DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH Biểu đồ 1: Các thành phần của TimeMap Biểu đồ 2: Xây dựng dữ liệu không gian Biểu đồ 3: Các bước biên tập dữ liệu bản đồ trong TMWin Hình 1: Bản đồ động – Anim
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Lê Thanh Hậu, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016
Thành viên: Trần Thị Huyền, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016
Trần Duy Phương Lộc, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016
Người hướng dẫn:
Th.S Lê Chí Lâm Giảng viên khoa Địa Lý ĐHKHXH&NV TPHCM
TP HCM, ngày 9 tháng 5 năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐỊA LÝ
Tên công trình:
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TƯƠNG TÁC ĐA THỜI GIAN VỀ
DI DÂN TỰ DO Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Lê Thanh Hậu, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016 Thành viên: Trần Thị Huyền, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016
Trần Duy Phương Lộc, Lớp Địa Lý K33, khóa: 2012 - 2016
Người hướng dẫn:
Th.S Lê Chí Lâm Giảng viên khoa Địa Lý ĐHKHXH&NV TPHCM
TP HCM, ngày 9 tháng 5 năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Thu thập và xử lý dữ liệu 4
3.2 Phương pháp thành lập bản đồ 5
4 Tổng quan tài liệu 5
4.1 Một số khái niệm có liên quan 5
4.1.1 Bản đồ công nghệ mới 5
4.1.2 Bản đồ dòng chảy (Flow Maps) 8
4.1.3 Bản đồ TimeMap 11
4.1.4 Di dân và DDTD ở Việt Nam 14
4.2 Lịch sử nghiên cứu 16
4.2.1 Phương pháp thành lập bản đồ dòng chảy và bản đồ công nghệ mới 16
4.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến di dân 19
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 20
6 Phạm vi đề tài 21
7 Sản phẩm 21
8 Kế hoạch nghiên cứu 22
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG DI DÂN TỰ DO VIỆT NAM 24
1.1 Di dân tự donông thôn – nông thôn từ 1975 – 1994 24
1.2 Di dân tự do nông thôn – thành thị từ 1995 đến nay 28
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG BẢN ĐỒ 34
2.1 Mô hình phân tích xây dựng bản đồ 35
2.2 Thu thập và xử lý dữ liệu 36
2.2.1 Dữ liệu thuộc tính 36
2.2.2 Dữ liệu không gian 36
2.3 Thao tác phần mềm 39
2.3.1 Flowmap – ArcGIS 39
2.3.2 TimeMap 43
CHƯƠNG 3: SẢN PHẨM ĐỀ TÀI VÀ Ý NGHĨA ỨNG DỤNG 56
Trang 43.1 Sản phẩm 57
3.1.1 Bản đồ dòng chảy (Flow Maps) 57
3.1.2 Bản đồ tương tác đa thời gian (TimeMap) 66
3.2 Diễn giải ứng dụng – ý nghĩa đề tài 68
3.2.1 Diễn giải ứng dụng 68
3.2.2 Thao tác sử dụng 77
3.2.3 Ý nghĩa 77
3.2.4 Lĩnh vực sử dụng bản đồ tương tác đa thời gian Di dân 79
PHẦN KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: CÁC SỐ LIỆU GIAI ĐOẠN DI DÂN
PHỤ LỤC 2: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯƠNG TÁC ĐA THỜI GIAN
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kế hoạch nghiên cứu
Bảng 2: Điều hướng lao động xây dựng các vùng kinh tế mới
Bảng 3: Quy mô các luồng DDCS giai đoạn 1976 - 1984
Bảng 4: Giai đoạn 1975 – 1979
Bảng 5: Giai đoạn: 1980 – 1984
Bảng 6: DDTD từ miền núi phía Bắc vào một số Tỉnh giai đoạn 1986 – 1999
Bảng 7: Tỷ suất nhập cư và tỷ suất xuất cư của các vùng giai đoạn 2010 – 2014 Bảng 8: 10 tỉnh thành có tỷ suất nhập cư cao nhất năm 2014 (%o)
Bảng 9: 10 tỉnh thành có tỷ suất xuất cư cao nhất năm 2014 (%o)
Bảng 10: 10 Tỉnh/ Thành có xuất cư lớn nhất vào Hà Nội
Bảng 11: 10 Tỉnh/ Thành có xuất cư lớn nhất vào Tp.HCM
Bảng 12: Các giai đoạn di dân chính sách và DDTD được sử dụng trong đề tài Bảng 13: Cấu trúc bảng thuộc tính của lớp dữ liệu nền
Bảng 14: Cấu trúc bảng thuộc tính dữ liệu nền được biên tập để làm dữ liệu đầu vào cho Flow Maps
Bảng 15: Cấu trúc bảng thuộc tính dữ liệu nền được biên tập để làm dữ liệu đầu vào cho TimeMap
Bảng 16: 10 Tỉnh/ Thành có người nhập cư lớn nhất cả nước giai đoạn 2009 –
Bảng 22: Diễn giải ý nghĩa màu sắc bản đồ
Bảng 23: Quy định màu nền và ý nghĩa thể hiện trong bản đồ TimeMap
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1: Các thành phần của TimeMap
Biểu đồ 2: Xây dựng dữ liệu không gian
Biểu đồ 3: Các bước biên tập dữ liệu bản đồ trong TMWin
Hình 1: Bản đồ động – Animated Maps
Hình 2: Bản đồ Cartogram
Hình 3: Bản đồ tương tác (User-defined Maps)
Hình 4: Web Atlas
Hình 5: Bản đồ đa tỉ lệ (Multi - Scale Maps)
Hình 6: Bản đồ đa biến (Multivariate Maps)
Hình 7: Sơ đồ các loại hình Flow Maps
Hình 8: Network flow Maps
Hình 9: Flow Maps dạng Radial
Hình 10: Bản đồ Flow Maps dạng Distributive
Hình 11: Bản đồ Flow Maps dạng (Point) Vector
Hình 12: Giao diện TMWin của Timemap
Hình 13: Giao diện TMJava Client của Timemap
Hình 14: Kết nối Timemap TMJava với ECAI
Hình 15: Tỷ suất xuất cư của các Tỉnh/ Thành Việt Nam 2014 Hình 16: Tỷ suất nhập cư của các Tỉnh/ Thành Việt Nam 2014 Hình 17: Sơ đồ thực hiện đề tài
Hình 18: Sơ đồ xây dựng dữ liệu Flow Maps
Hình 19: Bước 1: Tạo một Mapspace mới
Trang 7Hình 20: Bước 2: Chèn dữ liệu vào bảng thuộc tính tại Table Of Contents
Hình 21: Vị trí XY to Line trong Arctoolbox
Hình 22: Cấu trúc bảng thuộc tính tương ứng với các yêu cầu của XY to Line
Hình 23: Giao diện công cụ XY to Line
Hình 24: Lớp Shapefile dạng đường từ công cụ XY to Line và bảng thuộc tính đã biên tập
Hình 25: Sơ đồ xây dựng bản đồ tương tác đa thời gian
Hình 26: Cửa sổ đặt tên cho Mapspace trên TMWin của TimeMap
Hình 27: Cửa sổ cài đặt hệ quy chiếu và chế độ zoom
Hình 28: Cửa sổ cài đặt thanh thời gian và phạm vi hiển thị
Hình 29: Cửa sổ lựa chọn loại dữ liệu chèn
Hình 30: Cửa sổ lựa chọn dữ liệu shapefile, raster hoặc database
Hình 31: Hộp thoại General của TMWin của TimeMap
Hình 32: Hộp thoại Field Roles cài đặt các thông số cho phép hiển thị thời gian và nhãn cho bản đồ
Hình 33: Hộp thoại Settings của Mapspace
Hình 34: Hộp thoại Extents/time
Hình 35: Hộp thoại Layer Groups
Hình 36: Giao diện biên tập Symbology cho bản đồ nền
Hình 37: Giao diện cài đặt màu hiển thị cho bản đồ nền
Hình 38: Thể hiện số lượng của các dòng di dân tự do và cách lựa chọn hình thức thể hiện ký hiệu hóa
Trang 8Hình 39: Cài đặt hướng di chuyển cho các dòng di dân
