp ảnh lại các vấn đề, sự kiện có liên quan để minh họa rõ nét hơn và tăng tính thuyết phục cho đề tài
+ Nghiên cứu tài liệu: Để bổ sung và làm phong phú hơn nguồn thông tin phục vụ nội dung nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về người Việt ở Thái Lan, các bài báo cáo khoa học, những bài báo, văn bản liên quan đến vấn đề người Việt tại Thái Lan Những tài liệu này sẽ trang bị cho chúng tôi những vấn đề lý luận cần thiết để thực hiện đề tài cũng như cung cấp thêm nhiều thông tin giúp mang lại cái nhìn tổng thể, toàn diện khi nghiên cứu đề tài
Để thu thập dữ liệu, chúng tôi đã đi thực địa tại Thái Lan từ ngày 8/8/2015 đến 15/8/2015
Trang 20Đồng thời, trong chương này chúng tôi khái lược về quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan
Chương 2: Đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt ở Thái Lan (Từ năm
1946 đến năm 1988)
Chương này trình bày về chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng người Việt (chủ yếu là người Việt tản cư) giai đoạn 1946 – 1988 Trong tình hình đó, đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan đã diễn
ra như thế nào, có những biến đổi gì, đặc biệt tinh thần yêu nước của cộng đồng được thể hiện bằng những việc làm và hành động ra sao Qua đó, những nội dung của chương hai sẽ trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu được đặt ra ban đầu (trong giới hạn thời gian từ năm 1946 đến năm 1988)
Chương 3: Đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ năm
1988 đến nay (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Mương, Udon Thani)
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu về thân phận, địa vị pháp lý của người Việt ở Thái Lan, tập trung nghiên cứu về đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt ở Udon Thani về mọi mặt văn hoá vật chất, tinh thần, xã hội từ năm 1988 đến nay Qua đó tìm ra câu trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra (trong giới hạn thời gian từ năm 1988 đến nay) Đồng thời, chúng tôi đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển của cộng đồng trong thời gian sắp tới, chứng minh được giả thuyết đặt ra ban đầu
Trang 21CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Thao tác hoá các khái niệm
1.1.1 Văn hoá và các cách phân loại văn hoá
1.1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một từ được sử dụng rất phổ biến trong khoa học cũng như trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, đây lại là một khái niệm đa nghĩa và rất khó để đưa
ra một định nghĩa hay một cách giải thích thống nhất
Tuỳ theo các chiều hướng nghiên cứu văn hoá khác nhau mà các nhà khoa học đưa ra những khái niệm văn hoá cho riêng mình Một trong những định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hoá là của nhà nhân học E B Tylor đưa ra trong cuốn Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive Culture) (1971), trong đó văn hoá bao gồm tất cả các trải nghiệm của con người: “Văn hoá hay văn minh là một phức hệ bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ các khả năng và thói quen nào khác mà con người có được như là một thành viên của xã hội.” Định nghĩa này chú trọng đến khía cạnh phi vật chất của văn hoá và ông đã xem văn hoá và văn minh là một [12, tr.163]
Sau Tylor, hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá đã được đưa ra Tuy nhiên, đa số các nhà nhân học ngày nay hiểu khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, theo đó “văn hóa là một lối sống (way of life) được chia sẻ, bao gồm các giá trị, niềm tin và các quy chuẩn được lan truyền trong một xã hội cụ thể từ thế hệ này sang thế hệ khác” (Scupin, Raymond và Decorse, Christopher R 1998, 200) [12, tr.164]
UNESCO cũng đã từng đưa ra một định nghĩa về văn hoá vào năm 1988 như sau: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị,
Trang 22các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc.” [2, tr.10]
Hồ Chí Minh cũng từng nêu quan điểm về văn hoá như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Dẫn theo: Vũ Khiêu (chủ biên), 2000, tr 747 – 748) [2, tr.10]
Theo giáo sư Nguyễn Từ Chi, có thể định văn hoá từ hai góc độ Ở góc độ thứ nhất là góc hẹp mà ông gọi là “góc nhìn báo chí”, văn hoá được hiểu là kiến thức của con người và xã hội Như vậy, người nông dân dù cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ thì vẫn bị coi là “không có văn hoá”, vì tiêu chuẩn văn hoá ở đây chủ yếu là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Ở góc độ thứ hai, góc nhìn “dân tộc học”, cày ruộng là văn hoá – văn hoá sản xuất và người cày ruộng giỏi là người “có văn hoá” Từ góc độ này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng Đây cũng là cách định nghĩa văn hoá thường dùng trong
nghiên cứu khoa học (Trong bài Từ định nghĩa của văn hoá, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 1996, tr 53 – 67) [2, tr.7]
