Đối với tôn giáo và công tác tôn giáo, bên cạnh việc nghiên cứu, tổng kết hoạt động tôn giáo trong nước, thiết nghĩ việc nghiên cứu những giá trị phổ biến về hoạt động tôn giáo, tham khả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ
VÀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN
CÓ Ý NGHĨA THAM KHẢO
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS VŨ VĂN NHIÊM
TP HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ
VÀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN
CÓ Ý NGHĨA THAM KHẢO
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS VŨ VĂN NHIÊM
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO VÀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO 11
1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc của tôn giáo 11
1.1.2 Bản chất và chức năng của tôn giáo 19
1.1.3 Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo 22
1.1.4 Vai trò (tính tích cực và mặt trái) của tôn giáo 29
1.1.5 Quyền tự do tôn giáo 32
1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÔN GIÁO VÀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ 43
1.2.1 Nơi lánh nạn tôn giáo và sự đa dạng về tôn giáo ở nước Mỹ thời kỳ lập quốc 43
1.2.2 Phong trào thức tỉnh và tôn giáo phục hưng ở Mỹ 49
PHẦN 2: THỰC TIỄN VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ 2.1 KHÁI QUÁT VỀ THỰC TIỄN TÔN GIÁO VÀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ 62
2.1.1 Sự đa dạng về tôn giáo ở nước Mỹ 62
2.1.2 Vai trò của quyền tự do tôn giáo trong xã hội Mỹ 67
2.1.3 Luật Quyền công dân năm 1964 - Một đạo luật cụ thể hóa các quyền (nói chung), quyền tự do tôn giáo (nói riêng) 69
2.2 CÁC PHÁN QUYẾT QUAN TRỌNG CỦA TÕA ÁN BẢO VỆ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO 72
2.2.1 Thẩm phán Hugo L Black trong vụ Everson kiện Sở giáo dục (1947) 75
2.2.2 Thẩm phán Hugo L Black, trong vụ Engel kiện Vitale (1962) 77 2.2 3 Chánh án Tòa án Tối cao Morrison R Waite trong vụ Renolds
Trang 4kiện Hoa Kỳ (1879) 83
2.2.4 Thẩm phán Robert H Jackson, trong vụ Sở Giáo dục Tây Virginia kiện Barnette (1943) 86
PHẦN 3: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN CỦA QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM 3.1 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ 89
3.1.1 Quyền tự do tôn giáo Mỹ bị chính trị lợi dụng, là công cụ tư tưởng của giai cấp tư sản Mỹ 89
3.1.2 Những thách thức trong việc thực hiện quyền tự do tôn giáo 95
3.1.3 Chính giáo phân ly khó có thể thực hiện triệt để trong thực tiễn 98
3.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ Ý NGHĨA THAM KHẢO VÀ GỢI MỞ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 103
3.2.1 Đổi mới nhận thức về tôn giáo, quyền tự do tôn giáo và chính sách đối với quyền tự do tôn giáo 103
3.2.2 Vai trò của quyền tự do tôn giáo đối với đoàn kết dân tộc và xây dựng đồng thuận xã hội 109
3.2.3 Quyền tự do tôn giáo với đời sống xã hội công cộng 111
3.2.4 Quyền tự do tôn giáo với khoan dung và phục vụ xã hội 115
3.2.5 Tôn giáo với việc điều chỉnh hành vi con người, phát huy các giá trị và chuẩn mực xã hội 120
3.2.6 Quyền tự do tôn giáo với kinh doanh thương mại 124
3.2.7 Quyền tự do tôn giáo với giáo dục 127
3.2.8 Quyền tự do tôn giáo với văn hóa, an ninh và sự phát triển 130
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa cho đến nay, tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp và nhạy cảm Thực tiễn lịch sử ở nhiều khu vực và nhiều quốc gia trên thế giới đã cho chúng ta thấy rằng, không có gì gắn kết con người với nhau chặt chẽ như tôn giáo, nhưng có
lẽ cũng không có gì gây chia rẽ, phân ly và lòng hận thù một cách đáng sợ như tôn giáo
Một trong những nội dung quan trọng trong Báo cáo về chương trình Thiên niên kỉ của Liên hợp quốc (2002) về “Mục tiêu cụ thể nhưng có tính chiến lược to lớn của nhân loại mang tinh thần nhân văn cao cả của thiên niên kỉ này, đến năm 2052” là “xóa tận gốc sự chia rẽ tôn giáo, dân tộc, để chung sống hòa bình” 1 Báo cáo tổng kết tại Hội nghị khoa học Quốc tế “Bước đầu trao đổi: Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á” năm 2006 đã kết luận: Thực tế là, trong đời sống tôn giáo ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới hiện nay, việc giải quyết vấn đề tôn giáo
và pháp quyền còn nhiều thách đố Các quốc gia ở Đông Nam Á dường như đều có những nỗ lực để hướng tới việc ngày càng đảm bảo tốt hơn cho quyền tự do tôn giáo của công dân mỗi nước Mặt khác, tính đa dạng và những đòi hỏi của hệ thống Công ước quốc tế về quyền tự do tôn giáo, nhân quyền đang đặt ra những thách thức mới trong việc giải quyết mối quan hệ tôn giáo với pháp quyền ở mỗi nước2
Tại Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa
X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp
Trang 6của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3
Chính vì thế, trong mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, việc nhận thức và xử lý đúng đắn vấn đề tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo để phát huy những yếu tố tích cực trong các tín ngưỡng tôn giáo, là góp phần quan trọng trong việc xây dựng đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Xây dựng lý luận về công tác tôn giáo ở mỗi nhà nước nói chung, ở Việt Nam nói riêng không thể không tính đến các thành tựu lý luận, kinh nghiệm thực tiễn ở các quốc gia trên thế giới Tuy có sự khác nhau về thể chế chính trị, về bản chất giai cấp của từng chế độ nhà nước, các hình thức tổ chức nhà nước phổ biến trên thế giới trong thời đại ngày nay vẫn chứa đựng không ít yếu tố hợp lý, nhìn từ góc độ quyền lực nhân dân, quyền con người và mục tiêu dân chủ Nghiên cứu tiếp thu một cách cầu thị, có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức của các nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa có tính dân tộc, vừa có tính hiện đại là rất cần thiết Tư duy mới đòi hỏi không chỉ đòi hỏi đổi mới về nhận thức, khắc phục tính lý luận chung chung, mà cần nhận diện được các yếu tố nội hàm của từng vấn đề, để từ đó chuyển các nguyên tắc, các vấn đề chính trị, xã hội thành nội dung pháp lý4 Đối với tôn giáo và công tác tôn giáo, bên cạnh việc nghiên cứu, tổng kết hoạt động tôn giáo trong nước, thiết nghĩ việc nghiên cứu những giá trị phổ biến về hoạt động tôn giáo, tham khảo những mô hình tôn giáo của các nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển, như tôn giáo nước Mỹ, là việc làm có ý nghĩa
Mặt khác, cần phải thấy rằng, nước Mỹ luôn chiếm vị trí siêu cường trên thế giới trong suốt thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI Ngày nay, Mỹ vẫn là cường quốc số một, có vai trò quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới về kinh
tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, quân sự; ngoại giao…Việt Nam cũng không phải là
Trang 7ngoại lệ; đặc biệt, vào năm 2000, Việt Nam và Mỹ đã ký kết hiệp định Thương mại
Rõ ràng, dù muốn hay không, chỉ có thể trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp và toàn diện về nước Mỹ mới có thể hiểu được bản chất gốc rễ, nhận thức được qui luật và
dự báo xu thế phát triển của nước Mỹ và chủ nghĩa tư bản Mỹ Trên cơ sở đó, chúng
ta mới có thể hoạch định chính sách một cách đúng đắn, khoa học và bảo vệ được lợi ích khi thiết lập quan hệ và làm ăn với nước Mỹ Nghiên cứu về tôn giáo nước
Mỹ là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện định hướng đó5
Bên cạnh đó, nghiên cứu về nước Mỹ, một phương diện khó có thể thiếu được, đó chính là tôn giáo nước Mỹ Nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng người Trung Quốc Lưu Bành, tác giả của cuốn sách “Tôn giáo Mỹ đương đại” cho rằng, bức tranh về nước Mỹ sẽ không hoàn chỉnh, nếu thiếu gam màu về tôn giáo6
Thực
ra, nếu quan sát và để ý một chút về nước Mỹ, sẽ không khó nhận thấy tôn giáo cắm
rễ rất sâu vào xã hội Mỹ Trên đồng tiền giấy của Mỹ có in dòng chữ “IN GOD WE TRUST” (Chúng tôi tin tưởng nơi Chúa); trong Quốc ca nước Mỹ có câu “Chúa phù hộ nước Mỹ” Tổng thống Mỹ nhậm chức, khi tuyên thệ phải đặt tay lên cuốn Kinh Thánh Cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, mỗi kỳ họp đều phải tiến hành cầu nguyện (do một mục sư của Nghị viện chủ trì) Trong quân đội Mỹ có mục sư, linh mục hoặc các nhân viên chức sắc các tôn giáo khác cùng đi theo, mặc quân phục sĩ quan, làm công việc phục vụ sinh hoạt tôn giáo trong quân đội Mỹ Trong các trường học nước Mỹ có rất nhiều những đoàn thể tôn giáo của học sinh hoạt động Trong bệnh viện, nhà tù, sân bay, nơi công cộng và các tổ chức quần chúng đều có sự hiện diện của nhân viên chức sắc tôn giáo chuyên trách hoặc kiêm chức đảm nhiệm công việc phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo của công chúng Hơn 85% học sinh ở các trường trung học, tiểu học dân lập nước Mỹ đều học tập ở các trường của Giáo hội thành lập Nhiều trường đại học nổi tiếng nước Mỹ ban đầu đều do Giáo hội sáng lập, như Đại học Havard, Đại học Yale, Đại học Princeton… Đại đa số
5 Tư duy theo hướng này, Trung Quốc đang huy động giới trí thức và các chuyên gia trên các lĩnh vực tiến hành biên soạn bộ sách “Nước Mỹ đương đại tùng thư” gồm 10 cuốn sách nghiên cứu sâu về 10 phương diện khác nhau về nước Mỹ (kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, pháp luật, tôn giáo, xã hội, văn hóa, giáo dục
Trang 8các hôn lễ của người Mỹ được tổ chức trong các nhà thờ; các đám tang thì do các mục sư hoặc linh mục chủ trì Có thể nói rằng, mọi phương diện đời sống của người dân Mỹ đều có quan hệ mật thiết với tôn giáo, đúng như nhà thần học nổi tiếng người Mỹ, Nieburh đã nói “nước Mỹ là quốc gia thế tục nhất thế giới, đồng thời cũng là quốc gia có tính tôn giáo mạnh nhất”7 Như vậy, để tìm hiểu toàn diện về nước Mỹ, khó có thể bỏ qua vấn đề tôn giáo Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay những công trình nghiên cứu về tôn giáo nước Mỹ, đặc biệt dưới góc độ pháp lý còn rất ít ỏi
Với những lý do như phân tích ở trên, đề tài “Quyền tự do tôn giáo ở Mỹ và
một số giá trị phổ biến có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam” là một công trình
nghiên cứu rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ góc độ nghiên cứu lý luận tôn giáo, một số học giả đã bàn đến tôn giáo ở
