1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

79 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- Võ Thị Bích Vân XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM TẠI QUẬN 10 Chu

Trang 1

-

Võ Thị Bích Vân

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Võ Thị Bích Vân

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

NGẦM TẠI QUẬN 10

Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường

Trang 3

Luận văn có đề tài: Xây dựng mô hình hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

Luận văn bao gồm 68 trang (bao gồm cả hình vẽ), được trình bày thành 3

phần và 3 chương

Tài nguyên nước ngầm là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng

và khó phục hồi trong điều kiện đô thị hóa như hiện nay Việc quản lý tài nguyên nước ngầm ở quận 10 nói riêng và ở Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều bất cập về mặt hành chánh lẫn tính khoa học Chính vì vậy, vấn đề quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm đang cần quan tâm giải quyết một cách hiệu quả và bền vững Từ nhận định trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ đề xuất mô hình hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

Để thực hiện nhiệm vụ này, các dữ liệu và thực trang quản lý TN ở quận

10 được thu thập và phân tích để nhận ra các tồn tại, vướng mắc cần giải quyết;

từ đó đề xuất một mô hình quản lý hiệu quả Việc thiết kế và đề xuất được thực hiện bằng phương pháp phân tích SWOT, thu thập dữ liệu thứ cấp, …

Kết quả phân tích cho thấy việc quản lý nước ngầm ở quận 10 đã đươc chính quyền quan tâm nhưng vẫn chưa hiệu quả do thực hiện thủ công, quy trình chưa hợp lý và do thiếu nhân lực Việc sử dụng GIS được đề xuất để đưa vào ứng dụng trong quản lý vì giếng khai thác nước là các thông tin có tính không gian Luận văn đã đưa ra thiết kế hệ thống thông tin bao gồm thông tin, tài liệu, con người, quy trình… Cụ thể hơn, một phần mềm ứng dụng GIS đã được đưa vào để minh họa cho một số bước của mô hình

Mô hình Hệ thống thông tin, tuy chưa hoàn chỉnh đến mức chi tiết, nhưng được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích hiện trạng và thực tiễn hoạt động

ở địa phương nên đảm bảo tính hợp lý và khả thi

Trang 4

The thesis title: “Building an information system model to support the governmental administrative managerment of underground water resources in District 10”

It includes 68 pages (There are drawings), presented in 3 parts and 3

chapters

Ground-water resources is one of restoration essential and difficult resources in urbanization condition source at present Managing the ground-water resources in district 10 and in Viet Nam generally still gap Therefore, the office management problem on Ground-water resources is needing resolved effectively and indestructibility From these identifieds, tractate pointed the task that coming-up a system model supports the state- owned office management work about Ground-water resources in district 10

To make this task, the datas and resourcesmanagement actual situations

in district 10 are gainned and parsed in order to descry existences, needs demob Since then, offering a management model efficiently The offer and Concernment design be realized by some methods, such as SWOT, gain secondary data,ect

Result parsed show that managing ground-water resources in district 10 was already care by administration, but it is still not efficiently because of perform is artisanal, process not already Using GIS get propounded to show in Application management because barreler is the spatial information Tractate pointed out the information systematic design incluse information, manual, human, process, ect More concretely, a application software GIS was brought

onillustration for a number of process's steps

Model information System, though not already better up to detail level, but to construction based upon underpinning parse status and action practice at the local, so it ught to assure reasonable and feasibility

Trang 5

Nhờ sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô, lãnh đạo cơ quan, các anh chị và các đồng nghiệp, em đã hòan tất được cuốn luận văn này Hôm nay, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn của mình đến:

Lời cảm ơn chân thành đầu tiên em xin gửi đến Tiến sĩ Vũ Xuân Cường

– Hiệu phó Trường Đại học Tài nguyên Môi trường (Nguyên Chi cục Trưởng Chi cục Đo Đạc bản đồ phía Nam - thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường) đã

nhận lời làm giáo viên hướng dẫn luận văn cho em, đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và nhiệt tâm, tạo mọi điều kiện để em có thể hòan thành luận văn tốt nghiệp kịp thời hạn

Xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy, Cô, các anh chị trong Phòng GIS, khoa Địa Lý trường Đại học KHXH&NV, đặc biệt là cô Lê Minh Vĩnh và

cô Nguyễn Thanh Loan, thầy Phạm Gia Trân đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn

em về mọi mặt, từ tinh thần đến vật chất, để tạo điều kiện cho em thực hiện và hòan thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn tập thể các nhân viên Phòng GEOINFORMATIC Viện Tài nguyên Môi trường, đặc biệt là TSKH Bùi Tá Long – Khoa Môi

trường trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM (Nguyên Trưởng Phòng GEOINFORMATIC, Viện Tài nguyên Môi trường) và thầy Cao Duy Trường giảng viên Trường Đại học Tài nguyên Môi trường (Nguyên nhân viên Phòng GEOINFORMATIC, Viện Tài nguyên Môi trường) đã nhiệt tâm giúp đỡ, tạo

điều cho em áp dụng Chương trình ứng dụng TIMWAN vào công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất tại quận 10

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 10, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Phùng Nghĩa – Trưởng phòng đã tạo mọi điều kiện cho em hòan thành luận văn cao học

Xin chân thành cảm ơn Trung tâm GIS của trường Đại học Bách Khoa

đã hỗ trợ em trong việc thực hiện các dữ liệu bản đồ số về quận 10

Một lần nữa, em xin chân thành biết ơn thầy Vũ Xuân Cường, thầy Bùi

Tá Long, cô Lê Minh Vĩnh và thầy Cao Duy Trường là những người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ em về mọi mặt để em có thể hòan thành được cuốn luận văn này Em xin cảm ơn các thầy, cô đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức của mình đã theo sát em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Trang 6

10”

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

DANH MỤC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

I Đặt vấn đề, tổng quan tài liệu, lý do chọn đề tài 1

II Mục tiêu nghiên cứu 1

III Đối tượng nghiên cứu 2

IV Giới hạn, phạm vi luận văn 2

V Nội dung nghiên cứu 2

VI Phương pháp nghiên cứu 2

VII Ý nghĩa đóng góp của luận văn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HIỆN TRẠNG 4

1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6

1.2 Đánh giá sự phù hợp của việc ứng dụng GIS vào công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất 7

1.3 Hiện trạng tư tài liệu 10

1.3.1 Thuận lợi 10

1.3.2 Khó khăn 11

1.4 Hiện trạng quản lý 12

1.4.1 Tổ chức bộ máy 12

1.4.2 Con người 14

1.4.3 Quy trình 15

1.4.4 Trang thiết bị 18

Chương 2: THIẾT KẾ MÔ HÌNH HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM TẠI QUẬN 10 19

2.1 Phân tích, đánh giá mô hình hệ thống hiện tại 19

2.2 Đề xuất một số giải háp hòan thiện hệ thống hiện tại 36

2.3 Thiết kế mô hình hệ thống mới 45

Chương 3: VẬN HÀNH THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH 52

VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ 52

3.1 Đánh giá hệ thống 52

3.1.1 Ưu thế của mô hình đề xuất 52

3.1.2 Hiệu quả về thời gian khi áp dụng quy trình cấp phiếu đăng ký khai thác nước dưới đất đề xuất 56

3.1.3 Những mặt còn hạn chế 57

3.2 Xây dựng các modul chức năng của hệ thống 58

Trang 7

10”

3.2.1 Các Chức năng chính của hệ thống 58

3.2.2 Thành phần chi tiết các chức năng của hệ thống 58

3.3 Vận hành thử ứng dụng đề xuất đối với phần nhập liệu 61

KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 66

I Kết luận 66

II Hạn chế và hướng phát triển 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

10”

DANH MỤC VIẾT TẮT

TOC : Tổng cacbon hữu cơ

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

ELIS : Hệ thống thông tin đất đai và môi trường

GIS : Hệ thống thông tin địa lý

NSD : Người sử dụng

CAD : Hệ hỗ trợ giúp thiết kế bằng máy tính

HTTTĐL : Hệ thống thông tin địa lý

LAN : Mạng máy tính cục bộ

WAN : Mạng máy tính diện rộng

UBND : Ủy ban nhân dân

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

TN&TKQ : Tiếp nhận và trả kết quả

SWOT : Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

GPS : Định vị tòan cầu

Trang 9

10”

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên

nước dưới đất trên địa bàn quận 12

Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước ngầm và đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn quận 10 13

Hình 1.3: Quy trình đăng ký khai thác nước dưới đất (dưới 20m 3 /ngày) 17

Hình 2.1: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước dưới đất hiện tại 19

Hình 2.2: Sơ đồ luồng thông tin hệ thống đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn quận 10 40