Dù là dưới góc nhìn phương Tây hay theo quan điểm của các nhà khoa học trong nước, ta có thể thấy văn hoá là một sản phẩm của con người và gắn liền với xã hội loài người Văn hoá là một quá trình tích luỹ qua nhiều thế hệ chứ không phải được hình thành một sớm một chiều Và vì văn hoá được hình thành trong những xã hội cụ thể nên mỗi tộc người khác nhau sẽ mang những đặc trưng văn hoá riêng Vì những lý do này và sự phù hợp của khái niệm đối với nội dung nghiên cứu, trong
công trình này chúng tôi sử dụng khái niệm văn hoá của Trần Ngọc Thêm: “Văn
hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
Trang 23và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” [17, tr.10]
1.1.1.2 Các cách phân loại văn hoá
Cho đến nay đã có có nhiều cách phân loại văn hoá khác nhau [12, tr.167, 170-173]:
+ Cách phân loại phổ biến thường chia văn hoá thành ba thành tố văn hoá vật chất, văn hóa tinh thần và văn hoá xã hội Cũng có nơi gộp văn hóa xã hội vào văn hóa tinh thần
+ E S Markarian (1983) chia văn hoá thành hai bộ phận, bộ phận thứ nhất gồm
“văn hoá sản xuất ban đầu và văn hoá đảm bảo đời sống” (tương ứng với khái niệm văn hoá vật chất), bộ phận thứ hai gồm “văn hoá định chuẩn xã hội và văn hoá nhân văn” (tương ứng với khái niệm văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội)
+ Richley Crapo chia văn hoá thành các tiểu hệ thống văn hoá (cultural subsystems), bao gồm ba phân hệ: kỹ thuật công nghệ (technology), tổ chức xã hội (social organization) và hệ tư tưởng (ideology) Ba phân hệ này đều có mối quan hệ tương
hỗ, tác động bổ sung lẫn nhau
+ UNESCO chia văn hoá thành hai thành tố là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, trong đó văn hoá vật thể là những yếu tố vật chất trong văn hoá còn văn hoá phi vật thể là những yếu tố tinh thần trong văn hoá, hai thành tố này luôn có sự gắn bó hữu cơ với nhau chứ không tách biệt riêng lẽ
Trong công trình này, chúng tôi chọn cách chia văn hóa thành ba thành tố là văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội, trong đó:
Văn hóa vật chất (material culture) là tổng hòa tất cả các sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định như cơ sở tôn giáo, nhà ở, trang phục, ẩm thực,…
Văn hóa tinh thần (spiritual culture) hội tụ những khía cạnh thuộc về các lĩnh vực học thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật,…
Trang 24Văn hóa xã hội (social culture) bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội, các quy tắc xã hội về hôn lễ, tang lễ, các thiết chế văn hóa, xã hội,…
Sự phân chia văn hóa thành văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá
xã hội chỉ mang ý nghĩa tương đối vì giữa các thành tố này không thể có sự phân chia ranh giới rạch ròi mà thành tố này là tiền đề, là hình thức tồn tại của thành tố kia, chúng bổ sung và có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau
để trở thành tổng thể văn hóa tộc người [12, tr.169]
1.1.2 Biến đổi văn hoá
“Văn hoá có tính ổn định, tính bền vững vì về mặt phát sinh và phát triển, văn hoá được tích luỹ, được truyền lại, được tái tạo trong một cộng đồng, và về mặt chức năng, văn hoá có cứu cánh là tổ chức xã hội, tạo ra sự ổn định, sự bền vững của cuộc sống con người trong cộng đồng Do đó xã hội nào, cộng đồng nào cũng
có truyền thống văn hoá của nó.” [2, tr.28] Tuy nhiên, trong thực tế không có một nền văn hoá nào tồn tại ở trạng thái tĩnh hoàn toàn “Văn hoá biến đổi vì văn hoá như một phức hệ các vật thể, ý tưởng và các dạng thức hành vi được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác qua quá trình học hỏi.” [12, tr.176] Tuỳ vào các nhân tố chi phối mà các nền văn hoá biến đổi nhanh hay chậm, biến đổi một hay nhiều yếu tố
Ta gọi sự biến đổi văn hoá là động thái văn hoá “Động thái văn hoá tộc người là một quá trình trong đó có các yếu tố văn hoá truyền thống bền vững, có yếu tố mất
đi, có yếu tố được tái tạo, có yếu tố biến đổi, cách tân,…” [12, tr.176]
Có hai yếu tố chi phối sự biến đổi văn hoá là biến đổi xã hội (yếu tố nội sinh)
và tiếp xúc, giao lưu văn hoá (yếu tố ngoại sinh) Nền văn hoá cụ thể nào cũng là nền văn hoá của một xã hội cụ thể, văn hoá không thể tồn tại bên ngoài xã hội, vì vậy sự biến đổi văn hoá liên quan chặt chẽ đến sự biến đổi xã hội Bên cạnh đó, sự tiếp xúc kinh tế – xã hội giữa các nhóm người, các cộng đồng, các dân tộc,… đã tạo
ra sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá Qua việc tiếp xúc đó, một số yếu tố văn hoá của cộng đồng người này có thể lan truyền đến cộng đồng người kia Khi yếu tố văn hoá
Trang 25lan truyền ấy được tiếp nhận, nó đã tạo nên một sự biến đổi văn hoá trong cộng đồng tiếp nhận nó [2, tr.29-31]