Mỹ Một số tác phẩm tiêu biểu như: Gustav Niebuhr, Phó Giáo sư về tôn giáo tại Đại học Syracuse, New York với cuốn sách khá nổi tiếng “Vượt trên tinh thần khoan dung: Tìm đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa các tín ngưỡng ở Hoa Kỳ” (Beyond Tolerance: Searching for Interfaith Understanding in America); Melvin Urofsky với
ấn phẩm “Các quyền con người được Hiến pháp bảo đảm” Trung tâm Hoa Kỳ Phòng Thông tin-Văn hóa, Đại sứ quán Hoa Kỳ Tạp chí điện tử của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (eJournal USA -U.S Department of State) tháng 8/2008 đã công bố ấn phẩm “Tự do Tín ngưỡng: Các nhóm tôn giáo thiểu số ở Hoa Kỳ” (Freedom of Faith: Religious Minorities in the United States) Barbara Cohen với bài viết “Tôn giáo Mỹ thế kỉ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 – 2006 (Bản dịch của Hoàng Văn Chung) Francois Houtart (GS Đại học Louvain-la-Neuve, Bỉ), “Đối thoại giữa các nền văn minh vai trò quyết định của các nhân tố xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2005 Học giả người Trung
7
Gustav Niebuhr là Phó Giáo sư về tôn giáo tại Đại học Syracuse, New York Ông là tác giả cuốn sách khá nổi tiếng“Vượt trên tinh thần khoan dung: Tìm đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa các tín ngưỡng ở Hoa Kỳ” (Beyond Tolerance: Searching for Interfaith Understanding in America)
Xem: Gustav Niebuhr, Phong trào liên tôn giáo (The Interfaith Movement) (trong tác phẩm “Tự do Tín ngưỡng: Các nhóm tôn giáo thiểu số ở Hoa Kỳ” (Freedom of Faith: Religious Minorities in the United States), Tạp chí điện tử của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 8- 2008, tr.29-31
Trang 9Quốc Lưu Bành có tác phẩm “Tôn giáo Mỹ đương đại” (bản dịch tiếng Việt của Trần Nghĩa Phương, do Nxb Tôn giáo phối hợp với Nxb Từ điển bách khoa phát hành năm 2009 (đây là một trong 10 cuốn sách trong bộ sách “Nước Mỹ đương đại tùng thư” do Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn); Học giả Lý Bình Hoa với bài viết “Triển vọng phát triển của tôn giáo thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6 – 2005
Ở trong nước, cũng đã có một số bài viết về tôn giáo nước Mỹ được công bố, như: Nghiêm Văn Thái với bài viết “Tôn giáo ở Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
số 3 – 2001; Học giả Đỗ Quang Hưng với bài viết “Vài nhận biết về Tin Lành Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 – 2003; Nguyễn Văn Dũng, “Bước đầu tìm hiểu
vị trí của tôn giáo trong đời sống chính trị - xã hội Hoa Kỳ nửa sau thế kỉ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7 – 2007; Tác giả Hương Liên, “Bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2008: tranh luận xung quanh việc một ứng cử viên theo Giáo hội Mormons”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 – 2007; Nguyễn Duy Hinh với bài
“Tôn giáo với toàn cầu hoá và hiện đại hoá (Đối thoại cùng Samuel Huntington qua tác phẩm: Sự va chạm của các nền văn minh), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 – 2007; Tác giả Hoàng Văn Chung với bài viết “Quan điểm của một số học giả phương Tây về đa nguyên tôn giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5 – 2007
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, đã có một số các tác giả nghiên cứu về tôn giáo Mỹ, nhưng chưa nhiều Nghiên cứu tôn giáo ở Mỹ dưới góc độ pháp lý ở nước
ta lại càng ít ỏi Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu bao quát và chuyên sâu về tôn giáo Mỹ
Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Quyền tự do tôn giáo ở Mỹ và một số giá trị phổ biến có
ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam” là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt
Nam nghiên cứu về quyền tự do tôn giáo nước Mỹ
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Thông qua việc phân tích, lý giải về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ, mục đích trước hết, lớn nhất và bao trùm của đề tài nhằm cung cấp cho sinh viên và người đọc có cách nhìn tổng thể, hệ thống, mang tính khách quan, khoa học về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và một số khía cạnh thực tiễn về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ
Trang 10Dưới các góc nhìn khác nhau về tư duy nhận thức, xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, bảo vệ pháp luật, đề tài sẽ phân tích, làm rõ những kết quả, những mặt tích cực và những hạn chế về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ và liên hệ với vấn đề tôn
giáo ở Việt Nam Đề tài này không hướng đến việc nghiên cứu chi tiết, cụ thể về
quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam Mục đích lớn nhất và bao trùm của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống, mang tính khách quan, khoa học về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ Trên cơ sở đó, đề tài rút ra một số giá trị có ý nghĩa tham khảo trong
việc đổi mới quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích nói trên, đề tài có nhiệm vụ:
Phân tích cơ sở lý luận về tự do tôn giáo trong xã hội dân chủ: khái niệm tôn giáo; các chức năng của tôn giáo; mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước; khái niệm
tự do tôn giáo, tự do tôn giáo trong mối quan hệ với pháp luật
Phân tích cơ sở pháp lý về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ: các yếu tố quan trọng chi phối, tác động đến tự do tôn giáo ở Mỹ; Phân tích vai trò nền tảng pháp lý của Điều sửa đổi, bổ sung Thứ nhất Hiến pháp Mỹ đối với tự do tôn giáo ở nước này; đề cập khái quát các giai đoạn phát triển của tôn giáo nước Mỹ
Phân tích thực tiễn của quyền tự do tôn giáo ở Mỹ trên một số khía cạnh như các loại hình tôn giáo Mỹ; vai trò của tôn giáo và quyền tự do tôn giáo Mỹ trong xã hội Mỹ, tôn giáo Mỹ với các hoạt động chính trị; sự bảo vệ của Hiến pháp, thực tiễn các vụ kiện mang tính điển hình liên quan đến quyền tự do tôn giáo nước Mỹ
Từ cơ sở lý luận về tự do tôn giáo trong Phần 1, thực tiễn về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ trong Phần 2, Đề tài rút ra những hạn chế và những nội dung có ý nghĩa giá trị tham khảo đối với Việt Nam Phân tích những hạn chế về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ: nguyên tắc chính - giáo phân ly được qui định trong Hiến pháp nhưng khó có thể thực hiện triệt để trong thực tiễn; tôn giáo Mỹ bị chính trị lợi dụng và bị tác động bởi chính trị
Phân tích những giá trị phổ biến có ý nghĩa và giá trị tham khảo đối với Việt Nam: về cơ sở pháp lý; về vai trò của tôn giáo trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở một số các khía cạnh, vai trò của tôn giáo trong việc xây dựng đồng thuận xã hội, đối với kinh doanh, thương mại, giáo dục, đối với việc thức tỉnh tinh thần
Trang 11khoan dung Khía cạnh này có vai trò rất quan trọng trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
4 Giới hạn của đề tài
Vì tự do tôn giáo ở Mỹ gắn liền với lịch sử, chính trị, xã hội pháp lý nước
Mỹ, do đó, nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học như thần học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học… Công trình nghiên cứu này xem xét quyền tự do tôn giáo Mỹ dưới góc độ của khoa học pháp lý Tuy nhiên, vì tự do tôn giáo không chỉ thuần túy là vấn đề đức tin, đến nhân sinh quan và thế giới quan của từng cá nhân,
mà nó còn là những vấn đề mang tính chính trị, xã hội, pháp lý, đặc biệt là tính chính trị - pháp lý, do vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài, mặc dù chủ yếu nhìn nhận dưới lăng kính pháp lý, nhưng để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu, trong một số trường hợp, một số mục của đề tài, vấn đề có thể được tiếp cận dưới góc độ của khoa học chính trị và một số khoa học khác có liên quan, như thần học, tâm lý học,
xã hội học …
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đóng vai trò là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc nghiên cứu tất cả các vấn
đề trong đề tài Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là các quan điểm của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, trong đó có đổi mới về tôn giáo và công tác tôn giáo là cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề trong đề tài
Bên cạnh đó, trong xu thế toàn cầu hóa và sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào các diễn đàn quốc tế, những văn kiện quốc tế về quyền con người nói chung, về tự do tôn giáo nói riêng, như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (1948), đặc biệt là các công ước quốc tế của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã gia nhập như Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự năm1966 (có hiệu lực từ 23/3/1976, Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982)… sẽ được đề cập khi giải quyết một số vấn đề đặt ra trong đề tài Ngoài ra, những thành tựu lý luận và một số kinh nghiệm mà nhân loại đã đạt được về tôn giáo và tự do tôn giáo cũng được xem xét, chắt lọc khi phân tích, đối chiếu các vấn đề đặt ra trong đề tài
Trang 12Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích theo hệ thống, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài
Mác-Phương pháp phân tích, tổng hợp mang tính xuyên suốt toàn bộ đề tài Phương pháp phân tích thường được thể hiện: để làm sáng tỏ các vấn đề lớn, trước hết cần làm rõ các nội dung bên trong của nó Từ những vấn đề nhỏ, từng nội dung, từng tiểu mục, từng mục…, phương pháp tổng hợp sẽ góp phần làm rõ những nhiệm vụ đặt ra đối với từng chương và toàn bộ đề tài
Phương pháp phân tích theo hệ thống đặt vấn đề nghiên cứu trong một hệ thống, hệ thống này lại nằm trong hệ thống lớn hơn…Tất cả được đặt trong một chỉnh thể thống nhất Tự do tôn giáo không tồn tại độc lập, mà vận hành trong mối liện hệ tác động với các chế định khác của nền dân chủ Do vậy, đề cập tự do tôn giáo ở Mỹ hay bất cứ một quốc gia nào, phải đặt nó trong tổng thể lịch sử, văn hóa,
xã hội, tâm lý, phong tục, tập quán và thể chế chính trị của quốc gia đó
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn xem xét từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lịch sử, lý luận, pháp lý với thực tiễn tổ chức thực hiện Điều này có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt trong Phần 2 của đề tài Những vấn đề lý luận về tự
