Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu và đề tài nghiên cứu về trầu cau ở Đài Loan cũng như ở Việt Nam như: Tài liệu sách tiếng Trung 王蜀桂, 1999: 台湾槟榔四季青 - 常民文 化出版社
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ MINH NGUYỆT
VĂN HÓA TRẦU CAU Ở ĐÀI LOAN
(SO SÁNH VỚI VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60 31 06 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN AN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được luận văn “Văn hóa trầu cau ở Đài Loan (so sánh với Việt Nam)” hoàn chỉnh ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Phan An, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi từ những bước sơ khởi chấp bút xây dựng đề cương cho đến quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy lớp Châu Á Học khóa 2012-2014
đã truyền đạt kiến thức và phương pháp nghiên cứu cho tôi trong những năm học qua Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn, thầy cô đã dành nhiều thời gian và công sức đóng góp ý kiến cho bài luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và khích lệ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Học viên Phạm Thị Minh Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được luận văn “Văn hóa trầu cau ở Đài Loan (so sánh với Việt Nam)” hoàn chỉnh ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Phan An, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi từ những bước sơ khởi chấp bút xây dựng đề cương cho đến quá trì nh thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy lớp Châu Á Học khóa
2012-2014 đã truyền đạt kiến thức và phương pháp nghiên cứu cho tôi trong những năm học qua Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn, thầy cô đã dành nhiều thời gian và công sức đóng góp ý kiến cho bài luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và khí ch lệ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Học viên Phạm Thị Minh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH 5
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
7 Bố cục của luận văn 12
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Khái niệm về văn hóa 15
1.1.2 Trầu cau ở Đài Loan 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Lãnh thổ và con người Đài Loan 22
1.2.2 Trầu, cau và các loại thực vật ăn kèm 24
1.3 So sánh 28
Tiểu kết 33
Chương II VĂN HÓA TẬN DỤNG TRẦU CAU 34
2.1 Trầu cau để phục vụ đời sống 34
2.1.1 Để thư giãn 34
2.1.2 Để thưởng thức 36
2.1.3 Để trị bệnh 37
2.2 Trầu cau để cải thiện đời sống kinh tế 39
2.2.1 Trồng trọt 39
2.2.2 Tiêu thụ 41
Trang 62.2.3 Mưu sinh 44
2.3 Trầu cau như một phương thức để liên lạc với thế giới siêu nhiên 50
2.3.1 Làm vật tế lễ 50
2.3.2 Bày cau trận 51
2.3.3 Niệm thần chú 52
2.4 Trầu cau để làm nguyên vật liệu 54
2.4.1 Làm vật liệu trong xây dựng 54
2.4.2 Làm nguyên liệu trong công nghiệp 56
2.4.3 Làm vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày 56
2.5 So sánh 57
Tiểu kết 64
3.1 Đối phó với vị chua của cau 65
3.1.1.Dùng với vôi 65
3.1.2 Dùng với “quả cay” 66
3.2 Đối phó với vị cay của trầu 66
3.2.1 Dùng với cau 67
3.2.2 Dùng với vỏ 67
3.3 Đối phó với nước cốt trầu 68
3.3.1 Nhuộm răng 68
3.3.2 Dùng ống nhổ, túi nhổ 71
3.4 So sánh 73
Tiểu kết 77
Chương IV VĂN HÓA LƯU LUYẾN TRẦU CAU 78
4.1 Trầu cau trong văn học 78
4.1.1 Trong truyền thuyết 78
4.1.2 Trong ca dao, dân ca 80
4.2 Trầu cau trong nghệ thuật 82
4.2.1 Trong âm nhạc 82
4.2.2 Trong điện ảnh 85
Trang 74.2.3 Trong triển lãm 88
4.3 So sánh 91
Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 112
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hì nh 1: Tộc Paiwan 16
Hình 2: (1) Bản đồ phân bố tộc Amis; (2) Thiếu nữ bộ tộc Amis 18
Hình 3: (1) Bản đồ phân bố tộc Rukai ; ( 2) Các thiếu nữ bộ tộc Rukai 20
Hì nh 4: (1)Cau vôi đỏ; (2) Cau vôi trắng; (3) Cau đôi 21
Hình 5: (1) Vị trí lãnh thổ Đài Loan Loan ; (2) Bản đồ Đài Loan 22
Hình 6: Phân bố các tộc ở Đài Loan thời kỳ đầu 23
Hình 7: (1)Dây trầu; (2)Hoa trầu 25
Hì nh 8: Cau Đài Loan 26
Hì nh 9: (1) Vườn trầu ;(2) Quả cay; (3) Cây lấy vỏ rễ để ăn trầu; 27
Hì nh 10:(1) Bản đồ Việt Nam;(2)Thói quen ăn trầu thường thấy ở các cụ già người Việt 28
Hình 11: (1) Trầu tiêm cánh phượng; (2) Mời trầu trong lễ hội 29
Hình 12: Trầu cau trong mâm quả ngày lễ hỏi 30
Hình 13: (1) Hoa cau trong lễ cưới của người Khmer; ( 2) Lễ cắt hoa cau của người Khmer 31
Hì nh 14: (1) Trầu cau Việt Nam; (2) Nghiền trầu trước khi ăn 32
Hì nh 15: (1)Lá trầu & trái cau Đài Loan; (2) Miếng trầu tiêm sẵn của Đài Loan 35
Hì nh 16: Cau non hầm chân gà; (2) cháo cau khô lúa mạch; (3) Gỏi hoa cau 36
Hình 17: (1) Rượu cau; (2) Đóng gói trà và rượu hoa cau 37
Hì nh 18: (1)Hoa cau; (2)Rễ cau; (3)Hạt cau 38
Hì nh 19: Nông dân Đài Loan đang thu hoạch cau 41
Hì nh 20: (1)&(2)Bày bán trầu cau ở Đài Loan 46
Hình 21: (1)Các cửa hàng trầu cau đèn màu rực rỡ bên đường ; (2) “Tây Thi trầu cau” 47
Hì nh 22: (1), (2)&(3) Khách ghé mua trầu cau 48
Hì nh 23: Một cách bày “cau trận” của tộc Puyuma 52
Trang 9Hì nh 24: Vật để niệm thần chú 53
Hì nh 25: 1 & 2 Nhà truyền thống của tộc Puyuma 54
Hì nh 26: Buôn bán trầu cau ở chợ Việt Nam 60
Hì nh 27:(1)Bàn thờ trưng bày trầu cau; (2) Thầy cúng đang hướng dẫn vấn đồng 61
Hì nh 28: Nhà Lá Mái (nhà Rường) ở Quảng Trị 62
Hì nh 29: Hoa cau 63
Hì nh 30: (1) Thổ dân Đài Loan, (2) Việt Nam, (3) Nhật Bản nhuộm răng đen 68
Hình 31: Tộc Amis chuẩn bị nhuộm răng 69
Hì nh 32: (1)Tẩy rửa nước cốt trầu trên đường phố; (2) Nước cốt trầu nơi góc phố 71
Hì nh 33: Người tham gia giao thông tùy tiện nhổ nước cốt trầu trên đường phố 72
Hì nh 34: Tục nhuộm răng phổ biến ở người Việt xưa kia 74
Hì nh 35: (1)Ống nhổ bằng vàng trạm trổ rồng phượng; (2) Ống nhổ bằng gỗ cẩn xà cừ 76
