Văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa là một lĩnh vực khá mới mẻ trong nghiên cứu, nhưng đây lại là một vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong sự vận hành các thiết chế văn hóa hiện nay.Văn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN NGỌC KHÁNH
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN:
1 PGS.TS HUỲNH QUỐC THẮNG Chủ tịch hội đồng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Bố cục 7
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái niệm quản lý và văn hóa quản lý 8
1.1.2 Thiết chế văn hóa 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Quá trình xây dựng các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh24 1.2.2 Tổng quan vềđời sống văn hóa tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh 32
Tiểu kết Chương 1 37
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA TẠI QUẬN 8 38
2.1 Thiết chế văn hóa truyền thống 38
2.1.1 Thiết chế văn hóa tín ngưỡng 39
2.1.2 Các cơ sở tôn giáo 49
2.2 Các thiết chế văn hóa của Nhà nước 64
2.2.1 Các Trung tâm, Nhà Văn hóa – Thể thao 65
2.2.2 Công viên, khu vui chơi trẻ em 81
Trang 32.2.3 Các Di tích 85
Tiểu kết Chương 2 89
CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH VĂN HÓA QUẢN LÝ CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA TẠI QUẬN 8 VÀ VÀ XU HƯỚNG VĂN HÓA QUẢN LÝ HIỆN NAY 91
3.1 Các mặt ưu điểm và hạn chế trong văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa tại quận 8, TP Hồ Chí Minh 92
3.1.1 Phương thức quản lý của các thiết chế văn hóa cộng đồng 92
3.1.2 Các thiết chế văn hóa do nhà nước quản lý 96
3.2 Một số kinh nghiệm và chính sách quản lý các thiết chế văn hóa 102
3.2.1 Trong nước 102
3.2.2 Trên thế giới 105
3.2.3 Những vấn đề rút ra 112
3.3 Các giải pháp quản lý các thiết chế văn hóa 115
3.3.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 115
3.3.2 Nhóm giải pháp đối với Xã hội hóa 117
3.3.3 Nhóm giải pháp cụ thể quản lý các thiết chế văn hóa tại quận 8 118
Tiểu kết Chương 3 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
PHỤ LỤC 132
PHỤ LỤC 1 132
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 132
PHỤ LỤC 2 142
CÁC BẢNG THỐNG KÊ 142
PHỤ LỤC 3 150
HÌNH ẢNH CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA TẠI QUẬN 8 150
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực địa tại địa bàn quận 8, TP Hồ Chí Minh
Ngoài những trích dẫn là thành quả nghiên cứu hoặc đã được phát biểu của các nhà khoa học khác, những kết quả nghiên cứu hoàn toàn mang tính trung thực
và là nghiên cứu độc lập của chúng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 7 năm 2016
Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Đề tài luận văn của tôi là một đề tài chưa có nhiều người nghiên cứu, tư liệu rất ít, chủ yếu là quá trình khảo sát trên thực tiễn.Trong quá trình làm bài, tôi đã gặp không ít khó khăn về tư liệu và về điều kiện khách quan vì vừa phải đi làm, vừa đi học Để hoàn thành luận văn này, bản thân tôi dù đã nỗ lực hết sức nhưng nếu không có sự giúp đỡ, hỗ trợ động viên của quý thầy cô, gia đình và bạn bè tôi đã không thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến tập thể lãnh đạo và quý thầy, cô, cán bộ khoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong những năm học tại trường, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và tình cảm sâu sắc tới thầy TS Trần Ngọc Khánh – một người thầy với tấm lòng trong sáng, đã giúp tôi thực hiện Luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo Trong quá trình làm luận văn, vì những điều kiện khách quan, có những lúc rất khó khăn, nhưng những lời động viên và sự giúp đỡ của thầy đã giúp tôi có thể tiếp tục hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đồng nghiệp trong cơ quan, những người thân yêu trong gia đình đã không ngừng động viên, giúp đỡ, gánh vác công việc thay tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này Cảm ơn những người bạn luôn sát cánh bên tôi trong học tập, trong những vui, buồn Dù thời gian học chung rất ít nhưng lớp K13 là một tập thể đoàn kết, đã giúp đỡ, động viên nhau rất nhiều trong học tập
Tất cả đã giúp tôi có đủ nghị lực để tiếp tục vượt qua những khó khăn và hoàn thành luận văn này.Một lần nữa xin nhận từ tôi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất
cả
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Bản đồ quận 8 – Tp Hồ Chí Minh 33
Hình 2: Nơi ở của người già tại chùa Lâm Quang 54
Hình 3: Nhà thờ Bình An 57
Hình 4: Chương trình tổ chức Hội thao của Giáo xứ 59
Hình 5: Đình Vĩnh Hội 41
Hình 6: (1): Các cụ già tập thể dục tại công viên Quận 8; (2): Triển lãm hình ảnh tuyên truyền hoạt động văn hóa của Quận 8 83
Hình 7: Tập luyện võ thuật tại Trung tâm văn hóa thể thao 70
Hình 8: Câu lạc bộ Múa đang sinh hoạt tại Nhà văn hóa phường 2 – Quận 8 73
Hình 9: Đình Bình Đông 93
Hình 10: (1): Chùa Pháp Quang; Hình (2): Người dân quận 8 tham gia lễ chùa tại chùa Thiền Lâm 96
Hình 11: Một buổi sinh hoạt của CLB Đờn ca tài tử quận 8, tại Nhà Văn hóa Lao Động –Q8 100
Hình 12: (1) Phòng sinh hoạt nhà truyền thống phường 3 trở thành nhà kho để đồ; (2): Nhà văn hóa – Trung tâm học tập cộng đồng phường 3 luôn đóng kín cửa, không có người trực; (3): Cơ sở vật chất tại nhà văn hóa phường 2 đang xuống cấp (4): Một góc Nhà văn hóa trở thành nhà bếp 76
Hình 13: (1): Trung tâm văn hóa – thể thao phường 3 77
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Phân loại các đối tượng quản lý các thiết chế văn hóa 12
Bảng 2: Phân tích các nhu cầu căn bản theo B Malinowski 20
Biểu 3: Tháp nhu cầu theo A Maslow 21
Bảng 4: Phân tích chức năng các loại hình thiết chế văn hóa 22
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Thiết chế văn hóa là vấn đề rất được quan tâm hiện nay, được xem như là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Đảng và Nhà nước thông qua các thiết chế văn hóa như là một trong những công cụ để lãnh đạo nhân dân, định hướng các hoạt động văn hóa theo đường lối, chính sách văn hóa đã đề ra, đồng thời cũng là nơi phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân Đối với người dân, các thiết chế văn hóa là nơi đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, sáng tạo văn hóa, thỏa mãn các giá trị về tinh thần, phục vụ cho người dân trong thời gian rỗi Vì vậy,việc quản
lý các thiết chế văn hóa là điều hết sức cần thiết, nhằm góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ, các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân
Văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa là một lĩnh vực khá mới mẻ trong nghiên cứu, nhưng đây lại là một vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong sự vận hành các thiết chế văn hóa hiện nay.Văn hóa quản lý có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân.Cho nên,nghiên cứu về vấn đề quản lý các thiết chế văn hóa là điều hết sức cần thiết, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đời sống xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân, là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước.Để kinh tế và văn hóa phát triển một cách đồng bộ, song hành với nhau, đòi hỏi các thiết chế văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh phải được quản lý và có những hoạt động phù hợp, thu hút sự quan tâm, tham dự của người dân.Đó cũng là cách để bảo tồn các di sản văn hóa và nâng cao đời sống văn hóa cho cư dân Thành phố Để làm được việc này đòi hỏi nhận thức và hành động của nhà quản lý phải phù hợp với quy luật phát triển của văn hóa, vai trò của nhà quản lý trong hoạch định chiến lược, chính sách và cách điều hành có quyết định đến việc thành hay bại trong việc nâng cao đời sống văn hóa cho cư dân
Như một số quận khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Quận 8 đang trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, chính quyền địa phương rất chú trọng vào việc
Trang 9xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý các thiết chế văn hóa, đồng thời trong quá trình đó cũng có không ít những bất cập về nhận thức, quan điểm trong quá trình vận hành công tác quản lý các thiết chế văn hóa Vì vậy, việc nghiên cứu trường hợp ở Quận 8 sẽ có thể khái quát được thực trạng chung trong văn hóa quản
lý của nhiều quận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, hơn nữa đây là một lĩnh vực mà trước nay chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu Ngoài ra, địa bàn Quận 8 chính là nơi sinh sống của bản thân, chúng tôi sẽ có nhiều điều kiện khảo cứu và thực tế điền dã để nhìn nhận và đánh giá vấn đề thuận lợi hơn
Đó là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Văn hóa quản lý các thiết chế văn
hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp quận 8 - Thành phố Hồ Chí
Minh)”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh (nghiên cứu trường hợp quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh)” nhằm hướng tới
những mục tiêu nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, nhằm góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về việc quản lý của các thiết chế văn hóa, đặc biệt quá trình quản lý các thiết chế văn hóa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Thứ hai, đi sâu vào nghiên cứu các cách thức tổ chức việc quản lý thiết chế văn hóa tại địa bàn Quận 8 nói riêng, để thấy được văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung
- Thứ ba, có những nhìn nhận thực tế đối với vấn đề quản lý các thiết chế văn hóa hiện nay, từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các thiết chế văn hóa, để các thiết chế văn hóa vận động phù hợp với định hướng phát triển chung của kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quá trình hội nhập văn hóa
Dựa trên kết quả nghiên cứu, ngoài việc cung cấp những cơ sở khoa học hỗ trợ cho việc quản lý các thiết chế văn hóa,còn góp phần bổ sung tư liệu dưới góc nhìn văn hóa cho những nghiên cứu về thiết chế văn hóa
3 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa quản lý các
Trang 10thiết chế văn hóa, chỉ có một vài công trình có tính chất liên quan, có thể kể đến như:
Năm 2005 với đề tài “Một số vấn đề xây dựng và quản lý thiết chế văn hóa hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Ngọc Khánh Ở công trình này
tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thiết chế văn hóa bao gồm cả quá trình hình thành thiết chế văn hóa ở Tp Hồ Chí Minh, chức năng, cấu trúc của thiết chế văn hóa; khảo sát, nêu ra và đánh giá thực trạng hoạt động của từng loại hình thiết chế văn hóa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả chia các thiết chế văn hóa ra làm ba loại hình là thiết chế nhà văn hóa, trung tâm văn hóa; mạng lưới thư viện, phòng đọc sách; thiết chế văn hóa vui chơi, giải trí; thiết chế văn hóa cho người dân nhập cư ở Tp Hồ Chí Minh Đồng thời cũng nghiên cứu việc xây dựng
và quản lý thiết chế văn hóa ở Pháp.Trên cơ sở đó, tác giả đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho người dân nhất là người dân nhập cư Nhìn chung, công trình này mang tính lý luận, thực tiễn cao, qua đó cung cấp một cái nhìn toàn diện về hoạt động của các thiết chế văn hóa nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Trong các chương II, III, IV, V tác giả đã có sự nghiên cứu thực tiễn khá sâu về tổ chức hoạt động và quản lý các thiết chế văn hóa
Nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hòa vào năm 2007 với công trình“Văn hóa ngoại thành TP Hồ Chí Minh (từ góc nhìn thiết chế)”.Trong toàn bộ công trình
này, tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học là chủ yếu.Từ những kết quả điều tra xã hội học và kết quả khảo sát thực địa, tác giả đã phân tích đánh giá đề ra các giải pháp Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã chú ý vào cấu trúc quản lý thiết chế văn hóa ở cấp xã, phường ở 5 huyện ngoại thành, nghiên cứu các cơ sở vật chất được trang bị cho các thiết chế văn hóa; trình độ, điều kiện làm việc của các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa Công trình này mang tính thực nghiệm và ứng dụng cao
Nếu công trình của Trần Ngọc Khánh có sự phân tích, chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân, thực trạng xây dựng và quản lý các thiết chế văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, đề ra được khung lý thuyết về thiết chế văn hóa; thì công trình của Nguyễn Minh Hòa cũng cung cấp một cơ sở lý luận sắc bén về thể chế, thiết chế văn hóa, trong phần nội dung thì phương pháp và cách nhận định, đánh giá nghiên
về ngành xã hội học nhiều Ở đề tài này, chúng tôi có sử dụng phần cơ sở lý luận về
Trang 11thiết chế văn hóa của 2 tác giả Trần Ngọc Khánh và Nguyễn Minh Hòa, làm sơ sở
để phân tích văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa
Đặng Xuân Phương (2006) cùng công trình“Tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn Thành phố Cần Thơ hiện nay”.Tác giả đã có
sự so sánh về các khái niệm về thể chế và thiết chế của các tác giả như GS.TS Hoàng Vinh, GS.TS Phan Đình Phan nhằm làm rõ những khái niệm về thể chế, thiết chế văn hóa, nghiên cứu thực trạng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở Cần thơ và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa.Tuy nhiên, vì đề tài còn khá mới mẻ cho phần khung lý thuyết chỉ là sự ráp nối rời rạc của những quan niệm, định nghĩa về thể chế, thiết chế, văn hóa cơ sở
Năm 2007, tác giả Nguyễn Tấn Đức với luận văn Thạc sỹ ngành Văn hóa
học “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” Ở
đây, tác giả đã đưa ra được một số vấn đề lý luận về văn hóa ở cơ sở, tập trung nghiên cứu sâu thực trạng hoạt động văn hóa thông qua phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở quận Tân Phú, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa ở cơ sở
Trong tài liệu tại Hội thảo “Xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở” tổ chức vào năm 2010 của Bộ Văn hóa và Thể thao, đã đưa ra những đánh giá việc thực hiện Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa trong toàn quốc và Hội thảo đánh giá thực hiện Dự án xây dựng tụ điểm sinh hoạt văn hóa ở một số làng, bản, buôn có hoàn cảnh đặc biệt, kèm theo đó là những văn bản pháp quy về quản lý thiết chế văn hóa Có thể nói, đây là nguồn tài liệu, tư liệu tham khảo rất hữu ích cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Bên cạnh đó, một số công trình có liên quan như: Bộ Văn hóa Thông tin
2011, Tài liệu tập huấn cán bộ tuyên huấn và văn hóa cấp Huyện, Phan Xuân Biên (cb) 2014, Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh, Văn Đức Thanh 2004, Về xây dựng môi trường văn hóa cơ sở,Hà Văn
Thắng (cb) 2004, Tài liệu nghiệp vụ văn hóa thông tin cơ sở; Huỳnh Quốc Thắng
2009, Đề dẫn tọa đàm : Giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh… Các công trình này, ít nhiều đề cập đến vấn
đề về thiết chế văn hóa hay văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài được sâu rộng hơn
Trang 12Một số bài viết in trên các trang mạng, các tạp chí như: tạp chí Cộng Sản, tạp chí Tuyên giáo, Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng… đã góp phần bổ sung tài liệu cho việc nghiên cứu văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, điển hình là Quận 8
Ngoài ra, các công trình của Lê Thị Hòa Phương (cb) 2009, “Hợp tác quốc
tế về văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam”; Nguyễn Thị Hương, Trần Kim Cúc 2011 với “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam”; hay Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn 2013, “Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, chínhlà nguồn tài liệu quý giúp
chúng tôi nghiên cứu về các thiết chế văn hóa của một số nước trên thế giới
Như vậy, qua khảo sát việc nghiên cứu các thiết chế văn hóa, cũng có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn chỉ đi vào tìm hiểu các thiết chế, hay trình bày các thiết chế hiện nay mà chưa có công trình nào đề cập sâu vào văn hóa quản lý các thiết chế ấy.Cho nên, trong khuôn khổ của luận văn nhằm bổ khuyết thêm cho mảng tư liệu về khía cạnh đã nêu, chúng tôi sẽ kế thừa một cách có chọn lọc các tư liệu quý báu ở trên, bên cạnh những tư liệu điền dã để hoàn thành đề tài của mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn chính là quan điểm, thái độ ứng xử của chủ thể quản lý trong hoạt động tổ chức và quản lý các thiết chế văn hóa Từ việc nghiên cứu này, chúng tôi sẽ rút ra những vấn đề về “văn hóa quản lý” trong bối cảnh tổ chức và quản lý các hoạt động văn hóa hiện nay tại TP Hồ Chí Minh nói chung và ở quận 8 nói riêng
Chủ thể nghiên cứu chính là những người làm công việc quản lý các thiết chế văn hóa bao gồm các cán bộ quản lý nhà nước và cả người dân
Phạm vi nghiên cứu bắt đầu trước hết là ở quận 8 nhằm làm rõ văn hóa quản
lý các thiết chế, từ đó mở rộng ở các cấp độ khác nhau để tìm hiểu những kinh nghiệm quản lý thiết chế vận dụng cho quận 8 nói riêng và địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Trang 13Đề tài này sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về văn hóa quản lý thiết chế văn hóa Giúp thống kê lại các tài liệu, tư liệu nghiên cứu về thiết chế văn hóa, cũng như
sự hình thành và phát triển của hệ thống các thiết chế văn hóa tại quận 8 nói riêng
và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nói chung
Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp cái nhìn chi tiết về hệ thống thiết chế văn hóa tại quận 8 hiện nay,
từ đó có những cách thức tổ chức, quản lý phù hợp để bảo tồn các di sản văn hóa cũng như nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của cư dân
6 Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thực địa: gồm quan sát, tiếp cận các chủ thể quản lý các thiết chế
văn hóa để thấy được sự nhận thức trong việc vận hành các hoạt động của thiết chế văn hóa qua đó nhìn nhận những thực trạng, để đưa ra những giải pháp hợp lý Đây
là phương pháp chúng tôi sử dụng chủ yếu, đồng thời kết hợp những ghi chép thực
tế để có được những thông tin thật chính xác, sử dụng cho luận văn
- Phương pháp so sánh:so sánh cách thức tổ chức, quản lý hoạt động các
thiết chế văn hóa của cộng đồng so với của nhà nước, việc quản lý thiết chế văn hóa
ở Quận 8 và một sốquận như Quận 1, 5, 12… Đồng thời,so sánh với một số đặc điểm quản lý và tổ chức hoạt động thiết chế văn hóa của thành phố và các nơi khác,
kể cả nước ngoài nhằm giới thiệu thêm một số mô hình, xu hướng quản lý của các nơi khác nhau, từ đó rút ra những kinh nghiệm quản lý cho quận 8.Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 3
Ngoài ra, nhằm nhìn nhận vấn đề nghiên cứu rõ ràng, chúng tôi đã sử dụng các hướng tiếp cận như sau:
Hướng tiếp cận liên ngành: Sử dụng nguồn tri thức của các ngành liên quan
như: ngành xã hội học, chính trị, lịch sử, địa lý,… nhằm đưa đến một cái nhìn toàn diện về vấn đề được nghiên cứu
Hướng tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu văn hóa quản lý thiết chế văn hóa
quận 8 trong một hệ thống chung là các thiết chế văn hóa thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn tài liệu được sử dụng: bao gồm các sách viết về văn hóa, sách lịch