Các nền văn hoá biến đổi theo hai quá trình cơ bản: thay đổi nội sinh (cách tân – innovation) và thay đổi ngoại sinh (khuyếch tán văn hoá – cultural diffusion) Cách tân là những tư tưởng hay dạng thức hành vi mới xuất hiện trong một xã hội Cách tân có thể lan truyền đến các nền văn hoá khác và sự cách tân giống nhau có thể xuất hiện một cách độc lập ở những nền văn hoá khác nhau tại những thời điểm khác nhau Khuyếch tán văn hoá là sự phổ biến của một yếu tố văn hoá từ một nền văn hoá này sang một nền văn hoá khác Trong quá trình biến đổi văn hoá có thể nảy sinh các hiện tượng sau: sự phát minh/ cách tân văn hoá, sự khuyếch tán và sự tiếp biến văn hoá Tiếp biến văn hoá là một quá trình vay mượn ép buộc, là một loại khuyếch tán đặc biệt diễn ra khi hai xã hội thường xuyên tiếp xúc với nhau Cả hai nền văn hoá phụ thuộc và nổi trội đều có những biến đổi nhưng nền văn hoá phụ thuộc biến đổi mạnh mẽ hơn, thậm chí có thể biến mất, hội nhập như một tiểu văn hoá đặc trưng của nhóm nổi trội hay bị đồng hoá vào nhóm nổi trội Mức độ áp lực ngoại sinh đối với nền văn hoá phụ thuộc khác nhau tuỳ tình huống Quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá thường diễn ra hiện tượng cộng sinh văn hoá “Cộng sinh văn hoá là sự cùng tồn tại của yếu tố nội sinh và ngoại sinh của nhiều yếu tố văn hoá thuộc những nền văn hoá khác nhau.” Nhiều yếu tố văn hoá ngoại sinh sau khi thâm nhập vào nền văn hoá bản địa đã được tiếp nhận và trở nên hoà hợp với văn hoá nội sinh, lâu dần trở thành yếu tố nội sinh, gọi là yếu tố văn hoá được “nội sinh hoá”,
“bản địa hoá” [12, tr.177-182]
Liên hệ đến cộng đồng người Việt ở Udon Thani, từ năm 1946 đến nay, trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, các yếu tố văn hoá truyền thống của cộng đồng đều có ít nhiều thay đổi Sự thay đổi này chủ yếu là do cộng đồng chủ động lựa chọn thay đổi, trong đó có những thay đổi là bắt buộc để tồn tại (do chính sách của chính phủ Thái đối với người Việt qua từng thời kỳ), có những thay đổi là tự nguyện để thích nghi, hoà nhập với môi trường mới Trong quá trình đó, sự giao lưu tiếp biến với văn hoá bản địa Thái Lan của cộng đồng người Việt đã diễn ra hết sức
Trang 26tự nhiên bởi sự hài hoà, tương đồng trong hai nền văn hoá Nhiều yếu tố văn hoá Thái được cộng đồng tiếp nhận và thay đổi cho phù hợp với văn hoá Việt
1.1.3 Cộng đồng
Theo từ điển tiếng Việt, cộng đồng là toàn thể những người sống thành một
xã hội, có những đặc điểm giống nhau, gắn bó thành một khối, như cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng tộc người [16, tr.297]
Theo viện Thông tin khoa học xã hội đưa ra vào năm 1990, cộng đồng được hiểu là “mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bới các lợi ích chung của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất
và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi của họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị
và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động” [32, tr.3]
Cộng đồng theo quan điểm của Ferdinand Tonnies có các đặc trưng sau: Thứ nhất, những quan hệ xã hội nào mang tính chất tinh thần, thân thiện, mang độ cố kết có ý nghĩa tự nhiên thì đây là tính cộng đồng
Thứ hai là tính bền vững Tính cộng đồng được khẳng định theo dòng chảy của lịch sử Thời gian có một vai trò là yếu tố kết dính các thành viên trong cộng đồng
Thứ ba là tính cộng đồng khi được xét từ quan điểm đánh giá và vị thế xã hội của các thành viên xã hội thì đó là vị thế xã hội được gán sẵn nhiều hơn là vị thế phấn đấu mà có được
Cuối cùng, tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ là quan niệm cơ bản và mang
cả hai đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ trở thành khuôn mẫu văn hoá của sinh hoạt cộng đồng (Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, 2000) [32, tr.3]
Các nhà nghiên cứu Việt Nam như nhà tâm lý học Đỗ Long (2000), nhà sử học Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (1996), Phan Đại Doãn (2008), nhà dân tộc học
Trang 27Trần Từ (1984), Ngô Văn Lệ (2007) đều có sự nhất trí khá cao khi xem làng xã là một dạng cộng đồng gắn liền với đơn vị cư trú của người Việt [32, tr.4] Ứng với điều này, khi nghiên cứu về cộng đồng người Việt tại huyện Mương, Udon Thani, chúng tôi nhận thấy rằng người Việt ở đây gọi nơi cư trú của họ là “làng” gắn với địa danh cư trú như làng Bạn Chích, làng Sàng Luổng, làng Xì Dẹc v.v…1
di dân [1, tr.7]
Năm 1958, Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về di dân như sau: “Di dân là sự
di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này vào một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định.” [1, tr.9]
Như vậy, có hai hình thức di dân chủ yếu là di dân nội địa và di dân quốc tế
Di dân nội địa là sự di chuyển trong phạm vi một nước còn di dân quốc tế là sự di chuyển từ quốc gia này tới quốc gia khác [21, tr.12]
