HỒ CHÍ MINH ---NGÔ QUANG VINH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHĨ CHÂM CÁC HUYỆT THẦN MÔN, VÙNG DƯỚI ĐỒI, TÂM, TỲ, THẬN KẾT HỢP VỚI THỂ CHÂM CÁC HUYỆT THẦN MÔN, TA
ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các BN được chẩn đoán mất ngủ không thực tổn.
Bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán là mất ngủ không thực tổn, điều trị tại Bệnh viện Y Học Cổ Truyền TPHCM từ tháng 10/2018 – 06/2019.
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn mất ngủ không thực tổn DSM V TR [22], [23], [52].
A Than phiền chủ yếu là không hài lòng với số lượng giấc ngủ hoặc chất lượng, kết hợp với một (hoặc nhiều hơn) các triệu chứng sau:
1 Khó bắt đầu giấc ngủ.
2 Khó duy trì giấc ngủ, đặc trưng bới thức giấc thường xuyên hoặc khó quay trở lại giấc ngủ sau khi thức giấc.
3 Thức dậy sớm hoặc không có khả năng quay trở lại giấc ngủ.
B Các rối loạn giấc ngủ gây đau khổ ý nghĩa lâm sàng hoặc suy giảm trong lĩnh vực quan trọng xã hội, nghề nghiệp, giáo dục, học tập, hành vi hoặc chức năng khác.
C Khó ngủ xảy ra ít nhất 3 đêm mỗi tuần.
D Khó ngủ có mặt trong ít nhất 3 tháng.
E Khó ngủ xảy ra mặc dù có điều kiện thích hợp cho giấc ngủ.
F Mất ngủ không được giải thích tốt hơn bằng hay không xảy ra hoàn toàn trong quá trình rối loạn chu kỳ thức ngủ.
G Mất ngủ không phải là do những tác động sinh lý của một chất nào đó.
H Cùng tồn tại rối loạn tâm thần và hành vi tình trạng bệnh lý không giải thích thỏa đáng than phiền chủ yếu của chứng mất ngủ.
Bệnh nhân mất ngủ thỏa tiêu chuẩn hai thể Tâm tỳ hư, Tâm thận bất giao mất ngủ theo YHCT [5], [10], [14], [20].
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán hai thể mất ngủ theo YHCT
Tâm Tỳ hư Tâm Thận bất giao
Vọng Sắc mặt úa vàng, lưỡi nhạt bệu, rêu mỏng
Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu
Văn Tiếng nói nhỏ Tiếng nói nhỏ, rõ, hơi thở không hôi
Hồi hộp hay quên, ngủ ít hay mê, dễ tỉnh giấc, mệt mỏi ăn không ngon miệng, đại tiện nhão.
Bứt rứt khó ngủ, ù tai, chóng mặt, hay quên, đau lưng, tiểu đêm nhiều lần, triều nhiệt đổ mồ hôi trộm.
Thiết Mạch tế nhược Mạch tế sác
Bệnh nhân có một trong các yếu tố sau:
✓ Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
✓ Có tiền căn các bệnh ngủ lịm (ngủ ngày quá mức), rối loạn giấc ngủ do hô hấp, rối loạn nhịp thức - ngủ hàng ngày (ngủ sớm và dậy sớm hơn bình thường hoặc ngủ trễ và dậy trễ hơn bình thường), bệnh tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu lan tỏa hoặc mê sảng.
✓ Nguyên nhân mất ngủ do rượu, các chất gây nghiện, caffeine.
✓ Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc chống trầm cảm, thuốc tâm thần, thuốc ngủ (lithium, benzodiazepam …), glucocorticoid, kháng histamine.
✓ Mất ngủ có nguyên nhân thực thể.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng, đo lường lặp lại, ngẫu nhiên, có nhóm chứng.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
- Nhóm can thiệp: nhĩ châm các huyệt Thần môn, Tâm, Vùng dưới đồi, Tỳ, Thận kết hợp với thể châm Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
- Nhóm chứng: thể châm các huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
Công thức so sánh trung bình với hệ số đã biết:
Trong đó: α: là sai lầm loại 1 β: là sai lầm loại 2 μ1, μ2 lần lượt là trung bình của nhóm 1 và nhóm 2 σ1, σ2 lần lượt là độ lệch chuẩn của nhóm 1 và nhóm 2 r: là tỉ số mẫu trong 2 nhóm
Dựa vào số trung bình của nghiên cứu Chyi Lo (2013), chúng tôi sử dụng trung bình của từng thành phần trong thang điểm PSQI để lựa chọn cỡ mẫu khả thi nhất với nghiên cứu lần này [41].