sử, sách chính trị… ,cùng tài liệu mạng Internet…
Nguồn tư liệu: sử dụng các số liệu thống kê, tư liệu về văn bản pháp quy,
nghị quyết, nghị định, báo cáo tình hình hoạt độngcủa Thành phố, quận có liên
Trang 14quan, kết quả khảo sát thực địa, kết quả thu được của cuộc khảo sát về nhu cầu văn hóa của người dân quận 8
Phương thức chú thích: Đối với những nguồn tư liệu được trích từ nguồn
Internet và những chú thích khá dài chúng tôi chú thích bằng hình thức footnote, các nguồn tư liệu khác sẽ được chú thích bằng hình thức để trong dấu [ ]
7 Bố cục
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Trong chương này sẽ nêu một số khái niệm về quản lý và văn hóa quản lý, thiết chế văn hóa; khái quát các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh vàtổng quan về xây dựng đời sống văn hóa tạiđịa bàn Quận 8
Chương 2: Thực trạng quản lý các thiết chế văn hóa tại quận 8
Trong chương này sẽ trình bày thực trạngquản lý các thiết chế văn hóa tại quận 8, qua đó còn thấy được mô hình chung về tổ chức quản lý thiết chế văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh và trong cả nước Đồng thời, nội dung chương còn đi vào phân biệt 2 loại hình / hình thức tổ chức quản lý khác nhau đó là: theo truyền thống của các cộng đồng và các thiết chế mới có sự can thiệp của nhà nước
Chương 3: Nhận định về văn hóaquản lý các thiết chế văn hóa tại quận 8 và
xu hướng văn hóa quản lý hiện nay
Chương này, chúng tôi rút ra những ưu điểm và hạn chế đối với quản lý các thiết văn hóa cộng đồng và các thiết chế văn hóa nhà nước;đồng thời giới thiệu thêm một số kinh nghiệm quản lý văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh và của các nước trên thế giới nhằm hiểu biết thêm những xu hướng quản lý văn hóa và văn hóa quản lý hiện nay ccủa các nước khác Từ những cơ sở trên, chúng tôi đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng và quản lý các thiết chế văn hóa một cách thuận lợi và đúng đắn, phù hợp với nhu cầu và bối cảnh hiện tại của quận 8 nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Ở nước ta, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, có tầm quan trọng và vị trí chiến lược trong việc xây dựng và phát triển xã hội bền vững, Đảng và Nhà nước đã và luôn chú trọng đến việc xây dựng những chính sách trong việc quản lý và phát triển, hoàn thiện các thiết chế văn hóa Để đề tài được thực hiện thuận lợi, tại chương đầu tiên chúng tôi đưa ra những cơ sở lý thuyết cơ bản về các khái niệm chung về quản lý, văn hóa quản lý, các thiết chế văn hóa… song hành cùng việc tìm hiểu các cơ sở thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh mà điển hình là quận 8
1.1 Cơ sở lý luận
Ở phần này chúng tôi trình bày một số khái niệm của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học có liên quan đến đề tài, nhằm để chúng ta có cái nhìn thống nhất về khái niệm, từ đó để làm tiền đề đi vào những nội dung chính ở các chương sau
1.1.1 Khái niệm quản lý và văn hóa quản lý
1.1.1.1 Quản lý
Quản lý bắt đầu xuất hiện từ khi con người có những yêu cầu cần sắp xếp trật
tự xã hội và làm cho xã hội phát triển.Theo thời gian, thuật ngữ quản lý càng trở nên
phổ biến: “Quản lý là một khoa học… đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật”[Từ Điển Bách khoa Việt Nam
2003: 580] Tuy nhiên, định nghĩa này có phần chưa làm rõ khái niệm quản lý, còn mang tính chất chung chung, liệt kê
Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cách mạng công nghiệp ở Châu Âu (thế kỷ XVIII), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội Lý thuyết quản lý từng bước tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập - khoa học quản
lý - từ đầu thế kỷ XX cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sau đó là chủ nghĩa
Trang 16http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy” [Dẫn lại theo Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn 2013: 22]
Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [Dẫn lại theo Phan Hồng
Giang, Bùi Hoài Sơn 2013: 22]
Cho đến ngày nay, hoạt động quản lý trở nên thiết yếu, diễn ra trên mọi cấp
độ, mọi lĩnh vực và liên quan đến từng cá nhân cụ thể, phải có quản lý nếu không
con người không thể liên kết được trong những hoạt động chung: “Quản lý là sự tác động có ý thức, có mục đích của con người đến toàn bộ hệ thống xã hội hoặc đến từng khâu của nó (các phạm vi hoạt động xã hội các ngành kinh tế, các liên hiệp sản xuất, các xí nghiệp…) bảo đảm sự hoạt động tối ưu và phát triển của chúng trên cơ sở các quy luật khách quan và những xu hướng vốn có của xã hội” [Từ điển
Để thiết lập nên một trật tự con người luôn cần đến quản lý.Nếu không có quản lý, các hoạt động xã hội sẽ mất đi tính tổ chức, tính trật tự.Ngoài tính khoa học, tính nghệ thuật, để quản lý đạt hiệu quả, quản lý còn đi kèm với sự lãnh đạo và quyền lực Xã hội luôn cần đến sự quản lý, như việc một dàn nhạc luôn cần đến
nhạc trưởng, “…bất kỳ một lao động xã hội hay cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý… Một nghệ sỹ chơi đàn chỉ điều khiến có chính mình nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [C.Mác, Ph.Ăngghen 1993: 342].C Mác cũng nhấn mạnh:“bản chất của quản lý là thực thi quyền lực thông qua các chức năng chỉ đạo, giám sát, điều khiển Ph.Ăng ghen
dân cư vượt lũ miền Tây Nam Bộ, Luận văn thạc sỹ Văn hóa học, Đại học Khoa Học Xã Hội &
Nhân Văn
Trang 17cũng cho rằng: Quản lý có tính chất hai mặt: Một mặt, nó là một quá trình lao động
xã hội, mặt khác, nó mang tính chuyên chế, hành chính, mệnh lệnh” [Nguyễn Thị
Kim Hương, Trần Kim Cúc 2011: 22]
Như vậy, quản lý có hai hình thức: quản lý về mặt tổ chức, cơ chế hình thành
bộ máy và quản lý tổ chức các hoạt động, trong đó vai trò nhà quản lý là quan trọng, mục tiêu quản lý là nhằm điều hành, tổ chức tốt các hoạt động Vai trò và mục tiêu quản lý gắn với đòi hỏi tổ chức các hoạt động hiệu quả, không phải quản lý chỉ để quản lý như kiểu chức năng
Nói đến vấn đề quản lý, không thể không đề cập đến chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và phương thức quản lý
Trước hết về chủ thể quản lý, được xét theo những cấp độ và phạm vi khác
nhau, đó có thể là nhà nước, một cộng đồng, một tổ chức, một hệ thống hay một cá nhân nào đó… có khả năng thực hiện điều hành đối tượng quản lý Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến hai chủ thể quản lý chính là Nhà nước và Cộng đồng
Mỗi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước
khác nhau mang tính chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc có chức năng quản lý hành chính nhà nước về những ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước như Chính phủ Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhưng chỉ thực hiện trong phạm vi nhất định, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó
Ở luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu sự quản lý của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, cụ thể là các thiết chế văn hóa.Theo đó, nhà nước là cơ quan chủ yếu quản lý các cơ sở thiết chế văn hóa như: bảo tàng, nhà văn hóa, các di tích lịch sử văn hóa, nhà truyền thống, thư viện, trung tâm thể dục – thể thao, sân khấu nghệ thuật và các hệ thống thiết chế văn hóa ở quận, huyện, phường…Như vậy, cơ quan nhà nước quản lý về văn hóa được giao quyền quản lý các thiết chế văn hóa như chúng tôi đã kể đến ở trên, tại phạm vi địa bàn của thiết chế văn hóa đó hoạt động Trong cơ quan nhà nước đó lại đề cử một cá nhân chịu trách nhiệm chính cùng với hệ thống tổ chức của cơ quan thực hiện việc điều hành, quản lý các thiết chế văn hóa đó, hoạt động theo mục tiêu, chức năng của nó
Trang 18Ở chủ thể quản lý cộng đồng, mà theo chúng tôi, đây là khía cạnh mà quản lý
do một nhóm người được cộng đồng giao trách nhiệm lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá các dự án, các hoạt động trong việc phát triển kinh tế - xã hội Quá trình quản lý này phải đảm bảo mang lại hiệu quả, có ý nghĩa, mang lại lợi ích cho đông đảo người dân.Đối với khía cạnh văn hóa, chủ thể quản lý cộng đồng được giao quyền quản lý các thiết chế cổ truyền, tôn giáo, tín ngưỡng Ngoài ra, các doanh nghiệp, doanh nhân là các chủ thể quản lý đóng vai trò ngày càng quan trọng theo chủ trương xã hội hóa của nhà nước
Tuy nhiên, hiện nay với chủ trương Xã hội hóa của nhà nước, giữa hai chủ thể quản lý này, theoTrần Ngọc Khánh, đãcó sự hoán đổi trên thực tế các hoạt động, trong đó xuất hiện sự tham gia của các thành phần tư nhân như nhà sách, rạp chiếu phim, các câu lạc bộ, đoàn nghệ thuật biểu diễn…
“Một, hiện tượng hoán chuyển các chủ thể quản lý các loại hình hoạt động văn hóa phản ánh thực tế và khẳng định xu thế phát triển tất yếu về vai trò chủ thể của xã hội, với sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức tư nhân, trong việc quản
lý các thiết chế văn hóa
Hai, Nhà nước không độc quyền giữ vị trí “chủ đạo” quản lý các thiết chế văn hóa, mà hoàn toàn có thể giao quyền chủ động cho các địa phương xây dựng và lên kế hoạch triển khai, tổ chức thực hiện, trong đó Nhà nước vẫn tham gia với “vai trò nòng cốt” như Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã chủ trương
Ba, đề cao vai trò của xã hội tham gia quản lý các thiết chế văn hóa, gồm các cộng đồng, các tổ chức tư nhân và các cá thể, trong đó NVH không là trường hợp ngoại lệ”3
Thứ hai, về đối tượng quản lý, thường được xác định theo những phạm vi,