Hình 40: Cài đặt hiển thị cho dữ liệu tổng xuất/ nhập cư của các vùng di dân điển hình
Hình 41: Cửa sổ Java.exe – Môi trường khởi chạy của Applet
Hình 42: Giao diện Bản đồ đa thời gian tương tác – Applet (TMJava client)
Hình 43: Minh họa giao diện sản bộ sản phẩm bản đồ tương tác đa thời gian (1) Hình 44: Minh họa giao diện sản bộ sản phẩm bản đồ tương tác đa thời gian (2) Hình 45: Bản đồ DDTD Việt Nam giai đoạn 1985 – 1994
Hình 46: Bản đồ DDTD Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014
Hình 47: Bản đồ các luồng nhập cư chính vào TP.HCM giai đoạn 2009 - 2014 Hình 48: Các luồng nhập cư chính vào Hà Nội giai đoạn 2009 – 2014
Hình 49: Minh họa giao diện TMWin của bản đồ tương tác đa thời gian
Hình 50: Minh họa bản đồ tương tác đa thời gian di dân tự do gồm tám giai đoạn Hình 51: Minh họa giai đoạn di dân nổi bật
Hình 52: Màu nền trong bản đồ TimeMap
Hình 53: So sánh mục tiêu và kêt quả đạt được
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CD: Compact Disc DDCS: Di dân chính sách DDTD: Di dân tự do ECAI: Electronic Cultural Atlas Initiative ESRI: Environmental Systems Research Institute GIS: Geographic Information System
HTML: HyperText Markup Language SQL: Structured Query Language
Trang 10TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Bản đồ tương tác đa thời gian là một nhánh quan trọng của bản đồ công nghệ mới Đây là dạng bản đồ đang được các nước trên thế giới phát triển và sử dụng rất hiệu quả Tuy nhiên, nó vẫn chưa được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam Với tính năng vượt trội trong việc trực quan hóa thông tin thông qua sự dịch chuyển của dòng thời gian để thể hiện sự thay đổi không gian của các đối tượng địa lý, loại bản đồ này ngày càng chứng minh vai trò của mình khi tái hiện lại các dòng dịch chuyển trong không gian biến đổi không ngừng qua từng giai đoạn như: các dòng
di dân, dòng dịch chuyển các cơn bão trong lịch sử hay các dòng dịch chuyển kinh tế Mặt khác, ngày nay, các đối tượng chuyển động nói chung và các dòng dịch chuyển con người, hàng hóa nói riêng có vai trò quan trọng khi con người ngày càng
có nhu cầu xích lại gần nhau hơn, bài toán di chuyển đang được quan tâm hàng đầu Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là trực quan hóa tình hình di dân nước ta bằng
đồ tương tác đa thời gian Bên cạnh đó, đề tài cũng được thực hiện nhằm mục tiêu giới thiệu một loại công cụ thành lập bản đồ công nghệ mới, có nhiều tính năng vượt trội trong việc trực quan hóa dữ liệu không gian theo dạng dòng chảy, góp phần giải quyết các bài toán di chuyển ở trong nước
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết thông qua thu thập và xử lý các
số liệu định lượng về di dân Đồng thời, phương pháp nghiên cứu ứng dụng bằng các cách thức xây dựng bản đồ dòng chảy (Flow Maps), bản đồ tương tác đa thời gian (TimeMap) đã góp phần to lớn trong việc trực quan hóa các số liệu di dân thành bản
đồ công nghệ mới thật sinh động
Kết quả của nghiên cứu đã trực quan hóa tình hình di dân tự do ở Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay bằng bản đồ tương tác đa thời gian Song song với điều đó, nhóm nghiên cứu cũng đã giới thiệu đến người đọc, các nhà làm bản đồ một công cụ thành
lập bản đồ công nghệ mới một cách cụ thể nhất
Với khả năng ưu việt thể hiện các dòng dịch chuyển thì việc áp dụng nó vào đối tượng là các dòng chuyển cư ở nước ta là hoàn toàn phù hợp Hiện nay, hiện tượng di dân đã và đang diễn ra tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội Do đó, mong muốn loại bản đồ này sẽ góp phần trực quan hóa tình hình di dân đang được quan tâm nghiên cứu hiện nay
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bản đồ là công cụ quan trọng của nhà địa lý “Nếu bản đồ địa lý chung cho ta thấy
vị trí của một thứ gì đó trong không gian thì bản đồ chuyên đề lại cho ta một câu chuyện về nơi đó”1 Mặc dù, đây chưa phải là một định nghĩa đầy đủ và hoàn toàn chính xác về mặt khoa học so với nhiều định nghĩa về bản đồ - bản đồ chuyên đề đã có trên thế giới Song, nó cho ta một sự ví von sinh động giúp phân biệt bản đồ chuyên đề với bản đồ địa lý chung và cho ta thấy rõ vai trò của bản đồ chuyên đề trong việc thể hiện những biến đổi không gian phân bố địa lý theo từng lĩnh vực riêng biệt Những biến đổi không gian bao gồm các hiện tương vật lý tự nhiên: thủy văn, khí hậu, thiên tai; các yếu tố kinh tế - xã hội như: thu nhập, dân số, tôn giáo, tuổi thọ, sức khỏe, bệnh tật…trên một khu vực địa lý tương đối hẹp có thể là một khu vực, quốc gia, vùng, thành phố hay một đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn Từ đó, cho thấy vai trò to lớn của bản đồ chuyên đề trong việc trực quan hóa các thông tin, số liệu thông qua hình ảnh và ký hiệu Nó có mặt trong tất cả các lĩnh vực đời sống, vẽ nên bức tranh sinh động theo chủ đích của nhà làm bản đồ để kể một câu chuyện trên một lãnh thổ địa lý xác định, dựa trên các quy ước, thuật toán thật khoa học và cả nghệ thuật đẹp mắt
Ngày nay, với sự giúp sức của công nghệ và các phần mềm hỗ trợ, sự phát triển đột phá của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt với sự ra đời và phát triển rộng khắp của của Hệ thống thông tin Địa lý (Geographic Information System - GIS) đã hỗ trợ đắc lực cho công việc thành lập bản đồ Nó đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong việc lựa chọn cách thể hiện dữ liệu không gian khi thành lập các bản đồ chuyên đề, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong các công tác chuyên môn khác nhau Bản
đồ công nghệ mới là một trong những đóng góp quan trọng vào sự đa dạng này Với loại bản đồ này, các nguyên tắc làm bản đồ truyền thống có thể bị phá vỡ, không gian
và thời gian bị biến đổi theo cách này hay cách khác Tuy nhiên, mọi sự phá cách đều dựa trên nguyên tắc khoa học và giúp nó mang hàm lượng thông tin nhiều hơn, sinh động hơn Nếu xem bản đồ truyền thống là một bức tranh tĩnh thì các bản đồ này là các hình ảnh động biến đổi linh hoạt Trong đó, Bản đồ tương tác đa thời gian là một