Sai lầm loại 1 và 2 lần lượt là 0,05 và 0,2
Trung bình và độ lệch chuẩn của chất lượng ngủ ở 2 nhóm là
Nhóm 2 (nhóm can thiệp): 0,80 ± 0,56 r là 1
Từ những dữ liệu trên thì cỡ mẫu ước tính tối thiểu cho mỗi nhóm là 27 Ước tính sai số 10% nên cỡ mẫu tối thiểu trong mỗi nhóm là 30.
2.2.3 Các biến số nghiên cứu [19]
Thang điểm PSQI: là biến số định lượng, đơn vị là điểm.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Số giờ ngủ: là biến số định lượng, đơn vị là giờ, tổng thời gian bệnh nhân ngủ được mỗi đêm (giờ).
Thời gian đi vào giấc ngủ: là biến số định lượng, đơn vị là phút, thời gian từ lúc bắt đầu lên giường ngủ đến lúc ngủ (phút).
Số lần thức giấc mỗi đêm: là biến số định lượng, đơn vị là số lần, số lần thức giấc tính từ sau khi bệnh nhân rơi vào giấc ngủ đến lúc thức dậy sau cùng.
Hiệu quả giấc ngủ (%) = số giờ ngủ/ số giờ nằm trên giường x 100%.
Tác dụng không mong muốn nhĩ châm bao gồm:
Chảy máu: là biến nhị giá, có hay không có chảy máu.
Nhiễm trùng: là khi da vùng được nhĩ châm đỏ, ngứa, đau… gồm hai giá trị có và không có nhiễm trùng.
Vựng châm: là khi vừa châm kim xong, người bệnh bỗng nhiên cảm thấy khó chịu, hoa mắt, buồn nôn, tay chân lạnh, toát mồ hôi, trụy tim mạch, có khi bị ngất. Gồm hai giá trị, có hay không có vựng châm.
Tuổi: là biến định lượng liên tục, được tính từ năm sinh cho đến thời điểm bệnh nhân đến điều trị.
Giới tính: là biến định tính gồm 2 giá trị nam và nữ.
Nghề nghiệp: là biến định tính chia làm 3 nhóm [19]
- Lao động chân tay là những người làm các công việc đơn giản, trực tiếp sản xuất tạo ta sản phẩm, không cần bằng cấp hoặc bằng cấp thấp như công nhân, nông dân, thợ thủ công, thợ xây dựng…
- Lao động trí óc là những người làm các công việc đòi hỏi có bằng cấp, trình độ học vấn như kĩ sư, bác sĩ, nhân viên văn phòng, quản lý, nhà báo, luật sư…
- Hưu trí: nam từ 60 tuổi và nữ từ 55 tuổi trở lên.
Tình trạng hôn nhân: là biến định tính, gồm có 2 nhóm: độc thân (chưa từng kết hôn), đã kết hôn [19].
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
- Nhóm chứng: thể châm các huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
- Nhóm can thiệp: thể châm các huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao và nhĩ châm các huyệt Thần môn, Vùng dưới đồi, Tâm, Tỳ, Thận.
Bác sĩ nghiên cứu sẽ khám và chọn bệnh theo tiêu chuẩn DSM - V TR, đánh giá các chỉ số giấc ngủ giấc ngủ Hướng dẫn tập thư giãn (Phụ lục 5) và các thay đổi các thói quen để có giấc ngủ tốt (Phụ lục 4).
Bác sĩ nghiên cứu đánh giá các chỉ số theo dõi: tổng thời gian ngủ, thời gian từ khi lên giường đến khi ngủ, số lần thức giấc trong đêm, hiệu quả giấc ngủ, thang điểm PSQI.
Bốc thăm để được phân nhóm, có 60 lá thăm nằm trong phong bì đục, 30 lá thăm đánh số 1, 30 lá thăm đánh số 2 Sau khi bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu thì bệnh nhân sẽ tiến hành bốc thăm, thăm số 1 bệnh nhân sẽ vào nhóm chứng, thăm số
2 bệnh nhân sẽ vào nhóm can thiệp.
Nhóm chứng: được điều trị bằng thể châm huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
Nhóm can thiệp: được điều trị bằng thể châm huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao kết hợp với nhĩ châm các huyệt Thần môn, Vùng dưới đồi, Tâm, Tỳ, Thận.