Hình 2.3: Đề xuất sơ đồ hệ thống tổ chức đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn quận 10 40

Hình 2.4: Đề xuất sơ đồ hệ thống thông tin quản lý đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn quận 10 41

Hình 2.5: Mô hình hệ thống đề xuất về quản lý tài nguyên nước dưới đất 45

Hình 2.6: Đề xuất sơ đồ luồng thông tin hệ thống đăng ký khai thác nước dưới đất tại UBND phường 46

Hình 3.1: Quy trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký giếng 58

Hình 3.2: Quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký giếng 59

Hình 3.3: Quy trình cập nhật văn bản pháp quy 60

Hình 3.4: Quy trình lưu trữ hồ sơ sau cấp phép 61

Hình 3.5: Danh mục giếng khoan 61

Hình 3.6: Danh mục phường 62

Hình 3.7: Danh mục cơ quan cấp phép 62

Hình 3.8: Danh mục cơ quan làm nhiệm vụ thăm dò 63

Hình 3.9: Danh mục tổ chức, cá nhân hành nghề khoan giếng 63

Hình 3.10: Danh mục các Tiêu chuẩn Việt Nam liên quan 64

Hình 3.11: Danh mục các chỉ tiêu phân tích mẫu 64

Hình 3.12: Danh mục mục đích khai thác, tầng chứa nước 65

Hình 3.13: Danh mục Giấy phép đã cấp 65

Hình 3.14: Danh mục Đơn đề nghị cấp giấy đăng ký 65

Hình 3.15: Danh mục Đơn chưa được cấp giấy phép 65

Trang 10

MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề, tổng quan tài liệu, lý do chọn đề tài

Công tác quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước ngầm theo hướng phát triển bền vững hiện đang là vấn đề được quan tâm đối với công tác quản lý Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung và tại các quận - huyện của thành phố nói riêng

Nhìn chung, những năm trở lại đây, công tác quản lý tài nguyên nước ngầm tại các quận – huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu nhận được sự quan tâm, chú ý nhiều hơn Nhiều chương trình, dự án phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước ngầm đã được triển khai thực hiện Hệ thống các cơ sở

dữ liệu đang dần được bổ sung và hòan thiện, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều bất cập trong công tác quản lý hiện nay, cụ thể như: các quy trình chưa được hoàn thiện và chưa được tin học hoá, dữ liệu phần lớn chưa được số hoá, … Vì vậy,

để khắc phục được các bất cập trong công tác quản lý tài nguyên nước ngầm và

để chuẩn bị cho công tác mới, công tác cấp phép khoan thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước ngầm theo chủ trương của Ủy ban nhân dân thành phố, chúng ta cần phân tích, đánh giá, nhận định được các vấn đề còn tồn tại và sắp xếp thứ tự các nội dung cần ưu tiên giải quyết, để từ đó đưa ra các giải pháp hòan thiện dần công tác quản lý tài nguyên nước ngầm hiện tại theo hướng ứng dụng công nghệ mới và tạo tiền đề cho việc triển khai cấp phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm của địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường của thành phố

Nhận thấy được vấn đề này và với tư cách một người đang trực tiếp làm

về công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại quận 10, học viên quyết định chọn đề tài “Xây dựng mô hình hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10”

II Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

- Xây dựng mô hình hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

Trang 11

* Mục tiêu cụ thể:

- Phân tích và đánh giá hiện trạn quản lý nước ngầm tại quận 10

- Thiết kế mô hình hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

- Thiết kế và triển khai mô hình hệ thống trên cơ sở ứng dụng công nghệ GIS

III Đối tượng nghiên cứu

- Quy trình quản lý hành chính Nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10

- Tình trạng nhân lực và trang thiết bị phục vụ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm trong quận 10

- Phần mềm ứng dụng phục vụ quản lý hành chính Nhà nước về tài nguyên nước ngầm hiện tại

- Hệ thống dữ liệu về công tác quản lý hành chính Nhà nước về tài nguyên nước ngầm

IV Giới hạn, phạm vi luận văn

- Đề tài chỉ tập trung khảo sát hệ thống quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm trong phạm vi quận 10, từ đó đề xuất một mô hình hệ thống thông tin nhằm cải thiện công tác quản lý hiện tại

V Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan về hệ thống quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh

- Hiện trạng hệ thống quản lý hành chính Nhà nước về tài nguyên nước ngầm của quận 10 (về các quy trình quản lý, dữ liệu, con người và trang thiết bị)

- Lý thuyết phân tích, thiết kế hệ thống, GIS, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

- Phân tích, đánh giá hệ thống hiện tại

- Thiết kế mô hình ý niệm (conceptual), luận lý (logical) và vật lý (physical) hệ thống

- Đề xuất để hoàn thiện hệ thống

VI Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Tiếp cận hệ thống: đi từ thực tiễn để nhận ra những bất cập, vận dụng lý thuyết để đề xuất mô hình mới gồm đầu vào, dữ liệu, đầu ra…

* Phương pháp cụ thể

- Nghiên cứu theo tài liệu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp mô hình hóa

- Các phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin

VII Ý nghĩa đóng góp của luận văn

- Công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm hiện nay trên địa bàn quận 10 còn nhiều khó khăn và mang tính thủ công Vì vậy, kết quả của luận văn sẽ giúp cho quận 10 nói riêng và các cán bộ làm công tác quản lý tài nguyên và môi trường của Thành phố nói chung có cơ sở để nhận định các mặt ưu và khuyết trong công tác quản lý hiện tại của đơn vị mình, để từ đó rút kết kinh nghiệm và có hướng điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của đơn vị

- Mặt khác, cái mới của đề tài là giới thiệu GIS như một trong những phương pháp tốt hiện nay để hỗ trợ cho công tác quản lý tài nguyên nước ngầm tại quận, bằng cách ứng dụng GIS xây dựng các công cụ hỗ trợ phục vụ cho công

tác quản lý hành chính Nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận

Trang 13

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HIỆN TRẠNG

1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Từ những thập niên cuối thế kỷ 20, các ứng dụng của GIS trong quản lý môi trường nói chung và trong quản lý nước ngầm nói riêng đã được quan tâm chú ý

- Trong bài “Groundwater management and development by integrated remote sensing and geographic information systems: prospects and constraints” [8], các tác giả đã chỉ ra 6 lãnh vực chính trong việc nghiên cứu ứng dụng RS, GIS trong việc quản lý nước ngầm gồm (1) Tìm kiếm và đánh giá trữ lượng (2) Xác định các địa điểm để thực hiện bù nước (3) Xây dựng các mô hình xác định dòng chảy và mô phỏng ô nhiễm (4) Đánh giá nguy cơ ô nhiễm nước ngầm và kế hoạch bảo vệ (5) Đánh giá việc phân bố bù nước tự nhiên (6) Phân tích các số liệu thủy văn và quan trắc Những kết luận của bài báo cho ta thấy tiềm năng lớn của việc sử dụng GIS, VT trong quản lý tài nguyên nước dưới đất

- Năm 2005, nhóm tác giả Mohamed A Dawoud , Madiha M Darwish, Mona

M El-Kady [9] đã ứng dụng GIS để xây dựng công cụ phân tích và hiển thị trực quan thông tin về tầng giữ nước ở khu vực phía Tây đồng bằng sông Nile

Mô hình được kiểm chứng sau đó đưa vào để đánh giá tiềm năng nước ngầm của khu vực, đồng thời kiểm tra đánh giá hai kịch bản đề nghị để bảo tồn nước ngầm khu vực này Mô hình ứng dụng này chứng tỏ GIS là công cụ hiệu quả

để xây dựng các kế hoạch phát triển bền vững

- Năm 1999, Daniela Ducci đã sử dụng ILWIS (phần mềm GIS) để xây dựng bản đồ vùng nguy cơ ô nhiễm nước ngầm và vị trí các giếng nước, giúp kiểm soát và đánh giá các nguy cơ rủi ro do ô nhiễm nước ngầm [7] Đây là một gợi

ý quan trọng để chúng ta thấy được vai trò và khả năng ứng dụng GIS trong quản lý nước ngầm trong đề tài

Trang 14

- Trong bài báo “WEKU – a GIS-Supported stochastic model of groundwater residence times in upper aquifers for the supraregional groundwater management” [11], R Kunkel , F Wendland đã đề xuất mô hình quản lý nước ngầm với sự trợ giúp của GIS Bài báo mô tả khá rõ việc áp dụng mô hình để giải quyết các bài toán trong quản lý nước ngầm rất hiệu quả Tuy nhiên, phạm vi áp dụng của mô hình trong bài là vùng với quy mô lớn Vì vậy, ta chỉ

có thể xem như đây là minh chứng cho khả năng sử dụng GIS trong quản lý nước ngầm nhưng không thể áp dụng mô hình trong đề tài

