1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm của người chăm ở ninh thuận

82 80 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm của người chăm ở ninh thuận
Tác giả Trần Thị Thanh Trúc
Người hướng dẫn TS. Trương Văn Món
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Công trình nghiên cứu
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu mong muốn đóng góp thêm một khía cạnh về nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận qua các ý nghĩa biểu tượng của những hoa văn thể hiện trên đó.. Nghiên cứu “Ý nghĩ

Trang 1

KHOA NHÂN HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2016

Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG CỦA HOA VĂN THỔ CẨM

CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN

Sinh viên thực hiện:

Trang 2

KHOA NHÂN HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2016

Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG CỦA HOA VĂN THỔ CẨM

CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN

Sinh viên thực hiện:

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Trương Văn Món với sự hướng dẫn tận tình và đồng hành cùng tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này Sự am hiểu sâu sắc về văn hóa Chăm và định hướng nghiên cứu mang tính khoa học của thầy đã khơi gợi tác giả đến với chủ đề nghiên cứu và cũng từ đó công trình được từng bước hoàn thiện hơn

Tác giả xin cảm ơn tập thể khoa Nhân học đã tạo điều kiện để công trình được thể hiện trọn vẹn ý tưởng của mình Xin cảm ơn thầy cô đã khích lệ và trao cơ hội được tự chiêm nghiệm lại và nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về đề tài cho tác giả Qua đó, tác giả có thể tiếp tục theo đuổi nghiên cứu của mình Xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp Nhân học 12 (khóa 2012 – 2016) đã quan tâm đến nghiên cứu này và điều đó tạo động lực cho tác giả cố gắng nhiều hơn trong quá trình thực hiện đề tài

Xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt dành cho gia đình kính yêu, nơi mọi ngọn nguồn nỗ lực không ngừng được khởi sinh và vun bồi Hành trình nghiên cứu khoa học, bên cạnh những vấn đề chuyên môn, cho thấy sức mạnh của tình cảm gia đình đã động viên tác giả trong nhiều hoàn cảnh và nghiên cứu này chính là một minh chứng cho tình yêu thương

đó

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

DẪN LUẬN 3

1 Lý do và mục đích chọn đề tài 3

1.1 Lý do chọn đề tài 3

1.2 Mục đích chọn đề tài 4

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn thời gian nghiên cứu 6

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 7

4.1 Câu hỏi nghiên cứu 7

4.2 Giả thuyết nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Thao tác hóa các khái niệm và lý thuyết nghiên cứu 10

1.2 Lịch sử nghiên cứu 15

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 21

1.3.1 Lịch sử và đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội 21

1.3.2 Tôn giáo của người Chăm 23

CHƯƠNG 2 28

BIỂU TƯỢNG HOA VĂN THỔ CẨM CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN 28

2.1 Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 28

2.1.1 Cơ chế truyền dạy nghề dệt của người Chăm ở Ninh Thuận 28

2.1.2 Vật liệu và công cụ dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 30

2.1.3 Quy trình dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 31

2.1.4 Tình hình nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận hiện nay 32

2.2 Tiếp cận hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 34

2.2.1 Hiện trạng về hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 34

2.2.2 Định hướng tiếp cận hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 37

Trang 5

2.3 Hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 40

2.3.1 Hoa văn thần Vishnu và chim công trên thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 40

2.3.2 Hoa văn dấu chân chó và mắt gà trên thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 42

2.3.3 Hoa văn sóng biển và hình rồng trên thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận 43

CHƯƠNG 3 46

GIẢI MÃ Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG CỦA HOA VĂN THỔ CẨM NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN 46

3.1 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm trong Bà la môn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận 46

3.1.1 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thần Vishnu trong Bà la môn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận 46

3.1.2 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn chim công trong Bà la môn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận 48

3.2 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm trong tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp của người Chăm ở Ninh Thuận 51

3.2.1 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn dấu chân chó trong tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp của người Chăm ở Ninh Thuận 51

3.2.2 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn mắt gà trong tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp của người Chăm ở Ninh Thuận 53

3.3 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm trong tín ngưỡng thờ thần biển của người Chăm ở Ninh Thuận 56

3.3.1 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn sóng biển trong tín ngưỡng thờ thần biển của người Chăm ở Ninh Thuận 56

3.3.2 Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn hình rồng trong tín ngưỡng thờ thần biển của người Chăm ở Ninh Thuận 59

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO i

PHỤ LỤC 1

Trang 6

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Tộc người Chăm ở Việt Nam có nhiều hoạt động sản xuất và biểu diễn nghệ thuật đặc sắc và các nghề thủ công truyền thống là một nét biểu hiện Trong đó, nghề dệt thổ cẩm chứa đựng những yếu tố văn hóa đặc thù của tộc người qua những hoa văn được dệt nên bởi chính họ Làng dệt Mỹ Nghiệp (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) là một điểm hội tụ những hộ gia đình vẫn làm nghề này cho đến nay Với đời sống phong phú của cộng đồng, người Chăm ở Ninh Thuận thực hành tôn giáo theo cách riêng của mình và hoa văn thổ cẩm là một minh chứng biểu hiện cho đặc trưng văn hóa của tộc người Đề tài nghiên cứu mong muốn đóng góp thêm một khía cạnh về nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận qua các ý nghĩa biểu tượng của những hoa văn thể hiện trên đó

Tôn giáo mà người Chăm Mỹ Nghiệp thực hành tạo nên hệ thống ý nghĩa cho biểu tượng của mô típ hoa văn thổ cẩm của họ và điều này được khám phá qua quá trình nghiên cứu tại thực địa và phân tích dữ liệu thu thập được Đề tài chỉ có thể tìm hiểu một

số tôn giáo của cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu, đó là Bà la môn giáo, tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp và tín ngưỡng thờ thần biển Những hình tượng mang tính tôn giáo đã được chuyển hóa khúc chiết trên những tấm thổ cẩm người làng Mỹ Nghiệp dệt Theo khả năng và định hướng tiếp cận của nghiên cứu, các mô típ hoa văn được tìm hiểu có tính chọn lọc Hoa văn thần Vishnu và chim công xuất phát từ Bà la môn giáo thể hiện những hình tượng cao quý có vị trí xác định trong tâm thức của người địa phương Với tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, những mô típ hoa văn dấu chân chó và mắt gà biểu thị những hình ảnh gần gũi trong cuộc sống con người trong mối liên hệ với vật nuôi quanh nhà Và các mô típ hoa văn sóng biển và hình rồng tượng trưng cho những yếu tố của tín ngưỡng thờ thần biển – nơi lưu giữ ký ức của tộc người Cội nguồn tôn giáo đã trở thành điểm khởi xuất cho những sự thể hiện các ý nghĩa biểu tượng này qua các mô típ hoa văn

Có thể thấy, những ý nghĩa biểu tượng của các hoa văn thổ cẩm đã diễn tả ý niệm trừu tượng mang tính tôn giáo một cách cụ thể hơn và khẳng định giá trị đặc biệt của tôn giáo trong đời sống của người Chăm của cộng đồng

Trang 7

Vấn đề về biểu tượng và ý nghĩa trong nghiên cứu này được nhìn nhận dưới góc độ nhân học diễn giải của Clifford J Geertz và Sherry B Ortner, đặc biệt quan tâm ở đây là biểu tượng về văn hóa Thế giới quan của con người được phản ánh qua những biểu tượng

và từ đó các biểu tượng mang tính chi tiết lẫn khái quát khi thể hiện nhận thức và hành động của chính họ, cụ thể là người Chăm tại làng dệt Mỹ Nghiệp Phương pháp “miêu tả chiều sâu” (Geertz, 1973b:06) được vận dụng để ghi nhận lại những tiếng nói từ cộng đồng cũng như tái hiện hình ảnh của những hoa văn thổ cẩm

Người Chăm, với việc lưu giữ giá trị văn hóa đặc trưng của mình qua nghề dệt thổ cẩm, vẫn tiếp tục công việc dệt nên các mô típ hoa văn Tuy nhiên, không đơn thuần là họa tiết trang trí, những hoa văn này góp phần định hướng cho nhận thức và thực hành tôn giáo của người Chăm làng dệt cũng như là trong quá trình diễn giải hệ tư tưởng tôn giáo đến với mọi người Đó chính là một điều đáng trân trọng và phát huy của tộc người Chăm

ở Ninh Thuận

Trang 8

gì, chúng có ý nghĩa như thế nào, và vì sao chúng lại mang trong mình những ý nghĩa đó

là những điều làm tác giả trăn trở và muốn tìm cách lý giải Khơi nguồn từ đó, tác giả bắt đầu dành một sự quan tâm đặc biệt đến những hoa văn thổ cẩm, nhất là của người Chăm ở Ninh Thuận, và dần dần tìm đọc nhiều hơn về những vấn đề liên quan khác của tộc người này Người Chăm ở Ninh Thuận thực hành tôn giáo theo cách riêng của mình và hoa văn thổ cẩm là một minh chứng biểu hiện cho đặc trưng văn hóa của tộc người Chính vì vậy, nghiên cứu này mong muốn khám phá ra mối liên hệ giữa biểu tượng hoa văn thổ cẩm và

ý nghĩa về mặt tôn giáo mà cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận ấn định vào các mô típ

đó

Cộng đồng các tộc người tại Việt Nam đã góp phần tạo nên sắc màu đa dạng cho nền văn hóa dân tộc và, nghiên cứu khoa học xã hội, trong đó có nghiên cứu nhân học, góp phần khám phá những sắc màu phong phú ấy Không là ngoại lệ, nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm tại Việt Nam, nhất là người Chăm tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trên các phương diện khác nhau như lịch sử tộc người, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, đời sống văn hóa – xã hội tộc người hay hoạt động kinh tế của tộc người Trong đó, nghề thủ công truyền thống của người Chăm cũng được tìm hiểu khá nhiều, tuy vẫn còn hạn chế, như nghề làm gốm, nghề dệt Riêng về nghề làm gốm, các kết quả nghiên cứu cho thấy sự chuyên sâu trong quá trình nghiên cứu về đặc tính của nghề,

về sản phẩm gốm và những đặc trưng của văn hóa tộc người thể hiện trên gốm Tuy nhiên, nghề dệt lại có vị trí khá khiêm tốn trong hướng đi vào chiều sâu của học thuật, mà thường được tập trung vào diện rộng của những vấn đề liên quan đến dệt thổ cẩm Chăm Bối cảnh đó nêu bật những chiều kích đã được tìm hiểu thấu đáo về nghề dệt, chẳng hạn lịch sử làng nghề, quá trình dệt thổ cẩm, hiện trạng về thị trường tiêu thụ cũng như là triển

Trang 9

vọng của làng nghề trong thời gian tới Và hẳn nhiên, một góc nhìn về chiều sâu vẫn là điều cần được góp phần vào con đường nghiên cứu và giải mã văn hóa Chăm

Nhiều nghiên cứu về cùng chủ đề được tiến hành nhưng trên các phương diện khác nhau Năm 1989, Võ Công Nguyện nghiên cứu về vai trò quan trọng làng dệt Mỹ Nghiệp, đặc biệt những thợ dệt lâu năm; ý nghĩa xã hội của thổ cẩm Chăm cũng như tính lưu truyền của nghề dệt qua mô típ hoa văn Công trình của Phan Xuân Biên (chủ biên) và cộng sự (1991) phân tích những đồ án hoa văn thổ cẩm một cách cụ thể theo phân loại hoa văn hình học và hoa văn cách điệu Haji Adi Taha (1998) và Bùi Văn Vượng (2002)

đề cập đến làng dệt Mỹ Nghiệp như một điểm nhấn của nghề dệt truyền thống Chăm Năm 2003, Trần Ngọc Khánh nghiên cứu về hoa văn thổ cẩm trong đời sống văn hóa của người Chăm và Inrasara (2008) cũng chuyên sâu về nghề dệt thủ công của tộc người này Năm 2012, Đinh Bá Hòa và Trương Hiến Mai tìm hiểu và hoa văn trên trang phục của người Chăm một cách khái quát ở cả khu vực miền Trung và Sakaya có công trình nghiên cứu chi tiết về nghề dệt cổ truyền của người Chăm Ninh Thuận Tuy nhiên, định hướng nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm Chăm thì vẫn chưa được đề cập Nghiên cứu “Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận” chính

là sự nỗ lực góp thêm một bước tiến vào quá trình tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của người Chăm ở Ninh Thuận được thể hiện thông qua hệ thống hoa văn dệt đặc sắc của tộc người