ví dụ điển hình Bản đồ này cho thấy tiến trình thay đổi không gian theo thời gian của
1 Theo website: http://maps.unomaha.edu/Peterson/funda/Notes/Notes_Exam1/Maps&GIS.htm (2009), Maps & GIS
Trang 12một hay nhiều đối tượng địa lý.Người dùng có thể tương tác, giới hạn không gian và thời gian tìm kiếm thông tin đối tượng mà mình quan tâm… Điều mà bản đồ truyền thống không làm được
Trên thế giới, bản đồ tương tác đa thời gian đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng
rãi Đặc biệt, ở các khía cạnh về tái hiện lịch sử: Lịch sử các cơn bão trên đại dương, lịch sử hình thành lãnh thổ, lịch sử di dân hay các dòng dịch chuyển kinh tế - xã hội
khác Ở Việt Nam, khái niệm bản đồ tương tác đa thời gianlà hoàn toàn mới mẻ khi
chỉ có một vài nghiên cứu lý thuyết mô tả về nó và chưa có một nghiên cứu ứng dụng
nào cho loại bản đồ này Đó là những lý do thúc đẩy đề tài “Xây dựng Bản đồ tương tác đa thời gian về di dân tự do ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay” được thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trực quan hóa tình hình di dân trong nước bằng bản đồ tương tác đa thời gian,
qua đó giới thiệu một loại công cụ thành lập bản đồ mới có nhiều tính năng vượt trội trong việc trực quan hóa dữ liệu không gian
2.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu đặc điểm di dân tự do(DDTD) trong nước của người lao động Việt Nam
từ 1975 đến nay
Xây dựng Bản đồ tương tác đa thời gian về DDTD với các nội dung sau:
Địa bàn xuất cư, nhập cư của người di dân
Đặc điểm, quy mô các luồng DDTD trong giai đoạn 1975 đến nay
Làm rõ thiết kế từ quá trình từ thiết kế xây dựng đến các hướng dẫn sử dụng bản đồ tương tác đa thời gian di dân và vai trò của loại bản đồ này
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên sự kết hợp của phương pháp nghiên cứu
lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ứng dụng Cả hai phương pháp này đã hỗ trợ lẫn nhau góp phần trực quan hóa thông tin tới người dùng thông qua sản phẩm ứng dụng được tạo thành Sản phẩm tạo ra cho phép người dùng thoát khỏi sự “nhàm chán” khi chỉ nghiên cứu các báo cáo, văn bản lý thuyết mà đưa họ đến với sự chủ động hơn
trong tiếp nhận thông tin: Quá trình tương tác lẫn nhau Cụ thể, các phương pháp
được sử dụng trong đề tài như sau:
Trang 13Các số liệu thu thập được tiến hành xử lý bằng các bước sau:
Tổng hợp và thống kê số liệu theo DDTD/di dân chính sách (DDCS) và số lượng di dân theo giai đoạn 5 năm từ 1975 đến 2014 (DDCS có 4 giai đoạn
và DDTD có 8 giai đoạn)
Lập bảng tính trên excel theo các trường cụ thể: Tên vùng đi, vùng đến, số lượng xuất cư, nhập cư, thời gian xuất nhập cư,…
Dữ liệu thứ cấp không gian:
Bao gồm dữ liệu Shapefile hành chính toàn thế giới và hành chính các cấp của Việt Nam được lấy từ các nguồn cung cấp dữ liệu GIS miễn phí: Diva_gis.org, ESRI,
Dữ liệu thu thập được tiến hành xử lý:
Xây dựng lại dữ liệu hành chính Việt Nam theo vùng kinh tế có sự phân chia theo quy hoạch xây dựng vùng lãnh thổ do Bộ Xây dựng lập trình chính phủ phê duyệt
Cập nhật quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào vùng Nam Trung Bộ Việt Nam
Cập nhật lại bảng thuộc tính của lớp bản đồ nền này để phù hợp với dữ liệu xây dựng Flow Maps
Từ những tóm tắt trên, các dữ liệu thứ cấp đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc là dữ liệu đầu vào để tạo ra các lớp dữ liệu sơ cấp cho đề tài nhằm xây dựng
Flow Maps và bản đồ tương tác đa thời gian trên TimeMap
Xử lý và xây dựng dữ liệu thành lập bản đồ:
Cụ thể: Dữ liệu Shapefile dạng đường được xây dựng từ lớp dữ liệu nền Bảy vùng
kinh tế Việt Nam, thông qua công cụ XY to Line trên ArcGIS – là đầu vào xây dựng bản đồ dòng chảy (Flow Maps) cũng như xây dựng Bản đồ tương tác đa thời gian trên
TimeMap
Trang 143.2 Phương pháp thành lập bản đồ
Nếu xem phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu là phương pháp xây dựng nội dung cho đề tài nghiên cứu thì phương pháp thành lập bản đồ chính là phương pháp xây dựng hình thức Chính nó đã góp phần nhân lên gấp nhiều lần khả năng trực quan hóa
và “tạo hứng thú” cho người dùng vào bản đồ được tạo ra so với các bản đồ tĩnh Phương pháp thành lập bản đồ được sử dụng trong nghiên cứu gồm có:
Phương pháp xây dựng bản đồ dòng chảy với công cụ XY to Line của phần mềm ArcGIS do ESRI phát triển
Phương pháp xây dựng bản đồ công nghệ mới: Bản đồ tương tác đa thời gian dựa trên TimeMap (gồm TMWin và TMJava): Phương pháp biên tập bản đồ trên TMWin và thể hiện, tương tác bản đồ trên TMJava Client
4 Tổng quan tài liệu
4.1 Một số khái niệm có liên quan
4.1.1 Bản đồ công nghệ mới 2
Hiện nay, bản đồ công nghệ mới là một thế hệ bản đồ chuyên đề theo xu hướng hiện đại Với khả năng vượt trội của mình, bản đồ công nghệ mới có khả năng tăng gấp nhiều lần mức độ “trực quan hóa” trong thể hiện các đối tượng, hiện tượng địa lý,
và tương tác với người dùng so với các bản đồ truyền thống – bản đồ tĩnh
Bản đồ công nghệ mới được chia ra các loại như sau:
Bản đồ động (Animated Maps): Gồm có bản đồ đa thời gian là bản đồ có tiến trình thay đổi trong không gian theo thời gian và bản đồ đa biến là bản đồ có sự biến động của các biến khác ngoài biến thời gian
Bản đồ tương tác (User-defined Maps) – là bản đồ cho phép người dùng tương tác với nó như: Lựa chọn dữ liệu, màu sắc, lớp hiển thị, chế độ Zoom,…theo cách người dùng mong muốn
Bản đồ đa tỉ lệ (Multi - scale Maps) là loại bản đồ có sử dụng phương pháp khái quát hóa và ký hiệu hóa một cách tối ưu nhất, nó cho phép người dùng có thể lựa chọn tỷ lệ phù hợp cho mình trên từng chế độ phóng to/ thu nhỏ của bản đồ
Bản đồ đa biến (Multivariate Maps) là bản đồ thể hiện đồng thời nhiều biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau của một khu vực
2 Văn Ngọc Trúc Phương, (2014), Giáo trình Thể hiện dữ liệu Địa lý
Trang 15 Cartogram: Gồm có Cartogram liên tục, Cartogram không liên tục, Cartogram tròn, Cartogram không liên tục và chồng lên nhau, Cartogram dạng đường