Hì nh 36: Dây trầu leo lên thân cau 79
Hì nh 37: Ba thiếu nữ tộc Rukai hợp ca 80
Hì nh 38: Hì nh ảnh trong phim “Hương cau” -“青槟榔之味” 86
Hì nh 39: (1) Hì nh trong phim “Khuyết Giác Nhất Tộc”; (2) 陈嘉桦 Ella – nhân vật chí nh 87
Hì nh 40: Hì nh ảnh trong phim “Trầu cau truyền kỳ” 87
Hình 41: Triển lãm văn hóa trầu cau “ Môi đỏ răng đen” 88
Hì nh 42: “Tây Thi" đang tiêm trầu 90
Hì nh 43: Hì nh ảnh trong phim “Duyên trầu cau” 95
Hình 44: Hát quan họ tại triển lãm 96
Hình 45: (1) Dao bổ cau của dân tộc Tày; (2) Dao bổ cau thế kỷ 20 97
Hình 46: (1) Bình vôi (thế kỷ 11 -14) ; (2) Bì nh vôi quai hì nh rồng (TK 20) 97
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Ăn trầu là phong tục không chỉ có ở người Việt mà còn xuất hiện khá phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á, khu vực Trung Á, Đông Nam Á và một số quần đảo trên Thái Bình Dương Tuy nhiên, văn hóa trầu cau ở mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có sự tương đồng và khác biệt
Ở Đài Loan hiện nay, không chỉ người già mà ngay cả các thanh niên trẻ cũng có thói quen ăn trầu, cách thức buôn bán trầu cau cũng khác lạ! Người Đài Loan cho rằng dùng trầu cau giúp tinh thần họ sảng khoái, thư giãn và ít gây hại cho sức khỏe như rượu bia, thuốc lá Vì thế, số người trồng trọt, buôn bán và sử dụng trầu cau rất nhiều
Ước tính toàn Đài Loan có khoảng hơn hai triệu người ăn trầu và khoảng trên một triệu người sống nhờ trồng trọt và kinh doanh trầu cau [王蜀桂 1999: 17]. Điều này cho thấy trầu cau ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế và văn hóa Đài Loan
Ở Việt Nam, trầu cau biểu trưng cho cách ứng xử giao tiếp trong đời sống
xã hội, là phương tiện bày tỏ tình cảm của con người với nhau Trầu cau gắn
bó với người Việt, trở thành lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức tâm linh và trong mọi hoàn cảnh nghi lễ đời thường như: Cưới xin, ma chay… Đặc biệt, trai gái nên duyên cũng bắt đầu từ “ngôn ngữ” trầu cau
Cùng là “quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi” nhưng mỗi dân tộc lại có những nhận thức khác nhau, thể hiện bản sắc văn hóa riêng Chính vì vậy, người viết cảm thấy hứng thú khi chọn đề tài văn hóa trầu cau này
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Văn hóa trầu cau ở Đài Loan (so sánh với Việt Nam)” đặt ra bốn mục tiêu:
Trang 11- Xây dựng một bức tranh tổng quan về văn hóa trầu cau ở Đài Loan
- So sánh với văn hóa trầu cau ở Việt Nam để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa
- Hiểu rõ hơn nhận thức về trầu cau của người Đài Loan và người Việt Trên cơ sở đó lý giải được mục đích tận dụng trầu cau khác biệt của của hai nền văn hóa
- Hiểu biết thêm nét đẹp văn hóa trầu cau mỗi dân tộc Đồng thời ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống của các tộc người
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu và đề tài nghiên cứu về trầu cau ở Đài Loan cũng như ở Việt Nam như:
Tài liệu sách tiếng Trung 王蜀桂, 1999: 台湾槟榔四季青 - 常民文
化出版社( Vương Thục Quế: Cau Đài Loan bốn mùa xanh – NXB Văn Hóa Thường Dân) tác giả Vương Thục Quế đã thẳng thắn nhận xét: “Trong mắt
những người trí thức và những người đô thị, người ăn trầu thường thuộc những người ít hiểu biết vì ăn trầu dẫn đến ung thư Cây cau là loại cây trồng
rễ nông, không thể bảo vệ được nguồn đất, nguồn nước, có gì đáng để nói tới đâu?”
Tác giả thừa nhận bản thân đứng ở góc độ một người không hề biết gì về trầu cau để khách quan nghiên cứu Cuốn sách bắt đầu từ cây cau, lá trầu và những hương liệu ăn kèm như vỏ, vôi trắng, vôi đỏ để nghiên cứu Kế đến là cách thức buôn bán rồi mới đến văn hóa dân tộc, quan điểm chính phủ và các
số liệu nghiên cứu và phát triển cây cau Cuối cuốn sách, tác giả đưa người đọc đến một câu hỏi để giải quyết vấn đề “ Đọc xong sách, hiểu lầm ban đầu
về trầu cau có còn tồn tại ?” Tài liệu Trầu cau Đài Loan bốn mùa xanh là
Trang 12nguồn tư liệu quý để người viết tham khảo, bổ sung nhiều kiến thức quý giá cho bài luận văn của mình
Những công trình nghiên cứu bằng tiếng Trung tiêu biểu: 黄 佐 君 , 1995:槟榔与清代台湾社会 - 硕士论文(Hoàng Tá Quân: Trầu cau và xã hội Đài Loan thời Thanh – luận văn thạc sĩ); 曾玉娟, 1998: KaTaTipuL 卑南人槟榔文化 - 硕士论文(Tằng Ngọc Quyên: Văn hóa trầu cau cau người KaTaTipuL – Luận văn thạc sĩ) ; 曾琪 , 2007: 槟榔化学成分的研
究 - 硕士论文 ( Tằng Kỳ: Nghiên cứu thành phần hóa học của cau – Luận
văn thạc sĩ); 陈娴蓁: 台湾槟榔西施文化浅探 ( Trần Nhàn Trăn: Tìm hiểu văn hóa Tây Thi trầu cau Đài Loan)
Tài liệu sách tiếng Việt: Trầu cau - Việt điện thư của tác giả Nguyễn Ngọc
Chương, 1989/ 2009, NXB Khoa học xã hội, là công trình nghiên cứu với những phát kiến thú vị về những quan hệ của cây cau, cây trầu với văn hóa
VN Tác giả coi Trầu cau là biểu tượng của sự hợp nhất nam-nữ, biểu tượng
của sự phồn thực, của hòa quyện tình nghĩa để nghiên cứu Trầu cau - Việt điện thư như một chìa khóa để người viết hiểu biết thêm về nguồn gốc xa xưa
của văn hóa Việt Nam
Bên cạnh những tài liệu tiếng Việt và tiếng Trung tiêu biểu kể trên, còn rất nhiều sách, nghiên cứu khoa học, bài báo có giá trị của các tác giả khác nghiên cứu về các khía cạnh của văn hóa trầu cau như: Trần Quốc Vượng
2000: Văn hóa Việt Nam – Tì m tòi và Suy ngẫm – Nxb Văn hóa dân tộc; Phan Khoang 2001: Việt sử xứ Đàng Trong – Nxb Văn học Cao Thế Trình 2011:
Tục ăn trầu ở các tộc người trong khu vực Đông Nam Á - Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Trang 13Tuy nhiên, những tư liệu và thông tin mà người viết tiếp cận được cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về so sánh văn hóa trầu cau ở Đài Loan với Việt Nam