Trang 10

chính “vốn quý nhất” là của người Chăm ở Ninh Thuận Dựa trên những suy xét trên, tác giả lựa chọn đề tài “Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận” cho nghiên cứu của mình Đây là cơ hội bước đầu đi vào nghiên cứu khoa học, thể nghiệm những cơ sở nền tảng thu nhận được sau một thời gian học tập chuyên ngành nhân học và quan trọng là tiếp cận với một cái nhìn mang tính khoa học khi xem xét những vấn đề liên quan đến tộc người, nhất là ở khía cạnh văn hóa của tộc người Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu của sinh viên gắn liền với thời gian học tập tại nhà trường nên chắc chắn sẽ phải đối mặt với những khó khăn về cách thu xếp thời gian dành cho việc kết hợp vừa học vừa nghiên cứu Bên cạnh đó, sự thiếu vắng kinh nghiệm và chiều sâu về kiến thức có thể gây cho sinh viên những ảnh hưởng mang tính chủ quan và định kiến Do

đó, đề tài nghiên cứu là một điều kiện giúp sinh viên trưởng thành hơn trong nhận thức của mình Đề tài, với những định hướng nghiên cứu nêu trên và nỗ lực của bản thân, chính là thử thách cho tác giả trải nghiệm với kiến thức, đồng thời, với cả cuộc sống đời thực của tộc người Chăm ở làng dệt Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận) Trong khuôn khổ thời gian quy định, đây là dịp tác giả có thể nhìn nhận những kết quả đạt được cũng như những thiếu sót, hạn chế của mình khi bắt đầu đi vào con đường nghiên cứu khoa học

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nghiên cứu về biểu tượng cùng với ý nghĩa được mã hóa của những biểu tượng hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận mong muốn đóng góp thêm một minh chứng cho quá trình lý giải những biểu tượng văn hóa gắn liền với sự mô tả chiều sâu Biểu tượng mang trong mình những ý nghĩa đặc thù mà văn hóa tộc người đã quy định trong đó, chính vì vậy, đó là sự biểu hiện kết tinh của những cái được biểu hiện trong nền văn hóa Chăm Và để hiểu thấu đáo những biểu tượng ấy, cần một hướng đi vào nghiên cứu ý nghĩa biểu tượng phù hợp Nghiên cứu chính là sự áp dụng góc độ biểu tượng văn hóa với mục đích giải mã những ý nghĩa ẩn giấu trong hoa văn thổ cẩm của người Chăm Ninh Thuận

Trang 11

2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài thể hiện sự cố gắng làm rõ thêm về chiều sâu một trong những nét đặc trưng của văn hóa tộc người Chăm ở Ninh Thuận, đó là nghệ thuật biểu tượng của hoa văn thổ cẩm trong mối liên hệ với tôn giáo mà họ thực hành Từ nền tảng này, nghiên cứu có thể cung cấp thêm nguồn dữ liệu dân tộc học miêu tả về đối tượng và vấn đề nghiên cứu đến với giới khoa học xã hội và mọi người có quan tâm Nguồn dữ liệu thu thập được có thể tái hiện lại một phần đời sống tôn giáo của cộng đồng và, hơn nữa, chính là hệ thống ý nghĩa phản ánh niềm tin tôn giáo lên những hoa văn thổ cẩm họ dệt

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cộng đồng người Chăm ở làng dệt Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Cộng đồng người Chăm ở đây thực hành tôn giáo của chính mình đồng thời tạo ra những hoa văn trên thổ cẩm Chính họ

là đối tượng gắn bó mật thiết và thấu hiểu đặc trưng văn hóa của mình Do đó, cộng đồng người Chăm ở làng dệt Mỹ Nghiệp trở thành đối tượng mà đề tài nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu là ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là làng dệt Mỹ Nghiệp, nay chia thành khu phố Mỹ Nghiệp và khu phố 13, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Ninh Thuận, thuộc vùng Panduranga xưa của vương quốc Champa, hiện tại vẫn là nơi tập trung đông người Chăm nhất và đặc biệt là làng dệt Mỹ Nghiệp lâu đời của người Chăm vẫn hoạt động tại đây Khu phố Mỹ Nghiệp và khu phố 13 đều thuộc làng dệt nhưng vì khu phố Mỹ Nghiệp tập trung người dệt thổ cẩm đông hơn nên được chọn làm địa bàn nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu đề tài là từ tháng 09 năm 2014 đến tháng 03 năm 2016 Đây

là thời gian học tập ở trường gắn liền với quá trình nghiên cứu của tác giả cho đề tài này Thời gian tiến hành điền dã dân tộc học bắt đầu từ ngày 12 đến hết ngày 17 tháng 02 năm

2015 Những ngày này thuộc vào giai đoạn cận Tết Nguyên Đán của người Việt nên thời gian dành cho nghiên cứu của tác giả được đặc biệt chú trọng hơn và, vì vậy, quá trình thu thập dữ liệu từ điền dã được sắp xếp thực hiện nhằm đảm bảo tiến độ nghiên cứu

Trang 12

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Từ các sợi chỉ màu, thổ cẩm được người Chăm dệt nên cùng với những hoa văn tinh xảo đã tôn lên vẻ đẹp của những nét riêng có của tộc người Không chỉ dừng lại ở đó, hoa văn thổ cẩm còn hé lộ nhiều ẩn ý sâu xa, những câu chuyện về cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận Và con đường đi vào nghiên cứu hoa văn thổ cẩm mới có thể lý giải văn hóa của người Chăm vốn được biểu hiện qua những biểu tượng chung mà họ đã đặt vào đó những ý nghĩa nhất định Do vậy, câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Biểu tượng hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận có ý nghĩa gì? Và vì sao biểu tượng hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận có những ý nghĩa đó?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết được tác giả đưa ra chính là hoa văn thổ cẩm là sự đại diện của hai dạng

“mô hình” – “tập hợp các biểu tượng” (Geertz, 1973a [1966] – dẫn lại từ Trương Huyền Chi, 2006:315), đó là “mô hình của” và “mô hình cho” các biểu trưng văn hoá đặc thù của cộng đồng người Chăm Ninh Thuận Hoa văn thổ cẩm đóng vai trò thể hiện những hình mẫu tái hiện nhân sinh quan và thế giới quan của người Chăm thông qua quá trình tồn tại trong tự nhiên Đó là dạng thức “mô hình của” hiện thực Đặc biệt là, không chỉ có vậy, nhiều vấn đề hơn được bao hàm trong chính hoa văn thổ cẩm mà cụ thể là “các biểu tượng định hình cách thức hành nhân xã hội nhìn nhận, cảm giác, và suy nghĩ về thế giới như thế nào, hay nói cách khác, biểu tượng vận hành như những phương tiện của “văn hóa” như thế nào” (Ortner, 1984:129) Điều này cho biết “mô hình cho” trong nền văn hóa tộc người Chăm về những thực hành văn hóa của họ Giả định rằng, hoa văn thổ cẩm đóng vai trò là biểu tượng chi tiết của niềm tin tôn giáo của cộng đồng Quan trọng hơn, điều then chốt là những niềm tin đó có một vị trí trong tâm thức của người Chăm tại địa bàn và đó là biểu tượng khái quát cần được lý giải bởi đây là nguồn gốc sâu xa của những

ý nghĩa được trao gửi trong các mô típ hoa văn thổ cẩm, các mô típ vốn chỉ là một dạng thức của biểu tượng cụ thể hóa cho những ý nghĩa phổ quát hơn về tôn giáo

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thư tịch là phương pháp hỗ trợ tác giả nguồn tài liệu quan trọng để có thể nhìn nhận một cách có hệ thống những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu, và đặc biệt là tính khoa học Phương pháp này đóng góp thông tin cần thiết cho những ghi nhận vốn đóng vai trò nền tảng để đi vào phân tích biểu tượng và ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận Nghề dệt và làng dệt của của người Chăm được hình thành lâu dài qua biết bao thăng trầm của lịch sử mà đây lại là một trong những

cơ sở cho việc lý giải về hoa văn thổ cẩm Chăm theo quan điểm của cộng đồng Do vậy, tìm hiểu qua các tài liệu thư tịch giúp mang đến cách nhìn tổng quan về những gì mà cộng đồng đã trải qua và điều này góp phần làm sáng tỏ các luận giải về sau Bên cạnh đó, phương pháp điền dã dân tộc học là một phương pháp trọng tâm được sử dụng nhằm thu thập thông tin hội đủ yếu tố đặc thù của nhân học Hòa nhập vào cuộc sống của người bản địa trong sáu ngày (12-17/02/2015), cùng trải nghiệm và khám phá ra điều bí ẩn đến từ những biểu tượng hoa văn mà người Chăm đã dệt nên cung cấp nguồn dữ liệu phong phú

và chân thực cho các ghi chép khảo tả dân tộc học Quan sát tham dự đóng vai trò không kém phần quan trọng Tuy đến với cộng đồng một cách ít gây ảnh hưởng đến đời sống thường nhật của họ nhất, nhà nghiên cứu vẫn luôn ghi nhớ rằng mình cần hướng sự tập trung chú ý vào những điều kiện hữu ích cho quá trình nghiên cứu của mình Ở đây, việc quan sát cách các nghệ nhân dệt thổ cẩm tại làng Mỹ Nghiệp và tham dự vào những hoạt động hàng ngày của họ hỗ trợ tác giả trong việc giảm đi phần nào khoảng cách xa lạ giữa hai bên và có thể thấu hiểu hơn về đối tượng nghiên cứu cũng như suy nghĩ của họ Ngoài

ra, phỏng vấn sâu được đặc biệt chú trọng trong nghiên cứu này bởi đây là phương pháp mang đến khả năng tiếp cận về chiều sâu đến các yếu tố mang tính nguồn gốc và chi tiết trong quá trình lý giải về ý nghĩa biểu tượng mà cộng đồng trao gửi trong những mô típ hoa văn thổ cẩm Chăm Những cuộc phỏng vấn sâu chính thức đóng vai trò như một phương cách đi vào khám phá một cách sâu sắc những tầng lớp ý nghĩa ẩn dưới bề mặt của những tấm thổ cẩm mà người Chăm “dệt” nên Tác giả khi đi điền dã đã đến xin ở tại nhà bà Hán Thị Chín, một người dệt thổ cẩm và cũng là thành viên của cộng đồng ở khu phố Mỹ Nghiệp Điều này tạo cho tác giả cơ hội tiếp cận với những đối tượng khác tại địa

Trang 14

bàn nghiên cứu một cách tự nhiên hơn và điều kiện được cùng trò chuyện với người bản

địa về vấn đề nghiên cứu thuận lợi hơn Từ đó, tác giả tiến hành 21 trường hợp phỏng vấn

sâu với những người dân của cộng đồng nhằm thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu

của mình Tuy nhiên, điều quan trọng hơn chính là khả năng kiểm chứng một cách thuyết

phục và đáng tin cậy giả thuyết nghiên cứu dựa trên dữ liệu thu thập được chứ không

dừng lại ở số trường hợp phỏng vấn sâu là bao nhiêu và, ở nghiên cứu này, tác giả tạm

dừng lại ở con số 21

6 Bố cục của đề tài

Nghiên cứu được bố cục thành 3 chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương một: Cơ sở lý luận

Chương mở đầu này nêu lên một số vấn đề về khái niệm và lịch sử nghiên cứu

được đề cập trong nghiên cứu Bên cạnh đó là phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu được

khái lược với những vấn đề cơ bản về lịch sử, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế và xã

hội cũng như đời sống tôn giáo của người Chăm ở địa bàn làng dệt Mỹ Nghiệp

Chương hai: Biểu tượng hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Những yếu tố có mối tương quan đến hoa văn thổ cẩm trong nghiên cứu được trình

bày ở chương tiếp theo này – chương hai Nghề dệt của họ cũng như hiện trạng thổ cẩm

Chăm và biểu tượng hoa văn thổ cẩm của người Chăm được trình bày chi tiết trong

chương này từ nguồn dữ kiện thực địa Đây là nền tảng cho những phân tích sâu hơn ở

chương tiếp theo

Chương ba: Giải mã ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh

Thuận

Chương ba đi vào nội dung chính của nghiên cứu với sự diễn giải về ý nghĩa biểu

tượng của hoa văn trên nền thổ cẩm người Chăm ở địa bàn nghiên cứu trong mối tương

quan với tôn giáo của họ Do đó, chương này thể hiện những lập luận cũng như kết quả

kiểm định giả thuyết nghiên cứu của tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết và những dữ liệu

có được từ hai chương trên

Ở phần kết luận, tác giả tổng kết lại nhận định về kết quả nghiên cứu của mình

cũng như những hạn chế, thiếu sót của mình trong quá trình tiến hành nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương một gồm ba phần Phần một làm rõ các khái niệm sử dụng trong đề tài nghiên cứu, và đây cũng chính là những yếu tố then chốt mà dựa vào đó tác giả tiến hành xuyên suốt nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, phần hai – lịch sử nghiên cứu vấn đề được tổng thuật từ các nghiên cứu trước đó nhằm mang lại cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu cùng chủ đề trong và ngoài nước Cuối cùng là phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu, với những giới thiệu về lịch sử, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và điều kiện văn hóa – xã hội cố gắng phác thảo sơ lược nơi tác giả thực hiện chuyến điền dã dân tộc học Chương này đóng vai trò làm nền tảng cho định hướng nghiên cứu ở chương hai

và những phân tích ở chương ba

1.1 Thao tác hóa các khái niệm và lý thuyết nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu về hoa văn thổ cẩm người Chăm cho thấy những yêu cầu cần làm rõ những cơ sở lý luận vì đây sẽ là nền tảng cho khung phân tích của đề tài Trước hết

là về khái niệm hoa văn và thổ cẩm Hoa văn là từ Hán – Việt có nghĩa những trang trí, họa tiết thêm vào để đối tượng được đẹp, thu hút hơn Thổ cẩm (ethnic textile) thể hiện một loại chất liệu thường được dùng làm trang phục do một số tộc người khác nhau Theo Leene (1972), ‘textile’ là chất liệu được con người dệt hoặc tạo nên bằng cách đan hay kết nối những sợi chỉ (dẫn lại từ Subagiyo, 1994) “Con người”, với Clifford J Geertz,