do tôn giáo cần được đặt trong thực tiễn, từng giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định Không phải tất cả những vấn đề lý luận về tự do tôn giáo được áp dụng thành công
ở Mỹ thì điều đó cũng hoàn toàn đúng đối với Việt Nam hay ngược lại
Phương pháp lịch sử đòi hỏi khi nghiên cứu tự do tôn giáo, phải đặt chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể Tôn giáo và quyền tự do tôn giáo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những quốc gia cụ thể Phương pháp này làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa sự vận động, phát triển của của nước Mỹ với sự vận động, phát triển của tôn giáo và quyền tự do tôn giáo Nói cách khác, tự do tôn giáo ở Mỹ ngày nay là kết cả của cả một quá trình vận động và phát triển của nước Mỹ Nếu liên hệ với Việt Nam, có thể thấy rằng cùng với sự
Trang 13thay đổi về điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, tự do tôn giáo ở Việt Nam cần đổi mới một cách thích ứng và hợp lý để đáp ứng việc thực hiện những nhiệm vụ chiến lược đó; đặc biệt, tự do tôn giáo phải là công cụ hữu hiệu để thực hiện những mục tiêu trong công cuộc đổi mới Phương pháp này thể hiện rõ nét trong Phần 1, Phần 3 của đề tài
Phương pháp so sánh được sử dụng trong đề tài để đối chiếu các vấn đề tương ứng trong tự do tôn giáo ở Việt Nam với tự do tôn giáo của Mỹ Trên cơ sở mối liên hệ cái chung với cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, giữa bản chất và hiện tượng, phương pháp này cho phép tìm ra những đặc điểm chung nhất của tự do tôn giáo nói chung, xu hướng phát triển của chúng cũng như những vấn đề mang tính đặc thù của tự do tôn giáo Việt Nam Mục đích của phương pháp so sánh, một mặt để thấy được những vấn đề thuộc về bản chất hoặc có tính độc đáo của tự do tôn giáo nước Mỹ, mặt khác cho phép chúng ta tham khảo, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý về tự do tôn giáo mang tính phổ quát ở Mỹ trong việc đổi mới tự do tôn giáo ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới Phương pháp so sánh xuyên suốt toàn bộ đề tài và có ý nghĩa rất quan trọng đối với công trình khoa học này
6 Ý nghĩa khoa học và điểm mới của Đề tài
Đề tài là một trong những chuyên khảo khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu cơ bản, toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ dưới góc độ khoa học pháp lý
Về mặt lý luận, đề tài làm rõ vai trò cơ sở lý luận và pháp lý của quyền tự do tôn giáo ở Mỹ; vai trò của quyền tự do tôn giáo trong xã hội Mỹ và gợi mở một số khía cạnh để tham khảo ở Việt Nam Đề tài chỉ rõ trong bất cứ nhà nước và xã hội nào, quyền tự do tôn giáo gắn với đời sống tâm linh, tinh thần của từng cá nhân, của những bộ phận xã hội nhất định và xa hơn là chấp nhận đa nguyên về tư tưởng Tự
do tôn giáo được thiết kế, xây dựng phải đặt trong một thể chế chính trị nhất định, không những thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần và tâm linh của từng cá nhân, từng nhóm người, mà cần phù hợp với những mục tiêu của nhà nước, cộng đồng và
cả hệ thống chính trị
Trang 14Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích, đánh giá tự do tôn giáo ở Mỹ, chỉ rõ tự do tôn giáo ở Mỹ không hoàn toàn màu hồng Bên cạnh các vai trò tích cực, tự do tôn giáo ở Mỹ giữa lý luận, pháp lý với thực tiễn vẫn còn có khoảng cách khá lớn Đạo Tin Lành với với tư cách là tôn giáo truyền thống của nước Mỹ vẫn thể hiện tầm ảnh hưởng và không thể thoát khỏi vòng kiểm tỏa của nền chính trị Mỹ Cuộc tranh luận xoay quanh chủ đề “rốt cuộc, thế nào là chính giáo phân ly ở nước Mỹ” vẫn chưa có hồi kết Tính hạn chế lịch sử của hai nguyên tắc chính giáo phân ly và tôn giáo tự do ở Mỹ, thậm chí đã làm cho bản thân các nguyên tắc đó lại trở thành một nguyên nhân tồn tại lâu dài mâu thuẫn chính giáo trong xã hội Mỹ
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về tự do tôn giáo, thực tiễn tự do tôn giáo ở
Mỹ, đề tài đưa ra một số vấn đề mang tính phổ biến có ý nghĩa tham khảo và mang tính gợi mở trong việc đổi mới tự do tôn giáo ở Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình không những có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa các thông tin, các quan điểm, các học thuyết về tự do tôn giáo của các học giả trên thế giới,
mà còn có ý nghĩa trong việc phát triển cơ sở lý luận về tự do tôn giáo và thực tiễn việc áp dụng nó tại nước Mỹ Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào kiến thức lý luận về tự do tôn giáo, về vai trò của tự do tôn giáo, nhất là trong việc xây dựng đồng thuận xã hội, giáo dục tinh thần khoan dung, nhân ái, làm việc thiện trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
Những vấn đề có ý nghĩa gợi mở trong đề tài là những vấn đề đáng được tham khảo khi nghiên cứu, nâng cấp Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo thành Luật tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta trong thời gian tới Ngoài ra, đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu và giảng dạy về xã hội học, về dân chủ, về quyền con người, quyền công dân, về nhà nước pháp quyền, về xã hội dân sự
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có: Mở đầu, Ba phần, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo Phần 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền tự do tôn giáo ở Mỹ;
Phần 2: Thực tiễn về quyền tự do tôn giáo Mỹ;
Trang 15Phần 3: Những hạn chế và những giá trị phổ biến của quyền tự do tôn giáo ở
Mỹ và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Trang 16PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO
VÀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở MỸ
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO
1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc của tôn giáo
1.1.1.1 Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo có mặt từ buổi bình minh của xã hội loài người Giới khoa học đã thống nhất có một thời kì rất dài con người chưa biết đến tôn giáo8 Theo Ph Ăngghen “Tôn giáo sinh ra từ thời đại hết sức nguyên thủy những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy thường là chung cho một tập đoàn dân cư, cùng dòng máu, sau lại phân chia ra, phát triển lên một cách riêng biệt ở mỗi dân tộc”9 Mặc dù là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử, đồng hành cùng con người trong tiến trình vận động và phát triển (ít nhất cho đến ngày nay), tuy nhiên, việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì?” mới chỉ được giới khoa học thực sự đặt ra trong thời gian gần đây, khi tôn giáo trở thành vấn đề được xã hội quan tâm
Từ “tôn giáo” trong tiếng Anh là “religion”, có nguồn gốc của nó từ tiếng Latinh là “relegare” hoặc “relegere” Từ “relegare” biểu thị “buộc lại với nhau”,
“liên kết với nhau”, hàm chứa ý nghĩa “đoàn kết” hoặc “liên kết hữu nghị”; từ
“relegere” biểu thị “luyện tập lặp đi lặp lại”, “thực hành khắc khổ”, nói chung là chỉ đặc điểm lặp đi lặp lại của nghi thức tôn giáo10
8 Đó là thời kì từ khi loài người ra đời, sống theo bầy nguyên thuỷ, chưa thành xã hội ổn định đến thời kì xã hội thị tộc – bộ lạc ra đời, kéo dài hàng triệu năm Tôn giáo chỉ ra đời cách đây 100.000 năm từ khi con người hiện đại Homo sapiens xuất hiện trong xã hội thị tộc – bộ lạc
Theo: Đặng Nghiêm Vạn, Bàn về tín đồ và tổ chức của một tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 –
Âu, vẫn dùng thuật ngữ với nội dung thích hợp với Châu Âu Do vậy, những định nghĩa các khái niệm
Trang 17Nội hàm của thuật ngữ này cũng có một quá trình biến đổi Hiện nay, có nhiều quan niệm, quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo
Vào những năm đầu công nguyên, khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó Khái niệm
“religion” lúc này là chỉ đạo Kitô Trong thời kỳ này, những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của Tin Lành – một đạo tách ra từ Công giáo, trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa Sau đó, cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi Châu Âu và với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, “religion” là thuật ngữ dần dần được dùng để chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới11
Khi dịch sang các ngôn ngữ khác, “religion” có những phiên bản khác nhau Chẳng hạn, nó được dịch thành “Tông giáo” ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII Tuy nhiên, ở Trung Hoa, thuật ngữ Tông giáo (vào thế kỷ XIII) lại hàm nghĩa chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật) Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo” 12
thường chưa thống nhất Tuy nhiên, ta buộc phải và phải dùng các thuật ngữ đó, vì tính phổ biến, nhưng cần
mở rộng hay thu hẹp cho đúng với thực tiễn đối tượng được nghiên cứu Tuy ta có thuật ngữ đạo, thờ cúng, nhưng vẫn phải dùng thuật ngữ tôn giáo
Theo: Đặng Nghiêm Vạn, Bàn về tín đồ và tổ chức của một tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 –
2003, tr 14
11 Mục “Phổ biến kiến thức” -Viện nghiên cứu tôn giáo
http://vnctongiao.org- module- news- ViewContent.asp?langid=2&ID=124, truy cập 5- 2- 2011
12 Mục “Phổ biến kiến thức” -Viện nghiên cứu tôn giáo
http:// vnctongiao.org- module- news- ViewContent.asp?langid=2&ID=124, truy cập 5- 2- 2011
Có một số từ gần nghĩa với tôn giáo được sử dụng, như - Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo”
không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo “Đạo” có thể hiểu
là con đường, học thuyết Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau
“đạo” Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…; -Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ
thể Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo Tuy nhiên “giáo” cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo (lời dạy của thầy dạy học) Có một điểm cần
chú ý là: thường không sử dụng từ “giáo” đối với tôn giáo mới phát sinh như Cao Đài, Hòa Hảo…; - Thờ:
đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng; cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, là tiến dâng, là cung phụng, là vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo Đối với người Việt, tôn giáo