Nghiên cứu nguyên nhân di dân, các nhà khoa học và quản lý đều cho rằng, nguyên nhân di dân phổ biến nhất là nguyên nhân kinh tế, trong đó đặc biệt rõ rệt đối với luồng di dân nông thôn – đô thị Ngoài ra còn có khác nguyên nhân di dân khác như nguyên nhân chính trị, tôn giáo, chiến tranh, tâm lý,… và các biến động tự nhiên như động đất, núi lửa, lũ lụt, hạn hán,…[1, tr 17]
1
Tài liệu phỏng vấn và Nhật ký điền dã tháng 08/2015
Trang 28Di cư vì lý do chính trị, chiến tranh được gọi là tản cư Theo từ điển tiếng Việt, tản cư là tạm rời nơi đang ở đến ở nơi xa chiến sự hơn để tránh tai nạn chiến tranh, như, tản cư về nông thôn, giúp đỡ đồng bào tản cư [16, tr.1186] Như vậy, người Việt đến Đông Bắc Thái Lan, ban đầu là tản cư vì lý do chiến tranh, nhưng sau đó vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà họ đã định cư trên đất Thái, hình thành nên cộng đồng người Việt ở đây
Nhập cư là khái niệm ngược với di cư Nhập cư là đến ở hẳn một nước khác nào đó để sinh sống, nói trong quan hệ với nước khác đó [16, tr.950] Tuy nhiên, khái niệm nhập cư ngày nay được sử dụng cũng bao hàm nghĩa đến ở một địa phương khác trong cùng một quốc gia, ví như ta thường sử dụng cụm từ “dân nhập cư” để chỉ những người từ địa phương khác đến các thành phố lớn như thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội,… sinh sống
Người di cư từ địa phương cũ gọi là dân xuất cư Người nhập cư đến nơi ở mới gọi là dân nhập cư [1, tr.7]
1.2 Lý thuyết nghiên cứu và những chính sách liên quan
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện công trình này, chúng tôi sử dụng lý thuyết sự lựa chọn duy lý của Fredrik Barth Theo Fredrick Barth, cá thể lựa chọn hành động của mình dựa trên tính toán lợi ích (benefit), chi phí (cost), và xác xuất thành công của hành động đang được xem xét (probability of success) Quy ước xã hội và mô thức văn hoá là kết quả của sự lựa chọn của các cá thể và là những thực thể động [6] Thái Lan là một đất nước có tình hình chính trị nhiều biến động, đồng thời, mối quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thái Lan cũng trải qua nhiều thăng trầm theo từng giai đoạn lịch
sử Do vậy, chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan cũng có nhiều biến đổi qua từng thời kỳ mà điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, văn hoá của cộng đồng người Việt ở huyện Mương, Udon nói riêng và cộng đồng người Việt ở Thái Lan nói chung
Trang 29Với ứng dụng của lý thuyết duy lý vào bối cảnh nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào các vấn đề: những hành vi chọn lựa của cá thể người Việt sống tại Thái Lan (1) Họ dựa vào những điều kiện đặc trưng về kinh tế, chinh trị xã hội để chọn cách mưu sinh phù hợp (kinh doanh) Những chọn lựa tính toán có tính cá nhân trở thành cách mưu sinh chung của cộng đồng (2) Tính năng động và chọn lựa của cá thể mang tính duy lý thể hiện cả trong mưu sinh lẫn trong ngôn ngữ, ứng xử
và hành vi văn hoá sao cho có lợi nhất cho mình Đồng thời, các quan điểm về ý thức tự giác tộc người và giao lưu tiếp biến văn hoá cũng được chúng tôi sử dụng kết hợp để bổ trợ giúp tìm hiểu và lý giải về sự giao thoa và chuyển đổi giữa văn hóa dân tộc (văn hóa Việt) với văn hóa bản địa (văn hóa Thái)
Bên cạnh đó, chúng tôi còn chú ý đến thuyết sinh thái học văn hoá của Julian Steward Lý thuyết sinh thái văn hoá (cultural ecology) của ông tập trung vào sự thích nghi của các nền văn hoá riêng biệt với các môi trường cụ thể Với hướng tiếp cận này, khái niệm thích nghi (adaptation) là trung tâm của mối tương tác giữa con người và môi trường Thích nghi cho thấy tính chủ động của con người thông qua văn hoá để lựa chọn các khả năng mà môi trường cung cấp [31, tr.15] Trong quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên, con người cũng đồng thời tạo nên nền văn hoá của mình, nghĩa là các nền văn hoá ở những nơi có điều kiện tự nhiên giống nhau thì có những đặc tính giống nhau [13, tr.598-599] Điều này chỉ ra được sự tương đồng trong văn hóa Đông Nam Á, mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên và văn hóa, góp phần lý giải những giao lưu và bảo lưu văn hoá của cộng đồng người Việt ở một môi trường sống mới (Thái Lan) có nhiều nét tương tự môi trường cũ (Việt Nam)
Với các lý thuyết và quan điểm này, chúng tôi sẽ sử dụng để lý giải những ứng xử, hành vi văn hóa của các cá nhân trong cộng đồng người Việt tại Udon Thani qua từng giai đoạn lịch sử và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có những sự thay đổi, giao lưu tiếp biến như thế nào
Trang 30Từ những mục tiêu nghiên cứu và lý thuyết trên, chúng tôi đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu như sau:
i) Đời sống văn hoá truyền thống của cộng đồng người Việt tại Udon Thani,
Thái Lan diễn ra như thế nào từ năm 1946 đến nay?
ii) Những yếu tố nào đã tác động dẫn đến những biến đổi trong đời sống văn
hóa truyền thống của cộng đồng người Việt tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani từ năm 1946 đến nay?