lĩnh vực nhất định Nhìn một cách tổng thể, có haiđối tượng quản lý, đó là: cơ sở vật chất (nhà cửa, tài sản, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, tài nguyên…) và con người Hai đối tượng quản lý này đều nhằm hướng tới mục tiêu là tổ chức hiệu quả các hoạt động của thiết chế.Tuy nhiên, hoạt động quản lý không khi nào tách biệt rạch ròi giữa quản lý các cơ sở vật chất và quản lý con người, vì nó luôn có mối quan hệ hữu cơlẫn nhau
3Trần Ngọc Khánh 2015, Nghiên cứu và xây dựng mô hình Nhà văn hóa tại TP Hồ Chí Minh –
Thực trạng, nhu cầu và tổ chức thực hiện, TP Hồ Chí Minh, Tr 138, 139
Trang 19Ví dụ như một cơ quan quản lý rừng thì đối tượng quản lý của cơ quan đó không chỉ là rừng, là cây, mà đối tượng quản lý còn là mối quan hệ trong quản lý điều hành giữa lãnh đạo và các nhân viên bảo vệ rừng, mối quan hệ giữa con người với rừng, lâm tặc hay hoạt động của người dân sống trong phạm vi rừng…Đó là mối quan hệ về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý, nhằm hướng đến mục đích là làm thế nào quản lý, khai thác tài nguyên rừng hiệu quả
Cũng như vậy, đối tượng quản lý của các thiết chế văn hóa không chỉ là cái vật chất (nhà văn hóa, cái sân đá bóng hay cái nhà thiếu nhi …), mà nó là tổng thể mối quan hệ giữa con người với con người (lãnh đạo – nhân viên cấp dưới – người dân), con người vớitổ chức quản lý, sử dụng các thiết chế văn hóa nhằm tổ chức các
kế hoạch, chương trình hoạt động của thiết chế văn hóa
Ngoài ra, Trần Ngọc Khánh cũng có những phân loại về đối tượng quản lý, được chúng tôi thể hiện gọn lại qua bảng sau:
Bảng 1: Phân loại các đối tượng quản lý các thiết chế văn hóa
Theo nhu cầu các thành phần,
đối tượng Nhà văn hóa
Theo nhu cầu trong các lĩnh vực hoạt động
Giới tính
và lứa
tuổi
Nhà văn hóa thanh
niên, Nhà văn hóa
thiếu nhi, Nhà văn hóa
phụ nữ
Vui chơi, giải trí, du lịch
Rạp hát, rạp chiếu phim, khu
du lịch sinh thái, công viên…
Sở thích
CLB đội nhóm, các lớp kỹ năng sống, trung tâm thể dục thể thao, nhà thi đấu,…
Đình, đền, chùa, nhà thờ… các hoạt động đọc kinh, huấn luyện…
Thiết chế văn hóa truyền thống
Thư viện công cộng, Bảo tàng, Nhà hát…
Thứ ba, về phương thức quản lý, đó chính là những cách thức mà chủ thể
quản lý sử dụng để tổ chức các hoạt động của mình một cách có hiệu quả Tùy theo những phạm vi khác nhau, những lĩnh vực khác nhau mà có những phương thức quản lý khác nhau Đây là yếu tố rất quan trọng trong công tác quản lý.Hiệu quả quản lý càng cao nếu công tác quản lý càng khoa học, càng hợp lý
Trang 20Một khái niệm nữa cũng rất gần với quản lý, đó là quản trị (management) Trong thực tế, thuật ngữ “quản lý” và “quản trị” vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhauđể nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ “quản lý” gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức
là quản lý ở tầm vĩ mô nhiều hơn, còn thuật ngữ “quản trị” được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp …
Dù cho có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, nhưng cơ bản quản lý chính là năng lực hoạt động của con người (chủ thể quản lý) chỉ đạo, điều khiển hướng vào đối tượng quản lý là các hoạtđộng nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, những mối quan hệ khác nhau sẽ có những phương thức quản lý khác nhau
1.1.1.2 Văn hóa quản lý
Văn hóa xuất hiện cùng với quá trình hình thành và phát triển con người, nhưng khái niệm về văn hóa xuất hiện muộn hơn Văn hóa thường được hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa thông dụng dùng để chỉ lối sống, nếp sống, chỉ học thức (trình độ văn hóa) theo nghĩa rộng (văn hóa kinh doanh, văn hóa quản lý…), hoặc giới hạn theo bề sâu (văn chương, nghệ thuật), theo thời gian (văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn…), theo không gian (văn hóa Bắc Bộ, văn hóa Nam Bộ, văn hóa Tây Nguyên )… Trong khoa học nghiên cứu văn hóa thường được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể
Định nghĩa đầu tiên về văn hóa cần phải kể đến là định nghĩa theo quan niệm
dân tộc học của Edward Burnett Tylor (1832 – 1917): “Văn hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học là cái toàn thể phức hợp bao gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và năng lực của tập tục khác do con người thụ đắc với tư cách là thành viên xã hội” [Edward Burnett Tylor
1971:1] Mặc dù là định nghĩa mang tính chất liệt kê, miêu tả thuần túy, không làm
rõ khái niệm văn hóa và văn minh, nhưng đây được xem là định nghĩa phổ quát, có
ý nghĩa quan trọng, là nền tảng cho những định nghĩa tiếp theo trong việc nghiên cứu văn hóa
Vào năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
Trang 21đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[Hồ Chí Minh 1995: 413]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng tựu trung lại có thể nhìn nhận một cách đơn giản văn hóa chính là bản thân con người, của con người và
do con người sáng tạo ra, một trong những khía cạnh văn hóa bao gồm là các hoạt động sinh sống của con người Trong các hoạt động ấy, mỗi lĩnh vực khác nhau con người đều có cách quản lý phù hợp nhằm đạt hiệu quả.Vì vậy, quản lý ở bất cứ lĩnh vực nào cũng đều mang những nét văn hóa riêng Quản lý không chỉ được xem xét
ở góc độ khoa học, mà còn phải xem xét ở góc độ văn hóa, để hiểu rõ hơn khía cạnh này, chúng tôi đi vào tìm hiểu khái niệm văn hóa quản lý
Ngay từ thời cổ đại, ở Trung Hoa với Nho giáo của Khổng Tử đã đề cập đến
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để quản lý Từ sự quản lý của người quản
lý, đến quản lý gia đình, quản lý xã hội, quốc gia phải được tiến hành tuần tự đầy đủ không thể thiếu sót, trong đó việc “tu thân” tức là tự quản lý chính bản thân mình được xem là gốc, là vấn đề cốt lõi cho mọi hoạt động quản lý.Đồng thời, tư tưởng đức trị qua triết lý Đạo Nhân4 của Khổng Tử cũng đã chi phối hoạt động quản lý.Đến thời Chiến Quốc (280 - 233 trước CN), kinh tế khá phát triển song lại kém
ổn định về chính trị - xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ xướng tư tưởng pháp trị, coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người.Đó là tư tưởng duy lý, duy lợi được tái hiện sau hơn 2.000 năm ở phương Tây trong triết lý “con người kinh tế”.Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết học đó để ngày càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý Rõ ràng, vấn đề văn hóa trong quản lý không chỉ từ thời cổ đại mà cho đến nay vẫn rất được coi trọng
Phan Đại Doãn cho rằng: “Công tác quản lý không thể không gắn liền với việc kế thừa và thích nghi truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa và đặc
4 “Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử là học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển bản chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo họ theo nguyên tắc Đức trị, người trên noi gương, người dưới tự giác tuân theo
Khổng Tử nêu ra: Làm chính trị là ở người, muốn được người tài giỏi thì phải từ thân người quân
tử, dùng Đạo để tu thân, dùng Nhân để tu Đạo Nhân là người, (trong đó)thân với người thân là lớn nhất Nghĩa tức là thích hợp (Hợp với Đạo), (trong đó) tôn kính người hiền là điều lớn nhất”, Link:
http://luanvan.co/luan-van/dao-nhan-triet-ly-quan-ly-cua-khong-tu-46554/
Trang 22điểm dân tộc” [Phan Đại Doãn 1996: 49] Văn hóa quản lý là một khái niệm rộng,
đó là sự kết tinh của tinh hoa truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc một quốc gia trong quá trình hoạt động, tổ chức với những nhân tố tiến bộ của thời đại và nền văn minh nhân loại
Đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa quản lý, ở phạm vi đề tài chúng tôi đưa ra một vài quan niệm của các nhà nghiên cứu sau:
Theo Phạm Ngọc Thanh: “Văn hoá quản lý là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo với những biểu trưng khác nhau, được các chủ thể tham gia quá trình quản lý cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng lớn đến cách thức hành động của toàn bộ thành viên trong tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu quản
lí đã đặt ra”5
Khi nói đến nội dung của văn hóa quản lý, trong công trình “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam” lại cho rằng: “Văn hóa quản lý thiên về văn hóa hành chính, tức là nhận thức, hành vi và kết quả của chủ thể quản lý trong tổ chức, điều khiển việc thực hiện những định hướng, đường lối, chủ trương” [Nguyễn Thị Kim Hương, Trần Kim Cúc 2011: 30] Ở đây, văn hóa
quản lý chú trọng vào vấn đề con người, hay nói rõ hơn chú trọng vào phẩm chất xã hội của chủ thể quản lý Tất cả những hành vi, thao tác như từ ban hành các văn bản
và quyết định quản lý đến ra mệnh lệnh, điều khiển, tổ chức thực hiện, kiểm tra,
giám sát… đều thể hiện văn hóa quản lý, “Văn hóa quản lý là một dạng của văn hóa tổ chức, là nền tảng khoa học và nghệ thuật của phép trị nước”6
Cần có sự phân biệt giữa văn hóa quản lý và quản lý văn hóa Theo Huỳnh Quốc Thắng, quản lý văn hóa là quản lý một hoạt động xã hội được xác định, gồm:
“sự tác động có định hướng từ các tổ chức quyền lực chính trị - xã hội, đối với các quá trình hoạt động văn hóa và toàn bộ đời sống văn hóa – xã hội thông qua các hình thức tổ chức, luật lệ và các biện pháp chuyên môn khác nhau; và quản lý văn hóa là việc chung mà đầu mối là lực lượng lãnh đạo, quản lý cao nhất của toàn bộ
xã hội, đó là các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể…” [Huỳnh Quốc Thắng