- Năm 2003, tài liệu “Groundwater management Strategies facest of the intergrated approach” [14] đã phân tích và đề xuất cách quản lý để bảo đảm PTBV cho nguồn nước ngầm đô thị Các giải pháp gợi ý này sẽ được lưu ý sử dụng để có thể có những đề xuất phù hợp khi thực hiện đề tài

- Năm 2007, Sudha Venu Menon [15] đã đưa ra một số giải pháp quản lý nước dưới đất cho các vùng khác nhau, đặc biệt là các giải pháp bù nước Những giải pháp này sẽ được quan tâm và đưa vào áp dụng trong khi phân tích và xây dựng mô hình quản lý của đề tài

- Trong bài báo “Groundwater management based on GIS techniques, chemical indicators and vulnerability to seawater intrusion modelling: application to the Mahdia–Ksour Essaf aquifer, Tunisia [13], tác giả đã phân tích những nguy cơ làm tổn thương (giảm và ô nhiễm) nước ngầm ở Mahdia and Ksour Essaf do khai thác quá mức và do các hoạt động nông nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương án quản lý để giảm thiểu các nguy cơ này với sự hỗ trợ của công

cụ GIS Đây cũng là một bài học rất đang quan tâm, tuy nhiên, không hoàn toàn phù hợp với vùng nghiên cứu của đề tài (là một vùng đô thị với quy mô nhỏ)

Như vậy, có thể thấy, việc ứng dụng GIS trong quản lý nước ngầm là một phương án kỹ thuật hợp lý Vấn đề cần lưu ý là bên cạnh những giải pháp

kỹ thuật thì phải có những phân tích cụ thể cho từng khu vực cụ thể để có giải pháp toàn diện

Trang 15

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Cùng xu hướng phát triển chung của thế giới, ở Việt Nam, trong những năm đầu thế kỷ 21 đã xuất hiện các nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên nước

Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, việc ứng dụng tin học

để xây dựng, thiết kế một hệ thống thông tin hỗ trợ các công tác quản lý tài nguyên và môi trường hiện đang rất được các nhà khoa học quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này, cụ thể có thể kể đến như sau:

- Nghiên cứu tổng hợp vùng cửa sông hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai phục

vụ công tác quy hoạch khai thác vùng theo mục tiêu phát triển bền vững

(Huỳnh Thị Minh Hằng, 2001-2003)

- Sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) thành lập bản đồ phân vùng tiềm năng

nước ngầm sông Ba, tỷ lệ 1:500000 (Nguyễn Điệu Trinh, Nguyễn Tài, 2006)

- Ứng dụng phương pháp thông tin địa lý (GIS) trong đánh giá sự phân bổ không gian chất Asen (As) trong nước ngầm khu vực ven biển huyện Long Phú, Sóc

Trăng (Nguyễn Thị Hồng Điệp, Võ Quang Minh, 2006)

- Ứng dụng GIS và ảnh vệ tinh để xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác

phòng chống lũ lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Bùi Thị Thu Hà, 2006)

- Ứng dụng mô hình số độ cao trong quản lý tài nguyên và môi trường nước

dụng hợp lý tài nguyên nước thành phố Đà Nẵng (Bùi Tá Long, Nguyễn Thị

Quỳnh Hà, Cao Duy Trường, 2008)

Trang 16

Có thể nói, các nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tham khảo quan trọng và có ý nghĩa cho học viên trong quá trình thực hiện đề tài Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu và áp dụng của các nghiên cứu trên khá rộng, vì vậy,

ta chỉ có thể xem các nghiên cứu trên là minh chứng cho khả năng sử dụng GIS trong quản lý nước ngầm nhưng không thể áp dụng rập khuôn trong đề tài

1.2 Đánh giá sự phù hợp của việc ứng dụng GIS vào công tác quản lý tài

nguyên nước dưới đất

Ta nói nước ngầm là tài nguyên vì nó phục vụ cho con người và mang lại lợi ích cho con người Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này chỉ có thể phục hồi được khi con người biết khai thác và sử dụng hợp lý Thế nhưng không phải ai cũng

có thể ý thức được điều này, phần đông những người khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên nước ngầm đối với môi trường và xã hội

Việc khai thác nguồn tài nguyên nước ngầm một cách vô ý thức như hiện nay đã dẫn đến tình trạng các mạch nước ngầm bị ô nhiễm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người; một số khu vực bị sụp lún, ngập lụt đã gây thiệt hại về kinh tế; làm biến đổi hệ sinh thái tự nhiên, … Một khi mạch nước ngầm đã bị ô nhiễm thì phải mất một thời gian rất lâu để có thể khôi phục được

Vì vậy, cần có biện pháp quản lý nguồn tài nguyên nước ngầm một cách hợp lý và khoa học để có thể sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả

và bền vững, góp phần mang lại lợi ích lâu dài cho con người

Có rất nhiều biện pháp để quản lý, tuy nhiên dù áp dụng biện pháp nào thì vai trò của quản lý nhà nước đối với việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm tại khu vực là không thể thiếu Mọi hoạt động khai thác,

sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm đều phải tuân thủ các quy định của Pháp luật Muốn quản lý tốt đòi hỏi phải có sự nhất quán về quan điểm giữa các cấp và phân chia rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bên liên quan Mặt khác, đặc tính của nguồn tài nguyên nước ngầm là nằm bên trong lòng đất, nhà quản

lý không thể nhìn thấy trực tiếp, muốn nhận biết vị trí của các mạch nước ngầm đòi hỏi phải quan trắc, định vị và ghi nhận lại các thông tin quan trắc được để từ

Trang 17

đó có thể khoanh vùng khai thác Vì vậy, việc ứng dụng GIS để hỗ trợ công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm là rất cần thiết

Từ các thông tin số liệu thô, không xác định rõ bằng trực quan, phải dùng các biện pháp thủ công để thể hiện thành bản đồ, nếu có bất kỳ sự thay đổi nào thì phải tốn rất nhiều thời gian và nhân lực để chỉnh sửa, nhưng nếu ứng

GIS, các thông tin dữ liệu thuộc tính (dữ liệu giấy) thu thập được từ các số liệu

quan trắc, thực địa này thông qua các phần mềm ứng dụng GIS sẽ được số hóa

và thể hiện dưới dạng các bản đồ số về nước ngầm như: bản đồ khoanh vùng các tầng nước, vùng khai thác và vùng hạn chế khai thác; bản đồ vị trí khai thác, vị trí quan trắc, bản đồ hiện trạng … thể hiện được cả các dữ liệu thuộc tính lẫn

dữ liệu không gian Qua đó, người quản lý có thể theo dõi, cập nhật và tích hợp các thông tin thật dễ dàng; tiết kiệm được thời gian, chi phí và nhân lực trong quá trình quản lý lâu dài; góp phần quản lý việc khai thác, sử dụng có hiệu quả

và bền vững nguồn tài nguyên nước ngầm

Như vậy, một cơ sở dữ liệu tốt, thông tin và dữ liệu bản đồ đầy đủ sẽ là điều kiện thuận lợi để ứng dụng GIS vào phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước So với phương pháp quản lý cổ điển, bằng thủ công, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và công sức nhưng hiệu quả lại không cao như trước nay vẫn áp dụng thì việc đưa tin học và GIS vào quản lý môi trường nói chung và các nguồn tài nguyên nói riêng đang là xu thế trong công tác quản lý hiện nay

Ngoài ra, nếu biết kết hợp giữa xây dựng mô hình hệ thống quản lý với ứng dụng tin học và GIS vào công tác quản lý tài nguyên nước thì hiệu quả công tác quản lý nguồn tài nguyên này sẽ ngày càng tăng, đem lại lợi ích thiết thực cho công đồng; vì với điều kiện cơ sở hạ tầng còn hạn chế, mạng lưới cấp nước sinh hoạt chưa đến được với từng hộ gia đình, nhất là ở các con hẻm sâu và hẹp, khu vực ngoại thành, nông thôn như ở nước ta hiện nay thì việc khai thác nước ngầm để phục vụ nhu cầu dùng nước của người dân là điều tất yếu phải xảy ra

Hơn nữa, việc ứng dụng GIS trong công tác quản lý hành chính nhà nước

về tài nguyên nước ngầm còn giúp nhà quản lý có thể nắm được diễn tiến của nguồn tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quản lý theo thời gian nhờ vào sự kết

Trang 18

hợp của các dữ liệu không gian và thuộc tính theo từng giai đọan, để từ đó có thể

dự báo và đưa ra hướng quản lý hiệu quả hơn trong tương lại, góp phần bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển bền vững