“không chỉ đơn thuần thể hiện mọi thứ bằng ngôn từ mà họ còn nêu lên tiếng nói bằng những hành động của mình; và đây là điều làm cho cuộc sống (đặc thù) mà họ đang làm chủ mang tính biểu tượng” (Shweder, 2010:10)

Dựa trên những điều kiện ban đầu trên, vấn đề lý thuyết về biểu tượng là phương pháp lý luận cho đề tài Biểu tượng được cho là một sự tái hiện Biểu tượng tái hiện nội dung của thế giới mà con người sinh tồn ở đó và biểu tượng cũng tái hiện cách nhìn nhận của con người về thế giới đó Sherry B Ortner (1973) cho rằng mỗi nền văn hóa đều có những biểu tượng chủ chốt (key symbols) và, trong những phân tích về văn hóa, biểu tượng chủ chốt được phân loại dựa trên hình thái cơ bản của chúng ở quá trình vận hành trong suy nghĩ và hành động Từ đó, hai hướng tiếp cận vấn đề về biểu tượng được nêu ra

Trang 16

Thứ nhất, việc phân tích hệ thống văn hóa để phát hiện những yếu tố ẩn bên dưới nhằm tìm kiếm những hình thức hay hình ảnh đặt nền tảng cho sự định hướng tiềm tàng là một hướng tiếp cận, tuy rằng đây là hướng đi ít khi được sử dụng Cách tiếp cận thứ hai chính

là nhà nghiên cứu phát hiện và quan sát những thứ thuộc về mối quan tâm mang tính văn hóa của cộng đồng, và phân tích chúng nhằm tìm kiếm những ý nghĩa Đây là hướng tiếp cận được áp dụng trong nghiên cứu này để lý giải về ý nghĩa biểu tượng trong mối liên hệ với tôn giáo của hoa văn thổ cẩm người Chăm tại Ninh Thuận

Một cách cụ thể hơn, Sherry B Ortner phân tích biểu tượng then chốt theo hai nhóm: biểu tượng khái quát (summarizing symbols) và biểu tượng chi tiết (elaborating symbols) Biểu tượng khái quát “bao hàm trong đó, thể hiện, đại diện cho những những thành viên của cộng đồng theo một cách mang tính xúc cảm mạnh mẽ và không quá khác biệt, những điều mà hệ thống văn hóa”, như một tổng thể, “có ý nghĩa đối với họ” (Ortner, 1973:1339) Trong khi đó, biểu tượng chi tiết “mang đến những phương tiện để thấu hiểu những cảm xúc và ý tưởng phức tạp và không khác biệt, làm cho chúng trở nên

dễ hiểu với bản thân thành viên, có thể truyền đạt đến những thành viên khác, và chuyển hóa được vào những hành động mang tính hợp trình tự” (Ortner, 1973:1340) Vì vậy, hai tính chất của biểu tượng chi tiết chính là tính chất nhận thức (conceptual elaborating power), nguồn gốc của các phạm trù giúp nhận thức về trật tự thế giới, và tính chất hành động (action elaborating power), cơ chế để hành động xã hội đạt được kết quả mong đợi Phương pháp nghiên cứu biểu tượng, mà Sherry B Ortner đề cập, khi được hệ thống hóa

có thể trở thành một lối dẫn đầy thuyết phục vào việc thấu hiểu những sự khác biệt cũng như sự đa dạng của những nền văn hóa, như điều Sherry B Ortner kết luận vào cuối bài viết, bởi vì mối quan tâm được đặt vào những phương thức mà các biểu tượng hình thành nên cách hành nhân xã hội nhìn thấy, cảm nhận, và suy nghĩ về thế giới, hay, nói cách khác, những phương thức các biểu tượng vận hành như là những phương tiện của “văn hóa” “Vậy vốn quý nhất của chúng ta luôn là những biểu tượng của sự định hướng chúng

ta trong tự nhiên, trên mặt đất, trong xã hội và trong những điều chúng ta làm: những biểu tượng trong thế giới quan và tiếp cận cuộc sống của chúng ta” (Geertz, 1973a [1966] – dẫn lại từ Trương Huyền Chi, 2006:322)

Trang 17

Vì lẽ đó, biểu tượng mang trong mình nhiều chiều kích cần được suy xét, chứ không chỉ là sự thể hiện về mặt hình khối, màu sắc hay đường nét như nhiều công trình đã nhắc đến ở các lĩnh vực nghệ thuật hay kiến trúc Trong đó, yếu tố văn hóa trong nghiên cứu biểu tượng tạo nên những sắc thái riêng cho các ý nghĩa được đặt vào đó bởi người sáng tạo nên Theo Sherry B Ortner (1984), bước chuyển biến mạnh mẽ về mặt lý thuyết của Clifford J Geertz chính là tranh luận về văn hóa và điều này được thể hiện qua “Tôn giáo như một Hệ thống Văn hóa” (“Religion as a Cultural System”) (Geertz, 1973a) Sherry B Ortner nhận định rằng, dưới quan điểm của Clifford J Geertz, “văn hóa không phải là một thứ gì đó được khóa chặt trong đầu của con người, mà hơn thế, văn hóa được thể hiện trong những biểu tượng phổ quát, những biểu tượng mà qua đó các thành viên của xã hội truyền tải thế giới quan, những định hướng giá trị, đặc tính, và tất cả những điều khác của họ đến với người khác, đến các thế hệ tương lai–và đến với các nhà nhân học” (Ortner, 1984:129) Clifford J Geertz cho rằng con người thuộc về “mạng lưới ý nghĩa mà họ giăng ra […] văn hóa là những mạng lưới đó, và chính vì vậy sự phân tích văn hóa không phải là một khoa học thực nghiệm tìm kiếm quy luật mà là khoa học diễn giải tìm kiếm ý nghĩa” (Geertz, 1973b:05) Cốt lõi của vấn đề chính là ý nghĩa hàm ẩn đó

Văn hóa, dưới góc độ của nhân học diễn giải, theo quan điểm của Clifford J Geertz, “biểu thị một khuôn mẫu được truyền theo lịch sử của ý nghĩa hàm chứa trong những biểu tượng, một hệ thống những ý niệm thừa hưởng được biểu đạt qua các dạng thức biểu trưng, thông qua đó con người giao tiếp, duy trì, và phát triển tri thức của mình

về cuộc sống và thái độ đối với cuộc sống” (Geertz, 1973a [1966] – dẫn lại từ Trương Huyền Chi, 2006:310) Do vậy, văn hóa cần được diễn đạt theo đúng những ý nghĩa mà chính văn hóa được tạo dựng và cách diễn đạt như thế nào để chuyển tải thành công những ý nghĩa đó đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc của nhà khoa học Mục tiêu của quá trình mô tả văn hóa “là nỗ lực nhằm thuyết phục một ai đó ở một nơi nào đó nhìn vào những thứ mà tôi đã bị thuyết phục, bởi những chuyến đi, những quyển sách, những sự chứng kiến, và những cuộc đối thoại, để nhìn vào đó: để có được một niềm thích thú” (Geertz, 1995:61-62) Trong cách diễn ngôn của nhân học diễn giải, Richard A Shweder (2010) có quan điểm là, một biểu tượng có thể là bất kỳ thứ gì như là một phương tiện chuyển tải ý nghĩa và sự phân tích mang tính diễn giải chính là nói lên những tiền giả định

Trang 18

ngầm ẩn, những ẩn ý, hay là những ý nghĩa (những mục đích, giá trị, và hình ảnh về thế giới) vốn tạo nên hành động hay sự thực hành mà các thành viên của nền văn hóa có thể hiểu được hay cộng đồng có thể diễn giải được trong những bối cảnh nhất định Có thể thấy, vai trò của những thành viên trong cộng đồng góp nên tiếng nói quan trọng trong quá trình lý giải những ý nghĩa hàm ẩn trong các biểu tượng mà họ đã gửi gắm vào đó thế giới quan và nhân sinh quan của mình

Ở phương diện mang tính nhân học, biểu tượng bao hàm những ý nghĩa về chiều sâu của bản chất mà trên hết là sự phản ánh đặc trưng của tộc người thông qua góc độ của

“hành nhân” (actor) – “quan điểm của người bản địa” (the native’s point of view) (Geertz, 1983:58) Quan điểm đó thể hiện cuộc sống nội tâm của họ (người bản địa), cuộc sống mà Clifford J Geertz ví như một “bài thơ” (Geertz, 1983:70), và thấu hiểu cuộc sống chính là quá trình lý giải “bài thơ” về “mô hình của” và “mô hình cho” của cộng đồng Tuy nhiên,

“bài thơ” này không đơn giản để có thể diễn giải được, bởi lẽ nghiên cứu văn hóa của cộng đồng – chất liệu làm nên những “bài thơ” đó – là một quá trình thấu hiểu về thế giới của những hành nhân xã hội đó (acting social beings) (Ortner, 1984:130), nơi mà họ tìm thấy chính mình, và chúng ta, tức nhà nghiên cứu, cần đặt mình vào vị trí mà văn hóa được tạo nên Cách thức để nhà nghiên cứu có thể thực hiện điều đó là thông qua nhãn quan của người sáng tạo nên và thực hành những giá trị văn hóa được trao truyền trong cộng đồng, và điều này cho thấy “quan điểm của người bản địa” là nguồn thông tin chủ đạo của nghiên cứu Clifford J Geertz đã nói rằng “những thông tín viên tuyệt vời tạo nên những nhà nhân học tuyệt vời” (Geertz, 1983:59) Tuy vậy, khi tiến hành công việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, nhà nhân học dễ rơi vào khuynh hướng đặt để trải nghiệm của “hành nhân” vào khung quy chiếu nhận thức của mình, cho nên để đi vào ngọn nguồn của vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần tạm gác sang bên những khung quy chiếu đó và nhìn nhận trải nghiệm của “hành nhân” trong chính hệ nhận thức của họ

về điều gì chính là bản sắc (xem Geertz, 1983:59) Hay nói cách khác, những ý nghĩa văn hóa của biểu tượng cần được “hành nhân” định hướng trong quá trình diễn giải

Để có cứ liệu cho phân tích truy nguyên về ý nghĩa này, phương pháp “mô tả chiều sâu” (thick description) (Geertz, 1973b:06) trong khảo tả dân tộc học là công cụ thực hiện “Mô tả chiều sâu” mang lại nguồn thông tin dồi dào và có chủ định nhằm lý giải cho

Trang 19

vấn đề tác giả quan tâm đó là biểu tượng của hoa văn thổ cẩm Chăm Phương pháp này thể hiện những ý nghĩa hoàn toàn phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa mà nó được ấn định vào các biểu tượng Những khái niệm và hệ thống các khái niệm được tái hiện lại trong những mô tả dân tộc học về chiều sâu với hy vọng rằng những sự hiện diện khiêm tốn của các nguốc gốc ý nghĩa được thấu hiểu một cách khoa học Hơn nữa, một sự diễn giải tốt

có thể đưa chúng ta đến với điều cốt lõi của diễn giải, đó là “sự mô tả có thể được diễn giải; điều có thể diễn giải là dòng chảy của sự diễn ngôn mang tính xã hội; quá trình diễn giải bao hàm trong đó nỗ lực bảo vệ “những điều được nói” trong các diễn ngôn đó trước những sự kiện tàn lụi và điều chỉnh “những điều được nói” đó thành các thuật ngữ có thể đọc được một cách cẩn thận; và sự mô tả đó mang tính vi mô” (Geertz, 1973b:20-21) Do vậy, việc đặt những hành động mang tính văn hóa vào trong những bối cảnh đặc thù và tại địa phương mà ở đó nó trở nên có ý nghĩa là điều cần thiết để diễn giải về nền văn hóa đó,

và cũng có nghĩa là thấu hiểu về nền văn hóa đó (Moore, 2009:260) Điền dã dân tộc học

là quá trình từng bước một đọc bản văn của văn hóa, bởi vì “văn hóa của con người như một nhóm các bản văn, chính họ nhóm lại, điều mà các nhà nhân học nỗ lực đọc một cách cẩn trọng qua đôi vai của những người mà bản văn đó thuộc về một cách hiển nhiên” (Geertz, 1973c:452)