Trang 23http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-quan-tri/583-dao-van-binh-vai-Như vậy, quản lý văn hóa là hoạt động của chủ thể quản lý với những định hướng liên quan đến văn hóa.Còn văn hóa quản lý là những khía cạnh ứng dụng văn hóa vào quản lý, mà tính văn hóa ở đây trước hết là tính chất đặc thù về cách thức tổ chức quản lý, phù hợp với yêu cầu đặc điểm của chủ thể quản lý các thiết chế văn hóa ở từng thời kỳ khác nhau Đồng thời, văn hóa quản lý còn hướng đến Chân – Thiện - Mỹ, góp phần điều chỉnh tính công minh, bình đẳng, thân thiện và chuyên nghiệp cho hoạt động của những người làm công tác quản lý
1.1.2 Thiết chế văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm
Vấn đề định nghĩa thiết chế cũng không kém phần phức tạp như định nghĩa văn hóa và quản lý mà chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thiết chế mà ở lĩnh vực nghiên cứu của đề tài chúng tôi đưa ra một số định nghĩa của các học giả ngoài nước và trong nước như sau:
Trong cuốn Xã hội học nhập môn, hai nhà khoa học Bruce J.Cohen và Terri
L.Orbuch định nghĩa: “Thiết chế là một hệ thống các qui tắc, giá trị về cơ cấu, tổ chức nhằm hướng tới mục đích được xác định” [Bruce J.Cohen, Terri L Orbuch
1995: 110] Các thiết chế bao giờ cũng gắn liền với một tổ chức nhất định mang trong mình những nguyên tắc, giá trị và chức năng nhất định
Thiết chế(institution) hay thể chế7 theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn
ngữ học do Hoàng Phê chủ biên được hiểu: “Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo” [Hoàng Phê 2006: 932], hay
“Thể chế còn gọi là thiết chế: là toàn bộ cơ cấu xã hội do luật pháp tạo nên” [Văn
Tân, Nguyễn Văn Đạm 1994: 745] Những định nghĩa trên đều định nghĩa thiết chế
và thể chế một cách tổng quát, nhưng không đề cập đến một bối cảnh cụ thể, hay một hoạt động xã hội cụ thể Nhưng có thể nhận thức rõ, các thiết chế đều nhằm đảm bảo cho các cá nhân hoạt động với những hành vi chấp nhậntrong xã hội, khiến cho xã hội ổn định
Ở phương Tây, có 5 thiết chế quan trọng phổ biến đó là: chính trị, tôn giáo, giáo dục, gia đình, kinh tế Mỗi thiết chế đều mang trong mình những chức năng
Trang 24khác nhau, “Mỗi một thiết chế có tầm bao quát rộng đến mức các hoạt động của nó chiếm một vị trí trung tâm trong xã hội.Khi có sự thay đổi kịch bản trong một thiết chế là có thể đưa đến sự thay đổi đáng kể ở các lĩnh vực khác”[Bruce J.Cohen,
Terri L.Orbuch 1995: 111], và với tất cả 5 thiết chế này đều có mặt của hoạt động văn hóa Trong khi đó, Việt Nam và một số nước khác như Lào, Trung Quốc thì thiết chế văn hóa được tách thành một hệ thống riêng biệt, bao gồm nhiều tổ chức, đơn vị hoạt động nhằm hướng đến các chức năng thuộc về văn hóa
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam ghi: “Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hoá Việt nam từ những năm 70 thế kỷ 20 Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hoá hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hoá chưa đủ để gọi là thiết chế văn hoá”.Định nghĩa này thường
được các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực văn hóa sử dụng khá phổ biến, nhưng lại mang tính liệt kê, mô tả là chủ yếu
Trong công trình “Văn hóa ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh – từ góc nhìn thiết chế”, Nguyễn Minh Hòa quan niệm có phần rõ ràng, chi tiết hơn về thiết chế văn hóa:
“Nó là bộ phận vật chất quan trọng đảm bảo cho hoạt động văn hóa được thực hiện Bộ phận này thường được gán cho là thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, khu vui chơi giải trí, nói một cách khác thì đó là bộ khung vật chất
Bộ máy tổ chức khung cho một đơn vị văn hóa chuyên biệt như cán
bộ, nhân viên làm việc trong lĩnh vực văn hóa, trong khi liệt kê các thành phần của thiết chế văn hóa thì con người được nhắc đến như một bộ phận hữu cơ Chẳng hạn chúng ta có thể đọc thấy trong các thông báo hay văn bản gửi các phường, xã có nội dung như “các đồng chí hoạt động trong thiết chế”…
Các chính sách, qui định mà các cơ quan văn hóa có thẩm quyền ban hành, chẳng hạn “chính sách xây dựng nhà văn hóa cấp xã”” [Nguyễn
Trang 25tiện được trang bị (équipements), cách thức tổ chức và vận hành nhằm thiết lập mối tương quan giữa sản xuất văn hóa và tiêu dùng văn hóa trong đời sống xã hội”[Trần Ngọc Khánh 2005:13]
Với định nghĩa này, nội dung của thiết chế nhằm thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của văn hóa, qua đó đảm bảo mối tương quan hài hòa với các thiết chế văn hóa truyền thống, đồng thời đáp ứng được với nhu cầu ngày càng hiện đại của xã hội Theo đó, các thiết chế văn hóa còn bao gồm trong nó cơ sở vật chất trang thiết
bị để tổ chức hoạt động, các cách thức tổ chức, cách vận hành, những chính sách, chế độ…
Hiện nay, vẫn còn tồn tại những cách hiểu hẹp cho rằng thiết chế văn hóa đơn thuần như là một cơ sở vật chất, vì vậy đã dẫn đến việc xem đây là một cơ quan xem nhẹ chức năng sản xuất, phục vụ nhu cầu văn hóa đến công chúng của thiết chế văn hóa Các thiết chế văn hóa có liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một hệ
thống, và “hệ thống những thiết chế văn hóa được coi là “trung khu thần kinh” của nền văn hóa, nhằm đảm bảo đời sống văn hóa, tạo thuận lợi cho quá trình “sản xuất”, “trao đổi”, “phân phối” và “tiêu dùng” văn hóa của xã hội” [Văn Đức
Thanh 2004: 39]
Đối tượng của thiết chế văn hóa không phải là con người hay một cộng đồng
cụ thể sinh sống trên một phạm vi, một lãnh thổ nhất định, cho nên thiết chế văn hóa phải là một mô hình đa dạng, đa năng để có thể đáp ứng được nhu cầu văn hóa của nhiều đối tượng tiêu dùng từ các nhóm cộng đồng về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, đến các nhóm cộng đồng tôn giáo, tộc người…
Như vậy, thiết chế là sản phẩm văn hóa đặc trưng, do con người sáng tạo trong quá trình phát triển xã hội Nó hình thành mang tính ổn định và có giá trị bền lâu, trở thành chuẩn mực truyền thống, được cộng động chấp nhận
Có thể thấy, đa số cách hiểu của các học giả và cả trong văn bản của nhà nước cũng cho rằng thiết chế văn hóa là mối quan hệ phức hợp giữa chủ thể quản lý văn hóa, người tiêu dùng văn hóa và các phương tiện như cơ sở vật chất, quy chế, cách thức hoạt động… và suy cho cùng các thiết chế văn hóa đều hướng tới sự điều chỉnh, kiểm soát các hoạt động văn hóa để phù hợp với những mục tiêu, mong đợi của xã hội Thiết chế văn hóa có vai trò to lớn trong việc phát triển văn hóa, là nhân
tố thúc đẩy sự hình thành, phát triển văn hóa trên quy mô toàn xã hội
Trang 26“Cho nên, về mặt cấu trúc, thiết chế văn hóa bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất (moyens, équipements), được thiết kế, vận hành trong từng nhóm cộng đồng để bảo đảm phát triển đời sống tinh thần của các thành viên trong cộng đồng
ấy và trong mối quan hệ với toàn thể xã hội Quan hệ giữa cộng đồng và xã hội là thống nhất, trong đó xã hội không làm thay vai trò của cộng đồng và cộng đồng cũng không đi ra ngoài quỹ đạo phát triển của xã hội” [Trần Ngọc Khánh 2005;
14]
Mỗi một loại hình thiết chế văn hóa có một đối tượng và mục đích hướng tới riêng của nó, vì vậy chức năng của từng loại hình thiết chế văn hóa cũng có những điểm khác nhau.Nhưng vì thiết chế văn hóa được xây dựng bởi các cơ quan quyền lực nhà nước, gắn với phục vụ cộng đồng, vì vậy cũng có những điểm chung nhất định
Theo Bronislaw Malinowski (1884–1942), nhà nhân học Anh gốc Ba Lan,
mang quốc tịch Áo, trong công trình Une théorie scientifique de la culture [Lý thuyết khoa học về văn hóa, 1944] cho rằng: “Mỗi nền văn hóa có thể được hiểu như một toàn thể hữu cơ của những thể chế” và thể chế là: “Một hệ thống được tổ chức của những hoạt động có mục đích.”8 Theo đó, mỗi nền văn hóa hình thành một hệ thống cân bằng theo chức năng, trong đócác yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, nên cần loại trừ việc nghiên cứu riêng rẽ; văn hóa biến đổi chủ yếu đến từ bên ngoài, do
sự giao tiếp văn hóa
Đồng thời, Malinowski cho rằng “Mỗi thiết chế đáp ứng theo một nhu cầu riêng biệt”, vì thế ông đã xây dựng học thuyết về các “nhu cầu”:
8 Dẫn lại theo bài giảng “Các lý thuyết văn hóa” của PGS.TS Phan Thu Hiền
Trang 27Bảng 2: Phân tích các nhu cầu căn bản theo B Malinowski
Bảy nhu cầu cơ bản Những thể chế hoạt động cơ bản
-Giáo dục, đào tạo
-Bảo dưỡng sức khỏe
Theo Đoàn Văn Chúc: “Đích thân thể chế là một nhu cầu xã hội, một loại nhu cầu làm điều kiện tiên quyết cho việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội
Và có thể nói rằng không thỏa mãn nhu cầu của xã hội thì không thành một nền văn hóa mới, nếu có thể hiểu văn hóa là một hình trạng nào đó của năng lực con người thỏa mãn các nhu cầu xã hội của mình” [Đoàn Văn Chúc 1997: 78]
Abraham Maslow cũng mô tả các mức độ nhu cầu của con người bao gồm có nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt, vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,
họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.Và các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân Tháp nhu cầu được ông xây dựng bao gồm 5 cấp độ:
Trang 28Biểu 3: Tháp nhu cầu theo A Maslow
Các nhu cầu của con người phải dần hình thành và phát triển thông qua từng cấp độ, không thể có sự “nhảy vọt” và bỏ qua một mức nhu cầu trước khi sang một mức nhu cầu cao hơn
Từđócó thể thấy được, các yếu tố cấu thành một nền văn hóa có chức năng thỏa mãn các nhu cầu chủ yếu của con người.Nếu không có nhu cầu, thiết chế không có cơ sở để tồn tại.Nhu cầu vừa là nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời, vừa là mục tiêu hoạt động của các thiết chế.Từ nhu cầu khác nhau mà các thiết chế văn hóa mang theo những chức năng khác nhau nhằm đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu đó