Bản đồ đa phương tiện (Multimedia Maps) là bản đồ có chứa các tệp ảnh động,
âm thanh, video,…nhằm tăng tính sinh động và trực quan cho người dùng
Webmap/ web atlas
Một số hình ảnh minh họa các loại bản đồ:
Hình 2: Bản đồ CartogramHình 1: Bản đồ động – Animated Maps
Hình 3: Bản đồ tương tác (User-defined Maps)
Trang 16Hình 4: Web Atlas
Hình 6: Bản đồ đa biến (Multivariate Maps)Hình 5: Bản đồ đa tỉ lệ (Multi - Scale Maps)
Trang 17Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu về bản đồ công nghệ mới, đề tài
nghiên cứu quyết định xây dựng bản đồ công nghệ mới: Bản đồ tương tác đa thời gian Trong đề tài của nhóm nghiên cứu, loại bản đồ này được định nghĩa:
Bản đồ tương tác đa thời gian là loại bản đồ có sự kết hợp giữa bản đồ động
(Animated Maps) và bản đồ tương tác (User-defined Maps) Bản đồ này cho phép
người dùng sử dụng như một bản đồ động (có khả năng thể hiện sự biến đổi của sự vật/ hiện tượng theo không gian và thời gian) và cũng như một bản đồ tương tác (có thể thay đổi hiển thị lớp đối tượng, chế độ phóng to/ thu nhỏ…) tùy thuộc vào chế độ
sử dụng của người dùng
4.1.2 Bản đồ dòng chảy (Flow Maps)
Theo báo cáo “Flow Mapping Data” (2013) của Esri Education GIS Conference- Environmental Systems Research Institute - tại San Diego, California, Hoa Kỳ:
Bản đồ dòng chảy(Flow Maps) là bản đồ thể hiện sự di chuyển một số hiện tượng,
thông thường là hàng hóa hay con người, từ một nơi này tới một nơi khác Các đường được sử dụng làm kí hiệu cho các dòng di chuyển, những dạng khác nhau của độ rộng đại diện cho sự khác nhau về số lượng của các dòng
Flow Maps được chia làm 4 loại hình như sau:
Hình 7: Sơ đồ các loại hình Flow Maps
Gồm: Sự vận
chuyển, liên
kết giao thông,
Radial Flow maps
Kết nối dạng
"nan hoa": 1 điểm tới nhiều điểm hoặc nhiều điểm tới
1 điểm
Distributive Flow maps
Sự phân phối hàng hóa hoặc một số dòng khác từ 1 hoặc chỉ 1 vài điểm bắt đầu tới nhiều điểm khác
(Point) vector Flow maps
Hiện tượng thay đổi liên tục và xuyên suốt trong không gian và thời gian hoạt động Sử dụng các vector Euclidean (vị trí điểm với độ lớn
và hướng)
Trang 18Trong 4 loại hình trên, đề tài nghiên cứu lựa chọn Radial Flow Maps để thiết kế dữ liệu không gian với công cụ XY to Line của ArcToolbox thuộc phần mềm ArcGIS được phát triển bởi ESRI Bởi vì đây là loại bản đồ cho phép đề tài thể hiện sự di chuyển linh hoạt của các luồng di dân từ một vùng tới nhiều địa điểm khác nhau như đặc trưng chính của hiện tượng di dân
Hình 9: Flow Maps dạng RadialHình 8: Network flow Maps
Trang 19Hình 10: Bản đồ Flow Maps dạng Distributive
Hình 11: Bản đồ Flow Maps dạng (Point) Vector
Trang 20ghép các không gian và dữ liệu về văn hóa với nhau thông qua bản đồ
Theo tổng quan về “Dự án TimeMap” của Đại học Sydney (2010):
TimeMap TMJava là một Applet về cách thức thành lập bản đồ mới – loại bản đồ
có khả năng tương tác với một vài dòng lệnh HTML Nó cung cấp tính năng tích hợp thông tin về bối cảnh (không gian) theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại, chính khả năng này khiến nó trở nên ưu việt hơn nhiều lần so với các bản đồ tĩnh
Trong đó, Applet là một chương trình java nhỏ được nhúng vào các trang web viết
bằng ngôn ngữ HTML - ngôn ngữ lập trình trang web - và có thể được thực thi trên các trình duyệt có hỗ trợ Java như: FireFox, Internet Explorer 3.0,… trở lên4
Thành phần
3 Theo trang web WWW.Java.com
4 Theo trang thư viện tài liệu: http://tailieu.tv/
Timemap
TmWin
TMJava
TMJava Server
TMJava ClientBiểu đồ 1: Các thành phần của TimeMap
Trang 21Hình 12: Giao diện TMWin của TimeMap
Hình 13: Giao diện TMJava Client của TimeMap
Trang 22 Chức năng
TimeMap TMJava là một phần mềm cho phép người sử dụng tích hợp thời gian vào bản đồ, sử dụng các hình ảnh động trên màn hình Là một phần mềm có khả năng nhúng vào các trang web nên TimeMap cho phép người dùng có thể tùy chỉnh giao diện của nó cho phù hợp với các giao diện web mà họ cần nhúng Applet Tóm lại, TimeMap là phần mềm cho phép người dùng tạo và biên tập lại dữ liệu để xây dựng một trang web bản đồ tương tác (kết nối server trên Internet) hoặc đưa ra một bản đồ tương tác trên đĩa CD để dùng mà không cần kết nối Internet
TimeMap có thể cung cấp:
Một cách thức hiển thị các kết quả của nghiên cứu học thuật trong việc kết hợp không gian và thời gian của nhiều lĩnh vực
Một phương tiện có khả năng tạo, phục vụ, hiển thị bản đồ tương tác, tạo ra siêu
dữ liệu (metadata), tải hoặc đưa dữ liệu thuộc tính lên server một máy chủ SQL Tạo các file có đuôi xml (Mapspace) cho phép đưa dữ liệu lên web để làm bản
Trang 23 Một phương tiện tải dữ liệu được lựa chọn từ các tập tin dữ liệu trên Internet dưới một định dạng GIS phù hợp trên một ổ đĩa cục bộ để phân tích thêm với các gói phần mềm GIS khác
Có thể xuất ra sản phẩm bằng cách đưa lên server SQL trên Internet để tạo Web hoặc đưa vào đĩa CD để sử dụng offline hoặc có thể được sử dụng như các ứng dụng kiosk
Kiểm soát truy cập các tập dữ liệu thông qua mật khẩu và mã hóa
Phương pháp hiển thị và hình ảnh của bản đồ động thông qua thời gian5
4.1.4 Di dân và DDTD ở Việt Nam
Định nghĩa
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (1958):
“Di dân (migration) là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ
ở thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định”
Như vậy di dân hay di dân bao gồm hai quá trình: xuất cư và nhập cư
Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư từ một vùng hay một quốc gia nay sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)…
Theo tài liệu của Dân số học của Tổng cục Dân số - KHHGĐ-Hà Nội-2011 của PGS.TS.Nguyễn Thị Thiềng và TS.Lưu Ngọc Bích
Đã có rất nhiều định nghĩa về di dân được đưa ra, xong mỗi định nghĩa xuất phát
từ những phương diện khác nhau, trong khi thực tế di dân rất đa dạng, phức tạp Có thể hiểu:
“Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú”
Trong nghiên cứu di dân một số khái niệm cần quan tâm là:
5 Theo trung tâm thông tin (ECAI) Electronic Cultural Atlas Initiative
Trang 24Nơi đi: Còn gọi là nơi xuất cư, là địa điểm cư trú trước khi một người rời đi nơi khác sinh sống
Nơi đến: Là điểm kết thúc quá trình di chuyển, là địa điểm mà một người dừng lại
để sinh sống Nơi và địa điểm ở đây là ám chỉ một lãnh thổ, một đơn vị hành chính nhất định
Người xuất cư hay còn gọi là người di dân đi là người rời nơi đang sinh sống để đi nơi khác
Người nhập cư hay còn gọi là người di dân đến là người đến nơi mới để sinh sống Luồng (dòng) di dân là tập hợp người đi ra khỏi vùng đang sinh sống và đến cùng một vùng mới để cư trú theo những hướng nhất định vào những khoảng thời gian xác định
Chênh lệch giữa số người đến và số người đi trong cùng một lãnh thổ, đơn vị hành chính trong cùng một khoảng thời gian nhất định được gọi là di dân thuần túy
Hình thức di dân có tổ chức, trong đó nhà nước và chính quyền các cấp có thẩm quyền, hoặc có cơ quan chuyên trách về di dân, đóng vai trò quyết định và chủ động theo kế hoạch thống nhất Đó là việc đề ra và thực thi các chính sách điều động dân
cư, đi xây dựng các khu kinh tế mới, giãn dân…
Ngược lại,DDTD là hình thức di dân tự phát không chịu sự quản lý hay chính sách định hướng của nhà nước, chính quyền các cấp, hướng di chuyển đa dạng, quản lý phức tạp DDTD được coi là một trong những yếu tố giúp điều tiết thị truờng lao động
Phân loại di dân
Theo tài liệu Theo tài liệu của Dân số học của Tổng cục Dân số - KHHGĐ-Hà Nội
- 2011 của PGS.TS.Nguyễn Thị Thiềng và TS.Lưu Ngọc Bích, có các hình thức phân chia sau:
Theo độ dài thời gian cư trú
Có các hình thức di dân lâu dài, tạm thời và chuyển tiếp Di dân lâu dài, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di dân là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống
Di dân tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại là tương đối chắc chắn Kiểu di dân này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo
thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn
Trang 25Di dân chuyển tiếp là hình thức di dân mà không thay đổi nơi ở, do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, chẳng hạn như các công ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất, những người đi buôn bán từ các tỉnh lân cận đến các đô thị
Theo khoảng cách di dân
Người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di dân giữa các quốc gia được gọi là hình thức di dân quốc tế, giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong một quốc gia gọi là di dân nội địa Trong nhiều trường hợp, người ta tách di dân quốc
tế và di dân nội địa thành các nội dung nghiên cứu riêng, trong mỗi nội dung lại đề cập
đến các hình thức di dân khác nhau
Theo tính pháp lý
Người ta phân biệt di dân hợp pháp hay bất hợp pháp, DDTD hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác
Các hình thức di dân khác
Có thể liệt kê một số loại di dân đáng chú ý khác như di dân cá nhân hay hộ gia đình, di dân tản mạn nhiều hướng hay thành dòng di dân, nếu căn cứ vào số lượng người di dân và hướng di dân từ nơi xuất phát đến nơi dừng Hình thức di dân khá quan trọng là di dân giữa hai khu vực thành thị và nông thôn Tiêu thức phân loại ở đây vừa theo lãnh thổ lại vừa theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa hai khu vực
Ở đây sẽ thấy đan xen bốn hình thức di dân: Nông thôn - thành thị, nông thôn - nông
thôn; thành thị - thành thị, thành thị - nông thôn
Ngoài ra hình thức di dân phổ biến hiện nay di dân con lắc (đi rồi lại về hàng
ngày, không định cư ở nơi đến) cũng được xem là một hình thức di dân
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan tâm đến hình thức phân chia theo tính pháp lý Theo đó, quan tâm đến hai đối tượng di dân là di dân tự do (DDTD)
và di dân chính sách (DDCS) trong phạm vi giữa các vùng trong nước (di dân nội địa)
4.2 Lịch sử nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thành lập bản đồ dòng chảy và bản đồ công nghệ mới
Theo nghiên cứu “Human-Centered Visualization Environments” (Martin
Nöllenburg, 2007) về Geographic Visualization– Trực quan hóa địa lý: Trong vài thập
kỉ gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của các loại bản đồ công nghệ mới đã giúp người
Trang 26dùng tiếp cận bản đồ một cách sinh động và trực quan hơn so với các bản đồ tĩnh Theo tác giả, bản đồ - công cụ chính để trình bày, sử dụng, giải thích và hiểu về dữ liệu không gian địa lý đã được phát triển thành dạng giao diện có khả năng tương tác, động hay kết hợp giữa thời gian và không gian - chính điều này đã “làm mới” những khả năng quen thuộc của bản đồ Tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu để phân tích, phân loại ra các loại hình trực quan hóa địa lý Sau đó, tác giả rút ra những kết luận về hướng đi trong tương lai cho loại hình thể hiện mới này của bản đồ Dựa vào nghiên cứu, đề tài đã kế thừa hướng phát triển trong việc áp dụng bản đồ công nghệ mới cho việc thể hiện tình hình DDTD và những diễn biến của nó theo thời gian dưới sự tương tác của người dùng thông qua giao diện
Tiếp theo, trong nghiên cứu “Sur la première carte des flux réalisée avec des
flèches (Ravenstein, 1885)” (Françoise Bahoken, 2013), tác giả đã đề cập đến bản đồ
dân sự đầu tiên thể hiện bằng phương pháp bản đồ dòng chảy – và nó được xem là bản
đồ di dân đầu tiên trên thế giới được áp dụng phương pháp này Những phân tích trong nghiên cứu của Françoise Bahoken nhấn mạnh rằng chính bản đồ số 5 “ Currents of migration” trong số 12 bản đồ về “Luật di trú” của Raveinstein đã cung cấp ý tưởng mới về cách thức lập bản đồ dòng chảy từ giai đoạn đó Bản đồ số 5 “Current of migration” được giải mã qua các luận điểm mà tác giả thu thập được từ các văn bản về
“Luật di trú” của Raveinstein chứ không hề có một văn bản đi kèm giải thích cho bản
đồ này Do đó, các phân tích và kết luận của tác giả cần có thêm các bằng chứng khách quan hơn Theo nghiên cứu này, đề tài nghiên cứu khoa học xác định được một cách