Từ sự kế thừa những kiến thức, tư liệu của các công trình khoa học đi trước, người viết phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lại theo hướng nghiên cứu của mình và đưa vào đề tài nghiên cứu luận văn “Văn hóa trầu cau ở Đài Loan” (so sánh với Việt Nam)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
“Văn hóa trầu cau ở Đài Loan” với chủ thể nghiên cứu là người Đài Loan, không gian nghiên cứu là phạm vi lãnh thổ Đài Loan Thời gian nghiên cứu là
từ khi có cư dân bản địa sinh sống trên lãnh thổ Đài Loan cho đến hiện nay
Trong phạm vi nghiên cứu ở Đài Loan và so sánh với văn hóa trầu cau Đài Loan, đề tài văn hóa trầu cau này vận dụng cấu trúc phân chia hệ thống
văn hóa của GS Trần ngọc Thêm để đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh: văn hóa tận dụng, văn hóa đối phó và văn hóa lưu luyến trầu cau
Dù rằng trên thực tế có nhiều cách phân chia để nghiên cứu văn hóa, nhưng người viết nhận thấy mô hình cấu trúc trên phù hợp với hướng nghiên cứu của mình Thông qua các khía cạnh nghiên cứu, giúp người viết tìm hiểu được nhiều nét văn hóa đặc trưng và khác biệt ở hai dân tộc Đài Loan và Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Góp phần cung cấp thêm tư liệu tham khảo về văn hóa
và giúp người đọc hiểu đầy đủ hơn về văn hóa trầu cau ở Đài Loan và Việt Nam Đặc biệt, do được nghiên cứu dưới hình thức so sánh, người đọc không chỉ biết về văn hóa trầu cau trong giới hạn một dân tộc mà còn có sự đối chiếu
Trang 14với một nền văn hóa của dân tộc khác Hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp trong việc nghiên cứu hai nền văn hóa theo một khía cạnh mới
Ý nghĩa thực tiễn: Việc lý giải sự giống nhau và khác nhau giữa hai nền
văn hóa, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về trầu cau sẽ là một gợi ý cho những đề tài mới trong phạm vi so sánh các hiện tượng văn hóa
Luận văn cố gắng trình bày một cách hệ thống và toàn diện nhất trong khả năng có thể, để người đọc có một cái nhìn khái quát về văn hóa trầu cau ở Đài Loan
Qua văn hóa tận dụng trầu cau người đọc sẽ hiểu được tại sao ở Đài Loan lại có “Tây Thi trầu cau” – một văn hóa tận dụng trầu cau rất khác so với ở Việt Nam
Hiện nay đang có những đánh giá trái chiều về “Tây Thi trầu cau” ở Đài
Loan Đối với vấn đề này, sau khi tham khảo tài liệu Tìm hiểu văn hóa Tây Thi trầu cau và tham khảo bảng điều tra về “Quan điểm những người mẹ của
Tây Thi trầu cau”①, người viết xếp “Tây Thi trầu cau” vào “ Mưu sinh - tận dụng trầu cau để cải thiện đời sống kinh tế”, để người đọc hiểu hơn về nguồn gốc phát sinh văn hóa đặc thù này
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa:
Luận văn sử dụng phương pháp phân loại để sắp xếp các tài liệu về văn hóa trầu cau theo từng mặt, từng vấn đề cho phù hợp với hệ thống đã vạch ra của luận văn
① Phụ lục 02
Trang 15Hệ thống hóa là phương pháp quan trọng được sử dụng trong việc thực hiện luận luận văn Nhờ phương pháp này mà những thông tin đa dạng từ các nguồn khác nhau về văn hóa trầu cau đã được sắp xếp lại thành một chỉnh thể theo hệ thống rõ ràng
Phương pháp phân tích và tổng hợp:
Văn hóa trầu cau sử dụng phương pháp phân tích, nghiên cứu các văn bản, tài liệu khác nhau về trầu cau, sau đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục
vụ cho cho các nội dung chi tiết trong luận văn
Đồng thời, dựa trên những nghiên cứu của các tác giả đi trước, người viết
sử dụng phương pháp tổng hợp để thu thập, liên kết nhiều mặt kiến thức
Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được áp dụng sau mỗi chương khi đã trình bày cụ thể về văn hóa trầu cau ở Đài Loan Từ so sánh rút ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa
7 Bố cục của luận văn
Vì đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là “Văn hóa trầu cau” nên người
viết sử dụng cấu trúc của hệ thống văn hóa trong Cơ sở văn hóa Việt Nam của
GS Trần Ngọc Thêm [Trần Ngọc Thêm 1999: 17]: văn hóa tận dụng, văn hóa đối phó, văn hóa lưu luyến, văn hóa sùng bái để làm cấu trúc trình bày
Với mục đích trình bày có hệ thống và để góp phần hiểu thêm về trầu cau dưới góc độ văn hóa, ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn chia làm bốn chương như sau:
Chương I: cơ sở lý luận và thực tiễn Trong phần này người viết nêu khái
niệm về văn hóa và văn hóa trầu cau vùng nhiệt đới châu Á, qua đó giới thiệu
cụ thể về văn hóa trầu cau ở Đài Loan từ khi có các cư dân Bản địa (原住
Trang 16民)cho đến hiện nay Bên cạnh đó, người viết khái quát về lãnh thổ, con người Đài Loan để cho thấy sự đa dạng về thành phần tộc người đã tạo nên những nét văn hóa riêng cho Đài Loan Kế đến là giới thiệu về cau, trầu và các loại thực vật mà người Đài Loan thường ăn kèm với trầu, cau Cuối cùng
là so sánh với Việt Nam tìm ra sự tương đồng và khác biệt từ cách sử dụng trầu cau và cách ăn
Trọng tâm của luận văn nằm ở chương II-III-IV Trong các chương này
người viết đi sâu vào: văn hóa tận dụng, văn hóa đối phó, văn hóa lưu luyến
để tìm ra trong từng loại văn hóa ấy cụ thể là người Đài Loan tận dụng trầu cau để làm gì; đối phó với vị trầu, cau ra sao để tạo nên một miếng trầu ngon
và đối phó với nước cốt trầu như thế nào để cho văn minh; Gần gũi với trầu cau như vậy thì tình cảm lưu luyến trầu cau của người Đài Loan thể hiện như thế nào
Chương II: Văn hóa tận dụng trầu cau Trong chương này người viết đi sâu vào nghiên cứu người Đài Loan tận dụng trầu cau để: phục vụ đời sống, cải thiện đời sống kinh tế, làm phương thức liên lạc với thế giới siêu nhiên và
để làm nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sống của con người
Trong những tận dụng đó, người viết tìm hiểu chi tiết hơn:
- Trầu cau để phục vụ đời sống bao gồm: Thư giãn, thưởng thức và trị bệnh
- Trầu cau để cải thiện đời sống kinh tế: Trồng trọt, tiêu thụ và mưu sinh
- Trầu cau như một phương thức để liên lạc với thế giới siêu nhiên: Làm vật tế lễ, bày cau trận và niệm thần trú