Nhà nghiên cứu có nhiệm vụ nhận thức được mối liên hệ chặt chẽ giữa hai yếu tố,

đó là “quan điểm của người bản địa” được trải nghiệm một cách tiệm cận và chuyên môn của các lý thuyết gia xã hội được trải nghiệm từ phía xa để từ đó nhận biết điều gì mà

“hành nhân” hướng đến đạt được Tóm lại, công việc của nhà nghiên cứu là “bắt đầu với những sự diễn giải của chúng ta về những điều thông tín viên có thể chạm đến, hay những điều mà họ nghĩ rằng họ có thể chạm đến, và sau đó hệ thống hóa chúng lại” (Geertz, 1973b:15) (nhấn mạnh trong nguyên bản) Theo Clifford J Geertz, phân tích văn hóa không hướng đến sự toàn vẹn, vì lẽ càng đào sâu phân tích thì những gì còn cần lý giải thêm vẫn tiếp tục hiện diện “Nhân học, hay ít nhất là nhân học diễn giải, là một ngành khoa học mà sự tiến bộ được đánh dấu không phải bằng sự nhất trí hoàn hảo mà là bởi sự tinh tuyển của tranh luận” (Geertz, 1973b:29)

Trang 20

1.2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về những mô típ hoa văn trên các loại chất liệu của tộc người cụ thể không là hướng đi mới trong nghiên cứu nhân học cả trong và ngoài nước Một số công trình đã được thực hiện về cùng chủ đề này trên thế giới bởi Marie Jeane Adams (1969), Sandra A Niessen (1985), hay Penelope Dransart (2007)

Trong tác phẩm System and Meaning in East Sumba Textile Design: A Study in Traditional Indonesian Art (1969) của mình, Marie Jeane Adams tiến hành nghiên cứu về

những thiết kế hoa văn trên vải của người East Sumba ở Indonesia dưới góc độ hệ thống phân loại và ý nghĩa xã hội của chúng Tác giả cho thấy sự đa dạng trong cách kết hợp những mô típ hoa văn dưới sự tác động của các nhân tố lịch sử, tộc người và xã hội Theo tác giả Marie Jeane Adams, sự phân tích về hệ thống chất liệu ở East Sumba cung cấp một nguồn dữ liệu phong phú cho những nghiên cứu ký hiệu học Cách tiếp cận mang tính ký hiệu học đã diễn giải những mô típ hoa văn như là các dạng thức của ý niệm cũng như thái độ xã hội về một giai đoạn hay trong một xã hội nhất định Do vậy, sự thiếu vắng

dữ liệu văn hóa sẽ dẫn đến sự xa rời sự thật trong quá trình diễn giải các chất liệu đó Tuy nhiên, hướng nghiên cứu của tác giả được làm rõ là “sự nhận dạng chính xác về những

mô típ như là các vật thể văn hóa hay vật thể vật chất là một tiền đề thiết yếu cho quá trình diễn giải hệ thống thiết kế mô típ hoa văn” (Adams, 1969:129) Những ghi chép miêu tả dân tộc học, cách tiếp cận theo lịch sử và nghiên cứu từ bảo tàng đã thể hiện tính chất then chốt của những mô típ hoa văn này, mà theo tác giả đó chính là những ý nghĩa

về khía cạnh xã hội và tôn giáo ẩn chứa trong đó Ý nghĩa về mặt xã hội mà Marie Jeane Adams khám phá ra chính là số lượng những sản phẩm thủ công, như là thổ cẩm, chứng minh cho sự giàu có và quan niệm về thổ cẩm của người East Sumba cho thấy xu hướng

cơ bản trong nhận thức về đoàn kết xã hội như là sự kết hợp giữa yếu tố nam tính và nữ tính Trong khi đó, ý nghĩa mang tính tôn giáo nhìn nhận thổ cẩm với vai trò là những lễ vật giúp điều hòa thế giới hữu hình và thế giới vô hình, bao gồm sự thống trị của những thế lực siêu nhiên và sức mạnh phi vật chất trong mối quan tâm của văn hóa East Sumba Với cách nhìn nhận vấn đề dưới góc độ của trường phái Leiden, tiêu biểu với W Rassers

và J P B de Josselin de Jong, Marie Jeane Adams đã lý giải những mô típ hoa văn của

Trang 21

người East Sumba bằng sự thừa nhận của “những liên kết mang tính cấu trúc giữa kiểu hình và tổ chức xã hội” (structural links between style and social organization) (Adams, 1969:172)

Bài viết Cognitive Cloths: The Indigenous Classification of Batak Textiles (1985)

của tác giả Sandra A Niessen cho thấy một cách tiếp cận đặc thù luận lịch sử về sự phân loại vải của người Batak bản địa ở North Sumatra, Indonesia Tác giả trình bày một cách chi tiết phương pháp nghiên cứu cũng như những nền tảng lý thuyết được vận dụng vào nghiên cứu của mình và từ đó đưa ra kết luận Bài viết thể hiện những khám phá về góc nhìn mới của tác giả khi xem xét về vải của người Batak bằng phương pháp điền dã dân tộc học và nghiên cứu các hiện vật trưng bày trong bảo tàng Chính sự phân loại được thể hiện trên mặt vải cho thấy địa vị xã hội, giới và tuổi tác của người mặc, điều vốn được tìm hiểu qua cách thức con người nghĩ về thế giới của mình mà họ đã ấn định qua những sự phân loại đó Hơn nữa, những sự thể hiện này còn mang ý nghĩa lịch sử khi người Batak từng chịu sự chi phối của các nước phương Tây và ý nghĩa thực tiễn cho các cuộc trưng bày trong bảo tàng đóng vai trò như nguồn tài liệu cho những nghiên cứu về sau “Nghiên cứu này được tiến hành trên nền tảng của giả định rằng truyền thống trang phục quan trọng hơn những yếu tố hợp thành và rằng tri thức về những sản phẩm dệt đan sẽ làm

phong phú thêm nhận thức của chúng ta về nét đặc sắc của các sản phẩm đặc thù đó”

(Niessen, 1985:96) Sandra A Niessen chỉ ra những loại thổ cẩm nêu trên như là các văn bản lịch sử lưu giữ lại những tác động mang tính văn hóa mà người dệt nên chúng chịu ảnh hưởng Hơn nữa, sự phân tích về hệ thống phân loại trang phục đem đến cơ hội để đánh giá, theo đúng nghĩa của nó, những đổi thay diễn ra trong truyền thống của trang phục thổ cẩm Bài viết được dừng lại ở đó và vấn đề phân tích sâu về ý nghĩa biểu tượng của loại vải này vẫn còn bỏ ngỏ cho những người tiếp sau tìm hiểu và làm sáng tỏ

Penelope Dransart (2007), với bài viết “Mysteries of the Cloaked Body: Analogy and Metaphor in Concepts of Weaving and Body Tissues”, cũng dựa trên sự luận giải về ý nghĩa xã hội gắn liền với những sản phẩm thủ công của các tộc người được dùng như trang phục Bằng sự vận dụng quan điểm đối lập nhị nguyên của Lévi-Strauss, tác giả minh chứng cho sự “liên kết nối ‘giữa tri thức, kỹ thuật và tổ chức xã hội’” (interlinkages

‘between knowledge, technology and social organization’) (Dransart, 2007:165) của

Trang 22

người bản địa thông qua mối quan hệ giữa con người và động vật, giữa sự tái sản xuất con người và tái sản xuất văn hóa Bên cạnh đó, bài viết cho thấy sự không đồng tình với cách nhận định của Pierre Bourdieu về habitus và hexis khi quan điểm này bao gồm nhiều nguyên tắc tổng hợp và tổ chức những thực hành và sự đại diện về văn hóa và thiếu vắng

‘hành động mang tính tổ chức của người thực hiện’ (‘the organizing action of a conductor’) (Dransart, 2007:165), hay người trong cuộc Penelope Dransart khẳng định sự đương đầu của mình với thách thức mà George Marcus đưa ra cho các thế hệ nhà nhân học tiếp theo sau về sự truy tìm mối liên hệ giữa những logic định hình vấn đề nghiên cứu thông qua quan điểm so sánh Tác giả lưu ý rằng “nghiên cứu miêu tả dân tộc này xem xét quá trình hình thành của những sản phẩm dệt trong các bối cảnh xã hội phức hợp của tộc người, những bối cảnh vốn biến đổi nhằm đáp trả lại hoàn cảnh bị đô hộ mà người dệt tự mình phản kháng lại” (Dransart, 2007:166) Bài viết thể hiện những ý nghĩa được khám phá qua quá trình tìm hiểu của tác giả mang tính chất vừa là đan dệt thủ công (‘hand-woven’), vừa là đan dệt bằng tâm thức (‘thought-woven’) (Dransart, 2007:170) của chính người bản địa Chính vì vậy, đây là kết quả nghiên cứu về người Maori, người sinh sống tại phía nam của dãy Andes và người Irish/Scottish, dựa trên bối cảnh xã hội phức hợp của tộc người, giải thích cho những ý nghĩa tương đồng và hàm ẩn trong trang phục của

Dù “nghề dệt Chăm hiện còn mang tính truyền thống “xưa bày, nay làm”” (Võ Công Nguyện, 1989:73), sản phẩm mà những người thợ dệt làm ra vẫn mang trong đó những giá trị văn hóa đặc trưng của tộc người qua thời gian Võ Công Nguyện đã nghiên

Trang 23

cứu ý nghĩa xã hội của thổ cẩm Chăm và đưa ra nhận định rằng “không phải tất cả mọi người trong xã hội Chăm đều may mặc như nhau mà trong đó đã có sự phân biệt, phân chia đẳng cấp, giai cấp một cách rõ nét” (Võ Công Nguyện, 1989:67) Tác giả cũng quan tâm đến các đồ án trang trí hoa văn được thiết lập trên nền thổ cẩm mà đa phần là theo kiểu hoa văn hình học và được sáng tạo nên bởi những người thợ dệt khéo léo Các loại hoa văn, nhất là “các loại hoa văn động vật rất sinh động” (Võ Công Nguyện, 1989:70-71), có thể còn ẩn hàm nhiều hơn những ý nghĩa về xã hội như tác giả đã khám phá ra, mà một trong số những điều còn cần được tìm hiểu là ý nghĩa mang tính văn hóa của hoa văn thổ cẩm Chăm Như vậy, công trình này đã mở ra những mối quan tâm trong nghiên cứu khoa học xã hội về nghề thủ công (nghề gốm và nghề dệt vải) của tộc người Chăm ở Thuận Hải (xưa) Tuy những nỗ lực nhằm tìm về ngọn nguồn những vấn đề liên quan đến nghề vẫn còn hạn chế nhưng tác giả Võ Công Nguyện đã thật sự “góp phần tìm hiểu” (Võ Công Nguyện, 1989:49) vào chủ đề này trong bối cảnh rộng lớn hơn Và nếu hứng thú cùng chủ đề này và mong muốn tiếp tục “tìm hiểu” thì những người đi sau có thể “góp phần” mình vào công việc nghiên cứu về hoa văn thổ cẩm Chăm dưới góc độ văn hóa

Tác giả Inrasara (2008) cũng nhắc đến yếu tố văn hóa đặc trưng của tộc người –

nghề dệt – trong Văn hóa – xã hội Chăm: Nghiên cứu và đối thoại với bài viết “Dệt thổ

cẩm Chăm Ninh Thuận, hiện trạng và giải pháp” Tuy nhiên, nghề dệt được trình bày trong tác phẩm này chú trọng đến góc độ chuyên biệt của nghề chẳng hạn như nguyên liệu, kỹ thuật dệt, phẩm nhuộm và những nhận định về hiện trạng cũng như giải pháp cho làng nghề tại Ninh Thuận Tác giả Inrasara cho thấy một bức tranh toàn cảnh về nghề dệt của người Chăm, một nghề thủ công gắn bó cùng tộc người trong suốt dặm dài lịch sử bên cạnh nghề làm gốm mà đặc trưng ở làng Bàu Trúc (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) Nội dung về hoa văn thổ cẩm Chăm có được nói đến, nhưng lại rất sơ lược và vắn tắt Những phân tích cụ thể hơn về hoa văn thổ cẩm của người Chăm với mối liên hệ mật thiết cùng nghề dệt thì chưa được tác giả Inrasara làm rõ để bức tranh tộc người Chăm trở nên trọn vẹn hơn Đây cũng là cơ hội mở ra cho những định hướng nghiên cứu mới về chủ đề còn ẩn chứa nhiều điều thú vị này

Người Chăm tại Việt Nam là tộc người thuộc ngữ hệ Malayo-Polinesien (Mã

Lai-Đa Đảo) và họ có mối liên hệ với những tộc người láng giềng xung quanh cả trong và

Trang 24

ngoài nước qua tiến trình của lịch sử Vì lẽ đó, trang phục truyền thống của người Chăm cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lân cận, trong đó có Haji Adi Taha