Trang 18Tôn giáo là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học xã hội và là một vấn đề được bàn luận nhiều trong giới nghiên cứu Ngay định nghĩa về nó, cũng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người” E Tylor cho rằng tôn giáo là niềm tin vào các thực thể vô hình như thần thánh, ma quỷ, vong hồn… ; hay theo định nghĩa của E Durkheim “Tôn giáo là một hệ thống cố kết những tín ngưỡng và thực hành
có liên quan tới các sự vật linh thiêng, tức là những sự vật được tách riêng ra, bị cấm đoán, đó là những tín ngưỡng và thực hành nối kết tất cả những ai tin theo thành một cộng đồng gọi là giáo hội" Nhà xã hội học M Weber, trong tác phẩm Xã hội học tôn giáo lại viết: "Định nghĩa tôn giáo là cái gì là việc không thể vào phần khởi đầu của một công trình như công trình nghiên cứu này Nếu thật cần, có thể cố gắng đưa ra định nghĩa nhưng chỉ ở phần kết luận của cuộc nghiên cứu Bản chất của tôn giáo không phải là mối quan tâm của chúng ta khi xác định nhiệm vụ là nghiên cứu những điều kiện và ảnh hưởng của một loại hành vi xã hội đặc biệt"13 Theo định nghĩa của J Wach: “Tôn giáo là kinh nghiệm về cái thiêng” Hình thức tôn giáo rất đa dạng, đa dạng đến nỗi một vị có quyền uy trong Giáo hội Công giáo
đã có ý kiến phủ nhận Phật giáo như một tôn giáo, hoặc còn có ý kiến tranh cãi coi Nho giáo có phải là một hình thức tôn giáo hay không14
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng: Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu “anh” chưa từng cô đơn thì “anh” chưa bao giờ có tôn giáo
Dưới khía cạnh xã hội, C.Mác cho rằng “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” Nhìn nhận theo nguồn gốc, Ph.Ăngghen cho rằng “Tôn giáo là
sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày”
Không phải không có lí trong những văn bản buổi đầu mang tính pháp lí của
Hồ Chủ Tịch, Người không dùng chữ Tôn giáo Trong Chương trình Việt Minh do
theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo Thuật ngữ tôn giáo trong sinh hoạt đời thường ít được sử dụng
13 Nguyễn Xuân Nghĩa, Định nghĩa về tôn giáo và những hệ luận trong nghiên cứu quá trình thế tục hoá (nhìn
từ góc độ xã hội học), Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2002, tr.21-27
14 Đặng Nghiêm Vạn, Lại bàn về tôn giáo, Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 – 2004, tr.16-23
Trang 19Người biên soạn chính đã thể hiện rõ: “… 2 Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức; tự do tín ngưỡng” Trong bài thơ Mười chính sách của Việt Minh, Hồ Chí Minh viết: “… Hội hè, tín ngưỡng, báo chương Họp hành đi lại có quyền tự do” Chỉ một ngày sau khi tuyên bố Độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đã đề
ra Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo, Người đặt hẳn "Vấn đề thứ sáu: Thực dân và phong kiến tiến hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và Lương để dễ thống trị Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết" Tinh thần đó được ghi trong Hiến pháp năm 1946, trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, trong Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Sau ngày hoà bình lập lại (1954) Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo ngày 14 tháng 6 năm 1955 của Chủ tịch nước lại vẫn ghi ở Điều 1 khẳng định: Chính phủ đảm bảo quyền Tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Từ đó về sau Người có dùng thuật ngữ tôn giáo nhằm chỉ những ai mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác
Từ đó về sau, trong các văn bản mới thấy dùng thuật ngữ tín ngưỡng tôn giáo, có khi hai từ này để liền hoặc như gần đây để tách rời tín ngưỡng, tôn giáo15
Như vậy, khi nói đến tôn giáo, dù theo cách thể hiện hay ý nghĩa nào thì luôn luôn phải đề cập vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và
vô hình Tôn giáo trước hết phản ánh sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình, từ đó phải dựa vào thánh thần, Tuy nhiên, ở một góc độ khác, dù có phần ảo tưởng, nhưng tôn giáo gieo niềm hi vọng vào con người, để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
Ở Việt Nam hiện nay, vẫn phổ biến một quan điểm về tôn giáo theo loại hình tôn giáo của giáo hội, vẫn phân biệt tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian như là hai
15 Đặng Nghiêm Vạn, Tôn giáo hay tín ngưỡng?, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 – 2007, tr 3-13
Trang 20cấp độ phát triển, như nhận xét của một tác giả nghiên cứu tôn giáo: “Hiện nay, ở nước ta và một số nước dường như chỉ coi các hình thức tôn giáo nảy sinh ra từ xã hội có giai cấp, hay đúng hơn nữa là phải có tổ chức, giáo lí, giáo luật mới được coi
là tôn giáo”16 Thêm vào đó là những khó khăn về khoảng cách giữa những định nghĩa về tôn giáo có tính cách học thuật và thực tiễn thi hành chính sách tôn giáo Trong thời gian gần đây, những nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam cũng bàn luận
về định nghĩa tôn giáo bằng cách phê phán hay tán đồng định nghĩa của các tác giả nước ngoài như quan điểm của Trần Mạnh Đức17 hay nỗ lực đưa ra định nghĩa tôn giáo, như định nghĩa của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn: “đối tượng chung nhất của tôn giáo, Tây cũng như Đông, là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm giải lí những vấn đề trên trần thế, cũng như thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lí khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau”18
1.1.1.2 Nguồn gốc của tôn giáo
a Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người Tôn giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo
b Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu
Trang 21nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh
Tôn giáo xuất hiện rất sớm nhưng không có nghĩa là đồng thời với con người Vậy nếu nó là sản phẩm của lịch sử thì nó cũng không thể từ chối quy luật sinh – diệt, có nghĩa là cái gì đã sinh ra thì cái đó nhất định sẽ mất đi Đương nhiên, nếu loài người không còn tồn tại thì tôn giáo cũng chẳng có lí do gì để tồn tại Nhưng liệu có một ngày nào đó trong tương lai tôn giáo sẽ mất đi trong khi con người vẫn còn tồn tại hay không? Một bước tiến của nhận thức là một bước lùi của tôn giáo, nhưng cho dù nhận thức của nhân loại có phát triển đến đâu đi nữa thì khoa học vẫn luôn đứng trước cái chưa biết Cái chưa biết cho dù càng ngày càng thu hẹp đến đâu đi nữa thì cái chưa biết vẫn là vô hạn Khoa học dù có tiến bộ đến
Trang 22mấy cũng bao giờ có thể lấp đầy cái không thể biết Điều đó có nghĩa là khó có thể đẩy tôn giáo ra khỏi mảnh đất nhận thức được19
Nguyên nhân xã hội cũng là một nguyên nhân quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất sản sinh ra tôn giáo, nhất là trong xã hội có giai cấp Áp bức giai cấp là nỗi bất hạnh do chính con người gây ra Nhưng đó cũng chỉ là một trong những nỗi bất hạnh (cho dù là bất hạnh nhất), chứ không phải là nỗi bất hạnh duy nhất Hơn nữa, tôn giáo ra đời từ trước khi xã hội có giai cấp chứ không phải sau
đó Cho nên, dù cho trên thế gian này không còn bóng dáng của áp bức giai cấp nhưng nỗi khổ của con người cũng không phải vì vậy mà tan biến Chừng nào nhân loại còn khổ đau, chừng nào thế giới không có trái tim thì chừng đó tôn giáo vẫn còn là "trái tim của thế giới không có trái tim", chừng nào xã hội không có tinh thần thì lúc đó tôn giáo vẫn là "tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần", chừng nào chúng sinh còn thở dài thì lúc đó tôn giáo vẫn tồn tại, vẫn là hiện thân tất yếu của "tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức"20
Tâm lí sợ hãi cũng là nguyên nhân ra đời của tôn giáo Nhưng có bao giờ con người hết sợ hãi đâu! Con người sợ hãi trước tự nhiên, trước xã hội và sợ hãi cả bản thân mình Từ chỗ tự phát đến tự giác, từ chỗ mù quáng đến chỗ nhận thức chân lí,
từ vương quốc tất yếu đến vương quốc tự do Nhưng đến bao giờ con người mới có thể từ vương quốc tất yếu trở thành vương quốc tự do, đến bao giờ con người mới
có thể làm chủ hoàn toàn tự nhiên, xã hội và bản thân? Con người trước hết vẫn là con người tự nhiên, từ tự nhiên mà ra, cho nên xét về mặt bản thể luận, con người là khách thể, là thụ động, là tự nhiên được lập trình Con người không chỉ là khách thể
mà còn là chủ thể, chủ thể năng động, sáng tạo, thậm chí sáng tạo cả chính mình Con người luôn hướng đến vương quốc tự do, nhưng tự do luôn đi liền với tất yếu Nói cách khác, con người không bao giờ có thể làm chủ hoàn toàn một khi con người vẫn luôn tồn tại không gì khác hơn là khách thể Chỉ có cái chết mới chấm dứt mọi nỗi sợ hãi, nhưng cái chết lại là nỗi sợ hãi lớn nhất của con người21
c Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Trang 23Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm “Sự
sợ hãi sinh ra thần thánh” Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại - đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn ) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự kính trọng ), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó
Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới
Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia
và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi Có lẽ, không có gì cố kết một dân tộc mạnh bằng tôn giáo
và cũng không có gì chia rẽ sâu sắc các tộc người như tôn giáo22 Mặt khác, có thể nói rằng không có gì thúc đẩy niềm tin trong cả suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân như tôn giáo Nếu không nhìn nhận dưới góc độ tôn giáo, chúng ta khó có thể
lý giải về những hành vi xả thân (kể cả theo nghĩa tích cực như hy sinh cho dân tộc, hay theo nghĩa tiêu cực như đánh bom liều chết), đơn giản chỉ vì họ “tử vì đạo”
22
Đỗ Quang Hưng, Suy nghĩ về tự do tôn giáo và tự do tôn giáo ở Việt Nam, Nghiên cứu tôn giáo, số 5-
2007, tr 3
Trang 24Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới.23
1.1.2 Bản chất và chức năng của tôn giáo
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăng ghen đã nêu rõ “Tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”24 Ở đây, Ăng ghen đã giải đáp ba vấn đề cơ bản của tôn giáo: Tôn giáo là gì? Tôn giáo phản ánh gì? Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền Hê ghen-Lời nói đầu
mà C Mác viết vào cuối năm 1843, đầu năm 1844, tuy chỉ có mấy trang ngắn ngủi, song lại là bài viết thể hiện rõ nét nhất quan điểm của Mác về tôn giáo, trong đó có