Bệnh nhân nằm ở tư thế thoải mái.
Xác định huyệt: tiến hành lấy huyệt các huyệt Nội quan, Thần môn, Tam âm giao theo phương pháp lấy đồng thân thốn của Y học cổ truyền [12].
Sát trùng da vùng châm.
Châm bổ: châm kim nhanh qua da thuận chiều đường kinh vào đúng giữa huyệt, từ từ đẩy kim tới huyệt, vê kim nhẹ nhàng cho đến khi đạt được cảm giác “đắc khí” (bệnh nhân có cảm giác tê, tức Thầy thuốc dùng ngón tay lay nhẹ vào đốc kim cảm thấy kim bị mút chặt).
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Dùng tần số bổ 3 - 6 Hz (180 - 360 xung/phút).
Cường độ kích thích: được tăng dần từ 0 - 100μA, tức là tới ngưỡng bệnh nhân chịu được.
Thời gian kích thích: 20 phút.
Liệu trình điều trị: 2 liệu trình, mỗi liệu trình là 10 ngày Thể châm ngày 1 lần. Nghỉ thứ bảy, chủ nhật (1 tuần 5 lần). Đánh giá thang điểm PSQI và số lần thức giấc trước khi điều trị, sau điều trị 14,
Bệnh nhân nằm ở tư thế thoải mái.
Xác định huyệt: tiến hành lấy huyệt các huyệt Tam âm giao, Nội quan, Thần môn theo phương pháp lấy đồng thân thốn của YHCT [12] và huyệt vùng loa tai theo lý luận YHCT [4], [6].
Sát trùng da vùng châm.
Vùng loa tai, xác định huyệt sau đó nhĩ hoàn vào vị trí huyệt một bên tai đã được xác định, để cố định 5 ngày, sau 5 ngày luân phiên thay đổi tai còn lại, mỗi tuần 1 lần nhĩ châm Nhĩ hoàn chia làm 4 liệu trình, mỗi liệu trình là 5 ngày.
Châm bổ: châm kim nhanh qua da hướng kim thuận chiều đường kinh vào đúng giữa huyệt, từ từ đẩy tới huyệt, vê kim nhẹ nhàng cho đến khi đạt được cảm giác “đắc khí” (bệnh nhân có cảm giác tê, tức Thầy thuốc dùng ngón tay lay nhẹ vào đốc kim cảm thấy kim bị mút chặt).
Dùng tần số bổ 3 - 6 Hz (180 - 360 xung/phút).
Cường độ kích thích: được tăng dần từ 0 - 100μA, tới ngưỡng bệnh nhân chịu được.
Thời gian kích thích: 20 phút.
Liệu trình điều trị: 2 liệu trình, mỗi liệu trình là 10 ngày Thể châm ngày 1 lần.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
30 Đánh giá thang điểm PSQI và số lần thức giấc trước khi điều trị, sau điều trị 14,
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 2.2.6 Phương tiện nghiên cứu
- Kim châm cứu: là kim có đường kính 0,3 mm, chiều dài 2,5 cm.
Hình 2.1 Kim châm cứu sử dụng trong nghiên cứu
Mất ngủ không thực tổn
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu
60 bệnh nhân qua thăm khám phù hợp tiêu chuẩn được chia làm hai nhóm:
Các tác dụng phụ không mong muốn bao gồm: chảy máu, nhiễm trùng, vựng châm. Chúng tôi không ghi nhận bất kì tác dụng phụ không mong muốn nào ở tất cả 60 bệnh nhân trong cả ba thời điểm can thiệp.
Bảng 3.1 Đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu
Thời gian mắc bệnh (tháng) 29,03 ± 34,17 24,53 ± 31,7 33,53 ± 36,46 0,311
- Sự khác biệt về phân bố độ tuổi giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
- Nghiên cứu này có số lượng nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ nữ : nam = 1,6 : 1 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về phân bố giới tính giữa hai nhóm nghiên cứu (p > 0,05).
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
- Nhóm nghề lao động trí óc chiếm tỉ lệ cao nhất trong mẫu nghiên cứu Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố nghề nghiệp giữa hai nhóm nghiên cứu (p > 0,05).
- Tỉ lệ người có vợ/chồng chiếm đa số ở hai nhóm nghiên cứu (88%) Sự khác biệt về tình trạng hôn nhân không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu (p > 0,05).