Từ những nhận định trên, cùng với các kinh nghiệm ứng dụng trong và ngoài nước của GIS trong lĩnh vực tài nguyên nước đã nêu trên, có thể kết luận rằng GIS có thể hỗ trợ đánh giá, kiểm soát sự phục hồi mực nước ngầm, mô phỏng hệ thống sông hồ và nhiều ứng dụng liên quan đến quản lý tài nguyên nước khác Vậy, vận dụng các nghiên cứu nêu trên có thể xây dựng một chương trình ứng dụng GIS trong quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước ngầm tại quận 10 cụ thể như sau:

- Đầu tiên ta thu thập các dữ liệu cần thiết liên quan công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất từ 15 phường quận 10 như: thông tin về các giếng đang khai

thác sử dụng (vị trí, năm khai thác, lưu lượng khai thác, …), tư tài liệu, mẫu,

quy trình, …

- Thông qua phần mềm Mapinfo thiết lập cơ sở dữ liệu, bản đồ số trên nền bản

đồ địa chính số hiện có của quận 10

- Dựa trên quy trình quản lý và các văn bản quy phạm pháp luật hiện có về quản

lý tài nguyên nước dưới đất, thiết kế một mô hình hệ thống ứng dụng GIS vào quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận

- Đề xuất thiết kế phần mềm ứng dụng GIS vào quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận 10

Điểm khác của việc ứng dụng GIS vào công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất tại quận 10 so với các nghiên cứu tham khảo trên là:

- Dựa vào thực trạng và yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất của quận 10, xây dựng 01 mô hình hệ thống thông tin phù hợp và cần thiết cho công tác quản lý tại địa phương

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin và GIS vào hệ thống nhằm mục tiêu tối ưu hóa về mặt trực quan và tinh giản các thao tác thủ công trong quá trình quản lý các công tình khai thác nước dưới đất tại quận, hỗ trợ tin học hóa trong công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn Đối tượng của hệ thống này

Trang 19

là các quy trình quản lý, vị trí và thông tin về các giếng khoan đang khai thác

sử dụng trên địa bàn quận, tổ chức lại hệ thống quản lý tài nguyên nước dưới đất hiện tại theo hướng tự động hóa và tin học hóa

1.3 Hiện trạng tƣ tài liệu

Công tác quản lý tài nguyên nước ngầm là công tác được triển khai từ tháng 03/2006, theo phân cấp tại Quyết định 17/2006/QĐ-UBND ngày 09/2/2006 của Ủy ban nhân dântThành phố Hồ Chí Minh về ban hành quyết định quản lý tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Do đó, các thông tin và tài liệu về nước ngầm tại quận gần như không có Vì vậy, để có số liệu phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận đòi hỏi phải tiến hành thống kê thu thập các số liệu liên quan

Kết quả quá trình thống kê phát phiếu điều tra của Ủy ban nhân dân 15 phường thuộc quận đã thống kê được danh sách các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh và hộ gia đình đang khai thác sử dụng nước ngầm trên địa bàn quận

là 4.145 giếng với 120 đơn vị sản xuất kinh doanh, 4.025 hộ gia đình Trong đó, hầu hết đều là những công trình có lưu lượng khai thác dưới 20 m3/ngày.đêm (4.137 giếng), chỉ có 08 cụm giếng khoan có lưu lượng trên 20 m3/ngày.đêm (May Legamex, Khách sạn Kỳ Hòa, Giày Sài Gòn, HTX phường 14, Siêu thị Maximark, Chung cư 96, 88, 46 căn)

1.3.1 Thuận lợi

Nhìn chung, tính đến thời điểm hiện tại, hệ thống các quy trình, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý về tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận gần như đầy đủ và đã được phổ biến triển khai đến Ủy ban nhân dân 15 phường thuộc quận

Hệ thống các văn bản, quy trình, thủ tục hồ sơ về triển khai thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận đã được Ủy ban nhân dân quận10 ban hành; đang trong giai đọan triển khai thực hiện và hòan thiện dần trong quá trình quản lý Cụ thể như:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong “Triển khai cấp phép khai thác giếng khoan trên địa bàn quận 10”

Trang 20

Hồ sơ phục vụ công tác cấp mới, gia hạn, điều chỉnh giấy phép khoan thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất, gồm có:

- Mẫu đơn đề nghị cấp giấy phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất

- Mẫu đơn đề nghị gia hạn giấy phép khai thác nước dưới đất

- Mẫu quyết định cấp phép khai thác nước dưới đất

- Mẫu giấy phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất

- Mẫu sơ đồ vị trí giếng

- Mẫu báo cáo tình hình thực hiện giấy phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất (đối với trường hợp xin gia hạn giấy phép khai thác nước dưới đất)

- Phiếu đăng ký khai thác nước dưới đất

- Quy trình, thủ tục xin cấp giấy phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất

Ủy ban nhân dân 15 phường quận 10 đang lưu trữ danh sách và phiếu kê khai của 4.025 tổ chức, cá nhân có khai thác, sử dụng giếng trên đại bàn phường, lưu trữ 08 giấy đăng ký khai thác nước dưới đất của 08 tổ chức cá nhân; hiện 15 phường đang trong quá trình hoàn tất triển khai đăng ký khai thác nước dưới đất nên vẫn đang trong quá trình cập nhật, bổ sung hồ sơ, dữ liệu lưu trữ

1.3.2 Khó khăn

Những thông tin, số liệu về tình hình khai thác tài nguyên nước dưới đất hiện đang lưu trữ, quản lý tại quận còn rất hạn chế Tính đến thời điểm hiện nay, quận chỉ lưu trữ danh sách của 4.145 tổ chức, cá nhân hiện đang khoan, khai thác tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn (Tài liệu thống kê); 08 hồ sơ đã được cấp giấy phép khoan thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất; đang cập nhật thông tin vào danh sách về hiện trạng khai thác (cụ thể như: những tổ chức, cá nhân đã tiến hành đăng ký khai thác nước dưới đất tại phường, những giếng không còn khai thác sử dụng, những giếng đã trám lấp)

Các thông tin dữ liệu bàn giao từ trước năm 2004 đến nay không còn sử dụng được

Trang 21

Toàn bộ hồ sơ lưu trữ về công tác quản lý tài nguyên nước tại quận 10 là

hồ sơ giấy, không có bản đồ giấy cũng như bản đồ số

Các tập tin dữ liệu số chỉ là những tập tin trên phần mềm excel, được nhập liệu để phục vụ cho công tác thống kê số liệu, hoặc các tập tin báo cáo trên phần mềm word; không có phần mềm ứng dụng riêng để hỗ trợ

Công tác thống kê số liệu, báo cáo định kỳ và đột xuất chủ yếu được chuyên viên tác nghiệp bằng phương pháp thủ công, tốn rất nhiều thời gian và sức lực, nhưng lại thiếu tính thống nhất giữa quận và phường

1.4 Hiện trạng quản lý

1.4.1 Tổ chức bộ máy

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước dưới

đất trên địa bàn quận

UBND Tp.HCM

Trang 22

Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước ngầm và đăng ký

khai thác nước dưới đất trên địa bàn quận 10

Từ 02 sơ đồ trên, ta diễn giải mô hình quản lý hiện tại đối với tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận 10 như sau:

- Là một cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp quận – huyện, Ủy ban nhân dân quận 10 chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về mọi lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có quản lý về môi trường và

cụ thể trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này là công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất theo phân cấp Vì vậy, để thực hiện nhiệm vụ được giao, Ủy ban nhân dân quận 10 phân công các Phòng ban quận chịu trách nhiệm phối hợp thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận, cụ thể như sau:

1/ Phòng Tài chính Kế hoạch: chịu trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân quận10 thực hiện việc thu, chi kinh phí thực hiện công tác quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận

2/ Phòng Tài nguyên và Môi trường: được giao trách nhiệm là bộ phận tác nghiệp, trực tiếp tham mưu Ủy ban nhân dân quận các vấn đề về chuyên môn liên quan mảng quản lý tài nguyên nước dưới đất; kiểm tra, giám sát

và hướng dẫn đăng ký giấy phép khoan thăm dò khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất theo đúng quy trình thủ tục hồ sơ đã niêm yết tại

UBND Quận 10

Phòng TN&MT

(Tổ Môi trường)

Phòng Tài chính Kế hoạch UBND 15 phường

Tổ chức, cá nhân đăng ký khai thác nước dưới đất hoặc Giấy phép giếng

Trang 23

quận Ngòai ra, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận còn chịu sự chỉ đạo trực tiếp theo ngành dọc của Sở Tài nguyên và Môi trường về chuyên môn 3/ Ủy ban nhân dân 15 phường: là đơn vị hành chính cấp cơ sở, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân quận 10 về mọi mặt Mỗi phường bố trí một cán bộ phụ trách chung về công tác môi trường và chịu sự chỉ đạo về ngành dọc trực tiếp của Phòng Tài nguyên và Môi trường quận