- Tận dụng trầu cau làm nguyên liệu bao gồm: Làm vật liệu trong xây dựng, làm nguyên liệu trong công nghiệp và làm vật dụng
Trang 17Chương III: Văn hóa đối phó trầu cau Trong chương này người viết tìm hiểu sự đối phó với vị chua của cau, với vị cay của trầu và đối phó với nước cốt trầu của người Đài Loan
- Để đối phó với vị chua của cau thì dùng với vôi, “quả cay” để ăn cùng
cho trung hòa
- Đối phó với vị cay của trầu thì dùng với cau, với vỏ cho miếng trầu bớt
cay và đậm đà hơn
- Đối phó với nước cốt trầu thì nhuộm răng, dùng túi nhổ (hoặc ống nhổ) Chương IV: Văn hóa lưu luyến trầu cau: Vì trầu cau mang lại nhiều lợi
ích cho cuộc sống của con người nên người ta lúc nào cũng nhớ tới và đưa
hình ảnh trầu cau trong văn học và trong nghệ thuật để gửi gắm tâm tư tình cảm của mình
- Trong văn học thể hiện sự lưu luyến trong truyền thuyết và trong ca dao dân ca
- Trong nghệ thuật thể hiện sự lưu luyến trong âm nhạc, trong điện ảnh
và trong triển lãm
Trong phần cuối mỗi chương, đều có một mục so sánh với văn hóa trầu cau Việt Nam Trong mục này, những điểm mà trầu cau Việt Nam có liên quan đến phần trình bày cụ thể về trầu cau Đài Loan ở trong chương mục, được nêu khái quát Bên cạnh đó so sánh và rút ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn hóa
Trang 18Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về văn hóa
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường hay nhắc đến những câu có liên quan đến từ “văn hóa” như: trình độ văn hóa, nếp sống văn hóa, khu phố văn hóa, giao lưu văn hóa…
Văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật, là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận Điều này cho thấy văn hóa là một lĩnh vực rộng và phong phú
Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" nghĩa là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là
"gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người"
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa: “ Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội ” [Văn hóa nguyên thuỷ / E.B Tylor 2000]
Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của
Trang 19mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 1995: 431]
Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, GS.Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” [Trần Ngọc Thêm 1999:10]
Như vậy, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và cũng là mục đích sống của con người
Qua các định nghĩa khác nhau về văn hóa, xuyên suốt luận văn này người viết xác định “văn hóa” theo định nghĩa như đã nêu ở trên của G.S Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo …” để
tìm hiểu về văn hóa trầu cau ở Đài
Loan và so sánh văn hóa ấy với Việt
Nam
1.1.2 Trầu cau ở Đài Loan
Ở Đài Loan, các tộc người điển
hình như tộc Paiwan (排湾族)①
, tộc Rukai (鲁凯), tộc Amis (阿美), tộc
Yami (雅美族) đã có thói quen ăn trầu từ hàng ngàn năm trước đây
① http://tailian.org.cn
Hì nh 1: Tộc Paiwan (1)
Trang 20Tộc Paiwan (排湾族):
Là một trong 3 tộc lớn của thổ dân Đài Loan, sống ở khu vực miền núi có
độ cao khoảng 1000m so với mực nước biển Phân bố ở khu vực phía Nam Đài Loan Bao gồm thành phố Cao Hùng, huyện Bình Đông, huyện Đài Đông Nhân khẩu khoảng hơn 80 ngàn người (thống kê năm 2000)
Trầu cau đóng vị trí quan trọng trong đời sống của tộc người Paiwan Ngoài dùng để giao tiếp, trả thù lao Trầu cau còn là lễ vật không thể thiếu trong hôn lễ
Trước đây, mỗi nhà trong tộc người Paiwan thường dành buồng cau đầu tiên trong vườn dâng cho tộc trưởng, làm vật thay thế cho tiền thuê đất
Người Paiwan không trồng trầu mà chỉ sử dụng những lá trầu hoang, vì nó
có hương vị cay nồng Họ thường ăn kèm với thân trầu Vôi thì tự tìm trên núi mang về làm (nung, ngâm nước) Họ cho rằng ăn trầu có lợi cho răng vì đây
là một cách làm sạch răng và vận động cơ miệng
Thời Nhật Bản cai trị, dù cau bị chặt phá hết nhưng người Paiwan đã nghĩ
ra cách dùng rễ cau non để ăn thay thế cho trái cau
Người Paiwan lúc nào cũng có cơi trầu trong nhà Thậm chí, khi đi ngủ còn để rổ cau trầu ở đầu giường, khi tỉnh giấc thì có cái bỏ ngay vào miệng Người già rụng răng rồi vẫn ăn trầu, họ dùng dụng cụ nghiền nát trầu cau trước khi bỏ vào miệng
Tộc Amis (阿美族):Tộc Amis là tộc đông dân nhất còn tồn tại ở lãnh
thổ Đài Loan, chủ yếu phân bố ở phía đông của Đài Loan,
Tộc Amis cũng có thói quen ăn trầu Họ cũng như tộc người Paiwan, quanh vườn nhà đều trồng cau Khi ăn cũng kèm với vôi trắng, “vỏ” và “quả
Trang 21cay” Họ thích ăn loại trầu mọc hoang – loại trầu mà khỉ thích ăn, chứ không thích ăn trầu loại tự trồng
Trầu cau không chỉ là đồ ăn vặt mà cau còn chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống thường ngày của tộc Amis Cau có rất nhiều công dụng như làm vật tế lễ, vật tạ tội khi phạm luật, để trả ơn khi có việc cần nhờ bạn bè hoặc hàng xóm giúp đỡ, để trả công cho người lao động, chiêu đãi khách mời lúc hội họp hoặc khi có việc trọng đại, khi muốn tỏ tình, đính hôn hoặc kết hôn
Tập tục của người Amis khi cho, tặng cau cho người khác chỉ tặng trái cau còn nguyên, không tặng trầu cau đã tiêm sẵn Những phụ liệu ăn kèm người ăn phải tự chuẩn bị Đối với họ, trong trái cau không chỉ là thực vật mà còn có ý nghĩa khác: Trong cau có vị ngọt, ngọt như dòng sữa người mẹ, vì vậy cau được coi như người mẹ
Hình 2: (1) Bản đồ phân bố tộc Amis①; (2) Thiếu nữ bộ tộc Amis
①http://baike.baidu.com/picture/57605/57605/0/7787b9ef9ee3b52ffcfa3c16.html?fr=lemma&ct=single
#aid=0&pic=7787b9ef9ee3b52ffcfa3c16
Trang 22Tộc Amis là bộ tộc theo chế độ mẫu hệ, người nữ tặng cau cho người nam để tỏ ý thích người đó Vì thế cau được bộ tộc này coi là tín vật để nam
nữ bày tỏ tình yêu.