- Thời gian mắc bệnh trung bình của cả hai nhóm là khoảng 29 tháng Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian mắc bệnh giữa hai nhóm nghiên cứu (p > 0,05).
- Thể Tâm Thận bất giao chiếm đa số (83,3%) Sự khác biệt về phân bố các thể lâm sàng của mất ngủ theo YHCT không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng giấc ngủ tại thời điểm khởi trị
Bảng 3.2 Đặc điểm lâm sàng giấc ngủ tại thời điểm khởi trị
Thời gian vào giấc (phút) 95,25 ± 49,55 107,50 ± 50,46 83,00 ± 46,25 0,034
Số lần thức giấc (lần) 5,00 ± 2,46 4,40 ± 2,40 5,60 ± 2,42 0,036 Điểm PSQI 14,90 ± 1,51 14,73 ± 1,62 15,07 ± 1,41 0,333
Rối loạn trong giấc ngủ 1,00 ± 0,00 1,00 ± 0,00 1,00 ± 0,00 1
Rối loạn chức năng ban ngày 2,68 ± 0,70 2,67 ± 0,71 2,70 ± 0,70 0,773
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
- Vào lúc bắt đầu nghiên cứu, thời gian vào giấc ở nhóm can thiệp (nhóm có nhĩ châm) ngắn hơn nhóm chứng (thể châm đơn thuần) có ý nghĩa thống kê (p 0,034).
- Tại thời điểm khởi trị, số lần thức giấc ở nhóm can thiệp (có nhĩ châm) cao hơn nhóm chứng (thể châm đơn thuần) có ý nghĩa thống kê (p = 0,036).
- Các thông số khác tương đương ở hai nhóm.
So sánh sự thay đổi thành phần thang điểm PSQI trước và sau can thiệp
Bảng 3.3 Thời gian vào giấc trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm Thời gian vào giấc (phút) Nhóm can thiệp (n0) Nhóm chứng (n0)
- Thời gian vào giấc giảm rõ rệt ở nhóm can thiệp lẫn nhóm chứng qua từng thời điểm.
- Qua từng thời điểm sau can thiệp, thời gian vào giấc ở nhóm can thiệp giảm nhiều hơn nhóm chứng.
Bảng 3.4 Điểm số thời gian vào giấc trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm Thời gian vào giấc (điểm) Nhóm can thiệp (n0) Nhóm chứng (n0)
- Tương tự với thời gian vào giấc, điểm số của thời gian vào giấc tính theo thang PSQI cũng giảm dần qua từng thời điểm ở mỗi nhóm.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
- Trong cùng một thời điểm, điểm số ở nhóm can thiệp cũng thấp hơn ở nhóm chứng.
Biểu đồ 3.1 Sự khác biệt thời gian vào giấc trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm
- Thời gian vào giấc ở cả hai nhóm đều giảm có ý nghĩa thống kê theo thời gian (p < 0,001).
- Tại thời điểm nền, do thời gian vào giấc ở nhóm can thiệp đã thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,001) nên sau 28 ngày điều trị, sự khác biệt này vẫn được duy trì (p = 0,0049).
3.2.2 So sánh số giờ ngủ trung bình mỗi đêm của hai nhóm
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Bảng 3.5 Số giờ ngủ trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm
Số giờ ngủ (giờ) Nhóm can thiệp (n0) Nhóm chứng (n0)
- Số giờ ngủ tăng lên rõ rệt ở nhóm can thiệp lẫn nhóm chứng qua từng thời điểm.
- Lúc bắt đầu can thiệp, nhóm có nhĩ châm có số giờ ngủ thấp hơn nhóm chứng, tuy nhiên sau 28 ngày điều trị thì số giờ ngủ của nhóm can thiệp tăng gấp đôi so với lúc bắt đầu và số giờ ngủ sau 28 ngày thì nhiều hơn nhóm chứng.
Bảng 3.6 Điểm số số giờ ngủ trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm
Số giờ ngủ (điểm) Nhóm can thiệp (n0) Nhóm chứng (n0)
- Tương tự với số giờ ngủ, điểm số của số giờ ngủ tính theo thang PSQI cũng giảm dần qua từng thời điểm ở mỗi nhóm.
- Mặc dù lúc bắt đầu điều trị, điểm số của nhóm can thiệp cao hơn nhóm chứng, tuy nhiên sau 28 ngày điều trị thì nhóm can thiệp giảm điểm số số giờ ngủ thấp hơn nhóm chứng.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Biểu đồ 3.2 Sự khác biệt số giờ ngủ trung bình mỗi đêm của hai nhóm qua từng thời điểm
- Số giờ ngủ ở mỗi nhóm tăng lên qua từng mốc thời gian kể từ khi can thiệp.