Theo đó, giả thuyết nghiên cứu mà chúng tôi đặt ra là Văn hóa của cộng đồng người
Việt tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani, Thái Lan đã và đang có những biến đổi để phù hợp với nhu cầu thích nghi, tồn tại và phát triển của xã hội nơi cộng đồng sinh sống; sự biến đổi đó là tất nhiên trong dòng chảy của hội nhập khu vực và quốc tế Tuy nhiên cộng đồng người Việt nơi đây vẫn bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống nơi xuất cư, có nguyên nhân từ ý thức tự giác tộc người và những điểm tương đồng về địa – văn hóa – xã hội của các tộc người ở Đông Nam Á
1.2.2 Nghị quyết của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài
Hiện nay, cộng đồng người Việt có khoảng 4,5 triệu người đang sinh sống, học tập và làm việc tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị ký ngày 26/3/2004 khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”
Phần đông người Việt tại nước ngoài ngày càng có cuộc sống ổn định và hoà nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước
đó với Việt Nam, đồng thời cũng là cầu nối kinh tế giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước Dù sống xa Tổ quốc, cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn luôn nuôi dưỡng và phát huy tinh thần yêu
Trang 31nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hoá, hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương
Ngày nay, khi đã ổn định cuộc sống thì nhu cầu duy trì, phát huy văn hoá truyền thống, gìn giữ tiếng Việt và bản sắc dân tộc của cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày càng lớn, tuy nhiên nhu cầu chính đáng này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và chưa được đáp ứng đúng mức Đồng thời, sự đóng góp của kiều bào vào công cuộc xây dựng đất nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của họ
Quán triệt những vấn đề trên, Bộ Chính trị nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết 36-NQ/TW về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (ngày 26/3/2004) và Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (ngày 19/5/2015) Theo đó, một trong những chủ trương, nhiệm vụ quan trọng trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là khuyến khích và tạo điều kiện để cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể bảo tồn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hoá của dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, giữ gìn mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, từ đó góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa quốc gia sở tại với Việt Nam, góp phần xây dựng quê hương đất nước
Phát huy tinh thần Nghị quyết 36 và Chỉ thị 45, chúng tôi thực hiện công trình này nhằm tìm hiểu về đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt tại huyện Mương, tỉnh Udon Thani, nơi được xem là thủ phủ của Việt kiều tại Thái Lan, qua
đó dự báo xu hướng phát triển của cộng đồng và những đóng góp mà cộng đồng có thể mang lại cho quê hương Việt Nam về kinh tế cũng như thắt chặt hơn quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước Việt – Thái
Trang 321.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Thông tin chung về Thái Lan
Diện tích
Thái Lan có diện tích 514.000 km2, lớn thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonesia
và Myanmar) [14, tr.607] Lãnh thổ Thái Lan chia làm 76 tỉnh thành với 4 khu vực
là miền Bắc, miền Đông Bắc, miền Trung và miền Nam
Vị trí địa lý
Thái Lan giáp Lào và Campuchia ở phía Đông, phía Bắc và Tây giáp Myanmar, phía Nam giáp Malaysia và vịnh Thái Lan, phía Tây giáp biển Andaman Chiều dài từ Bắc xuống Nam là 1.650 km, nơi rộng nhất từ Đông sang Tây là 770
km Bờ biển dài 1.840 km theo bờ vịnh Thái Lan và 865 km trên bờ Ấn Độ Dương Vịnh Thái Lan nằm sâu trong đất liền, rất thuận tiện giao thông [10, tr.422]
Dân cƣ
Dân số Thái Lan hiện nay vào khoảng gần 70 triệu người, đứng thứ 4 ở Đông Nam Á (sau Indonesia, Philippines, Việt Nam) và là một trong những quốc gia đông dân trên bình diện thế giới [33, tr.181] Người Thái là tộc người chủ thể, chiếm khoảng 50% dân số cả nước Nếu tính cả các dân tộc nói ngữ hệ Thái như Lào, Shan, Nưa,… thì họ chiếm khoảng 74% dân số cả nước Người Lào là tộc người đông thứ hai ở Thái Lan, có đến hơn 10 triệu người Cộng đồng người Hoa chiếm trên 5 triệu người Người Mã Lai có khoảng một triệu người Cộng đồng người Việt
có trên 100.000 người, chủ yếu tập trung đông đảo ở các tỉnh Đông Bắc [10, 431]
tr.429- Đặc trƣng văn hoá Thái
Nét tiêu biểu trong văn hóa Thái là sự tôn kính tuyệt đối đối với Đức Vua và lòng kính trọng đối với các vị sư tăng
Quốc giáo của Thái Lan là Phật giáo với khoảng 95% dân số theo tôn giáo này và Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống của cư dân Đạo Phật
Trang 33không chỉ là một tôn giáo mà còn là công cụ quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thống nhất dân tộc và chính trị [10, tr.457] Ngoài ra, trong văn hoá Thái cũng tồn tại tín ngưỡng vạn vật hữu linh và tín ngưỡng phồn thực, là một nét văn hoá đặc trưng của các quốc gia Đông Nam Á