Tộc Tao (达悟族): Nam, nữ tộc Tao đều có thói quen ăn trầu Trong
nhà họ luôn có khay trầu trong đó có cau, trầu, vỏ, lọ vôi và con dao nhỏ Khi một nhóm người tộc Tao quây quần nói chuyện, bên cạnh họ bao giờ cũng có khay trầu Đối với họ, trầu cau được họ coi như người bạn không thể thiếu trong cuộc sống
Trầu cau có vị trí rất quan trọng đối với tộc Tao, là thước đo lòng khách đến chơi nhà Nếu chủ nhà mời trầu mà khách vui vẻ tiếp nhận thì chủ vui vẻ
ra mặt, nếu như chủ nhà mời trầu mà khách từ chối thì lòng chủ sẽ nghi ngờ là khách đến nhà có việc liên quan đến mình hoặc đòi bồi thường gì đó
Tộc Tao có truyền thống coi trọng lực sĩ, họ xem thường những trai tráng không bẻ nổi cổ gà Vì thế, họ dùng cau để thử sức người con trai Khi mời cau, họ cố ý bỏ một trái cau thật cứng vào khay, nếu như người khách đó dễ dàng bổ được trái cau, họ thầm hiểu là người con trai đó có chí khí lớn, phải tiếp đãi chu đáo
Nam nữ tộc Tao coi trầu cau là vật để bày tỏ tình cảm Chàng trai nào được cô gái tặng cau đã tiêm sẵn thì hiểu rằng mình đang được cô ấy để ý Nếu chàng trai mơ thấy mình quen một cô gái trồng cau tức là chàng có duyên với cô gái đó và có thể mạnh dạn đến cầu hôn
Tộc Rukai (鲁凯族): Đối với tộc người Rukai, hình dáng cây cau được ví như người con gái đoan trang Người Rukai còn có thói quen dệt vải bằng nguyên liệu lấy từ cây cau và cây đay Vì thế, cau và đay là hai loại cây không thể thiếu trong trồng trọt của họ
Trang 23Hình 3: (1) Bản đồ phân bố tộc Rukai① ; ( 2) Các thiếu nữ bộ tộc Rukai
Đến thời Minh, khi người Hán di dân tới Đài Loan, thói quen ăn trầu và văn hóa trầu cau của các bộ tộc dần thâm nhập vào cộng đồng người Hán Khi Đài Loan bị Nhật cai trị, thực dân Nhật rất ghét người ăn trầu nên ra lệnh cấm sử dụng và trồng trọt Sau khi thu hồi Đài Loan, chính quyền Quốc Dân Đảng không có thái độ cấm đoán kịch liệt đối với trầu cau như thời Nhật cai trị nhưng không khuyến khích trồng Sau những năm 1970, số người ăn trầu ở Đài Loan mỗi ngày một nhiều hơn, người trồng trọt trầu cau cũng bắt đầu tăng trở lại
Hoa Liên và Đài Đông là hai huyện trồng cau nhiều nhất ở Đài Loan Đây
là khu vực miền núi phía đông Đài Loan Nơi đây có nhiều bộ tộc sinh sống
Đa số họ đều thích ăn trầu nên nhà nhà đều trồng cau khắp vườn để ăn Trước những năm 1980, người Hán nhận thấy điều kiện tự nhiên ở đây thích hợp với
sự phát triển của cây cau và tiềm năng của thị trường buôn bán cau mang lại,
họ đã thuê lại đất của các thổ dân ở đây và mở rộng đầu tư diện tích trồng cau
Hiện nay, dọc hai bên đường quốc lộ ở Đài Loan có rất nhiều cửa hàng buôn bán trầu cau Điều này cho thấy số lượng người ăn trầu khá đông Các
①http://baike.baidu.com/picture/57639/57639/0/b25aae51f27d6a47377abe61.html?fr=lemma&ct=single#aid=0& pic=b25aae51f27d6a47377abe61
Trang 24cửa hàng buôn bán trầu cau ngày đêm sáng đèn nê-ông đủ màu sắc rực rỡ chào đón khách Hầu hết các cửa hàng đều lắp cửa kiếng trong suốt
Cách thức ăn trầu của người Đài Loan hiện nay cũng khác với người Bản địa Cách đơn giản nhất là chỉ nhai cau tươi Nếu ăn kèm với trầu thì người Đài Loan thường chọn những lá trầu non, mướt Để tạo thêm hương vị cho cau, trầu người ta ăn kèm với các loại thực vật như “Laohua”, “Laoteng” hoặc hoa cau Tùy theo sở thích người ta có thể thêm hương vị là vôi trắng, vôi đỏ hoặc vôi đen
Trầu cau Đài Loan ngày nay chủ yếu phân thành các loại: Cau vôi đỏ, Cau vôi trắng, Cau đôi, Cau móng rồng
Hì nh 4: (1)Cau vôi đỏ; (2) Cau vôi trắng; (3) Cau đôi①
“Cau vôi đỏ”: Trái cau được bổ làm đôi, sau đó kẹp vào một miếng
“Laohua” (quả cay) và quét thêm một ít vôi đỏ (vôi tẩm thuốc bắc)
“Cau vôi trắng”: Cau quệt vôi trắng và cuộn thêm lá trầu bên ngoài trái
cau
“Cau đôi”: Hai trái cau loại nhỏ kẹp hai hương vị khác nhau được cuộn
một lớp lá trầu bên ngoài
① http://health.qq.com/007374.htm
Trang 25“Cau móng rồng”: Trầu quệt vôi đỏ cuộn với hoa cau non
Những loại này, đa phần được người bán tiêm sẵn và đóng gói Người ăn trầu chỉ việc lựa chọn loại phù hợp với sở thích của mình Rất tiện dụng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Lãnh thổ và con người Đài Loan
Đài Loan có tên tiếng Anh là Taiwan, tên tiếng trung là 台灣 (Táiwān) Ngôn ngữ chính: Tiếng Phổ thông Trung Quốc (Quốc Ngữ)
Vùng lãnh thổ Đài Loan nằm ở Đông Á, ngoài khơi đông nam Đại lục Trung Quốc, gồm đảo Đài Loan và một số đảo nhỏ xung quanh Tổng diện
tích 38.000 km2 và có hình dáng như một chiếc lá Gồm nhiều dãy núi dốc và được bao phủ bởi hệ thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới Thiên nhiên đặc sắc, tươi xanh nên Đài Loan còn được gọi với tên là “Formosa” tức “hòn đảo xinh đẹp” - cách gọi của thủy thủ Bồ Đào Nha khi họ lần đầu tiên cập bến đến hòn đảo này ( thế kỷ 16)
Hình 5: (1) Vị trí lãnh thổ Đài Loan Loan①; (2) Bản đồ Đài Loan①
① https://zh.wikipedia.org/wiki/User:Air84#/media/File:LocationTaiwan.svg