Sự khác biệt giữa hai thời điểm ở mỗi nhóm đều có ý nghĩa thống kê (p 85%=0; 75%- 84%=1; 65%-74%=2; < 65%=3)
(VII) (Điểm mục 8 + Điểm mục 9 (0=0; 1-2=1; 3-4=2; 5-6=3) Điểm tổng chung
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
HƯỚNG DẪN CƠ BẢN ĐỂ CÓ GIẤC NGỦ TỐT
• Đi ngủ cùng một thời điểm vào mỗi buổi tối và thức dậy cùng một thời đểm vào buổi sáng
• Tránh vận động quá sức trước khi đi ngủ
• Tránh ngủ quá trưa hay chiều
• Tránh ăn quá nhiều trước khi đi ngủ
• Không nên lo lắng khi đi ngủ
• Nếu khó ngủ có thế tắm bằng nước ấm trước khi ngủ
• Chỉ sử dụng giường để ngủ, không đọc sách báo, xem tivi, hoặc học hành trên giường
• Đảm bảo phòng ngủ yên tĩnh, mát mẻ
• Tránh ngủ quá giờ hoặc cố gắng nằm trên giường khi đã ngủ đủ giấc
• Làm một việc gì đó nếu khó ngủ
• Tránh những công việc năng động như vệ sinh nhà, giặt ủi, đọc sách có thể làm bạn tỉnh ngủ
• Nên làm những công việc buồn chán khi bạn không thể ngủ
• Ăn một ít bánh không ngọt và ít tinh bột nếu thấy khó ngủ
• Đừng quá quan tâm bạn có buồn ngủ hay không vì đôi khi quan tâm điều đó cũng đủ làm bạn mất ngủ
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
HƯỚNG DẪN TẬP THƯ GIÃN
Tập bài tập 10 - 20 lần (10 - 20 hơi thở) vào buổi tối trước khi đi ngủ
TƯ THẾ: Nằm che mắt ở nơi yên tĩnh để tránh các kích thích từ môi trường bên ngoài
Bước 1: Ức chế ngũ quan
Bước 2: Tự nhủ cho cơ mềm ra, giãn ra; tự nhủ thầm từng nhóm cơ vùng đầu mặt mềm ra, giãn ra, rồi đến từng nhóm cơ vùng cổ gáy, vùng lồng ngực, vùng cánh tay, cẳng tay, ngón tay, bàn tay Tiếp theo đến nhóm cơ vùng bụng hông, vùng đùi bắp chân, bàn chân, ngón chân Sau đó nhủ thầm toàn thân mềm ra, giãn ra, nghỉ ngơi hoàn toàn, và ta có cảm giác toàn thân nặng xuống là do cơ vân giãn tốt, và ấm lên là do cơ trơn mạch máu giãn xuống dần đến ngón chân, một cách từ từ chắc chắn, toàn thân nặng xuống và ấm dần lên
Bước 3: Theo dõi hơi thở 10 lần, thở thật êm, nhẹ, đều, nông
TÁC DỤNG: Luyện quá trình ức chế của hệ thần kinh, luyện nghỉ ngơi chủ động
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
BẢN THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ CHẤP THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả điều trị mất ngủ bằng phương pháp nhĩ châm các huyệt Thần môn, Vùng dười đồi, Tâm, Tỳ, Thận kết hợp với thể châm các huyệt Thần môn, Tam âm giao, Nội quan trên bệnh nhân mất ngủ không thực tổn
1 Người thực hiện: Ngô Quang Vinh – Bác sỹ nội trú Y học cổ truyền
Email: nqvinh7992@gmail.com ĐT: 0374043478
2 Thông tin ngắn gọn đề tài
Nhĩ châm là phương pháp trị liệu có cơ sở lý luận được đề cập trong các tài liệu kinh điển và cũng được ghi nhận bởi các y gia từ thời cổ đại
Năm 1962 nhĩ châm được hình thành tại Châu Âu bởi bác sỹ P Nogier, ngày nay nhĩ châm được sử dụng nhiều trên thế giới trong đó có cả Việt Nam
Hiệu quả điều trị của nhĩ châm đã được chứng minh qua rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có bệnh lý mất ngủ