* Mặt hạn chế của quy trình quản lý này:

- Ủy ban nhân dân phường là đơn vị tác nghiệp về mọi mặt, nhưng lại không có cán bộ được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ nên rất khó đáp ứng yêu cầu công việc

- Cơ chế quản lý, thông tin một chiều theo hướng cơ quan cấp dưới báo cáo cơ quan cấp trên, vì vậy rất khó cho phường nắm được số liệu quản lý của quận, cũng như quận nắm được số liệu quản lý của Sở tài nguyên và Môi trường Vì nếu không nắm được số liệu sẽ dẫn đến việc chồng chéo và sai lẹch số liệu, thông tin trong quá trình quản lý

1.4.2 Con người

* Nhân sự phụ trách công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất tại quận

Lãnh đạo quận: 01 người

- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 10: Phụ trách chung khối quản lý đô thị tại quận

Tổ Môi trường: gồm 04 người, được phân công phụ trách theo từng mảng công

tác của tổ, trong đó có 01 người phụ trách công tác quản lý tài nguyên nước dưới

đất

Trang 24

Cấp phường: Cán bộ phụ trách công tác quản lý môi trường tại 15 phường

thuộc quận gồm 21 người Tuy nhiên, do chức danh cán bộ môi trường phường không có nên một cán bộ phường thường phải kiêm nhiệm rất nhiều mảng công tác (địa chính, xây dựng và môi trường) và công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất chỉ là một nhánh trong quản lý môi trường tại địa phương Vì vậy, thường bị xem nhẹ và ít quan tâm, thường chỉ làm để đối phó các chỉ đạo từ cấp trên

* Trình độ

- Nhìn chung trình độ các cán bộ chuyên trách về công tác quản lý môi trường tại quận đạt yêu cầu (100% đã tốt nghiệp đại học) Tuy nhiên số cán bộ tốt nghiệp đại học đúng chuyên ngành về môi trường tại quận chỉ có 05 hiện đang

là chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 10 Trong đó, phụ trách

công tác quản lý tài nguyên nước là 01 Kỹ sư Môi trường

- Trên 90% các cán bộ phụ trách về môi trường tại 15 phường quận 10 chưa được đào tạo về chuyên ngành môi trường, do đó còn rất hạn chế về một số kiến thức chuyên môn, điều này gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện

các công tác chuyên ngành về môi trường tại phường

1.4.3 Quy trình

- Hiện tại, công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất cấp quận huyện được tập

trung ở 2 nội dung sau:

+ Quản lý chung về tài nguyên nước dưới đất tại quận

+ Quản lý công tác cấp phiếu đăng ký khai thác nước dưới đất tại phường

* Quản lý chung về tài nguyên nước dưới đất

- Ủy ban nhân dân quận (Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 10) chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường thực hiện dựa trên các nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; cụ thể chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường:

+ Thực hiện thống kê, cập nhật thông tin số liệu liên quan hoạt động khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quản

Trang 25

+ Tổ chức đăng ký khai thác nước dưới đất đối với các giếng đang khai thác, sử dụng trên địa bàn phường và có lưu lượng khai thác dưới 20

m3/ngày.đêm

+ Chịu trách nhiệm quản lý, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật hiện hành đối với các giếng đang khai thác, sử dụng trên địa bàn phường

+ Kịp thời báo cáo, cung cấp các thông tin, số liệu liên quan công tác quản

lý tài nguyên nước dưới đất theo chỉ đạo và yêu cầu của Ủy ban nhân dân quận (Phòng Tài nguyên và Môi trường)

+ Phối hợp Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các chủ giếng chấp hành các quy định pháp luật hiện hành đối với các giếng đang khai thác, sử dụng

- Ủy ban nhân dân quận (Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 10) căn cứ các

số liệu thống kê từ Ủy ban nhân dân phường tổng hợp, hoàn chỉnh số liệu thống kê ban đầu thành số liệu quản lý chung toàn quận trên phần mềm excel theo một định dạng chung và chuyển trở lại Ủy ban nhân dân 15 phường để cập nhật, báo cáo định kỳ quý; chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân thành phố về công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo về Ủy ban nhân dân thành phố (Sở Tài nguyên và Môi trường)

- Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân quận thực hiện các nội dung liên quan công tác quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước dưới đất; phối hợp, hỗ trợ Ủy ban nhân dân phường thực hiện kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các quy định pháp luật hiện hành liên quan hoạt động khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận; phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường trong công tác kiểm tra các giếng khoan có lưu lượng khai thác từ trên 20 m3/ngày.đêm

* Đăng ký khai thác nước dưới đất

- Ủy ban nhân dân 15 phường tổ chức tiếp nhận, lưu trữ và theo dõi hồ sơ đăng

ký khai thác nước dưới đất đối với các công trình khai thác không vì mục đích

Trang 26

kinh doanh và có lưu lượng khai thác dưới 20 m3/ngày.đêm; không nằm trong vùng cấm, vùng hạn chế khai thác và không phục vụ cho hoạt động kinh doanh, sản xuất các loại nước uống cho các đối tượng quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 8 - Quyết định 17/2006/QĐ-UBND Tuy nhiên do không quy định về thời gian và trình tự thủ tục đăng ký khai thác nước dưới đất, nên để kịp tiến độ, Ủy ban nhân dân 15 phường đã tổ chức đăng ký khai thác nước dưới đất theo trình tự sau:

Quy trình

Hình 1.3: Quy trình đăng ký khai thác nước dưới đất (dưới 20m 3 /ngày)

Diễn giải quy trình

- Ủy ban nhân dân phường giao mẫu phiếu đăng ký khai thác nước dưới đất đến ban điều hành tổ dân phố đề nghị phát cho các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân đang khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất để thực hiện kê khai theo mẫu và yêu cầu ban điều hành tổ dân phố thu lại nộp về phường để phường rà soát thống kê lưu lượng khai thác và phân loại theo lưu lượng, đối tượng khai thác

- Đối với các hộ gia đình có lưu lượng khai thác dưới 20 m3/ngày, Ủy ban nhân dân phường xác nhận vào phiếu đăng ký khai thác và chuyển ban điều hành tổ dân phố giao hộ gia đình, tổ chức, cá nhân được xác nhận giữ 1 bản, Ủy ban nhân dân phường giữ 01 bản, sau đó Ủy ban nhân dân phường lập danh sách

UBND phường

Hộ gia đình khai thác nước dưới đất

(Lưu lượng khai thác dưới

20m 3 /ngày)

Tổ dân phố

Doanh nghiệp khai thác nước dưới đất

(Lưu lượng khai thác dưới

20m 3 /ngày)

UBND quận

(P.TN&MT)

Trang 27

vào nhóm đăng ký khai thác nước dưới đất, chuyển Ủy ban nhân dân quận (Phòng Tài nguyên và Môi trường) để báo cáo

- Đối với các giếng có lưu lượng khai thác trên 20m3/ngày hoặc các giếng có lưu lượng khai thác dưới 20m3/ngày nhưng phục vụ cho mục đích kinh doanh,

Ủy ban nhân dân phường lập danh sách chuyển Ủy ban nhân dân quận (Phòng Tài nguyên và Môi trường) để kiểm tra, giám sát trực tiếp sau đăng ký

1.4.4 Trang thiết bị

Nhìn chung, số lượng trang thiết bị phục vụ công tác quản lý môi trường cấp quận còn thiếu và hoàn toàn không có các máy móc, thiết bị phục vụ công tác đo đạc, quan trắc và phân tích các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm

* Đối với cấp phường

Cán bộ phụ trách môi trường phường hoàn toàn không được trang bị máy vi tính dùng riêng Khi có nhu cầu sử dụng máy, các cán bộ này dùng chung máy với các tổ khác Vì vậy, vấn đề tin học hoá trong công tác quản lý môi trường tại phường cần được quan tâm nhiều hơn, nhằm đem lại hiệu quả cho công tác quản lý các số liệu về môi trường tại địa phương

* Đối với cấp quận

Toàn tổ Môi trường có 04 chuyên viên, được trang bị 04 máy vi tính, tốc

độ và dung lượng máy cao, với chất lượng máy tương đối tốt Nhìn chung đáp ứng được nhu cầu tin học hoá các số liệu về quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn quận 10, trong giai đoạn hiện tại