hệ thống và khái quát nhất lịch sử của việc thành lập các bản đồ dòng chảy từ khi còn
vẽ tay tới việc sử dụng các công nghệ mới như hiện nay – Đây là một trong những thông tin quan trọng cho việc tiến hành lựa chọn phương pháp thể hiện bản đồ của đề tài
Một mặt khác, về phương diện kĩ thuật, trong các nghiên cứu “Flow Map Layout”
(Doantam Phan, Ling Xiao, Ron Yeh, Pat Hanrahan, and Terry Winograd, 2005) của
đại học Stanford, Anh: Các tác giả đã công bố một phương pháp thành lập bản đồ dòng chảy (Flow Maps) bằng kỹ thuật phân nhóm theo thứ bậc cho một tập hợp các nút, vị trí, và dòng chảy dữ liệu giữa các nút Phương pháp này có có ưu điểm đã hạn chế được sự chồng lấp dữ liệu giữa các cạnh, nút với nhau khá tốt, nhưng tính tùy biến
và biên tập bản đồ còn hạn chế
Trang 27Tương tự như trên, đề tài “Using Flow Maps to Explore Migrations Over Time”
(Ilya Boyandin, Enrico Bertini, Denis Lalanne, 2009) – một chương trình được viết
theo ngôn ngữ lập trình Java: Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của bản đồ dòng chảy Flow Maps trong việc thể hiện trực quan các dòng di dân, tị nạn trên thế giới thay đổi theo không gian và thời gian Đề tài này cũng hạn chế về mặt thể hiện trực quan do cung cấp quá nhiều thông tin trong cùng một khoảng thời gian nên xảy ra trùng lấp về không gian giữa các đường là dòng di dân hay tị nạn
Tiếp theo, trong báo cáo “Flow Mapping Data” (Aileen Buckley, 2013) trong Esri
Education GIS Conference, tại San Diego, California, Hoa Kỳ: Tác giả đã khái quát các hình thức thành lập Flow Maps - bản đồ dòng chảy một cách cụ thể nhất Bên cạnh
đó, báo cáo cung cấp cho người đọc các phương pháp và công cụ tạo ra các dạng Flow Maps với bộ công cụ Arctoolbox của phần mềm ArcGIS do ESRI phát triển Tác giả
đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu và sáng tạo trong việc kết hợp hướng dẫn phương pháp thành lập các dạng bản đồ này bằng video Tóm lại, nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong việc lựa chọn công cụ (tools) để xử lý dữ liệu đầu vào cho
đề tài
Tiếp theo, trong nghiên cứu “Integrating Databases With Maps: The Delivery Of
Cutural Data Through TimeMap” (Ian Johnson, 2003), tác giả đã nhấn mạnh khả năng
tạo ra bản đồ tương tác ( Interactive Maps), bản đồ động (Animated Maps) hay chức năng tích hợp thời gian vào không gian của TimeMap Sử dụng phương pháp mô tả và liệt kê, người đọc có thể nắm một cách tổng quan và đơn giản nhất các bước trong trình tự thành lập bản đồ công nghệ mới cùng phần mềm mã nguồn mở - TimeMap Kết hợp với các thông tin tham khảo chức năng, cấu trúc, công nghệ, lĩnh vực ứng
dụng từ “TimeMap Project”,(2000) của Đại học Sydney – cơ quan chủ quản phát triển
và xây dụng phần mềm TimeMap, đề tài nghiêncứu đã kế thừa phương pháp thành lập bản đồ công nghệ mới
Tóm lại, qua các nghiên cứu và tài liệu thứ cấp thu thập được trên lĩnh vực xây dựng bản đồ công nghệ mới, đề tài nghiên cứu quyết định lựa chọn phần mềm ArcGIS
với công cụ XY to Lineđể xây dựng dữ liệu đầu vào cho bản đồ dòng chảy (Flow
Maps) và áp dụng phần mềm mã nguồn mở TimeMap – Bản quyền của Đại học
Sydney làm cơ sở tạo ra “Bản đồ tương tác đa thời gian” di dân tự do ở Việt Nam giai
đoạn 1975 đến nay
Trang 284.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến di dân
Đây là một đề tài nghiên cứu ứng dụng thành lập bản đồ chuyên đề Do vậy việc tham khảo các nghiên cứu di dân và các nghiên cứu liên quan với mục đích chủ yếu nhằm nắm rõ tình hình di dân trong nước, đặc biệt là các làn sóng di dân tự do giai đoạn từ 1975 đến nay Với giới hạn mục tiêu nghiên cứu, đề tài chỉ quan tâm đến hai hình thức di dân chủ yếu: DDTD nông thôn – nông thôn bùng nổ mạnh mẽ vào những năm của thập niên 90 và DDTD nông thôn – thành thị diễn ra mạnh mẽ trong 10 năm trở lại đây và vẫn còn diễn biến rất phức tạp Với phạm vi nghiên cứu này đề tài quan tâm nghiên cứu các nghiên cứu và thống kê liên quan với mục đích nắm tình hình DDTD ở nước ta theo từng giai đoạn, nắm rõ đặc trưng của người di dân về địa bàn xuất cư/ nhập cư, quy mô di dân, hình thức di dân Ngoài các yếu tố này, đề tài không quan tâm đi sâu tìm hiểu các đo lường mang tính định tính của người di dân, bỏ qua các đặc trưng nhân khẩu học của người di dân như: Tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, việc làm, hôn nhân, nhà ở…Không quan tâm đến các nguyên nhân sâu xa của di dân cũng như không có các phân tích sâu tác động của người di dân đến các địa phương nơi đến và nơi đi
Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của đề tài đòi hỏi phải tìm hiểu rõ các đặc trưng
về địa bàn xuất cư/ nhập cư, quy mô các luồng di dân đồng thời là các hình thức di dân Để nắm chắc các yêu cầu này cần phải tìm đọc và hiểu hết tất cả các nghiên cứu
di dân liên quan Xem xét cách phân loại các đối tượng di dân của các nghiên cứu đi trước, quan tâm đến các địa phương có người xuất cư và nhập cư để có cách phân loại hình thức di dân chính xác nhất Ví dụ: Để biết được một luồng di dân vào một giai đoạn nào thuộc hình thức di dân: Nông thôn – nông thôn hay nông thôn – thành thị, bên cạnh các số liệu thống kê cần phải tìm hiểu rõ từng địa phương tham gia vào luồng xuất cư này và đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương đó Do đó cần thiết phải tìm đọc các nghiên cứu chi tiết về từng địa phương để đi đến kết luận chính xác
Một điểm đặc trưng riêng của đề tài là chú trọng đến các nghiên cứu định tính về người di dân để có các số liệu đầy đủ và chính xác về số lượng, địa bàn cho việc thể hiện lên bản đồ Đồng thời các thống kê về di dân ở các giai đoạn trước còn rất sơ lược, số liệu có sự chênh lệch lớn ở từng cơ quan thống kê các cấp khác nhau Do vậy phải dùng các nghiên cứu tin cậy và có những phân tích chọn lọc cần thiết để thu thập được số liệu chính xác nhất có thể
Trang 29Từ lý luận trên có thể chia các nghiên cứu liên quan thành 3 loại:
Các nghiên cứu về DDTD nông thôn – nông thôn giai đoạn trước năm 2000