luận điểm nổi tiếng cho đến nay vẫn còn gây tranh cãi, đó là: “Sự nghèo nàn của
tôn giáo, vừa là sự biểu hiện của khốn cùng hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn của hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” 25
Lê nin
23
Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy gồm có các dạng: + Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo
ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật
hoặc một đối tượng nào đó + Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy Đây là biểu
hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…) Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng
bói toán, tướng số ngày nay + Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ Bái vật
giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần
bí trú ngụ trong vật đó Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo Đó là sự thờ cúng các tượng
gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…+ Vật linh giáo : Là hình thức tôn
giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại
24
C Mác- Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 437
25 C Mác- Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 570
Trang 25coi “câu nói đó của Mác là hòn đá tảng của toàn bộ quan điểm của Mác về vấn đề tôn giáo”26
Cho đến nay, trên nhiều diễn dàn và trong sách báo trong và ngoài nước, luận điểm trên vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng luận điểm trên không phù hợp với sự thật lịch
sử: “Kết luận của Mác là không đúng, tôn giáo chưa bao giờ là thuốc phiện, mà chỉ
là chất men kích thích con người hành đông tích cực”27
Quan điểm thứ hai, cho rằng chỉ có hình thức tôn giáo thoái hóa nào đó mới
là thuốc phiện, chứ không phải mọi tôn giáo nói chung 28
Những người theo quan điểm thứ ba tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, nguồn gốc
ra đời luận điểm “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” mà C Mac đã đưa ra cách
đây hơn một thế kỷ rưỡi và cho rằng, trong hoàn cảnh lịch sử ấy câu nói của Mác không có hàm ý phê phán tôn giáo, mà tiêu biểu là S.V Rojo- một người mác xít người Chilê Trên cơ sở nghiên cứu rất kỹ lưỡng mệnh đề trên, ông có lối giải thích
khá thuyết phục: Tôn giáo là thuốc phiện “của” nhân dân, chứ không phải “với”
nhân dân “Cho đến mãi những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, từ “thuốc phiện” vẫn chưa có ý nghĩa như ngày nay (là chất để tổng hợp ma túy); nó là một thứ thuốc thông thường, thuốc giảm đau mà các thầy thuốc kê đơn Ngay Kant cũng dùng những từ này để chỉ những lời an ủi của những kinh mục đối với những lời hấp hối”
và nhận xét “Dù sao cách dùng này của C Mác thời ấy cũng không mang bóng dáng lên án nào, ngược lại nó xuất hiện trong hoàn cảnh của nó, như là đỉnh cao của một loạt những lập luận thực chứng về tôn giáo”29
26 V.I Lê nin, Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcva,1979, tr 511
27 Xem: Tạp chí triết học, số 3, tháng 10 năm 1992
Dẫn theo: Nguyễn Đức Lữ, Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về tôn giáo trước sự phát triển của thời đại ngày nay , Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10- 2008, tr.3-15
Dẫn theo: Nguyễn Đức Lữ, Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về tôn giáo trước sự phát triển của thời đại ngày nay , Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10- 2008, tr.3-15
28 Xem trong cuốn: Vấn đề phong thánh tử đạo và lịch sử dân tộc Việt Nam, Ủy ban Khoa học xã hội và Ban Tôn giáo Chính phủ, xuất bản năm 1988, tr.64
Dẫn theo: Nguyễn Đức Lữ, Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về tôn giáo trước sự phát triển của thời đại ngày nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10- 2008, tr.3-15
29 Xem: S.V Rojo, Tôn giáo, thuốc phiện của nhân dân và sự phản kháng chống lại khốn cùng thực tại tại các quan điểm của Mác và Lê nin (trong cuốn Về tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1994, tập 1), tr 239-
340
Trang 26Quan điểm thứ tư, tuy không nhiều là: chừng nào còn tồn tại thì tôn giáo vẫn
là thứ thuốc độc hại làm tha hóa con người
Loại quan điểm thứ năm, xét theo quan điểm chính trị, tích cực hay tiêu cực,
không phải bản thân tôn giáo, mà là người sử sụng nó vào mục đích gì? Phiđen Castrô nói “Theo ý kiến của tôi, xét theo quan điểm chính trị, tôn giáo tự nó không phải là thuốc phiện hay phương thuốc diệu kỳ Nó có thể là thuốc phiện hoặc là một phương thuôc diệu kỳ tùy theo người sử dụng nó hay ứng dụng nó để bênh vực những kẻ áp bức, những kẻ bóc lột hoặc để bảo vệ những người bị áp bức hoặc bị bóc lột” Phiđen nhấn mạnh “Một câu một khẩu hiệu, một luận điệu có giá trị lịch
sử tuyệt đối đúng trong một thời kỳ nhất định Trong hiện tại, có thể có những hoàn cảnh mà câu nói đó diễn tả một thực tế Trong bất cứ nước nào mà hàng ngàn giáo phẩm của Công giáo hay bất cứ một giáo hội nào khác, kết cấu với đế quốc hoặc thực dân kiểu mới, với sự bóc lột nhân dân hoặc con người, với sự đàn áp thì không
có gì phải ngạc nhiên về sự kiện trong một nước cụ thể có ai đó lập lại câu nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”30
Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lê nin về vấn đề tôn giáo, nếu lấy dấu mốc năm mất của C Mác (1883), Ph Ăng ghen (1896 và V.I Lê nin (1924) cho đến nay cũng đã trên dưới một thế kỷ; thế giới đã biến đổi không ngừng Trong điều kiện “vật đổi, sao dời” ấy, với tư cách là một hình thái xã hội, tôn giáo không thể không thay đổi Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các vấn đề mang tình nguyên
lý, đồng thời bổ sung, phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về tôn giáo là vấn đề cần thiết cho những thế hệ hậu thế, trong đó có những người mác
- xit đương đại
Ngày nay, nhiều nhà khoa học nhấn mạnh chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng liên kết xã hội của tôn giáo Cùng với pháp luật và các qui phạm xã hội khác, các qui phạm tôn giáo có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội Trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật là cần thiết, rất cần thiết, nhưng chỉ pháp luật thôi thì chưa đủ và cũng không thể Ít nhất, các qui phạm tôn giáo phúc đáp các các “góc khuất’- một vấn đề không thể thiếu trong mỗi con
30
Xem Phi đen và tôn giáo, những cuộc trao đổi với Linh mục Frie Bettơ, Ủy ban Đoàn kết Công giáo yêu nước Tp Hồ Chí Minh, 1985, tr.288-289
Trang 27người, tôn giáo hướng con người vào chân, thiện, mỹ và những giá trị nhân bản- những giá trị khó có thể thể thiếu của các xã hội dân chủ; là nhu cầu và là khát vọng của mỗi con người Con người là một thực thể xã hội vốn rất phức tạp Nhu cầu của con người rất rất phong phú và đa dạng, đặc biệt về tư tưởng, tinh thần và văn hóa
Có lẽ, mỗi cá nhân ai cũng có đâu đó những góc khuất, sâu thẳm, len lỏi trong tư duy, nhận thức của họ Có nhiều phương thức để phúc đáp và thỏa mãn những nhu cầu đó, nhưng nếu thiếu vắng tôn giáo, con người không những thiếu vắng một một hình thái ý thức xã hội, điều đó còn đồng nghĩa con người thiếu vắng một thực thể
xã hội, bởi lẽ, không phải vô cớ mà tôn giáo có nhiều triệu tín đồ Hãy liên hệ đến câu nói của V.I Lê-nin về chủ nghĩa xã hội: “Không bao giờ hàng chục triệu người lại nghe theo theo lời khuyên của Đảng, nếu những lời khuyên đó không phù hợp với những gì mà kinh nghiệm sống của chính họ đã dạy cho họ” 31 Điều đó rất đúng Vậy thì đối với tôn giáo, nếu không có sức hút, không có niềm tin, thì tại sao trên quả đất nhỏ bé có 7 tỉ người, thì phần lớn trong số họ là tín đồ của một tôn giáo,
có niềm tin tôn giáo hoặc ít nhất tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo? Đó là chưa nói, lịch sử phát triển nhân loại cho chúng ta thấy rằng “nhân vật gây ảnh hưởng sâu xa nhất trên thế giới, không phải là nhà chính trị, nhà khoa học mà là người sáng lập ra tín ngưỡng”32
Chức năng liên kết xã hội của tôn giáo thể hiện rất rõ trong đời sống xã hội, nhất là trong thời đại ngày nay Báo cáo tổng kết tại Hội nghị khoa học Quốc tế
“Bước đầu trao đổi: Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á” 33 đã chỉ rõ: không có
gì gắn kết con người chặt chẽ như tôn giáo, nhưng chính nó có khi lại là nhân tố phân ly, chia rẽ cộng đồng, quốc gia một cách đáng sợ”34 Vấn đề chủ yếu của thế giới hiện nay có lẽ không phải duy tâm hay duy vật, vô thần hay hữu thần mà là dân
31 V.I Lê-nin, Toàn tập, tập 32, Nxb.Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, tr.233
32 Hoàng Thị Hạnh, Tôn giáo trong đời sống và vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghiên cứu tôn giáo, số 1- 2009, tr 28
Trang 28chủ, công bằng, tiến bộ, hạnh phúc, hòa bình; là sự chia sẻ, cảm thông giữa người với người, giữa các khu vực, quốc gia, cộng đồng, dân tộc…
1.1.3 Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo
Sẽ là thiếu sót nếu nghiên cứu về tôn giáo mà không đề cập mối quan hệ tôn giáo và chính trị (nhà nước) Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị là mối quan hệ giữa hai hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc Do vậy, mối quan hệ này được qui định trước hết và chủ yếu là do hạ tầng cơ sở; ngoài ra, nó bị chi phối bởi qui luật riêng của mỗi hiện tượng xã hội này Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, mối quan
hệ này luôn được giới chính trị, nhất là lực lượng chính trị cầm quyền quan tâm đặc biệt Chính trị ở đây trước hết và chủ yếu được hiểu là thể chế nhà nước và pháp luật - những yếu tố được qui định bởi nhân sinh quan và thế giới quan của chính trị
Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị được tập trung biểu hiện: chính – giáo hợp nhất, chính – giáo phân ly và chính – giáo hòa hợp
Thứ nhất, chính – giáo hợp nhất, tức là nhà nước và giáo hội /nhà thờ hợp
làm một) Luận điểm được Ăng ghen đề cập trong tác phẩm “Phriđrich Vinhem IV,
vua nước Phổ”: “Trong nhà nước Tin lành, vua là giáo chủ tối cao (Summus episcopus) và kết hợp trong con người của mình quyền lực tối cao của nhà thờ và
của nhà nước; mục đích cuối cùng của hình thức nhà nước này là sự hợp nhất giữa nhà nước và nhà thờ, như Hê ghen nói”35
Hình thức chính - giáo hợp nhất có hai đặc trưng cơ bản: Một là, thần học tôn
giáo là chuẩn tắc tối cao của hình thái ý thức nhà nước, kẻ thống trị bị thần thánh