Tác phẩm Costumes of Campa – the Malay Group in Viet Nam (1998) cho thấy sự am

hiểu về những loại trang phục khác nhau của người Chăm thông qua sự tương đồng phần nào về văn hóa giữa người Chăm ở Việt Nam và người Malay khu vực bán đảo ở Malaysia Thế nhưng, tác phẩm chưa cho thấy những lý giải về mô típ hoa văn mà chỉ hạn chế ở sự miêu tả một cách tổng thể về trang phục và chức năng xã hội của nó Trong đó, tác giả có đề cập đến làng dệt Mỹ Nghiệp (Caklaing) tại tỉnh Ninh Thuận như một địa điểm trứ danh cho hoạt động dệt thổ cẩm của người Chăm Điều này cũng được minh chứng qua tác phẩm Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (2002) của Bùi Văn Vượng, khi tác giả trích dẫn câu thành ngữ Chăm “Play Chakleng Jih Dalahgok glah Hamu Trok” (sic) [palei cakleing jih dalah gaok glah hamu craok] (Thổ cẩm Mỹ Nghiệp, gốm Bàu Trúc)” (Bùi Văn Vượng, 2002:173)

Nghiên cứu về văn hóa Chăm năm 1991 với tác phẩm Văn hóa Chăm, Phan Xuân

Biên, Phan An và Phan Văn Dốp đã viết về vấn đề y phục và trang sức và cho biết chi tiết

về hai kiểu hoa văn hình học và hoa văn cách điệu Bằng những miêu tả dân tộc học, các tác giả đã tái hiện tường tận từng kiểu hoa văn đó, cách thức ứng dụng lên trang phục và những chức năng mà loại trang phục đó đảm nhận trong nền văn hóa Chăm Các tác giả, ngoài phần tư liệu dân tộc học chi tiết, đã khảo sát phần nào những mô típ hoa văn trên thổ cẩm của người Chăm và nhận định rằng “những đồ án trang trí hoa văn được thiết lập trên vải Chăm tập trung chủ yếu vào hai loại hình: các kiểu hoa văn hình học và các kiểu hoa văn cách điệu” (Phan Xuân Biên, Phan An và Phan Văn Dốp, 1991:109-110) Do vậy, mô típ hoa văn của người Chăm, xét về ý nghĩa biểu tượng, vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tiếp theo đó, luận án Tiến sĩ của Trần Ngọc Khánh (2003) nghiên cứu chuyên biệt về Hoa văn thổ của người Chăm với góc nhìn từ khiá cạnh cấu trúc trong sự hiện hữu của văn hóa và văn minh, “đồ trắng” và “đồ đen” từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đề tài của Trần Ngọc Khánh đóng góp cách nhìn về thổ cẩm trên khía cạnh tiêu chí tộc người trong sự kết hợp các giá trị vật chất và giá trị biểu trưng Giá trị vật chất chính là những tư liệu điền dã về kiểu dệt, quy trình dệt, sản phầm dệt cũng như trang phục và đối tượng sử dụng thổ cẩm của người Chăm Thêm vào đó, giá trị

Trang 25

biểu trưng được thể hiện qua mô típ, màu sắc, bố cục và vị trí – vai trò của hoa văn thổ cẩm Chăm trong đời sống tộc người Chính vì vậy, góc nhìn về biểu tượng vẫn chưa được nghiên cứu trong phạm vi của luận án và trở thành một vấn đề còn nhiều gợi mở

Bên cạnh đó, Đinh Bá Hòa và Trương Hiến Mai (2012) có công trình Gốm cổ và hoa văn trên trang phục của người Chăm nhắc đến hoa văn của người Chăm ở miền

Trung Tác phẩm đã nêu lên kết quả nghiên cứu về hoa văn thổ cẩm của người Chăm (nói chung ở khu vực miền Trung) như sau: “hoa văn Chăm được thiết kế chủ yếu là những đường nét hình học, phù hợp với phương thức dệt trên cả hai khung dệt [khung dệt khổ rộng và khung dệt khổ hẹp – chú thích của Trần Thị Thanh Trúc], những đồ án phức tạp như Hăng, Inưgarai,… đều do những điểm hình học nối kết lại với nhau, hay nói cách khác chúng là những “ảo ảnh” Về mặt biểu hiện, hoa văn Chăm là sự cách điệu hóa hoa

lá, chim muông, khung cảnh thiên nhiên, sự vật,… Vì thế mà tộc người Chăm có thuật ngữ “binguhala” để chỉ hoa văn dệt trên vải” (Đinh Bá Hòa, Trương Hiến Mai, 2012:374)

Dù vậy, trọng điểm của bài viết là về sự thể hiện hoa văn đó trên trang phục của các nhóm đối tượng khác nhau, chẳng hạn như chức sắc tín ngưỡng, phụ nữ, và đàn ông Do đó, vấn

đề hoa văn thổ cẩm của người Chăm, mà cụ thể là người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, gắn với ý nghĩa biểu tượng của nó vẫn còn để ngỏ

Một nghiên cứu khác – Nghề dệt cổ truyền người Chăm làng Mỹ Nghiệp – Ninh Thuận – đã nêu một cách cụ thể về làng nghề, nghề dệt của người Chăm Mỹ Nghiệp cùng

với những nhận xét, so sánh của tác giả liên quan đến thực tế của làng nghề Tác giả Sakaya (2012) còn cung cấp nhiều thông tin quan trọng riêng về hoa văn thổ cẩm Chăm tại đây trên các khía cạnh như tên gọi, phân loại, nghệ thuật trang trí, ý nghĩa và giá trị văn hóa của 40 loại hoa văn Tác phẩm đã cho biết nhận định rằng “chủ đề chính của hoa văn là mô tả một cách sinh động những hình ảnh thân quen của cuộc sống hằng ngày, bao gồm cả thế giới thực vật, động vật và đồ vật Tất cả những mô típ trang trí hoa văn Chăm đều thể hiện dưới dạng hình học và cách điệu hóa” (Sakaya, 2012:125) Quan trọng hơn,

sự mô tả đó chuyển tải hình ảnh gắn với cuộc sống lao động, phong tục tập quán và tín ngưỡng của người Chăm Đây là một khám phá đáng ghi nhận, thế nhưng, tác giả chỉ dừng lại ở sự miêu tả tỉ mỉ các chi tiết trên diện rộng chứ chưa lý giải về chiều sâu trên

Trang 26

phương diện biểu tượng của hoa văn Dù vậy, những nội dung được tác giả đề cập mang lại nguồn dữ liệu hữu ích về mặt nền tảng cho những phân tích diễn giải

Chính vì vậy, đề tài “Ý nghĩa biểu tượng của hoa văn thổ cẩm người Chăm ở Ninh Thuận” có cơ hội được góp thêm một hướng nhìn về văn hóa tộc người Chăm thông qua thế giới biểu tượng của hoa văn thổ cẩm

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Lịch sử và đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội

Ninh Thuận và Bình Thuận thuộc châu Panduranga xưa của nhà nước Champa, cùng với tiến trình của lịch sử, có những đổi thay về phân chia địa giới từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XX Hiện nay, tỉnh Ninh Thuận gồm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, cùng các huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn, Bác Ái, Thuận Bắc và Thuận Nam (xem Lê Duy Đại, 2011:23-25) Những biến đổi về mặt địa lý hành chính này tất yếu dẫn đến sự tái sắp xếp những ranh giới của các khu vực làng nghề truyền thống của người Chăm tại Ninh Thuận Với nghề làm gốm và nghề dệt, năm 1993, thị trấn Phước Dân thuộc huyện Ninh Phước được thành lập, bao gồm toàn bộ xã Phước Dân và thôn Mỹ Nghiệp của xã Phước Hải (cũ), theo 33/1993/NĐ-CP (Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận) Làng dệt Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, trước đây là một làng, bây giờ tách ra về mặt hành chính thành hai khu phố, đó là khu phố Mỹ Nghiệp và khu phố 13 (xem BĐ3 và BĐ4, phần phụ lục, trang 5)

Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông Ninh Thuận có núi chắn gió Đông Bắc và Tây Nam nên lượng mưa ở đây ít nhất cả nước, khoảng 900-1,500 mm mỗi năm, tùy địa hình đồng bằng hay miền núi Mùa mưa ở Ninh Thuận kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa khô là từ tháng 12 đến tháng 8 (xem BĐ5, phần phụ lục, trang 6) Ngoài ra, số giờ nắng cao, trung bình khoảng 2,300-2,400 giờ một năm, kết hợp các yếu tố trên đã lý giải cho kiểu khí hậu biển nhiệt đới khô với nhiệt độ trung bình năm là 26-27oC (thay vì biển nhiệt đới gió mùa ẩm ướt như nhiều khu vực khác ở nước ta) Đây cũng là đặc điểm tự nhiên của làng dệt Mỹ Nghiệp Huyện Ninh

Trang 27

Phước nằm ở phía Nam của tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Ninh Sơn, phía Đông Bắc giáp thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Thuận Nam và phía Đông giáp Biển Đông (xem BĐ1, phần phụ lục, trang 5) Thị trấn Phước Dân, nơi có làng dệt Mỹ Nghiệp của người Chăm, thuộc huyện Ninh Phước,

có diện tích 2,149.85 hecta và dân số khoảng 23,737 người vào năm 2009 (Ủy ban Nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) Vị trí của thị trấn tiếp giáp với xã Phước Hậu

và xã Phước Thuận về phía Bắc, với xã An Hải và Phước Hải về phía Đông và Đông Nam, với xã Phước Hữu về phía Tây và phía Nam giáp với huyện Thuận Nam (xem BĐ2, phần phụ lục, trang 5) Các tộc người Chăm, Việt, Hoa và Raglay cùng sinh sống tại thị trấn Phước Dân, trong đó, dân số người Chăm là 8,465 người, chiếm 31.8% dân số toàn thị trấn, với 1,702 hộ tại đây (Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Dân, 2010)

Về đặc điểm kinh tế, người Chăm có các hoạt động sinh tồn gắn liền với tự nhiên Hòa hợp cùng điều kiện của môi trường sống, đời sống kinh tế Chăm là một sự phức hợp của các thế ứng xử với núi – đồng bằng – biển Họ thông thạo nghề đi biển, dù nay không còn nữa, và đánh cá nhưng nông nghiệp luôn đóng vai trò chủ đạo và bên cạnh đó còn có hoạt động chăn nuôi và nghề thủ công truyền thống như nghề làm gốm và nghề dệt Theo Phan Ngọc Chiến, “rẫy và ruộng nước là hai loại hình trồng trọt chính ở vùng người Chăm, và cây trồng gồm lúa và các loại hoa màu” (Phan Ngọc Chiến, 1989:13-14) Với người Chăm làng dệt Mỹ Nghiệp nói riêng và huyện Ninh Phước nói chung, nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế về diện tích đất sử dụng của người dân tại đây, với 42.33% diện tích (xem BĐ6, phần phụ lục, trang 6) “Thành ngữ Chăm có câu: Ngã hamu mong di ia thong akhăk Pajeh thiam bruk ngăk tari tarơng yaup haray nghĩa là: Làm ruộng, nhất nước nhì phân thứ ba giống tốt công chăm hàng ngày” (Lê Duy Đại (chủ biên) và cộng sự, 2011:32) đã cho thấy kinh nghiệm làm nông của người Chăm được đúc kết một cách phong phú Ngoài ra, người Chăm chăn nuôi bò, cừu và dê cũng như làm các nghề thủ công Trong nhà, người Chăm nuôi nhiều vật nuôi bò, gà, chim bồ câu hay chó Sáng sáng, có nhà đánh xe bò đi ra ruộng, một xe có hai con kéo Gà và bồ câu được nuôi để cúng tế hay đãi khách đến nhà chơi, còn chó được nuôi để giữ nhà Ngoài ra có người còn chăn ngựa để phục vụ lễ, như ông Thọ Sao Người dân ở đây nuôi những con vật ấy dựa

Trang 28

vào tự nhiên, cho ăn trong vườn nhà, hay dắt ra ngoài bãi cỏ thả ăn tự do rồi họ sẽ lùa về nhà sau đó Hiện nay, người trong làng đi làm ở nhiều nơi khác phần nhiều hơn là ở lại trong làng, kể cả những người cao tuổi Họ thu mua hàng thổ cẩm hay những sản phẩm thường bán được cho khách du lịch cũng như các tộc người trên Tây Nguyên rồi bắt xe lên đó bán hàng Mỗi lần đi như vậy là hai – ba ngày họ quay về, rồi lại lấy hàng và đi Một số người khác thì lên Lâm Đồng hay Đăk Lăk làm mướn: hái điều, hai cà-phê hay hái hoa