Trần Ngọc Khánhcũng đã khái quát các chức năng của thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội như sau :
1- Chức năng bảo tồn (conservation) gìn giữ các giá trị vật chất và tinh thần
là thành quả sáng tạo trong quá trình phát triển xã hội như di sản, kiến trúc, thông tin lưu trữ
2- Chức năng truyền thông (communication) chuyển giao tri thức và các giá
trị, bảo đảm tính kế tục lịch sử từ đời này sang đời khác Chức năng này còn bao
gồm việc hướng dẫn hoạt động (animation) hoặc lâu dài hơn thông qua hình thức đào tạo (formation)
Trang 293- Chức năng sáng tạo (création)sản xuất văn hóa đòi hỏi phải thiết lập, trang
bị các phương tiện, điều kiện cơ sở vật chất để cộng đồng phát triển và sáng tạo đời sống văn hóa của chính họ
4- Chức năng tiêu dùng (consommation) nhằm thỏa mãn các nhu cầu tiêu
dùng về vật chất và tinh thần, có năng lực hưởng thụ các giá trị thẩm mỹ trong đời sống xã hội
Bảng 4: Phân tích chức năng các loại hình thiết chế văn hóa
(Dựa theo Trần Ngọc Khánh 2008, Góp phần xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa)
1 Bảo tồn Di tích lịch sử văn hóa; Nhà bảo tàng;
Nhà truyền thống
3 Sáng tạo, sản xuất văn hóa Nhà văn hóa - Trung tâm văn hóa;
Ấp văn hóa - Khu phố văn hóa
4 Tiêu dùng văn hóa, thẩm mỹ Rạp hát, rạp chiếu bóng; Khu vui chơi
- giải trí, Công viên
Các chức năng của thiết chế văn hóa bao trùm lên mọi phương diện của đời sống xã hội Bất kỳ thời đại nào, chế độ nào cũng luôn cần đến các thiết chế văn hóa nhằm bảo tồn các giá trị, truyền tải những thông tin, đáp ứng các nhu cầu sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng văn hóa Tuy nhiên, các thiết chế văn hóa có thể chứa trong mình một chức năng, hay toàn bộ các chức năng kể trên, tùy vào những điều kiện địa lý, lịch sử, môi trường, đặc điểm kinh tế, dân số… khác nhau Sự vận hành của các thiết chế văn hóa phải đảm bảo tuân thủ theo những nguyên tắc hợp tiến, mang tính nhân dân và phù hợp chủ trương của Đảng
Từ những khái niệm về văn hóa quản lý và thiết chế văn hóa như trên, chúng tôi cho rằng văn hóa quản lý các thiết chế văn hóa là văn hóa trong tư duy, quan niệm, ứng xử, cách quản lý và điều hành của các cơ quan công quyền đối với các thiết chế văn hóa, trong việc đưa các thiết chế văn hóa, sản phẩm văn hóa phục vụ
nhân dân Mọi hoạt động của bộ máy và công chức ở đó đòi hỏi phải đáp ứng được
nhu cầu văn hóa của người dân Từ quản lý cho đến các công việc cụ thể như kế hoạch, nội dung hoạt động đều phải quan tâm đến các điều kiện sinh sống của dân
Trang 30cư sao cho phù hợp, bảo đảm cho mỗiconngười cụ thể, già trẻ, gái trai, đều được đáp ứng các nhu cầu cụ thể để phát triển về mặt văn hóa
1.1.2.3 Phân loại các thiết chế văn hóa
Với nhiều cách tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau, người ta phân ra nhiều kiểu thiếtchế khác nhau Tùy theo những chức năng, nhu cầu và tình hình hoạt động, Đoàn Văn Chúcphân loại các thiết chế gồm:
(1) Thiết chế Hôn nhân và Gia đình
Gia đình được xem là một thiết chế quan trọng đối với xã hội: sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất con người Thiết chế gia đình là một hệ thống ổn định, phổ biến nhất là chế độ một vợ một chồng, sống với con cái trong gia đình Nằm trong các thiết chế này là các thiết chế phụ thuộc như: đính hôn, hôn nhân, nuôi dưỡng trẻ em, quan hệ thân tộc…
(2) Thiết chế Giáo dục
Là thiết chế chính trong việc truyền dẫn kiến thức và kỹ năng, các tiêu chuẩn
và giá trị văn hóa cho người dân.Trường học là nơi giúp truyền tải những bài học văn hóa đến với mỗi cá nhân trong cộng đồng Thể chế này khá phức tập, nó bao gồm nhiều môi trường văn hóa khác nhau: nhà trường, gia đình, nhóm cư trú, các hoạt động khác của xã hội như rạp hát, thư viện, bảo tàng… Ngoài ra, thể chế chính yếu của hệ thống này là các thể chế đối với các thành viên xã hội, các thể chế phụ thuộc về kiểm tra, thi cử, tốt nghiệp…
(3) Thiếtchế Kinh tế
Là các thiết chế mà nhờ đó con người được cung cấp đầy đủ về vật chất và dịch vụ,bao gồm các sản phẩm, các hoạt động đầu tư, sản xuất phân phối, trao đổi
và tiêu thụ sản phẩm.Bên cạnh thể chế chính là các thể chế phụ thuộc như quản lý,
tín dụng, ngân hàng, kế toán…“Các thể chế kinh tế bao giờ cũng đóng vai trò tác động, quyết định đến mọi thể chế khác” [Đoàn Văn Chúc 1997: 89]
(4) Thiết chế Chính trị
Nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội cơ bản là thống nhất hành động chung của các công dân, ổn định và đảm bảo trật tự công cộng trong xã hội Ngoài ra, còn điều hòa các hoạt động, thể chế hóa Hiến pháp, các bộ luật, các quy định dưới luật vào đời sống xã hội Đồng thời, thể chế chính trị góp phần thiết lập bộ phận an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cộng đồng, đảm bào sự dân chủ, dân quyền, nhân quyền
Trang 31(5) Thiết chế Tôn giáo và Tín ngưỡng
Bao gồm đối tượng tôn sùng, lễ thức thờ cúng, tín điều, tư tưởng, đức tin, ước vọng thể hiện nhu cầu đời sống tâm linh do xã hội từ xa xưa để lại
Tín ngưỡng vốn thuộc về đời sống cá nhân, nhờ đặc trưng cố hữu của con người là niềm tin và lòng ngưỡng vọng, nhưng khi tín ngưỡng được trang bị cơ sở vật chất, quy định trong khuôn khổ giáo điều, vận hành theo quy chế thì thiết chế tôn giáo hình thành Các thiết chế này góp phần thúc đẩy tính cố kết cộng đồng, đáp ứng nhu cầu đời sống
Các thể chế phụ thuộc bao gồm: những quan hệ giữa người và thần linh, những nghi thức cúng lễ, thờ phượng, những nghi thức ma thuật, dị đoan
(6) Thiết chế Giải trí
Ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội về nghỉ ngơi thân thể và tinh thần, thỏa mãn tái sáng tạo, góp phần phát triển đời sống văn hóa trong thời gian rỗi, và mang lại ý nghĩa đời sống tinh thần phong phú.Những thể chế chính là hệ thống quy định thời gian rỗi của toàn thể xã hội Nằm trong nó là các thể chế phụ thuộc như: thể chế quy định tổ chức các hoạt động văn học, nghệ thuật, trò chơi, thể thao, lễ tết,
lễ hội…
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, nên chúng tôi giới hạn trong hai thực thực thể quản lý các thiết chế văn hóa của nhà nước và của cộng đồng xã hội Không đi vào nghiên cứu các thiết chế chính trị, kinh tế, giáo dục hay hôn nhân gia đình …
1.2 Cơ sở thực tiễn
Ngoài phần lý luận, để làm cơ sở cho các chương tiếp theo, chúng tôi đi vào tìm hiểu cơ sở thực tiễn của luận văn trên hai khía cạnh chính, trước hết là đi vào tìm hiểu quá trình xây dựng các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ, sau đó là đi vào tìm hiểu tổng quan về các thiết chế trong đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội của quận 8
1.2.1 Quá trình xây dựng các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh
Quá trình xây dựng các thiết chế văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra ngay từ khi khai hoang, lập ấp, nhưng các thiết chế văn hóa do nhà nước quản lý chỉ thật sự bắt đầu được xây dựng nhiều từ khi thực dân Pháp đô hộ và sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975
Trang 321.2.1.1 Thiết chế văn hóa thời kỳ khai hoang, lập ấp
Để tránh các cuộc chiến tranh liên miên của hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn và thoát khỏi sự áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến, nhiều nhóm nông dân nghèo khổ đã tìm cách di cư từ miền Bắc, miền Trung vào miền Nam sinh sống Khi đến Đồng Nai, Bà Rịa và Sài Gòn, nhận thấy đây là vùng đất đai trù phú, khai thác tôm cá thuận lợi, họ đã định cư và sinh sống cho đến tận bây giờ Theo thời gian, với sự cần cù khai hoang, lập xóm ấp, hình thành chợ búa đông vui,họ sản xuất được khá nhiều lương thực, thực phẩm, không chỉ nuôi sống bản thân mà còn dùng trao đổi với các vùng khác.Vì thế, năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho lập đồn thu thuế cũng là cơ sở thiết chế chính trị đầu tiên của Sài Gòn Có thể nói, chợ búa được xem là loại hình thiết chế đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn về lĩnh vực kinh tế, theo thời gian phát triển lên càng nhiều
“Theo Trần Văn Giàu trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh thì nửa đầu thế kỷ 19 (1789 - 1832), khu vực Sài Gòn có hai thị trấn và 40 làng.Hai thị trấn
là Sài Gòn (tức vùng Chợ Lớn ngày nay) và Bến Nghé (tức khu vực quận 1 của trung tâm Sài Gòn bây giờ) Những làng quê có nhiều chợ như Chợ Bình An, Bình Đông, chợ Đệm, chợ Quán, chợ Tân Kiểng, chợ Xóm Củi, chợ Rạch Ông… chợ Lò Rèn, chợ Lò Gốm, chợ Sỏi buôn bán nông phẩm, gà, vịt, cá khô, cá tươi, thuốc lá, hạt tiêu, đường, dao kéo, đinh, sơn, chiếu lác, đệm buồm, đặc biệt là trầu cau và vải lụa” [Mạc Đường 1991: 30]
Mùa xuân năm 1698, chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đưa vào
4 vạn hộ dân để khẩn hoang lập ấp thì số dân người Việt lúc bây giờ đã tăng lên
đáng kể.“Lấy đất Đồng Nai làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn; mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị” [Trần Văn Giàu (cb)
1987: 127] Cùng với sự gia tăng dân số, kinh tế phát triển, các vấn đề về thiết chế văn hóa cũng được bắt đầu chú trọng
Thiết chế văn hóa quan trọng lúc bấy giờ chính là việc lập làng – thiết chế xã
hội theo cơ chế tự quản của người dân Đặc điểm địa hình nhiều sông ngòi, kênh rạch, đa số các làng đều được lập dọc ven sông với tiêu chí chính “nhất cận giang, nhì cận lộ” Điển hình như khu vực quận 8, theo Giáo sư Mạc Đường ghi chép lại