Trang 26Đảo Đài Loan người đông đất ít Dân số rải rác không đồng đều, tập trung
ở 4 thành phố lớn là Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và Đài Nam Đài Bắc và Cao Hùng là 2 thành phố đông dân nhất Với nền kinh tế phát triển, Đài Loan được mệnh danh là “Con rồng Châu Á”
Khoảng 2% dân số Đài Loan (khoảng 458.000 người) được liệt kê là người Nguyên trú Đài Loan (Yuán zhù mín - 原住民) Họ được chia tiếp thành 13 nhóm chính là: Amis, Atayal, Paiwan, Bunun, Rukai, Puyuma, Tsou, Saisiyat, Tao(Yami), Thao, Kavalan, Truku và Sakizaya Sự đa dạng về thành phần tộc người đã tạo nên những nét văn hóa đa dạng và đặc sắc cho Đài Loan Khoảng 4.000 năm trước, tổ tiên của các bộ tộc Đài Loan ngày nay đã định cư tại đảo Những người này có đặc tính di truyền gần gũi với các dân tộc Nam Đảo Các nhà ngôn ngữ học phân loại các ngôn ngữ của họ thuộc về Ngữ hệ Nam Đảo.[王嵩山 2001]②
Hình 6: Phân bố các tộc ở Đài Loan thời kỳ đầu③
① http://www.polu.url.tw/cat3/cat5d-5.html
② 王嵩山 2001《臺灣原住民的社會與文化》
③https://zh.wikipedia.org/wiki/%E8%87%BA%E7%81%A3%E5%8E%9F%E4%BD%8F%E6%B0%91%E6%9 7%8F#/media/File:Formosan_Distribution_01.png
Trang 27Người Nguyên trú - Yuán zhù mín (原住民) là thuật ngữ thường dùng để chỉ những người đã sống tại đảo Đài Loan rất lâu trước khi người Hán bắt đầu nhập cư đến vào thế kỷ thứ 17
Trong công trình khoa học Việt Nam, người Nguyên trú được hiểu là người Bản địa hay người Tại chỗ Theo một số khái niệm Dân tộc học ở Việt Nam người ta dùng thuật ngữ người Bản địa Các khái niệm phương tây thì dùng thuật ngữ là Thổ dân Để thống nhất một cách gọi xuyên suốt luận văn, người viết dùng thuật ngữ người Bản địa
Dưới triều Minh, Đài Loan nằm trong Trung Quốc Năm 1620, Hà Lan xâm nhập và thành lập cơ sở giao thương tại đây Người Hà Lan bắt đầu khuyến khích người Hán nhập cư đến đảo với quy mô lớn, chủ yếu là từ Phúc Kiến Năm 1895, sau cuộc chiến Trung - Nhật, Nhật Bản đã chiếm đảo này Khi Nhật thất bại trong thế chiến lần thứ II, Đài Loan lại thuộc về Trung Quốc
Sau khi Quốc Dân Đảng thất bại năm 1949 ở Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch và binh lính của ông đã chạy đến Đài Loan và lập Chính phủ lâm thời tại đây Trung Quốc vẫn coi Đài Loan là một tỉnh của nước cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
1.2.2 Trầu, cau và các loại thực vật ăn kèm
Trầu (Danh pháp khoa học: Piper betle) Thuộc họ Hồ tiêu Piperaceae
Những người Anh quen dùng chữ betle chỉ định trầu Đài Loan gọi là “Lǎo
yè” (荖葉) hay “Fú liú” (浮留) Ở Việt Nam, từ điển Từ điển Việt–Bồ–La (Alexandre Rhodes soạn) viết là blàu (trầu), ở miền Bắc đọc là giầu thay vì trầu
Trang 28Nguồn gốc: Là loài cây loại dây leo và sống lâu năm và dễ trồng Có
nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á và được trồng ở Ấn Độ, Indonesia, Sri Lanka, Việt Nam, Malaysia Lá trầu không loại tốt nhất thuộc về giống "Magahi" ở
Đây là loài cây thường xanh, loại dây leo và sống lâu năm
Hình 7: (1)Dây trầu; (2)Hoa trầu①
Cây cau (Danh pháp khoa học: Arecae catechu) Thuộc họ Cau Arecaceae Trái cau thường được miêu tả trong sách báo qua tên areca nut Người Đài Loan gọi cau là “bīnláng” (槟榔) Người Việt Nam gọi là cau
Nguồn gốc: Cây cau là một cây thuộc nhóm cọ, một loài cọ mọc phần lớn
vùng nhiệt đới Thái bình Dương, Châu Á và trong một vài vùng ở Đông Phi Những cây cọ này có nguồn gốc từ Malaysia hoặc từ Philippines Cau areca
① http://farm1.static.flickr.com/154/402198955_a117303b83_o.jpg
Trang 29bắt nguồn từ tên địa phương Malabar của Ấn Độ và có một tên khác ở Mã Lai
là caccu Một số bộ tộc ở Đông nam Á gọi cau là Penang
Ở phía Tây Bắc Malaysia có một hòn đảo có tên là Penang Người Malaysia giải thích rằng tên Penang có nguồn gốc từ Pinang, nghĩa là Cây cau, loại cây phổ biến trên đảo
Ở Đài Trung và phía Nam của Đài Loan cau được trồng rất nhiều
Đặc điểm: Thân cây cau cao khoảng 20 m, đường kính khoảng 20-25 cm
Lá có bẹ gọi là mo, phiến dài 1-1,5 m, lá hình lông chim Buồng ở phần lá vừa rụng Hoa có mùi thơm và màu vàng Quả hình bầu dục, khi còn non có màu xanh ánh vàng Khô thì chuyển sang màu đỏ, trong quả bì xơ và nội quả
bì mỏng và cứng bao chung quanh một hạt tròn duy nhất
Hì nh 8: Cau Đài Loan①
Vị ngọt của cau, vị cay của lá trầu dường như vẫn chưa đủ để tạo nên vị đặc trưng riêng cho miếng trầu Vì thế, người ta còn tìm thêm những hương liệu có nguồn gốc từ thực vật để ăn kèm cho tăng hương vị như: “Laoteng”
(老藤 - một loại cây trồng lấy vỏ rễ - gọi tắt là “vỏ”) và “Laohua” (荖
花 - một loại quả thuộc họ hồ tiêu – gọi là “quả cay”)
① http://www.pchouse.com.cn/baike/shenghuo
Trang 30Hì nh 9: (1) Vườn trầu①;(2) Quả cay②; (3) Cây lấy vỏ rễ để ăn trầu③;
“Vỏ”, “Quả cay” và“Trầu” là ba loại cây thuộc họ hồ tiêu, nhìn bề ngoài chúng đều có lá và thân rất giống nhau, đều thuộc thân leo Khác biệt ở chỗ “vỏ” chỉ thu hoạch gốc, “quả cay” chỉ thu hoạch quả và trầu chỉ thu hoạch
lá