Ở thể loại này có các nghiên cứu quan trọng của các chuyên gia về xã hội học và
đân số học như: PGS.TS Đặng Nguyên Anh với các nghiên cứu “Chính sách di dân
trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội ở các tỉnh miền núi” viết thành sách và xuất
bản năm 2006; hay các bài viết đăng trên tạp chí Xã hội học như: “Chính sách di dân
đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Việt Nam”; “Di dân trong giai đoạn phát triển kinh tế
- Xã hội mới của đất nước”, Hà Nội, 2006 Ngoài ra, có các nghiên cứu khác như: “
Di dân tự do của người Thái, H’Mông ở các Tỉnh Bắc Trung Bộ nước ta hiện nay” -
ThS Đậu Tuấn Nam / Hà Nội – 2005; hay đề tài “ vấn đề di dân tự do trên các tỉnh
địa bàn Tây Nguyên và một số giải pháp khắc phục” - ThS Trần Thị Túc/ Đà Nẵng –
2001
Các nghiên cứu về DDTD nông thôn – thành thị giai đoạn trước năm 2000
Các nghiên cứu về người di dân và lao động di dân lên các thành phố lớn được
tiến hành rất nhiều Chẳng hạn: “Hiện tượng di dân đến thành phố: Nhận định và đề
xuất chính sách”; “Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở nước ta” của PGS.TS Lê Xuân Bá hay
nghiên cứu “ Từ nông thôn ra thành phố: “Tác động kinh tế - xã hội của di dân Việt
Nam” của TS Lê Bạch Dương – 2011 Hay các nghiên cứu về nhập cư vào các đô thị
lớn Hà Nội và Tp.HCM gồm có: “Di dân tự do nông thôn – đô thị với trật tự xã hội ở
Hà Nội” ThS Đinh Quang Hà – 2014 hay nghiên cứu “Đô thị hóa với vấn đề dân nhập cư tại Tp.HCM” ThS Lê Văn Thành – 2009
Các nguồn dữ liệu thống kê
Nguồn dữ liệu quan trọng được lấy từ các Cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở các năm 1979, 1989, 1999, 2009 và các Điều tra giữa kỳ 2005, 2014 Các trang web của Tổng Cục Thống kê Trung Ương và các Cục thống kê các địa phương đặc biệt là Hà Nội và TPHCM, Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cổng thông tin điện tử ở các địa phương có di dân cũng là nguồn cung cấp dữ liệu cho
đề tài
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Trang 30 Đối tượng nghiên cứu: Bản đồ tương tác đa thời gian về DDTD ở Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Khách thể nghiên cứu: DDTD ở Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Trang 318 Kế hoạch nghiên cứu
Bảng 1: Kế hoạch nghiên cứu
Tháng 4 – 5 (2015)
Tháng 6 – 7 (2015)
Tháng 8 (2015)
Tháng 9–11 (2015)
Tháng 12–3 (2016)
Tháng 4 (2016)
Đọc và tìm hiểu các nghiên cứu
có liên quan đến bản đồ công
nghệ mới
Chọn đề tài nghiên cứu về bản đồ
công nghệ mới trong lĩnh vực
DDTD ở Việt Nam
Liên hệ GVHD để xem xét hướng
triển khai, góp ý nội dung đề tài
và chọn loại Bản đồ tương tác đa
thời gian phù hợp
Lựa chọn phần mềm, công cụ biên
tập và tạo bản đồ
Thu thập dữ liệu thứ cấp về di dân
từ các nguồn có độ tin cậy
Xây dựng dữ liệu bản đồ qua các
Trang 34CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG DI DÂN TỰ DO VIỆT NAM
Nguồn lực phát triển của một quốc gia là không đồng nhất theo không gian và thời gian Nói cách khác, các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội sẽ phân bố không đều giữa các đơn vị lãnh thổ quốc gia và luôn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Điều đó đã tạo nên sự không đồng nhất về trình độ phát triển giữa các đơn vị lãnh thổ này Trong khi, con người luôn khát khao hướng đến một điều kiện sống tốt đẹp hơn, khi điều kiện sống hiện tại quá khó khăn thì việc di chuyển để tìm nơi sống tốt hơn là một trong những lựa chọn hàng đầu, đó là lý do tạo nên những luồng di dân trong nước Di dân trong nước (nội địa) là quá trình tất yếu gắn liền với lịch sử phát triển của mỗi một quốc gia Ở nước ta, hiện tượng này càng diễn ra mạnh mẽ trong suốt tiến trình phát triển đất nước Đặc biệt từ sau năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, quá trình di dân diễn ra mạnh mẽ, bao gồm các luồng di dân trong tỉnh, giữa các tỉnh thành trong một vùng và giữa các vùng với nhau Với các đặc trưng riêng ở từng địa bàn xuất cư, từng giai đoạn khác nhau có sự phức tạp về loại hình di dân, hướng di chuyển Các quá trình di dân này vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt mà còn diễn biến ngày càng phức tạp, tác động sâu sắc đến bộ mặt kinh tế
- xã hội của cả vùng xuất cư và vùng nhập cư Dựa trên phân loại lãnh thổ và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng xuất cư và nhập cư, di dân phổ biến nhất ở nước ta là các luồng di dân giữa hai khu vực nông thôn và thành thị, bao gồm 4 hình thức đan xen nhau: Nông thôn - nông thôn, thành thị - thành thị, nông thôn - thành thị và thành thị - nông thôn, tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau mà có hình thức di dân phổ biến
1.1 Di dân tự donông thôn – nông thôn từ 1975 – 1994
Bối cảnh đất nước sau ngày thống nhất, toàn dân ra sức thi đua sản xuất, khôi phục kinh tế đất nước Đặc biệt với Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV với mục tiêu “Sử dụng hết mọi lực lượng lao động xã hội; tổ chức và quản lý tốt lao động, phân bố lại lao động giữa các vùng và các ngành nhằm tăng
rõ rệt năng suất lao động xã hội…” Với kế hoạch này, chính sách di dân vùng kinh tế
mới được ban hành nhằm tăng gia sản xuất, giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, phát
Trang 35triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp để phục vụ xuất khẩu Địa bàn di dân trong giai đoạn này bao gồm: Vùng xuất cư là vùng đông dân như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biểnBắc Trung Bộ (khu Bốn cũ) và vùng duyên hải Nam Trung Bộ (khu Năm) Vùng nhập cư gồm có Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và trung