vào những năm 1819 - 1861: “Lúc ấy, nhiều vùng ở Quận 8 còn rất hoang vu, nhưng những vùng Rạch Ông, Xóm Củi, rạch Lò Gốm có khả năng là những vùng
Trang 33buôn bán đông dân” [Mạc Đường 1991: 30] Tại quận 8, những xóm làng đầu tiên
được dựng lên thường gắn tên gọi với điều kiện sinh thái địa phương như: xóm Hố Bân, rạch Ông, xóm Củi, xóm Than…
Việc dựng Đình là thiết chế văn hóa về tín ngưỡng tôn giáo với chức năng
nhằm cố kết cộng đồng.Dựng Đình khá được chú trọng trở thành thiết chế văn hóa làng xã của vùng đồng bằng thời phong kiến9.Đình Nam Bộ được ví như “tiểu triều đình” – nơi diễn ra những nghi thức nguyên bản của Nhà Nguyễn
Ngoài ra, triều Nguyễn còn tiến hành thể chế hóa việc thờ cúng thần linh Một hệ thống thiết chế văn hóa tâm linh phục vụ cho việc cúng tế đã được xây dựng
ở các địa phương, kèm theo đó là những quy tắc mang tính “chuẩn quốc gia” về đồ
tế lễ và các nghi thức thờ phụng Trong hệ thống thiết chế tâm linh tôn giáo, ngôi chùa Phật giáo được nhà Nguyễn xem trọng hơn cả.Các vị vua đầu triều Nguyễn đích thân xem xét đề nghị liên quan đến việc xây dựng, tu bổ, số lượng người tu
hành… trong các chùa ở các tỉnh.“Mỗi khi làng xây đình, chùa hay một nhà hội, đức vua phái đại diện đem 5 quan tiền và tặng vật, trên một chiếc mâm mạ vàng để khánh thành việc lợp nóc và các ngôi nhà ấy” [Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Đầu dịch 1997:16]
Cùng với lập làng, dựng đình, thì như đã nói ở trên, họp chợ bắt đầu hình
thành, trở thành thiết chế văn hóa quan trọng thứ ba trên vùng đất này.Hình thức họp chợ của người dân nơi đây gắn liền với sông nước, giao thông đường thủy nhờ
đó ngày càng phát triển.Thị trường buôn bán dần hình thành, các dịch vụ vận chuyển, trao đổi hàng hóa bắt đầu xuất hiện ngày càng phổ biến hơn
1.2.1.2 Các thiết chế văn hóa thời Pháp thuộc (1889-1954)
Vào giữa thế kỷ XIX, với mục tiêu xâm lược của Pháp, đất nước Việt Nam bước vào một trang sử đen tối khác Sau thất thủ của Sài Gòn (1859), thực dân Pháp bắt đầu chiến lược cai trị của mình bằng cách cải tạo và xây dựng Sài Gòn từ một trung tâm hành chính và quân sự thành một thành phố thương mại, thành phố cảng sầm uất, nhộn nhịp, với những đề án quy hoạch tỉ mỉ
Rất nhiều công trình được xây dựng từ các kênh đào, đường sá, các bến bãi… khiến cho thành phố trở nên khang trang.Vốn là vùng đất mới, Sài Gòn có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng, phát triển các thiết chế văn hóa mới Ở phạm vi
9 Khác với các dân tộc sinh sống ở vùng cao, đặc biệt các dân tộc Tây Nguyên, Nhà Rông chính là thiết chế văn hóa buôn làng chính của họ
Trang 34đề tài, chúng tơi chỉ đề cập đến những thiết chế văn hĩa đã được Pháp xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này Sài Gịn là nơi tập trung nhiều kênh rạch, vốn là vùng đất trũng, đất sình lầy ngập nước, được Pháp quy hoạch lại mang dáng dấp phương Tây với những ngơi nhà cao tầng, đường sá theo hình bàn cờ… Các cơ sở văn hĩa lúc này bắt đầu xuất hiện như: Nhà dịng Saint Paul De Chartres nơi nuơi dưỡng trẻ mồ cơi bản xứ, nhà nuơi con lai, ký túc xá nữ sinh con nhà giàu bản xứ (1860), Nhà thờ Đức Bà (1863), chợ Cầu Ơng Lãnh (1864), vườn Bách Thảo (nay là Thảo Cầm Viên - 1964) cĩ vai trị phục vụ giải trí cho thị dân đảm nhận chức năng như một cơng viên10 Ngồi ra, cịn cĩ phịng Hịa nhạc (Nhạc viện ngày nay), Nhà hát Giao hưởng (Opera House - nay là Nhà hát Thành phố), một câu lạc bộ thể thao lấy tên là Cercle Sportif Sạgonnais (Câu lạcbộ Thể thao Sài Gịn viết tắt CSS năm 1896 - nay là Cung Văn hĩa Lao động) Các thiết chế văn hĩa thời kỳ này mới lạ về loại hình, phong phú nhưng lại theo khuơn mẫu của phương Tây, đều dành cho giới thượng lưu người Pháp và một số rất ít người Việt làm tay sai cho bộ máy cai trị thực dân, mãi về sau khoảng vào đầu thế kỷ 20, mới cĩ những người Việt là quan lại, cơng chức, giàu cĩ tham gia Văn hĩa đơ thị Sài Gịn trong
lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1945 “là một nền văn hĩa đơ thị phương Nam của tộc người Việt được xây dựng theo mơtíp kiến trúc tân cổ điển châu Âu và đã hịa nhập phần nào với văn hĩa Hán và văn hĩa Pháp Văn hĩa đơ thị Sài Gịn vừa mang tính chung của văn hĩa đơ thị Việt Nam, vừa mang tính riêng của đơ thị Sài Gịn”[Dẫn lại theo Nguyễn Đức Hịa 2010: 14]11
Trong thời gian này, người Pháp nhận thấy để quảng bá đường lối chính sách bằng chữ Hán đặc biệt khĩ khăn Năm 1879, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định cho học song hành hai thứ chữ: chữ Hán và chữ Quốc ngữ Từ đĩ, chữ quốc ngữ trở thành một phương tiện truyền thơng giúp nhân dân tiếp thu những tiến bộ về văn hĩa, khoa học kỹ thuật trên thế giới
Trong khoảng thời gian này, một số đình, chùa tại quận 8 được xây dựng như: chùa Sắc Tứ Huệ Lâm, đình Hưng Phú, chùa Pháp Quang (1948)… Nhưng
10 Vườn bách thảo lúc này cịn là nơi ươm giống cho nhiều cây trồng trên những đại lộ của Sài Gịn, mà đến ngày nay, người dân thành phố vẫn cịn trơng thấy nhiều cây cổ thụ hằng trăm năm tuổi
11Mạc Đường2002, Việt Nam và vấn đề đơ thị hĩa trong lịch sử, Dân tộc học - Đơ thị và vấn đề đơ
thị hĩa (An Introduction to urbananthropology and urbanization), NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh, tr 58 - 60
Trang 35cũng có những di tích tạm ngừng hoạt động như Lò Gốm Hưng Lợi, nguyên nhân ngoài những biến động chính trị, là do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ Sài Gòn – Chợ Lớn Quá trình này đã thúc đẩy sự tách biệt giữa thương nghiệp và thủ công nghiệp, khiến các làng nghề bị đẩy ra xa hoặc ra các tỉnh lân cận
1.2.1.3 Các thiết chế văn hóa thời kỳ Mỹ đô hộ (1954 – 1975)
Sau khi hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam, Mỹ thay chân và tiến hành thực hiện văn hóa thực dân mới trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Mỹ tiến hành
âm mưu dựa trên sự viện trợ về kinh tế một cách ồ ạt và liên tục trong nhiều năm cùng với việc du nhập “lối sống kiểu Mỹ” vào miền Nam.Văn hóa Mỹ lúc này theo quân viễn chinh vào Sài Gòn đã ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư, nhất là giới quan chức, thượng lưu, kéo theo đó là lối sống ăn chơithực dụng, chạy theo đồng tiền…
Lúc bấy giờ, ở Sài Gòn nhiều cao ốc, khách sạn tối tân cùng các nơi vui chơi giải trí được xây dựng nhằm phục vụ cho sỹ quan và binh lính Mỹ Nhưng, song hành với những nơi hiện đại này thì với chính sách “tát nước cá, bình định nông thôn” đã khiến cho lượng dân nhập cư đổ vào Sài Gòn ngày càng đông, làm xuất hiện những khu nhà ổ chuột, những khu dân cư nghèo nàn, nhà trên kênh rạch mọc tràn lan… Nạn du đãng, hút chích thuốc phiện, nhà chứa, văn hóa đồi trụy bắt
đầu xuất hiện và lan tràn nhanh chóng.Đặc biệt trong thời kỳ này, “quận 8 là nơi những hảo hán giang hồ, những tay anh chị và lực lượng Bình Xuyên 12 lấy làm
“hùng cứ” Nhưng đa số người dân lao động nghèo trên địa bàn quận biết phân biệt đâu là hảo hán lớn, đâu là phản dân, hại nước để có thái độ tích cực với Bình Xuyên, góp phần phân hóa lực lượng cầm đầu, đưa bộ phận lớn lực lượng Bình Xuyên về với nhân dân, đi theo cách mạng.”13
Mỹ hầu như không quan tâm đến việc xây dựng các thiết chế văn hóa, phát triển văn hóa nhằm phục vụ con người tại Việt Nam, mà ngược lại Mỹ tiến hành thực hiện các chính sách văn hóa ngu dân, làm tàn lụi, làm cho nhân dân ta mất ý thức dân tộc, thậm chí mất cả ý thức về bản thân Thanh niên xa rời văn hoá truyền thống, bị chi phối bởi các yếu tố văn hoá lai căng, thực dụng.Âm mưu về văn hoá
12 Kể từ năm 1945, danh xưng "Bình Xuyên" được dùng để mô tả Bộ đội Bình Xuyên với nòng cốt
là giới du đãng venSài Gòn, hoạt động trong 10 năm (1945 - 1955) Link:
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_%C4%91%E1%BB%99i_B%C3%ACnh_Xuy%C3
%AAn
13Đảng Bộ quận 8 2014, Lịch sử truyền thống Đảng bộ và Nhân dân quận 8 (1930 - 2010), NXB
Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, tr 17
Trang 36cũng là một mục tiêu quan trọng trong toàn bộ âm mưu xâm lược đất nước ta của đế quốc Mỹ Đó cũng là một phương tiện để xâm lược được sử dụng trên cơ sở những
âm mưu quân sự, chính trị, kinh tế và những âm mưu này lại làm điều kiện cho phương tiện văn hoá phát huy tác dụng Mặt khác, giai đoạn này cũng nổi lên các cuộc vận động nhằm bảo tồn nếp sống, văn hóa cũ, chống lại lối sống hưởng thụ buông thả, phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi từ các tầng lớp sinh viên, học sinh, nhân dân, các tầng lớp phật tử…
Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Đảng và nhà nước ta luôn xem văn hóa là một mặt trận gắn bó chặt chẽ và có sự tương tác với mặt trận chính trị, kinh tế Kể từ năm 1945, Đảng xác định rõ chăm lo đời sống văn hóa người dân nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân bằng cách đưa vào đời sống những giá trị văn hóa tốt đẹp,đồng thời khích lệ nhân dân sáng tạo những giá trị văn hóa mới, tiến bộ, phù hợp với truyền thống dân tộc, sử dụng những giá trị văn hóa tốt đẹp nhằm xây dựng đời sống mới cho nhân dân Để đạt được điều này, Đảng và nhà nước luôn chăm lo xây dựng đời sống văn hóa ở các cấp cơ sở, ở từng địa bàn, vùng miền khác nhau, và luôn xem đây là nhiệm vụ chiến lược lâu dài
1.2.1.4 Giai đoạn từ 1975 đến 1998
Giai đoạn sau năm 1975, lãnh thổ Việt Nam hoàn toàn thống nhất Đến ngày
2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam quyết định đổi tên Sài Gòn thành“Thành phố Hồ Chí Minh”, theo tên của vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Lúc này,cả nước bắt đầu đi vào giai đoạn xóa bỏ những hậu quả của “văn hóa thực dân mới”, xây dựng đời sống văn hóa theo định hướng
Xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ chính của Thành phố lúc này là ổn định tình hình chính trị, khôi phục kinh tế, xây dựng đời sống mới
Sở dĩ chúng tôi chọn cột mốc giai đoạn từ 1975 đến 1998 là vì sau năm 1975, đất nước mới hòa bình, chính quyền bắt đầu khôi phục, xây dựng lại các thiết chế văn hóa mới dựa trên nền tảng cũ của thời kỳ trước 1975 Trước tình hình khó khăn chung trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố lúc bấy giờ, việc thực hiện đường lối văn hóa và xây dựng thiết chế văn hóa còn nhiều chật vật, thì năm 1998 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVIII đã đề ra một Nghị quyết mang tính đột phá trong lĩnh vực văn hóa, đó là Nghị quyết Trung ương lần thứ5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
Trang 37dân tộc” Nghị quyết này đã đề cập đến vấn đề văn hóa trên bình diện rộng, với những định hướng cơ bản có tính chiến lược, đồng thời xác định những nội dung trọng tâm cần giải quyết, những vấn đề cấp bách đang đặt ra cho xã hội trên lĩnh vực văn hóa lúc bấy giờ, đề ra những giải pháp lâu dài để tạo ra bước chuyển biến
cụ thể
Riêng đối với thành phố Hồ Chí Minh, do vừa mới giải phóng, thành phố còn nhiều ngổn ngang, lại phải tập trung xây dựng kinh tế nên hầu như không có xây dựng được nhiều cơ sở vật chất phục vụ cho văn hóa Tuy nhiên, trong thời gian này,thành phố vẫn bám sát vào nhiệm vụ đề ra của Đảng, tập trung vào phát triển các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, xuất phát từ tổ chức của các hội, đoàn thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, cùng với phong trào tuyên truyền cách mạng, giải phóng, đã thúc đẩy các hoạt động văn hóa văn nghệ phát triển khắp các địa bàn dân cư từ phường, xã, đến khu phố, ấp, xóm, thôn như: đẩy mạnh phong trào các ca khúc chính trị, xây dựng hoạt động thông tin cổ động nhằm bài trừ các tệ nạn xã hội, các phong trào chống phá, các tư tưởng phản động…
Tất cả các địa điểm công cộng được vận dụng để phục vụ cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất tuyên truyền.Đồng thời trong thời gian này, các trung tâm văn hóa của quận, huyện được thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ phục
vụ nhu cầu đời sống văn hóa cho nhân dân Thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ V, công tác xây dựng đời sống văn hóa được cụ thể hóa trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin gồm: (1) Thông tin, tuyên truyền cổ động, truyền thanh, đọc báo; (2) Hoạt động văn nghệ quần chúng, chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật; (3) Hoạt động bảo tồn, bảo tàng và giáo dục truyền thống; (4) Hoạt động xây dựng thư viện và phong trào đọc sách; (5) Hoạt động xây dựng nhà văn hóa, câu lạc bộ; (6) Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa mới, gia đình văn hóa
Từ 1975 đến 1998, thành phố đã thành lập và xây dựng được 5 Nhà văn hóa cấp thành phố, 4 Nhà thiếu nhi, 20 Nhà văn hóa quận, huyện, 11 bảo tàng, 10 rạp chiếu bóng, 4 nhà hát, 2 sân khấu kịch, 23 thư viện công cộng, 7 công viên cấp thành phố quản lý, thực hiện chức năng phục vụ vui chơi, giải trí14… Riêng đối với khu vực quận 8, trước năm 1975 vốn là một địa phương nghèo nàn về những phương tiện văn hóa công cộng, chỉ bao gồm những sinh hoạt hội hè định kỳ hàng năm hay những đêm hát bội, những sân khấu kịch ngoài đồng trống… thì thời điểm
14 Xem chi tiết tại phần phụ lục
Trang 38này đã xây dựng được Trung tâm văn hóa, Nhà thiếu nhi, Trung tâm thể dục, thể thao phục vụ cho mọi thành phần, lứa tuổi
Dù gặp nhiều khó khăn trong bước đầu xây dựng và hình thành các thiết chế văn hóa, nhưng nhìn chung công tác xây dựng, hình thành các thiết chế văn hóa có nhiều sự tiến triển do có sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo, những nhà quản lý từ thành phố, đến các quận huyện Tuy nhiên, nhiều thiết chế văn hóa được cải tạo lại
từ những ngôi nhà hoặc trụ sở cũ của chế độ ngụy quyền, do vậy chưa đáp ứng được
về mặt diện tích và tổ chức các hoạt động chức năng nghiệp vụ
1.2.1.5 Các thiết chế văn hóa giai đoạn từ 1998 đến nay
Năm 1998, xuất phát từ việc nhận định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của xã hội,
có ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt trong đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội,vì vậy Hội nghị lần thứ 5, Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa 8 đã chính thức ban hành một Nghị quyết về văn hóa quan trọng đó là Nghị quyết về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
Từ khi Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII ra đời đã tháo gỡ nhiều vấn đề tồn tại về văn hóa và tạo nhiều điều kiện cho văn hóa phát triển đa dạng, khôi phục nhiều hoạt động văn hóa truyền thống, dân tộc Song song với phát triển kinh tế, đó
là quá trình hội nhập văn hóa quốc tế.Nhiều nền văn hóa của nhiều quốc gia bắt đầu xuất hiện, tạo nên một làn sóng du nhập văn hóa mạnh mẽ
Thành phố Hồ Chí Minh đã có các chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho văn hóa hoạt động phục vụ nhu cầu người dân;tạo điều kiện sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật;quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa; thực hiện xây dựng nhiều công trình văn hóa, thể thao theo hướng xã hội hóa15
Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn thành phố đã
có nhiều nỗ lực trong đào tạo, kể cả đào tạo sau đại học, nhằm tạo nên nguồn nhân lực có trình độ cao về kiến thức văn hóa, văn học nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố và khu vực; đặc biệt các chương trình đào tạo chú trọng đến kiến thức quản lý văn hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển
Nhằm thường xuyên nâng cao trình độ phổ cập văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân, thành phố đã có nhiều chính sách xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập; hoàn thành quy hoạch
15 Phần này sẽ được chúng tôi đề cập kỹ hơn ở các chương tiếp theo
Trang 39mạng lưới trường lớp, đảm bảo điều kiện học tập của học sinh và nâng cao chất lượng đào tạo; tiếp tục phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng, đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài đồng thời có những giải pháp giáo dục chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho thành phố
Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân thành phố… có nhiều hoạt động phong phú,
đa dạng đã tạo nên một không khí mới, lành mạnh, sinh động trong đời sống văn hóa
cơ sở
Hệ thống các Trung tâm Văn hóa, Nhà Văn hóa, Nhà Thiếu nhi cấp thành phố
và quận - huyện, Nhà Trưng bày triển lãm… tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các chủ đề truyên truyền và nhu cầu sinh hoạt, học tập đa dạng của các tầng lớp quần chúng nhân dân
Hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa phát triển mạnh mẽ đã mang lại những thành quả cả về góc độ văn hóa lẫn kinh tế, người dân được thụ hưởng nhiều hơn từ các sản phẩm văn hóa đa dạng, phong phú, bên cạnh đó cũng đặt ra những yêu cầu mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và định hướng
Hoạt động thể dục thể thao cùng với phong trào toàn dân tập thể dục và Hội khỏe Phù Đổng tổ chức hàng năm;hoạt động xã hội hóa thể dục thể thao được sự tiếp sức từ nhiều nguồn lực xã hộido tư nhân đã đáp ứng được nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của mọi tầng lớp nhân dân
Từ những khái quát trên có thể nhận thấy, công cuộc xây dựng đời sống văn hóa, quản lý các thiết chế văn hóa qua các thời kỳ, các chặng đường khác nhau ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn được quan tâm và duy trì đều đặn, nhằm mang đến những thuận lợi cho cuộc sống người dân
1.2.2 Tổng quan vềđời sống văn hóa tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
Quận 8 là một quận nội thành, nằm ở phía tây nam của Thành phố Hồ Chí Minh Địa danh Quận 8 chỉ mới xuất hiện cách đây gần nửa thế kỷ, nhưng địa bàn của Quận 8 ngày nay đã có cách đây trên 300 năm cùng với lịch sử vùng đất Gia Định lúc bấy giờ.16
16 Lịch sử hình thành Quận 8, link: 8.aspx
Trang 40giáp quận 4, quận
7;phía Tây giáp
- Điều kiện tự nhiên:Toàn quận có hình dáng thon dài theo hướng Đông
Bắc - Tây Nam vì bị chia cắt mạnh bởi một hệ thống kênh rạch chằng chịt Địa hình chỉ chủ yếu là đồng bằng, với cao độ trung bình so với mặt nước biển là 1,2m trong
đó thấp nhất là 0,3m (phường 7) và cao nhất là 2,0 m (phường 2) Quận có đến 2/3 diện tích tự nhiên nằm dưới ngưỡng của đỉnh triều cường lịch sử 1,60m (tháng 11 năm 2011), trong đó vùng bị ảnh hưởng lớn nhất cũng là khu vực có địa hình thấp nhất là phường 6, phường 7, phường 15 và phường 16
Hệ thống kênh dày đặc, chia nhỏ quận thành các khu vực riêng biệt như:
sông Bến Lức, sông Ông Lớn, kênh Lò Gốm, kênh Tàu Hủ, rạch Hiệp Ân, rạch Nước Lên, kênh Đôi, Tầu Hủ, sông Cần Giuộc, rạch Hiệp Ân, rạch Ông Lớn, Ông Nhỏ, Xóm Củi, Ruột Ngựa, Bà Tàng, Lò Gốm, Kênh Ngang số 1, Kênh Ngang số 2, Kênh Ngang số 3 Các kênh, rạch tạo thành mạng lưới thoát nước dọc tuyến đường giao thông góp phần tiêu nước về mùa mưa cũng như khi triều cường Cùng với sông Cần Giuộc là sông nhánh của sông Soài Rạp, hợp lưu tại ngã 3 sông Soài Rạp và sông Vàm Cỏ, sông dài khoảng 38km, đoạn chảy qua Quận 8 dài 2,2km, đã tạo những điều kiện thuận lợi giao thông đường thủy, điều tiết không khí, tiêu thoát nước mưa, nước thải trong khu dân cư, các cơ sở sản xuất Vì đặc điểm này mà