Tuy nhiên nếu cần quản lý về lâu dài, cần xây dựng thêm một số chương trình ứng dụng phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước ngầm trên địa bàn

quận

Trang 28

Chương 2: THIẾT KẾ MÔ HÌNH HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC VẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM TẠI QUẬN 10

2.1 Phân tích, đánh giá mô hình hệ thống hiện tại

2.1.1 Phân tích mô hình hệ thống tổ chức quản lý hiện tại về tài nguyên

nước dưới đất trên địa bàn quận 10

Hình 2.1: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước dưới đất hiện tại

Từ mô hình hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước dười đất hiện tại

(Hình 2.1) ta có thể chia quá trình quản lý tài nguyên nước dưới đất tại quận 10

ra làm 3 phần Bao gồm:

1/ Đầu vào : Các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất 2/ Hệ thống : Quá trình tổ chức quản lý tại quận 10

3/ Đầu ra : Thông tin, số liệu thống kê lưu trữ (Giấy phép khai thác tài

nguyên nước dưới đất Giấy đăng ký khai thác nước dưới đất, danh sách trám lắp, số liệu thống kê)

Áp dụng phương pháp SWOT ta phân tích, đánh giá mô hình hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước dưới đất hiện tại ở quận 10 như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật

Giấy phép

Phiếu đăng ký

Trang 29

* Phân tích đầu vào của hệ thống

- Số lượng các tổ chức, cá nhân hiện

đang khai thác, sử dụng tài nguyên

nước dưới đất trên địa bàn quận hiện

không nhiều (Khỏang trên 4.000

giếng), phần lớn chỉ tập trung ở các

phường phía bắc quận (phường 13, 14

và 15) và hầu như nằm trong danh

sách quản lý của phường, lượng giếng

khai thác mới gần như rất ít

- Nếu quản lý tốt các đối tượng này thì

sẽ tạo tác động chuyển biến đáng kể đến hoạt động khai thác tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận, góp phần cải thiện tình hình khai thác nước ngầm của thành phố

- Ý thức chấp hành pháp luật của đại đa

số các đối tượng này không cao, vì

đại đa số đối tượng hiện đang khai

thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất

trên địa bàn quận là các hộ gia đình,

chỉ một số ít là các công ty, cơ quan,

xí nghiệp và trường học

- Ý thức tự giác bảo vệ nguồn tài

nguyên nước dưới đất chưa được

quan tâm

- Một khi người dân chưa nhận thức đầy đủ tác động của việc khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất bừa bãi sẽ dẫn đến tình trạng khai thác trộm hoặc khai không đúng khi các

cơ quan quản lý thu thập thông tin, gây trở ngại cho các hoạt động quản

lý của địa phương

Vì vậy, việc quản lý nguồn tài nguyên nước dưới đất phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, ý thức của các đối tượng đang khai thác, sử dụng Muốn quản lý tốt trước tiên phải nâng mức độ hiểu biết và chấp hành pháp luật của người dân đối với pháp luật, đồng thời cũng cần tác động đến trình độ nhận thức của người dân đối với môi trường, sao cho người dân ý thức được việc khai thác và sử dụng tài nguyên phải hợp lý và đảm bảo phát triển bền vững

Trang 30

* Phân tích bên trong hệ thống

Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận là một quá trình tác động tương hỗ và thống nhất giữa các thực thể, đối tượng bên trong hệ thống và chúng không thể tồn tại và tách rời nhau Vì vậy, bất kỳ một

sự thay đổi nào bên trong hệ thống cũng sẽ kéo theo sự thay đổi của tòan bộ hệ thống Trong đó, các đối tượng bên trong hệ thống cụ thể như sau:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

- Về nguyên tắc, hệ thống các văn bản

quy phạm pháp luật liên quan lĩnh

vực quản lý tài nguyên nước từ cấp

trung ương đến địa phương đã tương

đối đầy đủ Cụ thể: Luật Bảo vệ Môi

trường; Nghị định 149/2004/NĐ-CP

ngày 09/12/2004 và Nghị định

34/2005/NĐ-CP ngày 12/3/2005 của

Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực quản lý tài

nguyên nước; 02 Thông tư hướng dẫn

cho 02 nghị định trên là Thông tư số

hóa các quy định trên địa bàn thành

phố và một loạt các văn bản hướng

dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường

thành phố

- Để có thể quản lý tốt nguồn tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận, trước tiên quận và phường phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc lắp đặt thiết bị đo lưu lượng khai thác tại các giếng khoan đang khai thác,

sử dụng tại địa phương

- Từ lưu lượng khai thác tài nguyên nước dưới đất ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng nguồn tài nguyên, việc sử dụng tài nguyên nước dưới đất có bền vững hay không, từ đó đưa

ra dự báo và định hướng khai thác, quản lý

Trang 31

04/9/2007 của Ủy ban nhân dân

thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu tất

cả các giếng không còn khai thác, sử

dụng phải tiến hành trám lấp theo

đúng kỹ thuật, tuy nhiên lại không có

biện pháp chế tài nào đối với hành vi

không thực hiện các quy định trên

- Việc gắn thiết bị đo lưu lượng khai

thác được quy định đối với các giếng

khoan thuộc đối tượng phải có giấy

phép khoan thăm dò, khai thác, sử

dụng tài nguyên nước dưới đất (tổng

lưu lượng khai thác từ 20

m3/ngày.đêm trở lên), trong khi đó

lại không quy định đối với các giếng

thuộc đối tượng phải đăng ký khai

thác tại phường – xã (tổng lưu lượng

khai thác từ 20 m3/ngày.đêm trở lên)

vì hơn 97% giếng đang khai thác sử

dụng thuộc đối tượng không cần

phải xin phép

- Quyết định 77/2007/QĐ-UBND Ủy

Công tác thu phí nước thải đối với các

tổ chức, cá nhân đang khai thác sử dụng nguồn tài nguyên theo tinh thần Nghị định 04/2007/NĐ-CP:

- Không quản lý được lưu lượng khai thác của các giếng đang khai thác sử dụng

- Không có nhân sự thực hiện việc thu phí

- Quy trình, thủ tục thực hiện công tác thu phí sẽ làm phát sinh thêm 1 bộ phận hành chính nhằm quản lý việc thu, chi theo đúng các quy định pháp luật hiện hành

- Số lượng tiền thu được từ các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên nước dưới đất không nhiều

- Công tác kiểm tra, giám sát và yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải thực trám lấp các giếng khoan hiện không còn nhu cầu khai thác sử dụng

- Kinh phí thực hiện trám lấp đúng kỹ thuật cao, người dân không có điều kiện để thực hiện

- Người dân đối phó với các cơ quan nhà nước bằng cách tự trám lấp không đúng kỹ thuật và thông báo với phường để ghi nhận đã trám lấp

Trang 32

ban nhân dân thành phố quy định về

đóng thuế tài nguyên nước, tuy nhiên

vẫn không quy định rõ đối tượng nào

phải đóng thuế, vì vậy các quận tự

hiểu và vận dụng phối hợp các điều

khỏan quy định trong Luật Bảo vệ

môi trường để yêu cầu các đơn vị

đóng thuế Việc này làm giảm hiệu

quả thực thi các quy định pháp luật

trong công tác quản lý tài nguyên

nước dưới đất Đồng thời, cơ quan

thuế là cơ quan theo ngành dọc,

không chịu sự quản lý của Ủy ban

nhân dân quận, do đó việc chấp hành

các quy định về thuế của các tổ chức,

cá nhân đang khai thác, sử dụng

nguồn tài nguyên nước dưới đất Ủy

ban nhân dân quận không giám sát,

quản lý được Ủy ban nhân dân quận

chỉ biết cấp phép và gửi cho cơ quan

thuế 01 bản chính Giấy phép để cơ

quan thuế theo dõi và cập nhật

- Mặc dù từ năm 2007, quận đã có văn

bản triển khai đến 15 Ủy ban nhân

dân 15 phường yêu cầu phường

thông báo và giám sát việc gắn thiết

bị đo lưu lượng khai thác của các tổ

chức, cá nhân đang khai thác sử

dụng tài nguyên nước dưới đất trên

- Cán bộ phường không đủ lực lượng hoặc không giám sát đối với việc trám lấp giếng của người dân