du miền núi phía Bắc Chính sách di dân kinh tế mới chính là động lực thúc đẩy các làn sóng di dân tự do ở các khu vực này Tiếp theo, sau các đợt DDCS, thông tin về các vùng kinh tế mới Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với đất rộng người thưa, tài nguyên dồi dào, dễ dàng làm ăn, phát triển kinh tế được truyền nhau tạo một lực hút mạnh mẽ đối với các hộ gia đình có đời sống khó khăn ở các vùng đồng bằng sông Hồng hay vùng duyên hải Miền Trung nhiều thiên tai, bão lũ Ban đầu, người DDTD là thành viên trong gia đình hoặc người thân của bộ phận người DDCS, càng về sau, làn sóng này diễn ra mạnh mẽ hơn, có những địa phương hầu như toàn bộ thanh niên trong các thôn, làng đều di dân vào các vùng kinh tế mới Tuy vậy, trong từng giai đoạn khác nhau, các làn sóng di dân với các quy mô khác nhau, với những đặc trưng nhân khẩu học riêng biệt Cụ thể:
Giai đoạn Từ 1975 – 1985, đây là giai đoạn đầu của quá trình di dân Bắt đầu là các
dòng DDCS Sau khi miền Nam giải phóng, việc tổ chức di dân khai hoang ở các vùng kinh tế mới được mở rộng trên phạm vi cả nước trên một quy mô lớn với nhiều hình thức Bốn mục tiêu di dân hướng tới là:
Thứ nhất, điều động lao động và dân di dân từ các nơi đông dân, dư thừa lao động đi khai hoang, xây dựng đồng ruộng, tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn, xây dựng quan
hệ sản xuất mới
Thứ hai, phân bố hợp lý lao động và đất đai, tạo ra các vùng chuyên canh lớn, phát triển kinh tế toàn diện, cân đối, ổn định và đẩy mạnh sản xuất tăng thêm nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị xuất khẩu
Thứ ba, hình thành các vùng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, hình thành hệ thống các điểm dân cư chiến lược tại các vùng trọng yếu Hướng điều lao động được xác định như sau6:
6 Theo Tình hình di dân nông nghiệp, xây dựng các vùng kinh tế mới từ năm 1975 đến nay Phạm Nhật Tân – Cục Điều động lao động di dân
Trang 36Bảng 2: Điều hướng lao động xây dựng các vùng kinh tế mới 7
01 Đồng bằng Bắc Bộ Trung du và miền núi phía Bắc; Tây Nguyên;
Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long
04 Thành phố Hồ Chí Minh Tây Nguyên; Đông Nam Bộ
255.000 112.000
89.000 45.000
1.524.600 755.000 Giai đoạn: 1981 – 1984
Nhân khẩu
Lao động
124.000 55.500
203.800 95.700
588.100 183.194
878.602 409.391
Quá trình DDCS kéo theo các đợt DDTD Trong giai đoạn này, nhìn chung quy mô các đợt DDTD diễn ra còn nhỏ lẻ, chủ yếu là di dân theo hộ gia đình do thông tin về các vùng kinh tế mới chưa được phổ biến Cụ thể trong giai đoạn này các luồng di dân chủ yếu xuất phát từ: TDMNPB, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ Điểm đến chủ yếu
là khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Ngoài ra, có một luồng di dân đi từ Đồng bằng sông Hồng lên TDMNPB, tuy nhiên số lượng không nhiều
7 Đề tài nghiên cứu thu thập và xử lý theo số liệu Tổng cục thống kê
8 Đề tài nghiên cứu thu thập và xử lý theo số liệu Tổng cục thống kê
Trang 37Giai đoạn 1985 – 1994: Giai đoạn này hình thức di dân chính vẫn là nông thôn –
nông thôn Tuy nhiên, quy mô tăng lên nhanh chóng Đây là giai đoạn đỉnh điểm của các làn sóng DDTD vào Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Cụ thể, địa bàn chủ yếu diễn ra DDTD:
Địa bàn xuất cư chủ yếu:
Vùng núi phía Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Kạn)
Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) Địa bàn nhập cư chủ yếu:
Vùng Tây Nguyên (Đắk Lăk, Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai)
Vùng Đông Nam Bộ (Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa –Vũng Tàu và Đồng Nai) Vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận và Khánh Hòa)
Địa bàn có sự đan xen cả quá trình xuất cư và nhập cư bao gồm: Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Thanh Hóa
Các tỉnh có số lượng dân di dân lớn gồm: Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, Nghệ An và Hà Tĩnh Trong một điều tra dân số vào Đắk Lắk cho thấy tỷ lệ
9 Đề tài nghiên cứu thu thập và xử lý theo số liệu Tổng cục thống kê
10 Đề tài nghiên cứu thu thập và xử lý theo số liệu Tổng cục thống kê
Trang 38dân DDTD vào tỉnh này chiếm 36,5% là từ Bắc Trung Bộ, 31,5% từ TDMNPB v15,7% Ttừ ĐBSH, còn lại là từ các vùng khác11
1.2 Di dân tự do nông thôn – thành thị từ 1995 đến nay
Các đặc trưng di dân chính của thời kỳ này
2 xu hướng di dân chính: Nông thôn – nông thôn và nông thôn – thành thị Trong đó loại di dân: Nông thôn – thành thị chiếm ưu thế
Xu hướng di dân tăng nhanh từ 1995 đến 2010 và có xu hướng giảm đi trong thời gian sau
Các vùng xuất cư chính: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, trung
du miền núi phía Bắc
Trang 39 Các vùng nhập cư chính: Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng,
Vùng Đông Nam bộ tiếp tục là vùng có tốc độ đô thị hóa cao, các khu công nghiệp phát triển mạnh, nên vẫn là vùng thu hút dân nhập cư lớn nhất, tỷ suất nhập cư thuần
ở vùng này luôn duy trì ở mức cao nhất trong cả nước
Đến giai đoạn này, tình hình di dân giữa các vùng có nhiều thay đổi, song song với các luồng di dân nông thôn – nông thôn, bắt đầu xuất hiện các đợt di dân nông thôn – thành thị, với quy mô ngày càng gia tăng, đặc biệt từ sau năm 2000, loại di dân này trở thành ưu thế Nhìn vào các bảng số liệu bên dưới ta có thể dễ dàng thấy rằng ở tất cả các vùng kinh tế điểm đến của người di dân chủ yếu là các vùng có mức độ đô thị hóa nhanh
và là các vùng kinh tế phát triển của đất nước như: Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ trong đó vùng Đông Nam Bộ là vùng có sức hút mạnh mẽ nhất với người nhập cư từ các vùng khác
Các số liệu và bản đồ mô tả đặc trưng di dân giai đoạn này (Tham khảo PHỤ LỤC 1: CÁC SỐ LIỆU GIAI ĐOẠN DI DÂN, Bảng 5, 6, 7, 8)
Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kì 2014, ta có các số liệu sau:
(% o )
Tỷ suất nhập
cư
Tỷ suất xuất
cư
Tỷ suất nhập
cư
Tỷ suất xuất
cư
Tỷ suất nhập
cư
Tỷ suất xuất
cư
Tỷ suất nhập
cư
Tỷ suất xuất
cư
Tỷ suất nhập
cư
Tỷ suất xuất
cư TDMNPB 2,3 6,2 2,8 6,1 1,6 4,2 2,7 5,0 2,3 4,3
Trang 40ĐNB 24,8 4,9 23,4 8,6 15,5 3,8 15,7 7,4 18,5 7,3 ĐBSCL 1,8 10,2 3,1 9,6 1,5 6,5 2,7 7,0 2,2 8,9
Bảng 8: 10 tỉnh thành có tỷ suất nhập cư cao nhất năm 2014 14 (% o)
Bảng 9: 10 tỉnh thành có tỷ suất xuất cư cao nhất năm 2014 15 (% o)
14 Điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014
15 Điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014