Về đặc điểm xã hội, mô hình làng Chăm tồn tại lâu dài với hệ thống tổ chức chặt chẽ và phân công lao động rõ ràng, nhưng hiện nay sức mạnh của sự chi phối đó ngày một giảm dần Có thể thấy dù vậy, cộng đồng theo làng của người Chăm chi phối rất nhiều đến cuộc sống kinh tế, văn hóa và xã hội của họ Tuy nhiên, tổ chức gia đình và dòng họ vẫn còn là hạt nhân quan trọng và mang tính mẫu hệ Triết lý sống của người Chăm được thể hiện ngay trong câu nói: “Likei deng di masruh, kumei deng di manâk.” Tức là “Bổn phận đàn ông là chiến đấu, bổn phận đàn bà là sinh nở” (Đàn ông đảm trách chiến đấu, đàn bà đảm nhiệm sinh đẻ)” (Phú Văn Hẳn, 2014:38) Người địa phương sống cuộc sống thường ngày của họ thường không quá ồn ã và chia sẻ với nhau những gì có thể, là một bữa cơm, là những cuộn chỉ dệt hay là chiếc khăn Chung quanh họ là những mối quan hệ đan xen nhau chằng chịt, tộc họ, bạn bè, cùng nhóm trong làng nghề,… và họ sẵn sàng đi giúp đám chết, đám nhà mới hay những dịp gì khác Bất kỳ một sự kiện nào của một gia đình cũng trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng và mọi người đều đến hỗ trợ một điều gì đó Đặc biệt, nhà người Chăm trong làng thường có khoảng sân rộng hay thềm nhà

có nhiều bậc thang Chiều đến, khi mọi người về nhà sau một ngày lao động, những người láng giềng kế cận nhau sẽ cùng tụ họp lại trước sân hay thềm nhà kể đủ chuyện Người ở nhà kể lại những gì xảy ra trong làng và người mới về kể chuyện ngoài đường sá, xe cộ

Họ vừa trò chuyện, vừa ăn cơm cùng nhau từ năm giờ chiều đến bảy – tám giờ tối Sau

đó, ai về nhà nấy và họ thường đi ngủ vào lúc chín giờ tối

1.3.2 Tôn giáo của người Chăm

Người Chăm tại khu phố Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận theo nhiều tôn giáo, trong đó, nổi bật là Bàlamôn giáo và thờ thần nông

Trang 29

nghiệp cũng như thần biển Đây là những tôn giáo gắn bó mật thiết với đời sống thường nhật của người dân, lao động và sinh hoạt Chính vì vậy, niềm tin tôn giáo được thể hiện bằng nhiều cách, trong kiến trúc, trang trí, hay qua những nghi lễ cúng tế và một trong số

đó là biểu hiện trên những hoa văn thổ cẩm của người Chăm

Bà la môn giáo (Brahmanism) của người Chăm ở Ninh Thuận là kết quả của quá trình hỗn dung của Ấn Độ giáo (Hinduism) du nhập từ Ấn Độ và tôn giáo bản địa của người Chăm tại địa phương Ông Phú Văn Ngòi cho biết: “Đền thờ có cái… mấy cái vua

là có rồi, ở tháp này, tháp nọ là mấy ông vua đó […] Nói chung là mình không phải là thờ như các đền, giả sử như tháp Po Rame ở Hậu Sanh, tháp Po Klaung Garai ở Po Klaung… ở Tháp Chàm, tháp Po Nưgar là ở Nha Trang Nói chung là người ta chỉ lên trên tháp đó người ta cúng thôi, còn người Bà la môn thì người ta chỉ cúng ông bà, không

có thờ ai trong nhà hết, không có thờ”

Lễ hội Ka tê là sự kiện đặc biệt trong sinh hoạt tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận Các tháp Chăm trở thành nơi hành hương của các tín đồ để tìm về với các vị thần của dân tộc Họ cúng “các vị thần quốc gia ở đền tháp này kia đó là một năm một lần […] Đó là thần chung, tất cả các nhà đều cúng, là thần chung hết” (ông Trượng Võ) Các

vị vua Chăm có công hướng dẫn cộng đồng lao động, sản xuất đồng thời bảo vệ người Chăm trước những thế lực gây hấn từ bên ngoài Bà Chúa Xứ ở trên Nha Trang thì chăm

lo những vấn đề về đời sống con người như truyền dạy nghề thủ công, làm nông nghiệp,

và phù hộ cho sự tái sản xuất tộc người “Thí dụ như tháp [Po] Klaung Garai là ông vua, ông vua hướng dẫn truyền dòng thủy này, làm ruộng làm nương, theo nước làm rạch là Po Klaung Garai này nè Còn Po Rame này là ông tướng, tướng… tức là vua tướng, còn cái

bà Chúa Xứ ở trên… trên Nha Trang kia là là bả chuyên môn là cho sanh đẻ rồi là làm thủ công, cho nên là ai mà chậm sanh đẻ là kêu bả, là ai sanh đẻ khó khăn đó Sau khi sanh đẻ xong, mẹ tròn con vuông rồi thì trả lại, lên cúng trả lại Con gà, con gà hay gì đó” (ông Trượng Võ)

Tuy nhiên, đạo Bà la môn còn được quan niệm “chủ yếu là thờ ông bà Ví dụ tôi sanh được một đứa con, tôi mua cây chuối rồi vô đây tôi khai trình báo với ông bà tôi Tôi

có một đứa con tên đó tên đó là sau… là nhập tịch đạo Bà la môn đấy” (ông Trượng Võ) Ông bà tuy không được thờ một cách chính thức trong nhà của người dân tại địa phương

Trang 30

nhưng luôn trong tâm trí của họ: trong mỗi việc họ làm; trong những buổi họp mặt gia đình, bạn bè; hay trong ngày lễ hội của dân tộc Tất cả đều có sự hiện diện của tổ tiên cùng với sự phù hộ cho gia đình người Chăm được bình an và hạnh phúc Người Chăm

“thường xuyên là chỉ có ông bà trong gia đình mình thôi, cứ “thờ” ông bà trong gia đình, thí dụ như là mỗi lần ăn tới món ngon vật là này kia nọ là mình cũng mời trước khi, theo khi cái lễ nghi mà, không phải tự nhiên mình ăn” (ông Trượng Võ) Có thể thấy, thờ cúng

tổ tiên của người Chăm không được thể hiện dưới một hình thức cụ thể nhưng họ vẫn thực hành niềm tin tôn giáo của mình nghiêm túc theo những gì họ đã nhập thân văn hóa như là thành viên của cộng đồng

Mối gắn kết thân thuộc với ông bà tổ tiên còn được nhận thấy rõ nét qua nghi lễ đám chết và đám thiêu của người Chăm Bà la môn tại Mỹ Nghiệp Ông Trượng Võ cho biết rằng người Chăm “chết đi, đem đi chôn, giở lên làm đám, làm đám rồi xương cốt cũng giữ đó rồi mới làm tuần, hai năm một lần, một năm một lần, chờ đến khi trong cái

họ đến ba, bốn chục người rồi bắt đầu tổ chức làm lễ vô [kut], là cái đó cuối cùng Vô đó

là xong Chỗ đó là chỗ nghỉ cuối cùng của người chết Vô đó đã mới cuối cùng”

Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một phương thức sinh nhai không thể không nhắc đến của cộng đồng người địa phương “Làm ruộng là chủ yếu ở đây Làm ruộng chứ” (ông Trượng Võ) Làm ruộng theo mùa vụ “mình ăn nước Đa Nhim, thủy điện Đa Nhim đó […] Một năm ba vụ, vụ đông, vụ hè, vụ mùa Còn ruộng thì từ gieo tới gặt trong bốn tháng đó” Gắn với đời sống nông nghiệp tại địa phương, người Chăm có niềm tin vào các vị thần có thể giúp “được vụ, được mùa, mưa thuận gió hòa, khỏi chim, khỏi chuột, khỏi rầy, khỏi rệp ăn đồ ấy mà” (ông Phú Văn Ngòi) Ông Trượng Võ cho biết về các lễ cúng khi làm ruộng như sau: “Trước kia cúng, hồi trước kia có cúng Ngay từ lúc tôi lớn lên là cúng, là cái… cái đám ruộng đó nó có cái tục là sau khi cày, gieo xong là phải cúng […] Chỗ nào người ta cúng nhỏ thì gà, chỗ nào cúng lớn thì cúng dê nó nguyên một con Tùy theo cái tục của họ, ruộng đó là xưa kia là cúng cái gì”

Ngoài cúng đất ruộng ra, người Chăm tại địa phương còn cúng đất nhà mình ở hàng năm “Cũng như là trên đất đó có cái… cái cái tục lệ mỗi năm cúng một lần Mà tùy theo tục lệ của cái đất đó mà người ta từ hồi xưa kia để lại cái gì Có đất chỉ cúng con gà thôi, có đất là cúng con dê, mà cúng mà phải mời thầy về chứ không ai dám làm việc đó”

Trang 31

(ông Trượng Võ) Bà Hán Thị Keo cho biết thêm là “cúng gà, cúng chè… xôi, bánh trái, chuối cho nó phù hộ mình chớ […] Mình không cúng thì nó cũng đòi ăn chớ” Có thể thấy người Chăm tin vào những tác động của đất đai ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình mình thông qua lao động và các hoạt động khác, như học tập, đi làm việc, đi xa hay vấn đề về sức khỏe: “Là vái con cháu đó khá, làm ăn đó khá, đó có vậy thôi” (ông Phú Văn Bộ)

Đất rẫy vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Chăm tại làng dệt Mỹ Nghiệp Làm rẫy là phải đi đến khu vực ngoài làng Mỹ Nghiệp “Rẫy cách đây một cây số cũng có, có khi trên núi cũng có” (ông Trượng Võ) Quá trình làm rẫy được kể lại bởi ông Trượng Võ là “người ta phát rừng ra lấy khoảng đất trống để mùa mưa xuống người ta cày, người ta trồng bắp, trồng khoai, rồi trồng đậu ráng này kia nọ, rồi trồng vậy đó Ăn hết vụ đó rồi trồng, dọn phạt, bỏ đó, về nhà, đợi tới mùa mưa đi cày, trồng lại – thì là rẫy […] Rẫy là một, chỉ một vụ chỉ ăn nước trời thôi, […]chừng nào có mưa hả, còn mùa này còn để trống, trống vậy thôi” Rẫy là nơi trồng trọt bắp, khoai, bầu,

bí, dưa,… và chăn nuôi bò, cừu và dê Có thể thấy, hoạt động nông nghiệp trên rẫy của người dân tại địa phương phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên rất nhiều và, do đó, người Chăm tin tưởng vào sự bảo hộ của các thế lực siêu nhiên, nhất là khi được mùa, hay sau khi thu hoạch về trồng trọt lẫn chăn nuôi ở đó “Mùa tết, mùa gì nó làm ăn được cũng cúng bò nó chớ [cúng để cầu cho bò], cúng cừu, cúng trong rẫy đó, cúng cho nó làm ăn cho được, trồng đồ tốt Nó cúng vậy, mùa tết hay mùa gì đó, mùa Ka tê, làm ăn được thì

nó cúng mấy cái đó” (bà Hán Thị Keo)

Theo ông Trượng Võ, người Chăm tin vào “thần núi, thần sông, thần biển có hết đấy chứ” Tuy nhiên, “ở đây người Chăm có đi biển, hồi trước đây họ có đi biển, chỉ có vì rừng núi này kia chứ giờ đi biển thì không có” (ông Trượng Võ) Điều này cho thấy thần biển chỉ còn là ý niệm xa xưa của người Chăm mà thôi, nhưng hiện tại, nghi lễ thờ cúng thần biển vẫn được người Chăm thực hành vào mỗi đầu năm theo quy mô cả làng Họ tin rằng, việc cúng lễ tại tháp Po Riyak sẽ mang lại mưa thuận gió hòa trong năm mới và điều này trở thành cứu cánh giúp người dân tại địa phương chống chọi lại những ngày nắng cháy và khô hạn ở Ninh Thuận Ngoài ra, thần biển cũng bảo vệ cho người Chăm trước

Trang 32

những biến cố trong cuộc sống như về mặt tinh thần và vật chất Ông Trượng Võ kể lại về

“ông tướng hải quân” của người Chăm:

“Thí dụ như là có một vị thần là thờ cái ông tướng hải quân […]

Đó là cái cái thần quốc gia đó, thần chung, ai cũng phải mời thần đó hết,

[…] cái người cứu thế cho mình đấy, như vậy mình xin các cái là ổng

cho mình đấy Ổng thiêng đó, cúng đó mà thiêng đó, cho nên ổng về ổng

phù hộ, […] phù hộ cho mình tinh thần, cứ khỏe đầy đủ, làm ăn phát

đạt”

Bà la môn giáo, tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp và tín ngưỡng thờ thần biển đã

có vị trí không thể thay đổi trong tâm thức của các thành viên của cộng đồng người Chăm

tại làng dệt Mỹ Nghiệp Niềm tin tôn giáo giúp họ vững vàng hơn trong cuộc sống khi

phải đối chọi với thiên nhiên và những âu lo thường nhật khác Niềm tin đó được thể hiện

qua một vài chi tiết riêng lẻ mà người Chăm chọn lọc từ sự thực hành tôn giáo của mình