Trang 33

địa bàn phường Tuy nhiên, đến nay

công tác này vẫn chưa được thực

hiện đầy đủ và hiệu quả trên địa bàn

15 phường

- Các phường tổ chức thực hiện thu

phí nước thải đối với các tổ chức, cá

nhân đang khai thác sử dụng nguồn

tài nguyên theo tinh thần Nghị định

04/2007/NĐ-CP Về thực hiện thu

phí nước thải nhằm tác động đến ý

thức tiết kiệm tài nguyên của người

dân Vì hiện nay, theo ghi nhận thì

15/15 phường quận 10 đều không

thực hiện thu phí bảo vệ môi trường

đối với nước thải của các hộ sử dụng

giếng khoan

- Công tác kiểm tra, giám sát và yêu

cầu các tổ chức, cá nhân phải thực

trám lấp các giếng khoan hiện không

còn nhu cầu khai thác sử dụng trên

địa bàn phường hiện vẫn chưa được

quan tâm và thực hiện triệt để, mặt

dù đã có quy định tại Quyết định

14/2007/QĐ-UBND ngày 04/9/2007

và đã được quận triển khai thực hiện

Về con người

- Nhân sự trực tiếp làm công tác quản

lý tài nguyên nước cấp quận có

- Rất được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo đối với công tác

Trang 34

chuyên môn đào tạo về môi trường

- Trình độ công nghệ thông tin của các

cán bộ phụ trách công tác môi trường

quận và phường nhìn chung đáp ứng

được nhu cầu thực hiện tin học hóa

trong công tác quản lý tài nguyên

nước

- Đã có ký kết các chương trình hành

động liên tịch về bảo vệ môi trường

theo tinh thần Nghị quyết 41 về bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa với các đòan

thể tại địa phương (Liên đòan Lao

động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu

Chiến binh, Đòan Thanh niên, Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Tài

nguyên và Môi trường)

quản lý môi trường nói chung và công tác quản lý tài nguyên nước nói riêng

- Nếu được trang bị đầy đủ các máy móc thiết bị và được sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng tin học vào công tác quản lý sẽ tăng hiệu quả rất nhiều cho hoạt động quản lý của địa phương

- Việc sử dụng và phát huy hiệu quả vai trò và thế mạnh của các đòan thể liên tịch tại địa phương sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao về chất cho hoạt động quản lý tài nguyên nước dưới đất, giảm áp lực về nhân

sự làm công tác quản lý như hiện nay

- Nhân sự làm công tác quản lý môi

trường tại quận 10 (cấp quận và cấp

phường), quản lý tất cả các mặt về

môi trường tại địa phương, trong đó

có công tác quản lý tài nguyên nước

dưới đất

- Mặt khác, chức danh cán bộ môi

trường tại phường hiện không có, tất

cả là kiêm nhiệm từ các chức danh

khác, tùy tình hình địa phương, có

phường do cán bộ địa chính kiêm

- Mặt hạn chế về nhân lực đã gây khó khăn trong công tác phối hợp, quản lý tài nguyên nước tại địa phương

- Do không nắm được các kiến thức chuyên môn kỹ thuật về môi trường nên khó khăn trong công tác giải quyết khiếu nại, kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoan thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất

Trang 35

nhiệm, có phường do cán bộ trật tự đô

thị kiêm nhiệm, thường xuyên luân

chuyển công tác và hầu như chưa

được đào tạo chuyên môn về môi

trường

- Hiện vẫn chưa có sự phối hợp, hỗ trợ

trong công tác tuyên truyền, giám sát

việc thực hiện các quy định về quản

lý tài nguyên nước của các tổ chức

đoàn thể liên tịch tại địa phương

Trong khi đó, đây lại là lực lượng rất

đông và sát với địa bàn, dễ dàng nắm

bắt thông tin để kịp thời cung cấp cho

các cơ quan chuyên môn của địa

phương

- Việc nắm bắt các thông tin phản hồi

từ các đòan thể liên tịch trong công tác phối hợp, thông tin trong giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật

về bảo vệ môi trường tại địa phương còn hạn chế

Trang thiết bị

- Hệ thống máy tính tại quận trước mắt

có cấu hình đáp ứng được nhu cầu tin

học hóa trong công tác quản lý tài

nguyên nước trên địa bàn quận Ngoài

ra, các trang thiết bị ngoại vi hỗ trợ

như máy in, máy scan được trang bị

đầy đủ

- Nhân sự phụ trách công tác quản lý

môi trường tại quận được trang bị

máy tính dùng riêng nên có điều kiện

để đưa công nghệ thông tin vào công

tác quản lý tài nguyên nước dưới đất

- Các cấp lãnh đạo quận rất quan tâm đầu tư cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính, với tư duy tin học hóa hệ thống quản lý sẽ là cơ hội để đưa tin học và GIS vào công tác quản lý tài nguyên nước tại quận

Trang 36

ĐIỂM YẾU THÁCH THỨC

- Phần lớn phường chưa trang bị riêng

máy tính cho từng người, thường phải

sử dụng chung máy tính và các thiết

bị ngoại vi nên không có điều kiện để

tin học hóa các thông tin, số liệu phục

vụ công tác quản lý tài nguyên nước

trên địa bàn phường

- Công tác quản lý và cấp phép hoạt

động tài nguyên nước đòi hỏi phải

được trang bị thiết bị định vị toàn cầu

(GPS) để hỗ trợ cho việc xác định tọa

độ, vị trí giếng để ghi vào phiếu đăng

ký khai thác Tuy nhiên, do thiếu kinh

phí và số lượng giếng cần cấp giấy

phép trên địa bàn quận không nhiều

nên thiết bị này hiện nay chưa được

quan tâm trang bị

- Các thiết bị hỗ trợ trong quá trình

kiểm tra, giám sát các thông tin về

giếng khoan để phục vụ cho việc xác

định chiều sâu giếng khoan, chiều sâu

mực nước tĩnh và chiều sâu mực nước

động không có

- Thiếu máy vi tính sẽ gây khó khăn trong việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin và GIS vào quản lý

- Không có thiết bị định vị toàn cầu (GPS) sẽ không thể xác định chính xác tọa độ để đưa vào bản đồ

- Thiếu các thiết bị hỗ trợ xác định chiều sâu giếng khoan, chiều sâu mực nước tĩnh và chiều sâu mực nước động sẽ gây khó khăn cho cán bộ thụ

lý hồ sơ cấp phép giếng trong việc thẩm định các thông tin số liệu do các

tổ chức, cá nhân cung cấp

Đối với tư tài liệu

- 15 phường đã tiến hành thống kê danh

sách các tổ chức, cá nhân đang có

giếng trên địa bàn

- Các số liệu về hoạt động khai thác tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn quận về cơ bản đã có sẽ thuận lợi cho

Trang 37

- Hệ thống hồ sơ, văn bản pháp quy về

tài nguyên nước lưu trữ tại quận

tương đối đầy đủ và thường xuyên

theo dõi, cập nhật kịp thời

việc xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc tính khi ứng dụng công nghệ thông và GIS vào công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước dưới đất được tập hợp đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận tiện cho việc tra cứu, phổ biến và hướng dẫn thực hiện

- Tuy đã thống kê, nhưng số liệu vẫn

còn chưa đầy đủ và chưa chính xác

- Hồ sơ quản lý tại phường còn mang

tính thủ công, các dữ liệu lưu trữ phần

lớn bằng giấy chưa được tin học hóa,

rất khó cho việc tìm kiếm; việc thụ lý,

xử lý các hồ sơ đăng ký khai thác và

quản lý cấp phép giếng tại quận hoàn

toàn bằng thủ công

- Hệ thống văn bản về quản lý tài

nguyên nước lưu trữ tại phường

không tập trung, chưa đầy đủ, rất khó

cho việc tìm kiếm, bàn giao và tiếp

nối công việc khi luân chuyển cán bộ,

không cập nhật được thông tin, đã dẫn

số liệu cũ cung cấp Điều này là một trong những trở ngại lớn cho công tác quản lý tại quận hiện nay

- Phường không chú trọng đối với công tác quản lý môi trường tại địa phương, thường xuyên luân chuyển cán bộ phụ trách môi trường hoặc giao việc không thống nhất cho 1 người đã tạo nên áp lực cho công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất

Trang 38

Quy trình giải quyết hồ sơ cấp Giấy phép khoan thăm dò, khai thác,

sử dụng tài nguyên nước dưới đất

- Công tác quản lý khoan thăm dò,

khai thác, sử dụng tài nguyên nước

dưới đất có sự phối hợp thực hiện

đồng bộ giữa các phòng ban liên quan

quận trong việc tham mưu Ủy ban

nhân dân quận thực hiện

- Quy trình, thủ tục cấp phép được

niêm yết công khai tại bảng hướng

dẫn của Văn phòng Ủy ban thuận tiện

để người dân tham khảo

- Số lượng giếng thuộc đối tượng phải

có Giấy phép trên địa bàn quận không nhiều nên không có áp lực trong công tác kiểm tra, hướng dẫn, thuận lợi cho việc quản lý