“Vỏ” là hương liệu chủ yếu dùng với miếng trầu Hiện nay “vỏ” rất hiếm
thấy ở các cửa hàng bán trầu cau “vỏ” có hai loại Loại đỏ và loại tím Do loại màu tím cứng hơn nên không được ưa chuộng như loại màu đỏ Loại đỏ này chỉ có ở trấn JiaLi huyện Đài Đông (Tai Dong) nên người ta còn gọi là
“vỏ Jiali”
“Quả cay” có hình dạng giống y như cây trầu nhưng chủ yếu trồng để lấy quả Quả dài chừng một ngón tay người lớn, màu xanh, có vị cay và thơm Người ta xắt “quả cay” ra thành từng miếng nhỏ để ăn kèm với trầu hoặc cau “quả cay” rất khó trồng nên giá rất mắc Khi được giá, người ta ví xắt
“quả cay” như xắt nhân sâm
Trang 311.3 So sánh
Nếu như người Bản địa Đài Loan có thói quen ăn trầu từ hàng ngàn năm trước thì người Việt cũng có thói quen ăn trầu cũng có từ rất lâu, từ thời Hùng Vương (theo truyện cổ Sự tích trầu cau) hay từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn (như kết quả khảo cổ ở núi Nấp, Thanh Hóa)
Trong đời sống tinh thần của người Việt, ăn trầu không đơn thuần là một thói quen, tập tục, mà còn là văn hóa truyền thống
Hì nh 10: (1) Bản đồ Việt Nam①;(2)Thói quen ăn trầu thường thấy ở các cụ già người Việt
Tương truyền, tục ăn trầu có từ thời Hùng Vương, gắn liền với truyền thuyết về “Sự tích trầu cau”, nói lên tình cảm vợ chồng thủy chung, anh em gắn bó qua hình ảnh hóa thân thành trầu, cau và vôi để được ở bên nhau mãi mãi
Cũng như người Bản địa Đài Loan, ăn trầu là một thói quen phổ biến của người Việt trước đây Bất kể đàn ông hay đàn bà, kể cả trẻ con từ 13 tuổi trở lên cũng biết ăn trầu. Tục ăn trầu phổ biến ở mọi tầng lớp từ dân gian tới cung
①https://www.google.com.vn/search?q=b%E1%BA%A3n+%C4%91%E1%BB%93+vi%E1%BB%87t+nam&bi w=911&bih=372
Trang 32đình, trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống Ngoài ra, ăn trầu còn thể hiện nét văn hóa giao tiếp Khi gặp nhau việc đầu tiên là mời nhau miếng trầu sau
đó mới hàn huyên, đàm đạo, quí nhau mới mời trầu Trầu cau còn là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang,
lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng
Không chỉ là sự kết hợp trầu, cau và vôi mà người Việt còn thể hiện sự cầu kỳ, tinh tế qua cách têm trầu Tùy từng hoàn cảnh mà trầu được têm theo mỗi cách khác nhau với ý nghĩa biểu trưng khác nhau: Trầu cánh phượng, cánh kiến, cánh quế, mũi mác Vì thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và
để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉ một lần được mời
Hì nh 11: (1) Trầu tiêm cánh phượng; (2) Mời trầu trong lễ hội①
Tộc Tao (达悟族) ở Đài Loan dùng trầu để đo lòng khách đến chơi nhà và thử sức người cọn trai thì người Việt xưa cũng dùng trầu cau để phán đoán
tính cách và như nếp sống của người con gái qua cử chỉ têm trầu Chính vì lẽ
đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng
① http://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/van-hoa-trau-cau/43180.html
Trang 33trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa
Hình 12: Trầu cau trong mâm quả ngày lễ hỏi①
Nhiều dân tộc ít người khác ở Việt Nam như Tày, Nùng, Dao, Thái và người Chăm ở Nam Trung Bộ đều có tục ăn trầu Trong cuốn Lịch sử vương quốc Chăm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, tác giả Lương Ninh cho biết: Khi còn vương quốc Chăm, mỗi lần nhà vua xuất hành, theo nghi thức của triều đình, có 50 thị vệ và 10 thị nữ bưng những mâm vàng đựng cau trầu theo hầu Vì vậy, có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể người Chăm đã biết ăn cau trầu trước người Việt vì theo truyền thuyết dân tộc Chăm,
có hai bộ tộc: bộ tộc dừa ở phía Bắc (trong đó có TT-Huế ngày nay) và bộ tộc Cau ở phía Nam
Ở mỗi dân tộc, tục ăn trầu có những nét tương đồng, do môi trường sống
và không gian văn hóa khác nhau mà có nét độc đáo riêng biệt Người Mường, người Thái, người Êđê dùng trầu đãi khách Người Tày, Nùng dùng trầu trong
lễ “Buộc chỉ cổ tay cho cô dâu chú rể”
Người Khmer Nam Bộ Việt Nam xem hoa cau là một lễ vật không thể thiếu trong đám cưới Nhà trai phải cắt một buồng hoa cau đang còn trong bẹ
① http://www.marry.vn/dam-hoi/chuan-bi-le-an-hoi-theo-phong-tuc-mien-nam
Trang 34đem sang nhà gái cùng với những nghi thức cắt hoa cau, dâng hoa cau cho sư sãi, cha mẹ, họ hàng nhà gái
Hình 13: (1) Hoa cau trong lễ cưới của người Khmer; ( 2) Lễ cắt hoa cau của người Khmer①
Cách thức ăn trầu của người Đài Loan hiện nay so với người Bản địa Đài Loan trước đây khác nhau khá nhiều Nhưng cách thức ăn trầu ở Việt nam xưa và nay đều như nhau, không thay đổi Một miếng trầu gồm có: Lá trầu quệt vôi, miếng cau có hạt, có thể có thêm miếng vỏ cây Cách ăn rất giống như cách ăn trầu của người Bản địa Đài Loan
Khi ăn trầu, người Việt quyệt một ít vôi (vôi đỏ hoặc trắng) lên mảnh lá trầu (lá trầu vừa già tới) đã cắt xéo, gập lại cho vôi nằm ở giữa rồi bỏ vô miệng nhai Để có vị chát, và giảm bớt chất cay nồng của trầu và vôi, người ta