Hay nói cách khác, các tôn giáo trên đã góp phần vào quá trình định hình những mô típ

hoa văn đặc thù của tộc người Chăm ở Ninh Thuận và những mô típ này sẽ được tiếp tục

đề cập đến ở phần tiếp theo của chương hai

Những khái lược về thuật ngữ cũng như lý thuyết làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu

được trình bày tại chương một Ngoài ra, tình hình nghiên cứu về chủ đề nghề dệt thủ

công, trang phục và hoa văn thổ cẩm của người Chăm đã đưa ra một cái nhìn khái quát

mang tính định vị vấn đề mà tác giả nghiên cứu Bên cạnh đó, địa bàn làng dệt Mỹ

Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận được giới thiệu trong

chương này cho thấy những phác thảo đặc trưng về nơi tiến hành cuộc nghiên cứu trên

các phương diện, nhất là tôn giáo Từ những yếu tố nền tảng nêu trên, dữ liệu miêu tả dân

tộc học tác giả thu thập được từ quá trình điền dã sẽ được trình bày tiếp nối ở chương hai

Trang 33

CHƯƠNG 2 BIỂU TƯỢNG HOA VĂN THỔ CẨM CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN

Chương hai được viết dựa trên tài liệu thu thập từ quá trình điền dã dân tộc học tại địa bàn nghiên cứu Chương tiếp theo này giới thiệu tổng quát về nghề dệt thổ cẩm gắn bó với đời sống người Chăm ở làng dệt Mỹ Nghiệp, cùng với đó là những ghi nhận về các cách thức tiếp cận hoa văn thổ cẩm của tác giả tại địa bàn Đó là những cơ sở ban đầu để phần mô tả về các hoa văn thổ cẩm Chăm tiếp nối sau đó được định hướng dễ dàng hơn

2.1 Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Làng dệt Mỹ Nghiệp là nơi sản xuất hàng thổ cẩm Chăm nổi tiếng lâu năm ở Ninh Thuận Đây là nơi tập trung đông các gia đình vẫn làm nghề dệt cho tới bây giờ Hiện nay khoảng bảy trăm mười (710) hộ, là kể cả người Việt, người Chăm, mà trừ người Việt ra khoảng năm phần trăm (5%) và trừ các hộ mà cả vợ lẫn chồng làm cán bộ, công nhân viên chức thì khoảng sáu mươi phần trăm (60%) là làm nghề dệt thổ cẩm (nguồn thông tin từ ông Phú Văn Ngòi) Nội dung tiếp theo sẽ khái quát về nghề dệt thổ cẩm của người Chăm

Mỹ Nghiệp trên các phương diện cơ chế truyền dạy nghề dệt, vật liệu và công cụ dệt, quy trình dệt, sản phẩm dệt cũng như tình hình hiện nay của nghề dệt

2.1.1 Cơ chế truyền dạy nghề dệt của người Chăm ở Ninh Thuận

Nghề dệt thủ công là nghề cổ truyền của người Chăm ở Ninh Thuận, nhất là với cư dân trong làng dệt như Mỹ Nghiệp “Đời ông, đời bà, làm không phải đời mình mọc lên mình làm đâu Đời ông đời bà để lại, để lại cho con cho cháu làm” (bà Hán Thị Keo) Đây

là hoạt động được lưu truyền trong gia đình, từ thế hệ này sang thế hệ khác riêng của nữ giới – “Nghề này là nghề con gái, chứ không phải con trai” Trẻ em gái được bà của mình (mẹ của mẹ), mẹ của mình hay cô của mình (chị em gái của mẹ) dạy cách dệt từ những khâu đơn giản đến phức tạp khi còn nhỏ “Bắt đầu mười ba, mười bốn tuổi bắt đầu là dệt rồi Mười lăm tuổi, đúng mười lăm tuổi là dệt rồi […] thấy người ta dệt đó, bắt đầu mình ngó Ngó ngó rồi bắt đầu mình mới về mình làm” (bà Hán Thị Chín) Cách học được bà Hán Thị Chín kể lại tuy nghe có vẻ đơn giản nhưng lại đòi hỏi một sự tinh mắt và khéo léo Ông Phú Văn Ngòi cũng nêu thêm:

Trang 34

“Mẹ con dạy nhau thôi Cái này từ bé là bắt đầu làm rồi, từ còn lớn lên là bắt đầu làm, từ cái chuyện nhỏ, từ cái quay sợi, từ cái… Nói

chung, nó nhiều công đoạn […] Từ từ là họ mới biết, chứ không có học

[…] Còn nhỏ thì tập cái việc nhỏ, tới chừng nó lớn lên thì tập cái khó

hơn, cái hoa văn nó khó hơn Đó Thì nói chung nó còn nhỏ, giả sử nó

còn nhỏ thì chỉ tập cho nó đạp, nó xỏ, nó dệt cái đồ trơn cho nó đơn

giản, cho nó quen tay, quen chân cái đã Sau khi bắt đầu nó lớn lên dần

thì mình tập bắt đầu kéo hoa văn: hoa văn kéo một hai hoa văn trước,

đến chừng đến mà nếu nó muốn học thêm thì nó cứ kéo hai, ba hoa văn

như thế thôi Thì mẹ con truyền cho nhau những gì bíêt là truyền hết.”

(ông Phú Văn Ngòi)

Tuy nhiên, hiện nay, học dệt thổ cẩm có phần dễ dàng hơn khi những go hoa văn được đánh số để dạy lại cho các thế hệ sau Thế nhưng, điều này không có nghĩa là nghề dệt vẫn được truyền dạy lại một cách phổ biến như ngày trước bởi vì nhiều hộ gia đình, nhất là các thành viên trong nhà, không còn gắn bó với nghề dệt như những thế hệ đi trước nữa Ông Trượng Võ cho biết rằng trước đây “nhà nhà vô khung, vô khung kêu, khung kêu, nhà ai cũng có Vui lắm! Đi ngoài đường nghe rục rặc, rục rặc […] Đó, bây giờ thì tình trạng đó nó giảm, giảm rồi” và tiếng động đó phát ra từ chính những chiếc ốc

xe lửa bằng đồng được tận dụng làm đồ kéo chỉ để bắt go cho hoa văn Ngày nay, khi tối đến, những tiếng leng keng đó đã thưa thớt dần, một phần vì ốc xe lửa được thay bằng bao cát nhỏ hay hòn đá nhỏ và một phần vì người Chăm Mỹ Nghiệp không thường xuyên dệt vào buổi tối nữa Họ giờ tham gia vào những công việc khác hơn là gắn bó cả ngày với khung dệt: “đi làm mướn, đi hái cà-phê, đi hái điều, đi làm cho công ty hết […] Người

ta đi hết rồi, đâu, ít ít người ta nào ở nhà” (bà Hán Thị Chín) Những người phụ nữ cao tuổi mới còn ở nhà làm ruộng và dệt vải thổ cẩm được khoảng sáu mét (6 meters) một ngày từ sáng 08 giờ đến 11 giờ và từ 13 giờ đến 17 giờ Đó là nhịp sống hàng ngày của họ với những chỉ-tơ-sợi, với khung dệt và với những tấm thổ cẩm

Trang 35

2.1.2 Vật liệu và công cụ dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Những vật liệu được sử dụng trong quá trình dệt thổ cẩm, từ bộ khung dệt đến những dụng cụ quay chỉ, từ tơ sợi đến kim tuyến, đều là những câu chuyện khác nhau để

có thể kết hợp lại cho ra đời những tấm thổ cẩm dưới bàn tay của người thợ dệt Khung dệt có hai loại gồm khung dệt khổ rộng (dnI~ manyyim ab# K# - danâng manyyim aban khan) và khung dệt khổ hẹp (dnI~ mz}j[H dlH - danâng manyimjih dalah) mà người dân địa phương gọi lần lượt là “khung dệt ngồi dưới đất”/“khung dệt hàng tấm” và

“khung dệt ngồi trên ghế”/”khung dệt hàng dây” Khung khổ rộng có thể dệt tấm dài hai mét tư (2.4 meters) và chiều ngang chín mươi xenimét (90 centimeters), trong khi đó khung dệt khổ hẹp thì có chiều dài đến một trăm – hai trăm mét (thường là khoảng 120 meters) với chiều ngang là hai mươi, hai mươi lăm xenimét (20 – 25 centimeters) Khung dệt và dụng cụ quay chỉ vô ống (khung cuộn chỉ dệt – sY ORt_* - sia traow) và khung móc chỉ (hn& - hanal) rồi khung móc chỉ bắt go (dn` pcOk_* - danak pacakaow, cho vải khổ hẹp, và, hnY-& l[qUH dlH j[H - haniel linguh dalah jih, cho vải khổ rộng) đều được làm thủ công tại địa phương bởi những người thợ mộc và sử dụng trong thời gian dài Trường hợp của bà Dương Thị Xuân cho thấy bộ dụng cụ của bà được để lại từ thời “bà nội” (tức mẹ của mẹ bà) và đến ngày nay, khi đã sáu mươi hai tuổi, bà vẫn sử dụng chúng để móc chỉ Công đoạn dệt được bà Hán Thị Keo kể như sau:

“Mình quay, mình quay, quay quay vậy, quay vô ống Quay vô ống rồi móc vô trong song cửi đó lại, có là mình móc trong đó lại đó,

mình mới mới làm được Đâu có chỉ về là làm được đâu […] Mình móc

xong rồi thì mình nối lại vô bông này, cái đó, rồi có thứ thì mình bắt

bông Mình muốn bông nào nào đó thì mình làm Mình tự nhiên mình

mình mình làm, mình bắt bông, bắt bông, y như trong đó mình bắt bông

Mình biết bông nào mình bắt, rồi mình sắp, mình làm, làm vậy.”

Tơ sợi là “do chỗ mình dệt, mình móc đó, mình móc vô, cái nào đằng tơ, cái nào đằng sợi mình móc vô Móc cho nó đẹp đó mà Tơ sợi làm hoa văn, chủ yếu là tơ làm hoa văn, sợi làm nền” (ông Phú Văn Ngòi) Tơ sợi hay kim tuyến được dùng hiện nay đều mua từ “Sài Gòn” (từ mà người bản địa vẫn dùng để gọi thành phố Hồ Chí Minh) về, có

Trang 36

thể trực tiếp lên tận nơi mua hay thông qua những đại lý ở địa phương, như trong làng dệt

Mỹ Nghiệp hay ở khu vực trung tâm thị trấn Phước Dân (khu vực xung quanh bưu điện Phú Quý) Sự kết hợp những tơ sợi và các công cụ dệt được thể hiện qua quy trình dệt thổ cẩm của người Chăm Mỹ Nghiệp

2.1.3 Quy trình dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Với sự xuất hiện của chỉ dệt công nghiệp, quá trình dệt thổ cẩm của người Chăm tại làng đã được rút ngắn hơn trước nhiều bởi vì trước đây họ còn trải qua công đoạn nhuộm sợi, nếu không muốn đề cập đến giai đoạn “từ đời bà, đời ông” là có cả khâu kéo bông thành sợi và sau đó mới nhuộm rồi chuẩn bị đi vào công đoạn dệt Điều này được Lê Quý Đôn đã ghi chép lại rằng: “Sách Độn trai nhàn lãm nói: “Từ Mân Lĩnh trở về phía Nam, có nhiều cây gạo Người bản thổ đua nhau trồng bông, có đến mấy nghìn gốc, hoa

nó dùng làm vải, gọi là vải cát bối Lại ở Lâm Ấp sản xuất cây cát bối, hoa nó như lông ngỗng, gỡ ra, dệt làm vải, thì không khác gì với vải gai cả” (Lê Quý Đôn, 2006:401) Điều kiện tự nhiên của địa bàn tạo thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây “cát bối” nên từ lâu nghề dệt gắn liền với đời sống của người Chăm, đặc biệt là phụ nữ và trong những lúc nông nhàn Như vậy, để có được tấm thổ cẩm, người Chăm đã từng dành nhiều thời gian

và công sức trong quá trình làm ra sợi chỉ dệt

“Tự làm là hồi xa xưa kia Hồi xa xưa kia, hồi ông bà của mình còn thì… lúc tôi mới lớn đó… thì ông bà trồng bông, trồng bông nhiều

lắm […] Từ cái ấy, từ cái bông vải về thì nó có hạt, mình giũ ra, bỏ vô

cán, mình cán nó cái bắt đầu nó lật cái hạt, nó lật cái hạt đó ra, còn cái

bông không Bông không, bông không bắt đầu, mới vô bắt đầu se thành

chỉ, quay chỉ […] Xa đó quay, quay rồi một lần, một lần quay rồi là…

là hai lần, rồi á là thành chỉ, thành chỉ rồi mình đi ngâm, đi giặt cho nó

vô nước đó Giặt cho chắc, giặt cho hết đi, đạp cái chân nó, rồi có cơm

nữa, chút nữa cho nó cứng cứng, khỏi có đứt Muốn nhuộm đỏ thì

nhuộm, nhuộm vàng thì nhuộm, […] nhuộm đủ thứ hết đó Đó là có

phẩm […] tự nhiên quay chỉ kéo ra rồi quay vô ống Quay vô ống bởi vì

quay vô cái khung nó khác, quay thành cái cuộn chỉ, ba, ba, bốn thao tác

Trang 37

lận Mấy cái dụng cụ đó bây giờ đâu có còn, trước có, giờ không có

Bông gì cũng không có […] Hồi xa xưa vậy đó Hồi đó đâu có vải đâu

[…] Làm… làm chỉ đó là năm, sáu ngày đó mới được vô khung làm, đâu

phải dễ đâu Mười ngày đó, không có dưới […] Tại bông đó bắt đầu làm

chỉ, làm ra sợi chỉ thì nó lâu Thành sợi chỉ rồi bắt đầu mới vô khung

làm thành sản phẩm” (ông Trượng Võ và vợ ông – bà Lưu Thị Kim

Liên)