Người Thái tin rằng người ta sinh ra đã có một địa vị xã hội được quy định
bởi karma (nghiệp) – nó là kết quả của những suy nghĩ và hành động của họ từ kiếp trước Tuy vậy, nhờ những hành vi tham boon – làm điều thiện – họ có thể nâng cao
địa vị xã hội của mình [5, tr.83]
Trong quan hệ xã hội với nhau, người Thái thường thể hiện thái độ kín đáo
và nhã nhặn Nụ cười là đặc điểm nổi bật thường dễ nhận thấy Các cá nhân thường không nói thẳng toẹt ra mọi sự, tránh gây mất lòng nhau Người Thái đặc biệt chú ý giữ gìn sự hòa hợp xã hội, điều này có nguồn gốc từ một nền văn hóa dựa trên cơ sở làng xóm
Gia đình đóng vai trò rất quan trọng, mọi người trong gia đình thường gắn bó với nhau Quan hệ họ hàng của các tộc người Thái tuy vẫn còn tồn tại nhưng mờ nhạt, không quan trọng, không thường xuyên bằng quan hệ láng giềng Người phụ
nữ Thái có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, tuy vậy, họ vẫn chưa thực sự được bình đẳng với nam giới trong các hoạt động văn hóa – chính trị – kinh tế ngoài xã hội
Về ngôn ngữ, chữ Quốc ngữ của Thái Lan là tiếng Thái trung tâm, được dùng trong công sở, kinh doanh, học thuật và những giao dịch thông thường hàng ngày Ngoài ra, mỗi một vùng trong bốn vùng chính của Thái Lan đều có phương ngữ riêng của mình
Về ẩm thực, giống các quốc gia khác ở Đông Nam Á, bữa ăn cơ bản của người Thái là cơm cùng với các món ăn như rau, thịt, trứng, cá, canh Thông thường,
đồ ăn gồm có cà ri, nóng và có gia vị; món ăn được chiên, xào, nấu chín trong chảo với mỡ heo, ớt và tỏi Ngoài ra, tại những vùng miền khác nhau người Thái có những món ăn đặc trưng khác nhau
Trang 34Bên cạnh đó, người Thái còn có một nền văn hóa nghệ thuật vô cùng đặc sắc, tiêu biểu là kiến trúc, điêu khắc, khiêu vũ cổ điển (Khon và Lakonrai)
Tình hình phát triển kinh tế
Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới Các ngành công nghiệp chính của Thái Lan là dệt, may mặc, chế biến nông nghiệp, đồ uống, thuốc lá, xi măng, đồ gia dụng, nhựa, thiết bị điện tử, ô tô, máy tính và linh kiện,… Thái Lan là nước đứng thứ hai thế giới về sản xuất tungsten và đứng thứ ba trong lĩnh vực sản xuất thiếc [19, tr.55] Về nông nghiệp, Thái Lan là nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu lúa gạo Ngành dịch vụ mà nổi bật là du lịch đã trở thành ngành mũi nhọn trong nền kinh tế Thái Lan Năm 2016, ngành du lịch đã đóng góp 50 tỷ USD cho kinh tế quốc gia [43]
Thể chế chính trị
Theo quy định của Hiến pháp, thể chế chính trị của Thái Lan là quân chủ lập hiến Hiến pháp nêu rõ: “Thái Lan theo chế độ dân chủ với Vua là nguyên thủ quốc gia (Điều 2); “Vua sẽ thực hiện quyền lực thông qua Quốc hội, Hội đồng bộ trưởng
và Tòa án” (Điều 3); “Vua đứng đầu các lực lượng vũ trang Thái” (Điều 8); “Nhà vua là một Phật tử và là người bảo hộ các tôn giáo”…[14, tr.639]
Giống các quốc gia Quân chủ lập hiến khác, quyền lực của Nhà Vua chỉ có tính chất hình thức Quyền lực thực sự nằm trong tay Quốc hội và Chính phủ Tuy nhiên, vua Bhumibol Adulyadej (trị vì từ năm 1946 đến năm 2016), có vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa của Thái Lan, đặc biệt ở những thời điểm khi đất nước lâm vào các cuộc khủng hoảng chính trị Ngoài vai trò to lớn như một người trung gian hòa giải giữa các phe phái chính trị, ông còn hết lòng vì sự phát triển kinh tế của đất nước Vì thế, vua Bhumibol được nhân dân vô cùng kính trọng và được suy tôn là một trong những vị quân vương vĩ đại nhất của Thái Lan từ trước đến nay [14, tr.639]
Trang 35 Chính sách quan hệ ngoại giao với các nước
Từ xưa đến nay, truyền thống ngoại giao của Thái Lan luôn được coi là mềm dẻo và tỉnh táo với phương sách “lựa chiều” và “cân bằng lực lượng” vì lợi ích cơ bản của dân tộc [15, tr.106] Chính sách này đã được chính phủ Thái Lan áp dụng xuyên suốt các cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh lạnh Điều này góp phần lý giải cho việc Thái Lan là quốc gia duy nhất
ở Đông Nam Á không bị Đế quốc phương Tây đô hộ
Từ năm 1991, với mục tiêu tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, nhanh chóng đưa Thái Lan trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, tài chính ở Đông Nam Á, Chính phủ Thái Lan triển khai mạnh mẽ các hoạt động đối ngoại, với phương châm
tự do và độc lập, ưu tiên cho việc thúc đẩy quan hệ với các đồng minh truyền thống
là Mỹ, Nhật, Tây Âu và các nước ASEAN
1.3.2 Miền Đông Bắc Thái Lan và tỉnh Udon Thani
Miền Đông Bắc là vùng rộng lớn nhất Thái Lan, rộng khoảng 182.000km2, chiếm 1/3 diện tích cả nước Người Thái thường sử dụng thuật ngữ Isản để chỉ vùng này [10, tr.425-426] Nơi đây nằm trên cao nguyên Khorat, phía đông và phía bắc
có sông Mekong chảy qua, phía Nam giáp Campuchia, phía Tây ngăn cách với miền Trung bởi dãy núi Phetchabun [19, tr.15] Đây là vùng có điều kiện tự nhiên ít được
ưu đãi nhất Thái Lan, đất đai cằn cỗi, mưa ít Cây cối chủ yếu là bụi rậm, lau sậy và
cỏ dại Từ xa xưa khu vực này đã nổi tiếng với đàn gia súc vì đất đai cằn cỗi, khí hậu khô hạn chỉ thích hợp cho việc trồng cỏ Khoáng vật quan trọng nhất của vùng này là muối mỏ
Miền Đông Bắc Thái Lan gồm 19 tỉnh:
Trang 364 Kalasin 14 Sakon Nakhon
10 Nakhon Ratchasima
Về kinh tế, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của miền này, tuy nhiên,
do điều kiện khắc nghiệt nên đây cũng là vùng nghèo nhất Thái Lan Ngôn ngữ chính của miền Đông Bắc là tiếng Lào, tuy nhiên được gọi chính thức là tiếng Isản
vì lý do chính trị Phần lớn dân Isản có liên hệ với người Lào Tiếng Thái cũng được mọi người sử dụng Gần biên giới Campuchia thì người dân sử dụng tiếng Khmer Văn hoá Đông Bắc có nhạc dân gian “mor lam”, “muay thai”, đá gà [19, tr.16] Người Thái ở Đông Bắc ăn thức ăn giống với người Lào Họ hầu như ăn xôi nếp hằng ngày kèm với các món ăn khác Các món ăn yêu thích của người Thái Đông Bắc là các món nướng (gà nướng, cá nướng,…), món tái (tiếng Thái gọi là
“lạp”) như bò tái, nộm đu đủ (tiếng Thái gọi là “tăm xộp”), v.v…2
Miền Đông Bắc là nơi có số lượng người Việt định cư nhiều nhất Thái Lan Trong 19 tỉnh của miền Đông Bắc thì có 13 tỉnh có người Việt sinh sống và tập trung đông nhất là 6 tỉnh sau đây [8, tr.70-72]:
+ Tỉnh Nong Khai: Có khoảng hơn 1700 hộ với hơn 10.000 người Việt đang sinh sống, nơi có người Việt đông nhất là ở huyện Thà Bò
+ Tỉnh Mukdahan: Có gần 20.000 người Việt sinh sống, là một trong những tỉnh có người Việt đông nhất
2 Theo ông Nguyễn Văn Vinh, tác giả cuốn sách “Việt kiều ở Lào, Thái Lan với các phong trào cứu quốc thế
kỷ XX”, Nxb Lao Động, 2010
Thời gian tiến hành phỏng vấn: 7/5/2017
Địa điểm: Quận 7, Tp HCM
Trang 37+ Tỉnh Ubon Ratchathani: Là tỉnh rộng nhất Đông Bắc Thái Lan, có khoảng 10.000 người Việt sinh sống
+ Tỉnh Udon Thani: Là điểm dừng chân của nhiều nhà cách mạng Việt Nam, có trên 10.000 người Việt đang sinh sống
+ Tỉnh Nakhon Phanom: Có 5 khu vực tập trung đông người Việt, ước tính mỗi khu khoảng vài một vài ngàn người, trong đó có Bản Mạy, hiện nay là “Làng hữu nghị Thái – Việt”
+Tỉnh Sakon Nakhon: Hiện nay có trên 20.000 người Việt đang sinh sống
Tỉnh Udon Thani có diện tích 11.730 km2, dân số là 1.575.152 người (thống
kê 2015), là tỉnh lớn thứ 4 của vùng Đông Bắc Thái Lan [41] Nằm cách Bangkok 562km, cách thủ đô Vientiane (Lào) 80km, giáp 6 tỉnh (Nong Khai, Khon Kaen, Sakon Nakhon, Kalasin, Nongbua Lamphu, Loei), tỉnh Udon Thani với thủ phủ là thành phố Udon Thani là một trong những trung tâm kinh tế lớn và là đầu mối giao thông quan trọng của vùng Đông Bắc cũng như toàn Thái Lan [35, tr.22] Người Thái ở Udon Thani hiền từ, mến khách, thương người Họ có tiếng nói, ẩm thực và văn hoá tương đồng với người Lào Đây từng là điểm dừng chân của nhiều nhà cách mạng Việt Nam như cụ Phan Thúc Hứa, Hồ Chí Minh (Thầu Chín),… Hiện nay tỉnh Udon Thani là một trong những nơi tập trung nhiều người Việt sinh sống nhất tại Thái Lan Huyện Mương là huyện thủ phủ của tỉnh Udon Thani, có diện tích 1,094.7 km2, dân số hơn 400.000 người (2013) [47]
1.4 Cộng đồng người Việt ở Thái Lan
1.4.1 Tộc danh và các tên gọi khác của người Việt ở Thái Lan
Cộng đồng người Việt ở Thái Lan (Đông Bắc) ngày nay gọi mình là Việt kiều Thái Lan3 Trong cộng đồng và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, họ vẫn tự gọi mình là người Việt Nam như một cách để thể hiện tinh thần nhớ về cội nguồn, gắn kết cộng đồng và tự hào dân tộc Trong các hội nhóm đoàn thể của người Việt,
3 Tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu và tìm hiểu thực tế của nhóm nghiên cứu tại tỉnh Udon Thani, Thái Lan vào tháng 8/2015
Trang 38họ đều gọi cụ thể tên của cộng đồng mình là “người Việt Nam”, như Hội người Việt Nam tỉnh Udon Thani, Hội Doanh nhân Thái – Việt Nam, Hội Doanh nhân Thái – Việt Nam tỉnh Udon Thani,…4 Có thể thấy, ở thời điểm hiện tại, người Việt ở Thái Lan, cụ thể là ở nơi chúng tôi nghiên cứu là tỉnh Udon Thani, đã có vai trò và vị thế hoàn toàn mới, có uy tín và vị trí trong cộng đồng quốc gia sở tại, vì vậy họ không ngần ngại thể hiện nguồn gốc và tộc danh của cộng đồng mình, như là niềm tự hào
về một dân tộc kiên cường đã vượt qua bao đau khổ mất mát để có được vị trí như ngày hôm nay
Nhìn lại lịch sử, cộng đồng người Việt ở Thái Lan có khá nhiều tên gọi khác nhau, như “Yoan”, “Keo”, “người An Nam”, v.v…
Về từ “Yoan”, trong tiếng Thái, Yoan được dùng để chỉ người Việt còn Ban
là làng, các làng Việt vì vậy gọi là Ban Yoan [8, tr.10] Theo đó, dựa trên tài liệu nghiên cứu của hai tác giả Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana, về sau ở Thái Lan xuất hiện thêm các từ “Yoan kàu”, “Yoan mày”, “Yoan ôp pha yốp” dùng để chỉ các nhóm người Việt nhập cư vào Thái Lan ở những thời gian khác nhau (nguyên văn là “Duôn kàu”, “Duôn mày”, “Duôn ốp pha dốp”, tuy nhiên chúng tôi không dùng “Duôn” mà vẫn ghi là “Yoan” để thống nhất cùng một cách viết trong bài) Trong đó, “Yoan kàu” là từ dùng để chỉ người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan
từ thời kỳ Ayutthaya đến trước chiến tranh thế giới thứ hai Còn “Yoan mày” (dùng trong giao tiếp hằng ngày) hay “Yoan ôp pha yốp” (dùng trong các văn bản chính thức) hay “người Việt Nam tản cư” là chỉ cộng đồng người Việt Nam tản cư từ Lào sang Thái Lan trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai Như vậy các cách gọi này không mang ý phân biệt hay chia rẽ cộng đồng mà chỉ để nói lên sự khác nhau
về thời gian nhập cư của người Việt [18, tr.41-47]
Về cụm từ “người An Nam”, từ thời kỳ tiền Bangkok, trong các tài liệu thành văn của Thái Lan đã xuất hiện cụm từ “người An Nam” (người Thái Lan đương thời nói và viết từ này theo cách của mình là “Ăn năm”) Đây là kết quả của
4
Tài liệu phỏng vấn và Nhật ký điền dã Udon Thani tháng 8/2015
Trang 39sự giao lưu văn hoá thông qua mối bang giao của hai vương triều phong kiến là Siam và Việt Nam Cụm từ này tuy không phổ biến rộng rãi nhưng được ghi chép trong sử sách nhằm chỉ rõ đặc điểm cộng đồng như: người An Nam, làng An Nam, chùa An Nam,…[18, tr.47-48]
Về từ “Keo”, đây là một tên gọi khác mà người Thái ở miền Bắc và Đông Bắc dùng để gọi cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan, đặc biệt phổ biến ở miền Đông Bắc với ẩn ý kỳ thị, bài xích khiến cho cộng đồng người Việt hầu như bị cô lập hoàn toàn Sau này, khi mối quan hệ bang giao của hai nước Việt Nam – Thái Lan được cải thiện và dần trở nên tốt đẹp thì từ “Keo” theo nghĩa xấu cũng nhạt dần
và mất đi Ngày nay, Việt kiều thường gọi nhau là Việt kiều Thái Lan hay Việt kiều
Lào – Thái một cách có ý thức về cộng đồng của mình [18, tr.48-53]
1.4.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan
1.4.2.1 Quá trình di dân của người Việt đến Thái Lan từ thế kỷ XV đến đầu thế
kỷ XX
Người Việt bước đầu đến Thái Lan (Ayutthaya/Siam) (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX)
Cộng đồng người Việt ở Thái Lan là một trong những cộng đồng hình thành
từ rất sớm Theo tài liệu của Uỷ ban người Việt Nam ở nước ngoài (2005) thì đã có
“nhiều thương gia và thợ thủ công người Việt đến Thái Lan từ thế kỷ XV” [8, tr.7]
Với vị trí địa lý gần kề (từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bangkok theo đường biển khoảng 1.180km), điều kiện tự nhiên thuận lợi, giữa Việt Nam và Thái Lan đã
có quan hệ láng giềng và giao thương từ rất lâu đời Theo thư tịch cổ Việt Nam cho biết, từ thế kỷ XII đã có người Thái đến giao thương và xin lập thương điếm ở Vân Đồn, đến thế kỷ XV thì quan hệ gia tăng rõ rệt Con đường giao thương giữa Việt Nam – Thái Lan là đường biển, thuyền buồm qua Vịnh Thái Lan và Biển Đông buôn bán, đưa người Thái đến Vân Đồn và người Việt đến Ayutthaya
Thương điếm của người Việt lập ở cố đô Siam rất sớm Thế kỷ XVI, ngoài những thương nhân người Việt đến Siam để buôn bán và lập thương điếm, còn có
Trang 40nhiều tù nhân hoặc người dân Việt bị bắt trong các cuộc chiến đem về Siam Trong cuộc chiến tranh Siam – Việt vào năm 1586, 1621, 1623,… đều có thường dân và tù binh người Việt bị bắt đưa về Siam, có khi lên đến hàng trăm người
Thế kỷ XVII, người Việt hình thành “Làng Việt” (Ban Yoan) ở Ayutthaya, cách thủ đô Bangkok khoảng 100km về phía Bắc
Trong thế kỷ XVIII và XIX, cộng đồng người Việt ở Ayutthaya ngày một phát triển, nhiều tầng lớp người Việt du nhập vào đất Thái Năm 1776, Tôn Thất Xuân và Mạc Thiên Tứ thua quân Tây Sơn đã chạy qua Bangkok cầu cứu triều đình Siam Năm 1785, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy sang Siam Nguyễn Ánh cho em gái mình kết hôn với quốc vương Thái Lan và trao đội quân của ông tham gia chống quân Miến Điện Năm 1787, Nguyễn Ánh âm thầm trở về nước, nhưng số đông binh sĩ của ông đã ở lại Bangkok, ước tính số người Việt này khoảng
2000 người
Vào năm 1787 – 1788, Nguyễn Huỳnh Đức, bộ tướng của Nguyễn Ánh, dẫn
5000 quân trốn thoát cuộc truy quét của quân Tây Sơn chạy sang Bangkok, nhưng đến nơi thì Nguyễn Ánh đã về nước Vua Siam thoả thuận giúp một số chiến thuyền
để Nguyễn Huỳnh Đức về Việt Nam, với điều kiện là phải cho binh lính của ông ta
ở lại Siam nếu họ có nguyện vọng, khoảng 2/3 số binh lính Việt này đã ở lại Siam, với vài ngàn người ở trong khu Saphan Han
Đầu thế kỷ XIX, năm 1835 có hơn 2000 người Việt sang Thái, cư trú ở vùng Samsen, Bangkok Trên đại lộ Samsen hiện nay có hàng trăm gia đình người Việt
cư trú ở một hẻm nhỏ gần nhà thờ St Francis Xavier
Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Trong thời kỳ này đã
có hàng ngàn gia đình ở miền Trung Việt Nam chạy loạn sang các tỉnh Đông Bắc Thái Lan như Nongkhai, Nakhon Phanom, Ubon Ratchathani,… Có hai làng người Việt ở gần Viên Chăn (Lào) là Tha Hoe và Tha Bo cũng vượt sông Mekong đến Nongkhai (Thái Lan) tránh nạn Ở các tỉnh miền Nam Việt Nam thì ước chừng khoảng 5000 đến 8000 người ra đi bằng đường biển đổ bộ vào các tỉnh Trat,