ăn kèm với vỏ và một miếng cau tươi lột bỏ vỏ (người ta thường bổ trái cau làm sáu hoặc làm tám)
Hỗn hợp trầu, cau và vôi đem cho vào miệng nhai nát Với những người lớn tuổi, răng yếu thì cho vào ống giã trầu (có hình dáng và kích thước tương
tự như cái chung uống rượu, được làm bằng đồng hoặc bằng sứ) Dùng một
① http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LamThanhQuang/GN_NetVanHoaTrongLeCuoiNguoiKhmer.htm
Trang 35que bằng kim loại nghiền nhỏ trầu cau ra để dễ nhai Khi nhai, nước miếng sẽ tiết ra, người nhai thường nhổ ra dung dịch màu đỏ, gọi là “cổ trầu”
Trong lúc nhai trầu, để tẩy “cổ trầu” và “xác trầu” bám vào răng, người ta
có thể dùng một nhúm nhỏ thuốc lào loại thường (được gọi là thuốc xỉa) để chà răng Động tác này gọi là xỉa thuốc Nhúm thuốc xỉa này được ngậm bằng môi trên ở một phía của miệng để xỉa thường xuyên trong lúc nhai trầu, đến khi nào nhả bỏ bã trầu thì sẽ bỏ luôn nhúm thuốc xỉa này Sau đó súc miệng bằng nước lã
Hì nh 14: (1) Trầu cau Việt Nam; (2) Nghiền trầu trước khi ăn①
Nhìn chung, cách thức ăn trầu của người Bản địa Đài Loan và người Việt Nam có rất nhiều nét tương đồng Nhưng người Việt chú trọng nét tinh tế trong cách têm miếng trầu
① https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%82n_ 27012009677.jpg
Trang 36Tiểu kết
Văn hóa trầu cau Đài Loan có từ rất lâu đời Người Bản địa Đài Loan không những có thói quen ăn trầu mà họ còn coi trầu cau là vật không thể thiếu trong giao tiếp, trao đổi, hôn lễ Cách thức ăn trầu của người Bản địa Đài Loan và người Việt khá giống nhau, tuy nhiên người Việt vẫn coi trọng
hình thức hơn Đối với người Việt, miếng trầu têm khéo léo không những nói lên tài hoa của người têm mà còn phần nào thể hiện nề nếp giáo dục của gia đình
Cách thức ăn trầu của người Đài Loan hiện nay có nhiều thay đổi Hương
vị miếng trầu được bào chế sao cho hợp với khẩu vị người ăn chứ không còn lấy sẵn trong tự nhiên như trước Sự tiện dụng cũng được chú trọng nhiều hơn Mục đích ăn trầu không còn mang ý nghĩa để giao tiếp mà để phục vụ cho mục đích cá nhân (thư giãn) nhiều hơn
Trang 37Chương II VĂN HÓA TẬN DỤNG TRẦU CAU
Có thể thấy trầu cau rất thân thiện và gần gũi với con người trong mọi lĩnh vực đời sống Người Đài Loan đã khéo léo tận dụng hết mọi thành phần, mọi công năng kỳ diệu của trầu và cau: Để phục vụ đời sống; Làm kinh tế; Làm nguyên vật liệu liệu và thậm chí để làm phương thức liên lạc với thế giới siêu nhiên
2.1 Trầu cau để phục vụ đời sống
Trong đời sống hàng ngày, Người Đài Loan tận dụng trầu cau như một thứ “kẹo chinggum” để thư giãn trong lúc lao động, học tập và vui chơi để tỉnh táo tinh thần Những đọt cau non, hoa cau, trái cau cũng được tận dụng
để làm những món ăn, thức uống bổ dưỡng Ngoài ra, người ta còn tìm ra những phương thuốc trị bệnh từ rễ cau, trái cau …
Trang 38Hì nh 15: (1)Lá trầu & trái cau Đài Loan; (2) Miếng trầu tiêm sẵn của Đài Loan①
Những tài xế xe tải thường xuyên ăn trầu Theo họ, ăn trầu mang lại cảm giác ấm người và làm cho tinh thần tỉnh táo suốt lộ trình dài vào buổi đêm Nhất là vào mùa đông, ăn trầu làm cơ thể ấm hơn và không bị buồn ngủ
Thói quen ăn trầu còn lan sang giới trẻ Những sinh viên ăn trầu để có cảm giác tỉnh táo khi phải thức khuya học bài mùa thi Những công chức trẻ chịu sức ép của công việc cũng tìm đến trầu như một cách để thư giãn
Đa phần những người ăn trầu ở Đài Loan thường bị coi là tầng lớp thấp trong xã hội (vì liên quan đến “Tây thi trầu cau”, nhổ nước cốt trầu bừa bãi và miệng lúc nào cũng ngậm trầu đỏ lừ)
Qua Bảng Thống kê số người ăn trầu tại các tỉnh thành của Bộ y tế Đài Loan năm 1998 (xem phụ lục 01) cho thấy, trong khắp các tỉnh thành của Đài Loan đều có người ăn trầu Các Huyện Đài Trung, Hoa Liên và Đài Đông có
số người ăn trầu cao Trong đó, số người ăn trầu thường có nguồn gốc là người Nguyên trú Đài Loan Đặc biệt, tỉ lệ ăn trầu ở nam giới cao hơn tỉ lệ ăn trầu nữ giới
① www.NBweekly.com
Trang 39Hì nh 16: Cau non hầm chân gà; (2) cháo cau khô lúa mạch; (3) Gỏi hoa cau①
Cau có chế biến thành những món ăn như: Cau non hầm gà, cháo cau khô lúa mạch, hoa cau trộn gỏi …là những món ăn đồng quê rất được ưa chuộng
Ngoài những món ăn, người ta còn chế biến ra các loại đồ uống làm từ cau như: trà hoa cau, rượu cau, rượu hoa cau hoặc rượu rễ cau để thưởng thức
và để bồi bổ cơ thể
Rượu cau là một loại rượu có nồng độ thấp, được làm từ gạo nếp, nhân sâm và trái cau Rượu có hương thơm nhẹ, vừa có tác dụng chữa bệnh vừa rất tốt cho sức khỏe
① http://shipu.naoqiu.com/mateMake-1464.html
Trang 40Trà làm từ hạt cau hoặc hoa cau là một loại thức uống vừa giải khát vừa rất tốt cho sức khỏe Có tác dụng tốt trong việc điều trị viêm họng, khàn tiếng, giúp tiêu hóa tốt
Hì nh 17: (1) Rƣợu cau; (2) Đóng gói trà và rƣợu hoa cau①
Hoa, hạt, thậm chí cả rễ của cây cau đều có nhiều tác dụng chữa bệnh rất tốt.
① http://www.hinews.cn/pic/0/11/66/73/11667358_317830.jpg