Quy trình dệt thổ cẩm của người Chăm dù đã giản lược đi nhiều so với trước đây nhưng không còn thu hút nhiều những thế hệ trẻ tham gia vào quá trình trao truyền nghề thủ công truyền thống này Dù rằng họ vẫn học cách dệt nhưng không thực hành chúng thường xuyên và đã có những sự lựa chọn nghề nghiệp khác Chính những nét sơ bộ về tình hình nghề dệt hiện nay tại làng Mỹ Nghiệp cho thấy phần nào những biến chuyển đó

mà người Chăm đang trải qua

2.1.4 Tình hình nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận hiện nay

Trước đây nhịp điệu sản xuất là sáu mươi phần trăm (60%) hộ gia đình tham gia làm là nhiều, về tốc độ, về sản phẩm làm ra trong năm, làm rất nhiều Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hàng thổ cẩm mang tính bão hòa Tất cả các hàng dân tộc khác trên thị trường cũng nhiều bởi thế nên bây giờ năng suất sản phẩm sản xuất ra ít hơn so với mấy năm trước vì về mặt thị trường tiêu thụ nó tùy theo thời gian mùa vụ Giả sử như mùa hè khách đi du lịch nhiều thì họ mua sắm, vì đây là hàng mỹ nghệ, chứ không phải là hàng thiết yếu Ở Mỹ Nghiệp bây giờ, hàng này vẫn là loại hàng thu nhập cao cho bà con ở đây Bởi vì cái nghề nông nghiệp với lại chăn nuôi, nông nghiệp thì ruộng ít, chăn nuôi thì không có đồng, không có rừng, bởi thế cũng là thu nhập là chính của bà con ở đây Nuôi con học, ăn uống, hàng ngày, nói chung là từ cái nghề dệt Khoảng sáu mươi phần trăm (60%) bà con trong làng vẫn còn làm nghề này, ít hay là nhiều vẫn còn làm (nguồn thông tin từ ông Phú Văn Ngòi)

Thổ cẩm sử dụng trong đời sống của người Chăm được phân biệt với thổ cẩm dệt chỉ để bán ra ngoài thị trường Ông Trượng Võ cho biết: “Ngoài cái thổ cẩm phục vụ cho phong tục, tang lễ cũng có này, lễ cưới cũng có này, mỗi cái… cái phong tục nó có cái

Trang 38

phong tục riêng, có cái mẫu mã của nó riêng” Chỉ riêng những sản phẩm thổ cẩm dành trong “đám chết” thì người dân mới tự tay làm và để dành trong nhà để “lúc cần mình may, mình đem đi” Hay như bà Hán Thị Keo chia sẻ: “Mình để lại già mình chớ […] cất thì mình để dành mình thiêu thôi” Ngoài ra, thổ cẩm sau khi dệt xong được bán cho các nguồn thu mua để may thành ba lô, bóp (ví), … “bán cho Mỹ, cho Tây đó” (bà Hán Thị Chín) Bên cạnh đó, ông Phú Văn Ngòi cho biết “hồi xưa thì mình may, ít bán; bây giờ chủ yếu bán, bán cho Thượng, cho dân tộc ở Tây Nguyên đó” Thị trường mặt hàng thổ cẩm có nhiều thay đổi so với trước đây và sự du nhập của máy dệt về làng đã tạo nên nhiều vấn đề đáng lo ngại trong cộng đồng “Khăn bàn ít người đan, bị hồi đó là khăn bàn

nó bán đắt Bây giờ nó ế, […] người ta dệt bằng máy nhiều lắm […] Hồi đó là làm đầy xóm luôn Bây giờ khăn bàn thì nó khó rồi, bị vì máy làm nhiều đó, máy dệt hết, máy dệt mau […] Tay mình dệt lâu” (bà Hán Thị Chín) Làng dệt Mỹ Nghiệp hiện có năm – sáu

hộ sử dụng máy dệt để đáp ứng số lượng đặt hàng nhiều, tuy nhiên thổ cẩm dệt tay và máy khác nhau rất rõ Thổ cẩm dệt bằng tay thì thô và dày hơn, trong khi thổ cẩm dệt máy thì lại chắc, mịn và mỏng hơn Quan trọng hơn, tính tỉ mỉ của sản phẩm thì chỉ được thể hiện trên thổ cẩm dệt thủ công, do sản phẩm hàng loạt thì hoa văn đơn điệu và không thể thực hiện được kiểu hoa văn phức tạp

Hiện nay, một số lớp học dệt thổ cẩm được mở để truyền dạy nghề lại cho người Chăm trong làng, gồm có lớp cơ bản và lớp nâng cao: “cơ bản là học để biết làm, còn nâng cao thì bắt đầu biết hoa văn cầu kỳ hơn, khó hơn” Lớp học này mở không định kỳ

mà theo số lượng đăng ký cũng như điều kiện của từng năm của Trung tâm Khuyến công của thị trấn Phước Dân Những nghệ nhân được mời đến dạy tại lớp học này như nghệ nhân bà Vạn Thị Thả, Vạn Thị Cư, hay ông Lương Phúc Ông Lương Phúc là trường hợp đặc biệt khi ông được ra Hà Nội học dệt nhiều kiểu hoa văn và có thể tự mình bắt go dệt theo ý tưởng sáng tạo của mình, chứ không chỉ là những khuôn mẫu trước đây

Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm Mỹ Nghiệp đang đối mặt với nhiều thách thức tồn tại trong cộng đồng và khả năng có được sức sống mạnh mẽ như trước đây là điều khá mong manh Những mô típ hoa văn thổ cẩm được lưu truyền cho đến ngày nay vẫn mang những ý nghĩa đặc biệt đối với các thành viên của cộng đồng dù rằng nghề dệt gặp nhiều khó khăn như nêu trên Các hoa văn đó sẽ được tìm hiểu cặn kẽ về sau

Trang 39

Phần này đã khái quát một vài đặc điểm cơ bản của nghề dệt mà người Chăm vẫn duy trì đến ngày nay tại làng Mỹ Nghiệp Từ những nét phác họa trên, phần tiếp theo có nội dung về cách tiếp cận những mô típ hoa văn thổ cẩm của người Chăm tại địa bàn nghiên cứu để đi vào nghiên cứu cụ thể những hoa văn nhất định

2.2 Tiếp cận hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Trong thế giới muôn màu muôn vẻ của các mô típ hoa văn, nghiên cứu chỉ có khả năng tiếp cận đến một số ít ỏi trước những kiểu mẫu hoa văn phong phú của người Chăm

ở làng dệt Mỹ Nghiệp Sự thực hành nghề dệt ngày nay đối với những mô típ hoa văn chịu sự tác động của nhiều yếu tố có nguồn gốc từ cả bên trong lẫn bên ngoài cộng đồng

và, do đó, sự tồn tại của tất cả các mô típ được biết đến không là đồng đều Hơn nữa, những hoa văn có thể đào sâu tìm tòi về ý nghĩa biểu tượng được tác giả tiếp cận với định hướng mang tính tôn giáo để làm cơ sở cho những diễn giải về sau

2.2.1 Hiện trạng về hoa văn thổ cẩm của người Chăm ở Ninh Thuận

Với nghề dệt thủ công truyền thống của mình, người Chăm đã sáng tạo và học hỏi nhiều mô típ hoa văn thổ cẩm đa dạng Điều này được thể hiện qua số lượng hoa văn của người Chăm dệt được biết cho đến hiện nay, dù với những biến đổi theo thời gian truyền nghề lâu dài, bổ sung thêm vào hay nhiều hoa văn bị thất truyền Ông Phú Văn Ngòi cho rằng: “Hoa văn của người Chăm thì nó đa dạng lắm, cũng phải bốn chục, bốn mươi lăm hoa văn nhưng mà một số hoa văn bị thất lạc, thất truyền” Với bốn mươi mô típ hoa văn, hiện nay, người Chăm không hoàn toàn tiếp tục dệt thường xuyên bởi vì những nguyên nhân như sự ngắt quãng xảy ra trong quá trình truyền nghề, sự giao lưu học hỏi về nghề dệt giữa các tộc người và thị hiếu của thị trường mặt hàng thổ cẩm

Như đã đề cập, nghề dệt được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác, theo các thành viên thuộc về giới nữ Tuy nhiên, trong quá trình dạy nghề và học nghề, thế hệ đi trước hướng dẫn các bước để con cháu làm quen và dệt thành thạo thổ cẩm và đây là một quá trình lâu dài Hơn nữa, về những mô típ hoa văn thổ cẩm, người bà, người mẹ không nhất thiết truyền đạt tất cả kinh nghiệm dệt cho đời con, đời cháu Nhiều hoa văn chỉ có

Trang 40

một số ít các nghệ nhân lâu năm biết được cách dệt bởi vì kỹ thuật bắt go hoa văn đó phức tạp và không dễ dàng truyền thụ lại Bà Hán Thị Chín kể rằng “cái bông nào mình biết thì mình dệt, còn cái nào mình không biết thì mình kêu người nào biết chỉ lại cho mình” Như lời bà nói, có thể thấy, nghề dệt gắn bó với người phụ nữ Chăm Mỹ Nghiệp và theo suốt cuộc đời của họ Từ lúc học hỏi cách dệt lúc nhỏ cho đến khi trở thành “người lớn”, người phụ nữ truyền thống Chăm ở làng dệt Mỹ Nghiệp đi đôi với quá trình học hỏi nghề dệt không ngừng nghỉ Điều này cũng cho thấy, quá trình dạy nghề lại cho con gái, cháu gái của các thế hệ trước chỉ là một sự khởi đầu cho những sự tìm tòi, học hỏi tiếp nối theo và liên tục về sau này chứ không phải là một sự hướng dẫn toàn bộ những gì một thế hệ đã góp nhặt từ thực tiễn thực hành nghề dệt Như vậy, khi các thế hệ trước không còn nữa,

“nhiều hoa văn như là một số hoa văn… [thì] bây giờ không có làm được nữa, tại vì mấy người nghệ nhân, họ lớn tuổi, qua đời xong rồi không ai hướng dẫn lại”, điều này được ông Phú Văn Ngòi đúc kết Hơn nữa, ông nói thêm rằng làng dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp có “tổ chức sưu tầm hoa văn mới, sưu tầm hoa văn cũ Nói chung là hình thức khen thưởng nếu là ai sưu tầm được những cái hoa văn cũ đó để mà sưu tầm lại những hoa văn cổ của mình, nhưng mà mấy hoa văn cổ thì rất hiếm, rất quý nên một số nhà thì còn tồn trong nhà của họ thôi, có khi họ không có đưa ra” Chính những sự lưu giữ riêng trong gia đình như vậy đã hạn chế khả năng tiếp xúc với nhiều hơn những mô típ hoa văn thổ cẩm của những người ngoài gia đình biết cách dệt nên hoa văn đó Vì vậy, những hoa văn thổ cẩm được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng làng dệt thì ít hơn so với những hoa văn thực sự được biết của nghề dệt thổ cẩm qua các thế hệ

Quá trình học hỏi giữa các thành viên trong cộng đồng làng nghề luôn diễn ra liên tục và bên cạnh đó là quá trình học hỏi giữa các tộc người Tất cả góp phần vào làm phong phú thêm kho tàng những mô típ hoa văn thổ cẩm của người Chăm Các tộc người ngày một có điều kiện giao lưu và tiếp xúc với nhau nhiều hơn qua những dịp trao đổi và học hỏi lẫn nhau và riêng với nghề dệt cũng không là ngoại lệ Người Chăm cũng có những hoa văn “không phải là của mình mà là hoa văn của người Lào, người Thái hay là người khác, về mình sáng chế ra, mình làm cũng được” (ông Phú Văn Ngòi) Như vậy, khi học hỏi những mô típ hoa văn mới, người Chăm không chỉ tiếp nhận một cách đơn thuần và theo như nguyên mẫu, mà họ còn có những sáng tạo của riêng mình để biến hóa

Ngày đăng: 22/04/2021, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm