1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh theo luật cạnh tranh năm 2018

73 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 5,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, trong thực tiễn áp dụng, hành vi xâm phạm TTBMTKD ngày càng diễn biến phức tạp nhưng Cục Quản lý cạnh tranh lại không ghi nhận được bất kì một vụ việc nào về hành vi này đượ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

HÀNH VI XÂM PHẠM THÔNG TIN BÍ MẬT TRONG KINH DOANH THEO LUẬT CẠNH TRANH

Trang 2

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Đặng Quốc Chương, đảm bảo tính

trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin

chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả khoá luận

Nguyễn Ngọc Phương Trinh

Trang 3

CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM THÔNG TIN BÍ MẬT TRONG KINH DOANH 6

1.1 Tổng quan hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 6

1.1.1 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 6

1.1.2 Khái niệm thông tin bí mật trong kinh doanh 8

1.1.3 Các dạng xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 12

1.2 Sự cần thiết điều chỉnh bằng Luật Cạnh tranh về hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 17

1.2.1 Đối với doanh nghiệp 17

1.2.2 Đối với người tiêu dùng 18

1.2.3 Đối với thị trường 19

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM THÔNG TIN BÍ MẬT TRONG KINH DOANH 21

2.1 Tổng quan pháp luật điều chỉnh hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 21

2.2 Nhận diện hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 25

2.2.1 Chủ thể thực hiện 25

2.2.2 Chủ thể bị xâm phạm 30

2.2.3 Hai dạng hành vi khách quan 32

2.2.4 Hậu quả của hành vi 41

2.3 Mối quan hệ điều chỉnh giữa Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 43

2.4 Kiến nghị 47

KẾT LUẬN 50

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay, bên cạnh các tài sản hữu hình, tài sản vô hình được đánh giá là một trong những yếu tố mang lại giá trị kinh tế lớn và bền vững cho doanh nghiệp Trái với những tài sản vô hình khác, thông tin bí mật trong kinh doanh (TTBMTKD) của doanh nghiệp không có giới hạn về thời hạn bảo hộ Đó chính là lý do khiến TTBMTKD trở nên hấp dẫn trong mắt các doanh nghiệp Sự cạnh tranh trên thị trường ngày một trở nên khốc liệt cũng là lúc các doanh nghiệp nhận ra lợi thế cạnh tranh của TTBMTKD Từ đó, hành vi xâm phạm TTBMTKD được hình thành và ngày càng biến đổi phức tạp hơn gây ra những hậu quả tiêu cực đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và thị trường

Xét về bản chất thì pháp luật xử lý hành vi xâm phạm TTBMTKD là một cơ chế có ý nghĩa quan trọng liên quan đến quyền được bảo hộ thông tin của doanh nghiệp trong bối cảnh thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Tồn tại cơ chế bảo hộ TTBMTKD sẽ khiến doanh nghiệp yên tâm sáng tạo, phát triển sản phẩm và ngành nghề kinh doanh, từ đó, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nói chung Ngoài ra, các tập đoàn đa quốc gia mà tiêu biểu như Coca Cola, KFC, Google, đều phát triển lớn mạnh nhờ vào những công thức được bảo vệ dưới dạng TTBMTKD.1

Để những doanh nghiệp đa quốc gia đầu tư vào thị trường, một trong những điều kiện

cơ bản nhất là Việt Nam phải xây dựng được một thị trường cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở TTBMTKD được bảo hộ Do đó, có thể nói việc xây dựng pháp luật chống hành vi xâm phạm TTBMTKD chính là đầu tư cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia

Bên cạnh đó, trong thực tiễn áp dụng, hành vi xâm phạm TTBMTKD ngày càng diễn biến phức tạp nhưng Cục Quản lý cạnh tranh lại không ghi nhận được bất kì một

vụ việc nào về hành vi này được giải quyết thành công.2 Theo đó, các nhà làm luật

đã có động thái sửa đổi những quy định về hành vi xâm phạm TTBMTKD tại Luật Cạnh tranh năm 2018 do nhận thức được tầm quan trọng của hành vi này và bất cập của văn bản pháp luật hiện hành Đây được đánh giá một bước chuyển biến tích cực trong công cuộc bảo vệ TTBMTKD của doanh nghiệp đối với những rủi ro trong quá trình cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, những quy định mới này cần được đánh giá một cách toàn diện để có một cái nhìn tổng quan về hành vi xâm phạm

1 Nguyên Thảo, “Chiêu “ém” bí mật kinh doanh của những ông lớn”,

https://kienthuc.net.vn/tieu-dung/chieu-em-bi-mat-kinh-doanh-cua-nhung-ong-lon-256110.html, truy cập ngày 8/5/2020

2 Bộ Công thương (2017), Thuyết minh chi tiết dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi), Hà Nội, tr 30

Trang 6

TTBMTKD Vì vậy, việc tìm hiểu các vấn đề về mặt lý luận so sánh trong mối tương quan với quy định cũ sau đó chỉ ra các hạn chế vẫn còn tồn tại từ thực tiễn áp dụng

và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hành vi xâm phạm TTBMTKD là cần thiết

Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn “Hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh theo Luật Cạnh tranh năm 2018” làm đề tài khoá luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hành vi xâm phạm TTBMTKD chỉ mới được sửa đổi tại Luật Cạnh tranh năm

2018 và đến ngày 01/07/2019 thì Luật Cạnh tranh năm 2018 mới chính thức có hiệu lực nên các công trình nghiên cứu một cách trực tiếp về hành vi này là không nhiều Theo đó, có những bài báo khoa học nghiên cứu về TTBMTKD trên phương diện pháp luật quốc tế từ trước khi có sự sửa đổi của hành vi xâm phạm TTBMTKD tại Luật Cạnh tranh năm 2018 mang giá trị tham khảo cao gồm:

• Nguyễn Thái Mai (2010), “Khái niệm thông tin bí mật - Đối tượng của quyền

sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế”, Tạp chí nhà nước và pháp luật,

số 02/2010: Tài liệu mang giá trị tham khảo cao về khía cạnh khái niệm của thuật ngữ thông tin bí mật Tác giả đã nghiên cứu pháp luật các quốc gia trong mối tương quan

so sánh với pháp luật quốc tế nhằm tìm ra định nghĩa cho thông tin bí mật Hơn nữa, bài viết còn đề cập đến các yếu tố thông tin có thể cấu thành thông tin bí mật

• Nguyễn Hữu Khánh Linh, Nguyễn Thị Hạnh (2017), “Các khía cạnh pháp lý

về bảo hộ thông tin bí mật chống cạnh tranh không lành mạnh theo quy định pháp

luật quốc tế”, Tạp chí Công thương, số 12/2017: Tác giả tiếp cận vấn đề trên phương

diện pháp luật quốc tế về thông tin bí mật và bảo hộ thông tin bí mật Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến các thuật ngữ khác nhau được các văn bản pháp luật quốc tế và một số quốc gia sử dụng liên quan đến thông tin bí mật Qua đó, tác giả phân tích vai trò của việc bảo hộ thông tin bí mật nhằm đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh Những bài báo khoa học nêu trên có giá trị tham khảo cao về mặt lý luận Cụ thể, các tác giả tiếp cận hành vi TTBMTKD trên phương diện lý giải thuật ngữ thông tin bí mật Tuy nhiên, những bài báo được liệt kê vẫn chưa có sự tiếp cận toàn diện đối với hành vi xâm phạm TTBMTKD khi hành vi này được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2018

Nếu xét về bản chất, ta có thể thấy hành vi xâm phạm TTBMTKD có điểm tương đồng với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được điều chỉnh trong Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh có giá trị tham khảo

về các dạng hành vi khách quan cũng như cung cấp thông tin trong quá trình phân tích mối tương quan của quy định mới với các quy định trước đây:

Trang 7

Về sách chuyên khảo, một số sách tham khảo có thể kể đến như: Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức; Trường đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Công an nhân dân; Lê Danh Vĩnh (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh; Lê Anh Tuấn (2009), Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia; Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia; Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Hồ Xuân Thắng (2016), Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam kinh nghiệm rút ra từ pháp luật các nước trên thế giới, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Những sách chuyên khảo được

liệt kê đã nghiên cứu tổng thể pháp luật cạnh tranh hoặc pháp luật cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) Việt Nam Tuy hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được đề cập nhưng không phải là đề tài được nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện trong các tác phẩm này

Về luận văn tiêu biểu, luận văn có giá trị tham khảo cao là Trần Thị Kim Huế (2012), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí

Minh Trong luận văn của mình, tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Hơn nữa, luận văn đã tìm hiểu về thực trạng pháp luật liên quan tới vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh Qua đó, đề ra một số giải pháp cụ thể trong việc xây dựng và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của pháp luật Đây là luận văn nghiên cứu chuyên sâu về bí mật kinh doanh nhưng luận văn chủ yếu tiếp cận bí mật kinh doanh trên cơ sở bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thuộc lĩnh vực luật sở hữu trí tuệ hơn là tiếp cận theo hướng pháp luật cạnh tranh

Về công trình nghiên cứu khoa học, Trần Yến Nhi (chủ nhiệm đề tài) (2018), Điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam - So sánh với pháp luật Hoa Kì, Công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường lần

thứ XXII năm học 2017-2018, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh là một công trình thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ nhưng đem lại cái nhìn tổng quát về những hạn chế

về điều kiện được đặt ra trong quy định cũ Ngoài ra, công trình còn cung cấp cái nhìn tổng quan về quan điểm bảo hộ bí mật kinh doanh của pháp luật Hoa Kì - một trong những quốc gia phát triển về lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Về các bài báo khoa học, nhiều bài báo khoa học mang giá trị tham khảo cao

bao gồm có Nguyễn Thị Quế Anh (2004), “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh

Trang 8

doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, số 03/2004; Nguyễn Thái Mai (2012), “Bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

về bí mật kinh doanh trong mối tương quan với quy định của điều ước quốc tế và

pháp luật các nước”, Tạp chí Luật học, số 07/2012 Các tác giả chủ yếu nghiên cứu

bí mật kinh doanh trên cơ sở pháp luật Sở hữu trí tuệ với những điều kiện bảo hộ đã không còn phù hợp với Luật Cạnh tranh năm 2018 Riêng đối với bài báo Trần Chí Thành (2019), “Một số bất cập giữa pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

về vấn đề xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công

nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 01 (369)/2019, tác giả phân

tích tổng quan về các hành vi nhưng có giá trị tham khảo cao ở phần áp dụng pháp luật giữa hai lĩnh vực pháp luật cạnh tranh và sở hữu trí tuệ trong điều kiện đã có sự

ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2018

Những nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu về khía cạnh quyền bảo hộ công nghiệp của bí mật kinh doanh trên nền tảng sở hữu trí tuệ hoặc chỉ nghiên cứu chuyên biệt về thuật ngữ thông tin bí mật Từ khi Luật Cạnh tranh năm 2018 ra đời với thuật ngữ mới là TTBMTKD, tác giả nhận thấy vẫn chưa có bất kì đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về hành vi xâm phạm TTBMTKD theo quy định của Luật mới

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu hướng đến các mục tiêu cụ thể sau:

(i) Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hành vi xâm phạm TTBMTKD

(ii) Đánh giá được thực trạng pháp luật điều chỉnh về hành vi Phân tích tình hình áp dụng pháp luật từ đó tìm ra những bất cập tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy định pháp luật điều chỉnh hành vi xâm phạm TTBMTKD theo Luật Cạnh tranh năm 2018, trong đó tập trung vào:

• Về lý luận: nghiên cứu cơ sở lý luận về hành vi xâm phạm TTBMTKD theo

Luật Cạnh tranh năm 2018

• Về pháp luật: nhận diện hành vi bởi các dấu hiệu về mặt chủ thể, hai dạng

hành vi khách quan và hậu quả của hành vi

Trang 9

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ khoá luận, tác giả tập trung nghiên cứu về: Hành vi xâm phạm

TTBMTKD trong pháp luật cạnh tranh mà trọng tâm là Luật Cạnh tranh năm 2018

Tác giả sẽ làm rõ các vấn đề lý luận chung của hành vi xâm phạm TTBMTKD Đề

tài phân tích những bất cập của thực trạng áp dụng pháp luật trên cơ sở thực tiễn xã

hội Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Tác giả

không đi sâu đánh giá, phân tích các quy định về sở hữu trí tuệ Các quy định liên

quan đến Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 chỉ được viện dẫn và phân tích khi cần thiết