hóa trở thành hóa thân hoặc đại diện của thần thánh; Hai là, nhân viên chức sắc tôn
giáo trực tiếp tham gia vào quản lý hoặc không chế bộ máy nhà nước Trong lịch sử thế giới, có ba loại mô thức chính - giáo hợp nhất điển hình: 1) Chính trị tăng lữ
(Hierocracy), loại chính thể này, lãnh tụ tôn giáo cũng là nguyên thủ quốc gia, kẻ
chấp chính lấy giáo sĩ làm chủ đạo, giáo pháp và thần học tôn giáo chính là pháp luật và hình thái ý thức của quốc gia Tiêu biểu là giáo triều Roma của Vatican, chính quyền Tây Tạng cũ ở Trung quốc, chính quyền người Do Thái của Moses
35
Nguyễn Đức Sự (Chủ biên), C Mác- Ph.Ăngghen về vấn đề tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1999,
tr 139
Trang 29trong Cựu ước 2) Chính trị thần quyền (Theocracy), hình thái ý thức nhà nước
chính là thần học tôn giáo; chính quyền nhà nước vận hành vận hành dưới sự chỉ đạo và giám sát của quyền uy tôn giáo, giáo sĩ trực tiếp đảm nhận chức vụ lãnh đạo
bộ phận cơ cấu hành chính Đại diện tiêu biểu là chính quyền Calvin Anh thời kỳ thống trị của Oliver Cromwell giữa thế kỷ XVII, hay chính quyền Iran thời Khômêini ở thập niên 80 thế kỷ trước 3) Thể chế quân chủ - giáo chủ, nghĩa là nguyên thủ quốc gia cũng là lãnh tụ tối cao của tôn giáo Quyền lực tối cao của chính quyền và giáo quyền nằm trong tay một người Trên thực tế, vương quyền không chế giáo quyền; chính quyền cao hơn giáo quyền, đem giáo quyền đặt dưới
sự khống chế và phục vụ sự thống trị của mình
Thứ hai, chính - giáo phân ly Đây là hình thức ngược lại với chính giáo hợp
nhất Dưới hình thức chính giáo phân ly, nhà thờ/giáo hội tách khỏi nhà nước Nhà thờ/giáo hội thuần túy hoạt động tôn giáo, không can thiệp vào công việc nhà nước, đồng thời, nhà nước quản lý nhà thờ / giáo hội bằng pháp luật Tiêu biểu là nước Pháp với Luật Phân ly ban hành ngày 9/12/1902 và nước Mỹ với điều sửa đổi thứ nhất Hiến pháp (sẽ đề cập ở phần sau) Mô thức này được Ph Ăngghen đề cập trong tác phẩm Góp phần phê phán Cương lĩnh năm 1891 của Đảng Dân chủ - Xã hội:
“Tách hẳn nhà thờ ra khỏi nhà nước Tất cả những đoàn thể tôn giáo, không trừ một đoàn thể nào, đều sẽ được nhà nước coi là những hội tư nhân”36
Thứ ba, chính - giáo hòa hợp Có thể coi đây là hình thức mang tính tổng hợp
và hình thức này cũng có các mô thức khác nhau
Mô thức thứ nhất, thần học tôn giáo có vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng trị
nước, đồng thời là nguồn gốc của pháp luật Đây là mô thức khá phổ biến từ cổ chí kim, như nhà nước phong kiến Trung Quốc dùng Nho giáo chi phối tư tưởng cũng như pháp luật; nhà nước phong kiến Việt Nam thời Đinh- Lê- Lý-Trần, nhất là thời
Lý, Trần, bị chi phối bởi Phật giáo, thời Lê, Nguyễn bị chi phởi bởi Nho giáo Tuy nhiên, cần chú ý rằng, với nhà nước phong kiến Trung Quốc và Nhà nước phong kiến Việt Nam, do trong lòng xã hội không có tôn giáo độc thần, mà tồn tại tam giáo (Nho, Phật, Đạo), nên trong một giai đoạn lịch sử nhất định, một tôn giáo nào
36
Nguyễn Đức Sự (Chủ biên), C Mác- Ph.Ăngghen về vấn đề tôn giáo, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội 1999,
tr 520
Trang 30đó, có chăng chỉ giữ vai trò chủ đạo, vì hệ tư tưởng nhà nước còn bị chi phối bởi hai tôn giáo còn lại Chính vì thế, có nhà nghiên cứu cho rằng, nhà nước phong kiến Trung Quốc “lấy Nho trị quốc, lấy Phật trị tâm, lấy Đạo trị thân”37
Mô thức thứ hai, về quan phương, nhà nước là thế tục, nhưng nhà nước khai
thác, sử dụng những tư tưởng thần học phù hợp để phục vụ mục đích của mình Giáo hội và các đoàn thể tôn giáo đồng thuận cùng nhà nước Giáo sĩ, nhà tu hành trong những chừng mực nhất định tham gia vào công quyền Tôn giáo được huy động vào các hoạt động, nhất là các hoạt động xã hội Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay có thể xếp vào mô thức này
Căn tính của tôn giáo được qui định bởi thần học (trước hết và chủ yếu là giáo lý) Tôn giáo này khác tôn giáo khác bởi các đặc tính của thần học Trong một
số bài viết về chính trị và triết học, Mác và Ăngghen có bàn về tôn giáo Hai ông nhìn nhận thần học tôn giáo chủ yếu thông qua thần học Ki tô giáo Chính vì thế, mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo, dưới con mắt của các ông, chủ yếu là quan
hệ giữa phong kiến với tôn giáo, thị dân với Tin Lành giáo ở phương Tây; hai ông nghiêng về chính trị lợi dụng tôn giáo để thống trị, vì vậy, tôn giáo trở thành đối tượng của chính trị 38
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ tôn giáo và chính trị dựa trên quan điểm của C.Mác và Ăngghen về tôn giáo, song được thấm nhuần bởi nền tảng văn hóa -tôn giáo phương Đông, đặc biệt là văn hóa-tôn giáo Việt Nam Ở một đất nước
đa tôn giáo, Hồ Chí Minh có nhãn quan biện chứng về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
Thứ nhất, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung, mối quan hệ
tôn giáo với chính trị nói riêng, Người chưa bao giờ chủ trương xóa bỏ tôn giáo hay đối đầu chính trị với tôn giáo Người chỉ phê phán chủ nghĩa giáo hội, phê phán các
Trang 31thế lực chính trị lợi dung tôn giáo tham gia vào các hoạt động đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc
Thứ hai, Hồ Chí Minh triệt để khai thác, vận dụng những tư tưởng nhân văn,
tốt dẹp của thần học tôn giáo vào hoạt động chính trị, cụ thể là cuộc đấu tranh đánh đuổi đế quốc, thực dân giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới Người nói
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái, cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là lòng yêu nước, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Khổng
Tử, Giêsu, C Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau một cách hoàn mĩ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị đó”39 Người khai thác cái tinh túy Trung, Hiếu của Nho giáo, phát triển lên thành Trung với nước, Hiếu với dân…
Ngoài ra, trong suốt quá trình vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, Người có rất nhiều bài nói, bài viết đề cập đến công lao, đức hy sinh của những bậc tiền bối đã sáng lập ra các học thuyết tôn giáo
ở các mức độ và khía cạnh khác nhau với thái độ tôn kính Người nói: “Đức Giê -
su hy sinh cho loài người được tự do, hạnh phúc”40; “Phật Thích ca là tấm gương đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn ”41 Bên cạnh việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng những bậc tiền bối đã sáng lập ra các học thuyết tôn giáo, thì Người luôn chủ động và cố gắng làm hết sức mình để vun đắp cho “phần xác no ấm, phần hồn được thong dong”
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, trước hết phải xây dựng thành công khối đoàn kết toàn dân; đặc biệt là đoàn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo Do đó, để làm tốt nhiệm vụ trên, người làm cách mạng phải phân biệt được rõ “bạn - thù”; tổ chức và cá nhân giáo dân chân chính
39 Viện nghiên cứu Tôn giáo, Hồ Chí Minh vê vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
1998, tr 185
40
Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr.50
41 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr.179
Trang 32với các tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo, muốn lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đức tin để nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, làm phương hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiên phong trên mặt trận đấu tranh vạch trần các tổ chức và cá nhân đội lốt tôn giáo nhằm phá vỡ thành quả cách mạng của nhân dân, với quan điểm và lập trường rõ ràng “hãy xem họ làm, và đừng vội nghe họ nói”; tức phải dựa vào suy nghĩ, hành động cụ thể chứ không dựa vào vài ba lời lẽ xu nịnh, xúi giục, gây ra sự bất hòa trong Đảng và trong nhân dân Người khẳng định, giáo dân chân chính phải là người yêu nước, có tinh thần đoàn kết dân tộc Kẻ giả danh tôn giáo là những người phản Chúa, can tâm “bán nước, cầu vinh” làm tay sai cho giặc Do đó, để phân biệt được rõ “chính - tà”, “bạn - thù”, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, công tác dân vận, phải có ý thức bền bỉ, kiên trì mới phân biệt được đâu là tổ chức giáo dân chân chính và đâu là tổ chức và
cá nhân giả danh tôn giáo
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh chống lại những kẻ giả danh tôn giáo nhằm bảo vệ khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân, đồng thời “tẩy trừ những bọn phản Chúa, hại quốc, hại dân” Người nói: “Những người Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, chẳng những là Việt gian, mà cũng là giáo gian Còn những đồng bào Công giáo kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì những đồng bào ấy thật thà phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc”42, “Ngô Đình Diệm là người Công giáo, cũng giống như Giu-đa là người Công giáo, Ngô Đình Diệm đã lợi dụng Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào để giết hại đồng bào”43 Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kiên quyết, bền bỉ đấu tranh vạch trần các tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo nhằm phá
vỡ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, Người còn kiên trì, nhẫn lại với những lời lẽ chân tình, tha thiết và một tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa mở rộng, vị tha cho những kẻ lầm đường, lạc lối, phân biệt rõ “chính - tà”, “bạn - thù”; phân biệt các tổ chức giáo dân chân chính với tổ chức và cá nhân giả danh tôn giáo
Trang 33Thứ ba, xuất phát từ việc kế thừa những tư tưởng tốt đẹp của thần học tôn
giáo vào chính trị nên chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nhà nước mà
ở đó, chính trị và tôn giáo đều tự do phát triển
Giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội có nhiều điểm khác biệt, đó là sự khác biệt
về thế giới quan, về nhân sinh quan, về con đường để đi đến tự do hạnh phúc, khác nhau về nếp sống, v.v Đó là điều không cần bàn cãi, tuy nhiên, rất hiếm khi Hồ Chí Minh nói về sự khác nhau giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, vì nói nhiều đến
sự khác nhau đó không có lợi cho sự đoàn kết dân tộc, dễ dẫn đến hiểu lầm, xa lánh giữa những người có tôn giáo và những người không có tôn giáo Ngược lại Hồ Chí Minh nói nhiều và nhấn mạnh đến điểm tương đồng giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội Ít nói đến sự khác nhau giữa hai hệ tư tưởng tôn giáo và cộng sản nhưng không