- Thiếu sự phối kết hợp của phường

trong việc giám sát, đôn đốc, hướng

dẫn và nhắc nhở các tổ chức cá nhân

thuộc đối tượng phải có giấy phép

liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để

làm thủ tục đăng ký giấy phép

- Những trường hợp cấp phép thuộc đối

tượng cơ quan ngành dọc cấp trên

thực hiện cấp dưới không nắm được

để cập nhật và đưa vào giám sát, quản

- Yêu cầu về thông tin quản lý giếng khá sâu về chuyên môn nên người dân khó có thể tự viết

- Do số lượng giếng khoan thuộc đối tượng phải đăng ký giấy phép ít

- Rất nhiều tổ chức, cá nhân không thực hiện việc đăng ký khai thác hoặc đăng ký Giấy phép khoan thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất theo quy định

- Do trong quá trình kiểm tra thực tế, thiếu trang thiết bị để xác định các thông số trên, cũng như việc tháo giếng để đo thường gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của đơn vị

Trang 39

nên không thực hiện được (Các đơn

vị thuộc đối tượng cấp phép thường

là các đơn vị sản xuất) nên các Thông tin ghi nhận trên Giấy Phép thường chỉ dựa trên các thông tin, số liệu do các tổ chức, cá nhân đăng ký phép cung cấp trong hồ sơ đăng ký và chưa thể kiểm tra mức độ chính xác của các số liệu sau: lưu lượng khai thác, chiều sâu mực nước tĩnh, chiều sâu mức nước động, chiều sâu đặt ống lọc, tọa độ vị trí giếng khoan

Tổ chức thực hiện đăng ký khai thác nước dưới đất

- Có sự quan tâm, chỉ đạo và quán triệt

của của lãnh đạo Ủy ban nhân dân

quận trong việc triển khai yêu cầu tổ

chức thực hiện đăng ký khai thác

nước dưới đất đến Ủy ban nhân dân

15 phường nên các phường có triển

khai thực hiện tại địa phương

- Nếu quản lý tốt việc đăng ký khai thác sẽ giúp nắm chính xác được tổng lưu lượng khai thác vùng, làm cơ sở cho việc ra quyết định quy hoạch khai thác tài nguyên nước ngầm trên địa bàn thành phố Đồng thời tạo thuận lợi cho công tác trám lấp giếng tại những vùng nằm trong danh sách vùng hạn chế, vùng cấm khai thác sau này

- Phường có triển khai thực hiện, tuy

nhiên vẫn chưa sâu sát, còn mang tính

đối phó với các đợt kiểm tra, chấm

điểm của quận

- 01 cán bộ phường phải kiêm nhiệm cùng lúc nhiều mảng công tác, nên có phần xao lãng công tác quản lý tài nguyên nước, do đó số liệu thống kê

Ngày đăng: 22/04/2021, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] PGS.TS. Nguyễn Địch (2010), Lý thuyết hệ thống và điều khiển học, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết hệ thống và điều khiển học
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Địch
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2010
[2] Phạm Trọng Mạnh (chủ biên), Phạm Vọng Thành (1999), Cơ sở hệ thống thông tin địa lý trong quy hoạch và quản lý đô thị, NXB Xây dựng, trường ĐH kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hệ thống thông tin "địa lý trong quy hoạch và quản lý đô thị
Tác giả: Phạm Trọng Mạnh (chủ biên), Phạm Vọng Thành
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1999
[3] Nguyễn Văn Ngà (2009), Khả năng khai thác nước dưới đất và dự báo lún mặt đất do khai thác nước vùng tây nam thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng khai thác nước dưới đất và dự báo lún mặt "đất do khai thác nước vùng tây nam thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Văn Ngà
Năm: 2009
[4] Ths. Nguyễn Đức Tuấn (2008), Ứng dụng GIS trọng quản lý chất thải rắn sinh hoạt, Trung tâm GIS- Sở Khoa học Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS trọng quản lý chất thải rắn sinh "hoạt
Tác giả: Ths. Nguyễn Đức Tuấn
Năm: 2008
[5] Lê Văn Trung (2012), Giải pháp GIS trong quản lý nước dưới đất khu vực thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Phát triển khoa học công nghệ, tập 16 (Số 2M), tr.5-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Phát triển khoa học công nghệ
Tác giả: Lê Văn Trung
Năm: 2012
[6] Nguyễn Đình Dương, Eddy Nierynck, Phạm Ngọc Hồ, Luc Hens (1999), Ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong quy hoạch môi trường (Application of Remote sensing and GIS in environmental planning), Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng "dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong quy hoạch môi trường "(Application of Remote sensing and GIS in environmental planning)
Tác giả: Nguyễn Đình Dương, Eddy Nierynck, Phạm Ngọc Hồ, Luc Hens
Năm: 1999
[7] Daniela Ducci, (1999), GIS Techniques for Mapping Groundwater Contamination Risk, Journal Natural Hazards , Volume 20, Issue 2-3 , pp 279-294, Kluwer Academic Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: GIS Techniques for Mapping Groundwater Contamination "Risk
Tác giả: Daniela Ducci
Năm: 1999
[8] Madan K. Jha, Alivia Chowdhury, V. M. Chowdary, Stefan Peiffer (2007), Groundwater management and development by integrated remote sensing and geographic information systems: prospects and constraints , Journal Water Resources Management , Volume 21, Issue 2 , pp 427-467, Springer Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: Groundwater management and development by integrated remote sensing "and geographic information systems: prospects and constraints
Tác giả: Madan K. Jha, Alivia Chowdhury, V. M. Chowdary, Stefan Peiffer
Năm: 2007
[9] Mohamed A. Dawoud , Madiha M. Darwish, Mona M. El-Kady, (2005), GIS- Based Groundwater Management Model for Western Nile Delta , Journal Water Resources Management , Volume 19, Issue 5 , pp 585-604, Springer Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: GIS-"Based Groundwater Management Model for Western Nile Delta
Tác giả: Mohamed A. Dawoud , Madiha M. Darwish, Mona M. El-Kady
Năm: 2005
[10] Dr.Nitin Kumar Tripathi (2000), Principles of GIS, Space technology Application and Research Program, ASIA Institude of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of GIS
Tác giả: Dr.Nitin Kumar Tripathi
Năm: 2000
[11] R. Kunkel , F. Wendland (1997), WEKU – a GIS-Supported stochastic model of groundwater residence times in upper aquifers for the supraregional groundwater management, Journal Environmental Geology, Volume 30, Issue 1-2 , pp 1-9 , Springer-Verlag Sách, tạp chí
Tiêu đề: WEKU – a GIS-Supported stochastic model of "groundwater residence times in upper aquifers for the supraregional groundwater "management
Tác giả: R. Kunkel , F. Wendland
Năm: 1997
[12] SA.P.Subudhi, B.s.Sokhi, P.s.Roy (2001), Remote Sensing and Gis Application in urban and regional studies, Human settlement analysis group, India Institude of remote sensing (National remote sensing agency), Dept.of space, Govt.of India.DEHRADUN, INDIA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Remote Sensing and Gis Application in "urban and regional studies
Tác giả: SA.P.Subudhi, B.s.Sokhi, P.s.Roy
Năm: 2001
[13] Salwa Saidi , Salem Bouri, Hamed Ben Dhia (2013), Groundwater management based on GIS techniques, chemical indicators and vulnerability to seawater intrusion modelling: application to the Mahdia–Ksour Essaf aquifer, Tunisia, Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Groundwater management "based on GIS techniques, chemical indicators and vulnerability to seawater "intrusion modelling: application to the Mahdia–Ksour Essaf aquifer, Tunisia
Tác giả: Salwa Saidi , Salem Bouri, Hamed Ben Dhia
Năm: 2013
[14] Stephen Foster, Albert Tuinhof và nnk (2003) Groundwater management Strategies facest of the intergrated approach, Note Series Sustainable Groundwater Management Concepts & Tools, The World bank, The Global water partnership associate program Sách, tạp chí
Tiêu đề: Groundwater management "Strategies facest of the intergrated approach
[15] Sudha Venu Menon (2007), Ground Water Management: Need for Sustainable Approach, MPRA Paper No. 6078, posted 4. December 2007 09:23 UTC, truy cập tại http://mpra.ub.uni-muenchen.de/6078/ (ngày ….)II/ Dự án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ground Water Management: Need for Sustainable "Approach
Tác giả: Sudha Venu Menon
Năm: 2007
[16] TSKH. Bùi Tá Long, TS. Lê Thị Quỳnh Hà, Cao Duy Trường (2005), “Phần mềm quản lý cấp phép tài nguyên nước tại Thành phố Đà Nẵng”, Viện Cơ học Ứng dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần mềm quản lý cấp phép tài nguyên nước tại Thành phố Đà Nẵng
Tác giả: TSKH. Bùi Tá Long, TS. Lê Thị Quỳnh Hà, Cao Duy Trường
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w