có nghĩa là Hồ Chí Minh lảng tránh vấn đề hiển nhiên đang tồn tại trên thực tế và kẻ địch luôn lợi dụng sự khác nhau này để kích động, chống phá khối đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Khi cần nói về sự khác nhau giữa tôn giáo và chủ nghĩa duy vật, Người thẳng thắn nói rõ: “Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là khác nhau, rõ ràng là thế Nhưng không vì thế mà chà đạp lên quyền tự do của nhau”44
Trong “Thư gửi những người làm công tác văn hóa và trí thức Nam Bộ” đề ngày 23/5/1947, Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan điểm xây dựng một Nhà nước trong đó chính trị và tôn giáo tự do phát triển: “Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do”45 Khi trả lời các câu hỏi của cử tri Hà Nội vào ngày 10/5/1958 về câu hỏi “Khi tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?” Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Không Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do Ở Việt Nam cũng vậy”.46
Như thế, Hồ Chí Minh chấp nhận sự khác nhau giữa hai hệ tư tưởng duy tâm
và duy vật và tôn trọng sự khác biệt ấy Hồ Chí Minh luôn giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ cần phải thực hiện sự bình đẳng, cũng như những nguyên tắc ứng xử khoan
44 Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 1988, tr 75
45 Viện Nghiên cứu tôn giáo, Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
1998, tr.197
46 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr 76
Trang 34dung, độ lượng đối với mọi tầng lớp nhân dân, dù họ có chính kiến, có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy một điều là: Hồ Chí Minh không chấp nhận việc lợi dụng sự khác nhau đó để xuyên tạc, bôi nhọ, mạt sát, chế diễu, xúc phạm lẫn nhau
Thứ tư, Hồ Chí Minh phân biệt rõ những giá trị tốt đẹp của thần học tôn giáo
với việc lợi dụng thần học và thần quyền của các lực lượng chính trị phản động Từ
đó, Người sử dụng khéo léo, tài tình những giá trị tốt đẹp của thần học tôn giáo để chống lại sự lợi dụng đó Đó chính là dùng tôn giáo để giải quyết vấn đề chính trị; hoặc dùng tôn giáo để giải quyết vấn đề tôn giáo
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị
thể hiện sự sáng tạo trong việc vận dụng lí luận về tôn giáo, tín ngưỡng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh thực tế Việt Nam, làm phong phú tư tưởng này của C.Mác và Ăngghen Quan điểm này có tác động to lớn trong việc làm cho đồng bào có tôn giáo và không có tôn giáo hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự đoàn kết và điều quan trọng là vận động được đồng bào có đạo hướng về cách mạng, đi theo cách mạng Đây hoàn toàn không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời, nhất là ở những nước từ chế độ phong kiến lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nơi mà trong đông đảo quần chúng lao động còn mang nặng những thiên kiến tôn giáo Theo chúng tôi quan điểm này phải được xem như phương châm ứng xử của những người cộng sản đối với tôn giáo ở những nước còn lạc hậu Quan điểm này hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị cho những người cộng sản Việt Nam để xem xét, tuyên truyền, vận động tôn giáo đồng hành với dân tộc
1.1.4 Vai trò (tính tích cực và mặt trái) của tôn giáo
Như trên đã nêu và phân tích, tôn giáo là một hiện tượng xã hội Nó có tiêu vong hay không - đây là vấn đề còn tranh cãi, chưa có hồi kết47, và đó lại là một vấn
47
Lã Đại Cát, nhà Tôn giáo học người Trung quốc, là nghiên cứu viên cao cấp Viện nghiên cứu Tôn giáo thế giới, Viện khoa học xã hội Trung quốc, Giáo sư, Viện trưởng danh dự Viện nghiên cứu Tôn giáo Học viện Dân tộc trung ương, kiêm Giáo sư khoa Triết học Đại học Bắc kinh, trong bài viết “Tương lai của tôn giáo” đăng trên tờ “Trung quốc Dân tộc báo” đã tập hợp hai loại quan điểm về tuơng lai của tôn giáo Những người theo quan điểm “Tôn giáo vĩnh hằng” cho rằng: Về bản năng, con người mong muốn theo đuổi sự sống, lo sợ với cái chết Do vậy, họ luôn hy vọng có thể sống lâu hơn Do cái bản năng, cái thiên tính của
Trang 35đề khác cần bàn “Khi khoa học tiến thêm một bước, thì tôn giáo lùi lại một bước” Nhưng thực tế cuộc sống phức tạp và thú vị hơn nhiều Khoa học đang thực sự bứt lên phía trước, còn tôn giáo không vội vã lùi lại Nó rút lui, nhưng thường là ẩn sâu vào đâu đó, chỗ thầm kín của ý thức, để rồi sau đó tìm lại mình trong sự huyên náo tôn giáo mang tính đại chúng, trong sự bùng lên của các tôn giáo thời cận đại, trong
sự hồi sinh các quan niệm tôn giáo cổ xưa Nói cách khác, dù muốn hay không, tôn giáo vẫn tồn tại (ít nhất cho đến ngày nay) và len lỏi trong lĩnh vực đời sống của con người Vì thế, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia, mỗi xã hội là nhìn nhận và đối xử với nó như thế nào?
con người, họ đã cầu cứu đến sự giúp đỡ của tôn giáo, bởi lẽ chỉ có tôn giáo mới có thể hứa hẹn cho họ sống mãi Chỉ cần con người tồn tại, họ sẽ còn khát vọng này, và tất nhiên, họ hướng đến tôn giáo Vì thế, tất nhiên, tôn giáo sẽ tồn tại mãi Những người theo đuổi quan điểm “Tôn giáo tiêu vong” cho rằng cần phải lấy văn hóa thay thế tôn giáo Từ khi nước Trung Hoa mới thành lập, người ta đã chủ trương dùng chủ nghĩa Mác thay thế tôn giáo, thậm chí đã dùng sức mạnh chính trị để tiến hành thử nghiệm hai lần xóa bỏ tôn giáo nhưng đều thất bại Ông đưa ra nhận định “Tương lai của tôn giáo, về lý luận, về triết học, không phải là vĩnh hằng, nhưng trong thực tế của cuộc sống lại tồn tại lâu dài Tôn giáo tồn tại lâu dài trong xã hội tương lai, tôi cho rằng, cái lâu dài này là rất rất lâu dài, bây giờ không thể nói rõ được”
Cuối bài viết, ông đăt vấn đề: Tôn giáo còn tồn tại lâu dài, vì sao chúng ta lại tập trung sức lực đi xóa bỏ tôn giáo? Và vị Giáo sư có nhiều công trình có giá trị về Triết học và Tôn giáo học được công bố đưa ra khuyến nghị “ra sức phát huy những nhân tố văn hóa chính diện, tích cực, hữu ích, vốn có trong tôn giáo truyền thống Đây mới là việc cần làm hiện nay Phương hướng nỗ lực trong tương lai của Trung quốc là xây dựng tôn giáo thành một loại tôn giáo văn hóa”
Xem: Lã Đại Cát, Tương lai của tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9- 2007 (tr.13-20), số 10- 2007 (tr 11-15) (Bản dịch của Trần Nghĩa Phương)
Trong bài viết “Tôn giáo có tiêu vong không ? Nhìn lại những điểm tối trong tư tưởng Khai Sáng”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11 – 2007, tr.10-17- Bản dịch của Trần Anh Đào), học giả Trần Lập Thắng (GS.TS., Khoa Triết học, Đại học Trung Sơn,Quảng Châu, Trung Quốc) sau khi phân tích đã kết luận rằng
“nếu như chúng ta tiếp thu tính đa dạng của văn minh và tính hiện đại của đa dạng, thì chúng ta phải chăng còn có thể nhận định một cách ngây thơ rằng vấn đề này có đáp án minh xác?”
PGS Hà Thúc Minh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng: Tôn giáo là người bạn đồng hành với nhân loại từ thủa xa xưa, nhưng liệu nó có tồn tại mãi cùng với con người hay không? Đó là câu hỏi hình như đã có đáp án và hình như cũng chưa có đáp án cuối cùng Tôn giáo xuất hiện rất sớm nhưng không có nghĩa là đồng thời với con người Vậy nếu nó là sản phẩm của lịch sử thì nó cũng không thể từ chối quy luật sinh – diệt, có nghĩa là cái gì đã sinh ra thì cái đó nhất định sẽ mất đi Đương nhiên, nếu loài người không còn tồn tại thì tôn giáo cũng chẳng có lí do gì để tồn tại Nhưng liệu có một ngày nào đó trong tương lai tôn giáo sẽ mất đi trong khi con người vẫn còn tồn tại hay không? Ông lý giải: một bước tiến của nhận thức là một bước lùi của tôn giáo, cho nên, rất có lí khi người ta cho rằng, nhận thức là một trong những nguyên nhân của tôn giáo Nhưng cho dù nhận thức của nhân loại có phát triển đến đâu đi nữa thì khoa học vẫn luôn đứng trước cái chưa biết Cái chưa biết cho dù càng ngày càng thu hẹp đến đâu đi nữa thì cái chưa biết vẫn là vô hạn PGS phân tích thêm: Nguyên nhân xã hội cũng là một nguyên nhân quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất sản sinh ra tôn giáo, nhất là trong xã hội có giai cấp
Áp bức giai cấp là nỗi bất hạnh do chính con người gây ra, nhưng đó cũng chỉ là một trong những nỗi bất hạnh (cho dù là bất hạnh nhất), chứ không phải là nỗi bất hạnh duy nhất Hơn nữa, tôn giáo ra đời từ trước khi xã hội có giai cấp chứ không phải sau đó Cho nên, dù cho trên thế gian này không còn bóng dáng của áp bức giai cấp nhưng nỗi khổ của con người cũng không phải vì vậy mà tan biến Chừng nào nhân loại còn khổ đau, chừng nào thế giới không có trái tim thì chừng đó tôn giáo vẫn còn là "trái tim của thế giới không có trái tim", chừng nào xã hội không có tinh thần thì lúc đó tôn giáo vẫn là "tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần", chừng nào chúng sinh còn thở dài thì lúc đó tôn giáo vẫn tồn tại, vẫn là hiện thân tất yếu của "tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức" (C Mác, Ph Ăngghen Tuyển tập Tập I Nxb Sự thật 1980, tr 14)
Xem: Hà Thúc Minh, Đạo và đời, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 - 2004, tr.9-15
Trang 36Sẽ không có một công thức chung cho mọi quốc gia, vì bất cứ tôn giáo nào cũng là sản phẩm của một bối cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội… nhất định C Mác đã có một luận điểm nổi tiếng “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người Nhưng con người không phải là một “sinh vật trừu tượng, ẩn nấp đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người,
là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo”48
Nói cách khác, quá trình hình thành vận động và phát triển của tôn giáo cũng như vai trò của
nó trong mỗi quốc gia, mỗi xã hội không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên xét ở những khía cạnh nhất định, tôn giáo có những đặc điểm chung đối với mọi xã hội
Vì thế, nghiên cứu để làm rõ tính tích cực và mặt trái của nó là việc làm rất có ý nghĩa
Nói về tính tích cực của tôn giáo, có lẽ nên trích dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái, cao cả Chủ nghĩa Mác có
ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là lòng yêu nước, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, C Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao?
Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau một cách hoàn mĩ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị đó”49
Thật vậy, như A.Einstein đã thấy “ở các vị sáng lập tôn giáo, tư tưởng đã toả sáng ra tất cả các thời đại”; như Hồ Chí Minh cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy, còn chúng ta cần thấy các vị là những người luôn hướng thiện trừ ác Vì vậy, chúng ta phải cùng nhau đoàn kết lại để xây dựng đất nước, rửa cái nhục nghèo nàn, lạc hậu làm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Tất nhiên, tôn giáo chỉ có thể đóng góp phần tích cực của nó bằng cách tự làm trong sạch bản thân, xoá bỏ những điều mê tín, lỗi thời như mong ước của D Boenhoffer:
Trang 37“Tôi thích nói đến Chúa không ở những hạn chế của nó, mà ở điều cốt lõi, không ở tính yếu đuối, mà ở sức mạnh của nó, không ở cái chết tội lỗi, mà ở cuộc sống và sự tốt đẹp của con người” Tôn giáo sẽ đóng góp “hương thơm” (C.Mác) của mình một cách khiêm tốn để xây dựng một Thiên Đường ngay trên mặt đất vì “quê hương là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi làm người… Dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần dân Chúa”50
Hay như Nguyễn Khắc Dương đã nói: “Làm thế nào cho tâm hồn người Công giáo thấm nhuần cái hồn, cái thần của nền văn hoá Việt Nam trong chiều kích sâu xa của tâm linh”51
Tôn giáo sẽ trở thành nguy hiểm, nếu như nó bị lợi dụng, nhất là sự lợi dụng của chính trị Chính vì vậy, từ ngàn xưa cho đến nay, tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp và nhạy cảm Có thể nói rằng, không có gì gắn kết con người với nhau chặt chẽ như tôn giáo, nhưng có lẽ cũng không có gì làm chia rẽ, phân ly các cộng đồng, quốc gia, dân tộc và giữa con người với con người một cách đáng sợ như tôn giáo Tôn giáo sẽ chỉ trở nên trong sáng, tìm lại bản chất hướng Thiện của mình những hoạt động có tính lợi dụng tôn giáo được nhận diện và lên án Vấn đề là làm sao để các cơ sở tôn giáo trở thành một không gian thiêng, các lễ hội được tổ chức trong một thời gian thiêng, không bị vẩn đục bởi những hành vi mê tín, những tanh hôi của đồng tiền, những việc làm trái pháp luật, chống lại Tổ quốc, để các chức sắc tôn giáo trở thành người đại diện thật sự của Chúa, của Phật, của thánh thần
Theo cách đánh giá của Liên hợp quốc, một trong những nội dung quan trọng trong Báo cáo về chương trình Thiên niên kỉ của Liên hợp quốc (2002) về “Mục tiêu
cụ thể nhưng có tính chiến lược to lớn của nhân loại mang tinh thần nhân văn cao cả của thiên niên kỉ này, đến năm 2052” là “xóa tận gốc sự chia rẽ tôn giáo, dân tộc, để chung sống hòa bình” 52 Điều đó nói lên vai trò quan trọng của chính sách tôn giáo
trong các quốc gia Báo cáo tổng kết tại Hội nghị khoa học Quốc tế “Bước đầu trao
50 Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980
51 GS Thế Tâm – Nguyễn Khắc Dương, Hội nhập văn hoá, vấn đề hay huyền diệu, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc, số 100 (tháng 4) - 2003, tr 49-58
52
Hồ Bá Thâm, Đạo và đời với truyền thống nhân văn Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 10-
2007, tr 4, 5
Trang 38đổi: Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á” 53
đã kết luận: Thực tế là, trong đời sống tôn giáo ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới hiện nay, việc giải quyết vấn đề tôn giáo và pháp quyền còn nhiều thách đố Các quốc gia ở Đông Nam Á dường như đều có những nỗ lực để hướng tới việc ngày càng đảm bảo tốt hơn cho quyền tự do tôn giáo của công dân mỗi nước Mặt khác, tính đa dạng và những đòi hỏi của hệ thống Công ước quốc tế về quyền tự do tôn giáo, nhân quyền đang đặt ra những thách thức mới trong việc giải quyết mối quan hệ tôn giáo với pháp quyền ở mỗi nước Báo cáo nhấn mạnh rằng: Vấn đề chủ yếu của thế giới hiện nay không phải duy tâm hay duy vật, vô thần hay hữu thần mà là hòa bình, an toàn môi sinh, lành mạnh, tiến bộ, giàu có, công bằng, dân chủ và hạnh phúc
1.1.5 Quyền tự do tôn giáo
1.1.5.1 Khái niệm quyền tự do tôn giáo
Nếu xét theo ngữ nghĩa và hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, “tự do tôn giáo” là
sự bảo đảm sự độc lập của tôn giáo đối với các thiết chế quyền lực, bảo đảm tôn giáo thoát ly mọi sự cấm đoán, hạn chế, ràng buộc Nếu nhìn nhận dưới góc độ triết học thì khái niệm tự do phải được xem xét trong mối quan hệ với tất yếu Nói cách khác, tự do và tất yếu là hai phạm trù triết học, biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động của con người và sự vận động của các qui luật xã hội (và cả tự nhiên) Do vậy, trước hết cần nhìn nhận mối quan hệ này dưới cách nhìn duy vật biện chứng: phải thừa nhận tất yếu khách quan là thứ nhất (theo nghĩa nhận thức luận), còn ý chí
và nhận thức của con người là thứ hai, là “cái” phái sinh Cái tất yếu tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội dưới hình thức các qui luật khách quan Con người càng nhận thức sâu sắc các qui luật khách quan (tất yếu) thì hoạt động của họ càng tự do Nhận thức khách quan khoa học về tự do là cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
Trang 39biến khách quan của xã hội Với ý nghĩa đó, khái niệm “tự do tôn giáo” cần được xem xét trong mối quan hệ với các qui luật tất yếu của xã hội và sự phát triển của xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Tự do tôn giáo thường được nhìn nhận dưới những lăng kính khác nhau và
nó luôn đi liền với những câu hỏi “tự do cho ai?”, “tự do cho cái gì?”, “tự do vì cái gì?”, “tự do bởi ai?” Những câu hỏi đó luôn cấp thiết và được giải đáp tùy thuộc vào những đặc thù của giai đoạn lịch sử, vào quan điểm xã hội, vào sự hiểu biết và khả năng của con người trong việc giải quyết những vấn đề cho phù hợp với thực tế thời đại
Những nhà tư tưởng như John Locke đã đặt nền móng cho tự do tôn giáo, vì ông cho rằng tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của xã hội và vai trò của nhà nước không phải là khuyến khích tôn giáo, mà trái lại, là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân được sở hữu niềm tin của mỗi người Đồng thời, Locke cũng chỉ ra rằng, sự liên kết giữa tham vọng tôn giáo và quyền lực cá nhân sẽ kết thúc chỉ khi lịch sử xóa bỏ sự liên kết giữa nhà thờ và nhà nước54 Trước cả người Pháp (từ cách mạng
Tư sản từ sau 1789), Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ đã nói đến quyền tự do tôn giáo
Tự do, với nghĩa triết học, theo Montesquieu “là thể hiện ý chí của mình hoặc ít ra là được nói lên quan niệm về thực hiện ý chí ấy”55 Cũng như nhiều quyền
tự do khác, tự do tôn giáo là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của loài người trên khắp thế giới Trong thế giới hiện đại ngày nay, tự do tôn giáo được thừa nhận như một trong những quyền cơ bản nhất của con người Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là một trong những quyền được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư” (Điều 18) Cũng tại Điều 18 Công ước quốc tế quyền con người
về chính trị, dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đã tái khẳng định: “1 Mọi người
Trang 40đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo Quyền này bao gồm tự
do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng 2 Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ 4 Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ, và của những người giám hộ hợp pháp nếu có, trong việc giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ”
Quyền tự do tôn giáo bao gồm: tự do có, theo hoặc thay đổi một tôn giáo do
cá nhân lựa chọn; tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với người khác; công khai hoặc không công khai các hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng Tuy nhiên, các văn kiện pháp lý quốc tế cũng khẳng định: 3 Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác (Khoản 3 Điều 18 Công ước quốc tế quyền con người về chính trị, dân sự của Liên hợp quốc năm 1966), hay “Mọi hình thức tuyên truyền cho chiến tranh đều bị pháp luật nghiêm cấm”, “Mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm (Điều 20, Công ước quốc tế quyền con người về chính trị, dân sự của Liên hợp quốc năm 1966)
Tóm lại, Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới qui định rõ công dân có quyền quyền tự do tôn giáo Trong bất cứ quốc gia và thể chế dân chủ nào, tự do tôn giáo chỉ bị hạn chế trong trường hợp thật cần thiết và qui định rõ trong pháp luật
1.1.5.2 Tự do tôn giáo và pháp luật
Tự do tôn giáo, cũng như các quyền tự do khác của con người, như tự do ngôn luận, tự do lập hội…là nội dung quan trọng của quyền con người Những quyền đó không phải do nhà nước tạo ra hay ban tặng, mà ngược lại, bất cứ nền dân