để làm rõ quy định xâm phạm TTBMTKD theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2018

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu

khoa học:

Phương pháp lịch sử: tác giả sử dụng phương pháp lịch sử để phân tích hoàn

cảnh ra đời và lý giải nguyên nhân thuật ngữ TTBMTKD được lựa chọn sử dụng

trong Hiệp định TRIPS cũng như Luật Cạnh tranh năm 2018 tại Chương 1 Ngoài ra,

phương pháp này còn được tác giả sử dụng một lần nữa để tìm hiểu tổng quan pháp

luật điều chỉnh hành vi xâm phạm TTBMTKD tại Chương 2

Phương pháp so sánh: tác giả sử dụng phương pháp này nhằm đối chiếu các

quy định của pháp luật giữa hai lĩnh vực cạnh tranh và sở hữu trí tuệ trong phần nội

dung tìm hiểu mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ tại Chương

2

Phương pháp phân tích: tác giả tập trung nghiên cứu và phân tích các dạng hành

vi xâm phạm TTBMTKD phổ biến trên thế giới được công nhận trong pháp luật một

số quốc gia ở Chương 1 Phương pháp được tiếp tục sử dụng để nghiên cứu những

dấu hiệu nhận biết hành vi xâm phạm TTBMTKD liên quan đến vấn đề chủ thể, hai

dạng hành vi khách quan và hậu quả của hành vi tại Chương 2 Theo đó, phân tích

những vụ việc xâm phạm TTBMTKD trên thế giới nhằm làm rõ mức độ áp dụng của

các quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2018 Qua đó, khoá luận đưa ra kiến nghị

hoàn thiện pháp luật ở Chương 2

6 Bố cục tổng quát của khoá luận

Đề tài khoá luận gồm hai chương:

Chương 1 Lý luận về hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Chương 2 Pháp luật về hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Trang 10

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM THÔNG TIN BÍ

MẬT TRONG KINH DOANH 1.1 Tổng quan hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh 1.1.1 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh là một thuật ngữ gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Trong từ điển kinh doanh của Anh năm 1992, cạnh tranh được hiểu “là sự ganh đua,

sự đối đầu giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.3 Theo phát biểu của nhà kinh tế học Michael Porter vào năm 1980, “cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” Có thể nói, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường

Khi sự cạnh tranh giữa các chủ thể ngày một gay gắt, các doanh nghiệp đôi khi không từ bất kỳ thủ đoạn nào thậm chí là bất chính để giành được lợi thế CTKLM ra đời với những biểu hiện khác nhau về hành vi khách quan gây ra tác động tiêu cực không chỉ đối với doanh nghiệp đối thủ mà còn đối với người tiêu dùng và rộng hơn

là nền kinh tế Các nhà làm luật trên thế giới đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ CTKLM Theo Điều 2 Luật số 11/91 của Romania (The Romanian Unfair Competition Law), CTKLM là bất kỳ hoạt động kinh doanh nào của doanh nghiệp trái với công bằng và đạo đức kinh doanh trong các hoạt động tiếp thị, sản xuất hay cung ứng dịch vụ sản phẩm Pháp luật Đức quy định “Cá nhân nào trong quá trình kinh doanh mà thực hiện những hành vi vi phạm đạo lý nhằm mục đích cạnh tranh thì có thể buộc phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại”.4 Bên cạnh đó, pháp luật Trung Quốc quy định một cách cụ thể hơn: “Hành vi trái với pháp luật, làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác và làm xáo trộn trật tự kinh tế xã hội được xem là CTKLM”.5 Nhìn chung, pháp luật các quốc gia đều thể hiện sự quan tâm nhất định đối với hành vi này bằng cách đưa ra các quy phạm pháp luật nhằm giải thích và điều chỉnh hành vi

Pháp luật quốc tế cũng có sự điều chỉnh đối với hành vi CTKLM Cụ thể, khoản

2 Điều 10bis Công ước Paris năm 1883 (Paris Convention) quy định: “Bất cứ hành

3 Lữ Lâm Uyên (2006), Thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Tp Hồ Chí Minh, tr 13

4 Điều 1 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức năm 2004 (The Germany Act against Unfair Competition) sửa đổi ngày 23/7/2002

5 Điều 2 Luật chống cạnh tranh không lành mạnh Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1993 Unfair Competition Law of the People's Republic of China)

Trang 11

(Anti-động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi CTKLM”.6 Quy định trên được nội luật hoá trong pháp luật Việt Nam tại

khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 với nội dung: “Hành vi CTKLM là hành

vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại

và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”

Từ định nghĩa được quy định, hành vi CTKLM được nhận diện với những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường Doanh nghiệp được quy định trong Luật Cạnh tranh năm

2018 là “tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam”.7

Thứ hai, mục đích của hành vi là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh Doanh nghiệp thực hiện hành vi nhằm đạt được những lợi thế cạnh tranh nhất định so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi thực hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp sẽ luôn tác động trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh của mình mà trong nhiều trường hợp tác động trực tiếp đến khách hàng.8

Thứ ba, tính chất chung của hành vi là “không lành mạnh” Cụ thể, hành vi thực hiện có biểu hiện trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong hoạt động kinh doanh Sự khác biệt trong định nghĩa của Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Cạnh tranh năm 20049 thể hiện sự tiến bộ của các nhà làm luật khi thay thế cụm từ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” bằng cách giữ nguyên các cụm từ “tính trung thực”, “thiện chí”, “tập quán thương mại” trong Công ước Điều này giúp giảm bớt khó khăn khi xem xét hành vi trên thực

tế do thuật ngữ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” khá mơ hồ.10 Vì nền kinh tế thị trường của nước ta không có bề dày lịch sử và chỉ thực sự phát triển

6 Được bổ sung vào Công ước 1900 và được sửa đổi lần cuối theo văn bản Stockholm năm 1967

7 Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2018

8 Đặng Quốc Chương (2019), Một số luận giải về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong Luật Cạnh tranh 2018, Tài liệu hội thảo Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018 và Góp ý cho dự

thảo nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh 2018, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp

Hồ Chí Minh, tr 24

9 Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”

10 Hà Tiến Huy (2019), Hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Luật Cạnh tranh 2018, Khoá luận tốt nghiệp,Trường Đại học Tp Hồ Chí Minh, tr 6

Trang 12

trong những năm gần đây nên các quan hệ kinh doanh vẫn chưa đủ thời gian để tạo

ra được những chuẩn mực thông thường được chấp nhận rộng rãi Tầng lớp thương nhân vẫn chưa đủ đông và mạnh để có thể thống nhất đặt ra cho thị trường những tiêu chuẩn chung và những hướng dẫn đóng vai trò đạo đức trong kinh doanh.11

Thứ tư, hậu quả của hành vi là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền

và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác Phạm vi của đối tượng chịu tác động đã được thu hẹp lại thành “doanh nghiệp khác” Đối tượng chịu tác động trước đây được đánh giá là khá rộng bao gồm cả lợi ích nhà nước và lợi ích người tiêu dùng Điều này rất khó xác định trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn Hơn nữa, lợi ích nhà nước bị CTKLM xâm phạm cũng không mang tính tiêu biểu, phổ biến trong quy định

về CTKLM ở các quốc gia.12 Do đó, sự thay đổi này có tác động tích cực đối với vấn

đề xác định hành vi CTKLM trên thực tế

1.1.2 Khái niệm thông tin bí mật trong kinh doanh

Dưới góc độ của pháp luật chống CTKLM, các nước có sự điều chỉnh khác nhau liên quan đến đối tượng của hành vi xâm phạm TTBMTKD Thuật ngữ TTBMTKD không phải là thuật ngữ phổ biến nhất mà còn tồn tại một số thuật ngữ khác mang nội hàm tương đối tương đồng Theo đó:

Thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất hiện tại là “bí mật thương mại” (Trade Secret) Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa bí mật thương mại một cách khái quát “bất kỳ thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh đều được coi là bí mật thương mại Những bí mật thương mại bao gồm bí mật về sản xuất, về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh”.13 Một

số quốc gia mà tiêu biểu là Mỹ14 và Nhật Bản15 cũng sử dụng thuật ngữ này

Pháp luật Mỹ quy định một cách chi tiết bằng cách liệt kê những hình thức cũng như những điều kiện của bí mật thương mại. 16 Cụ thể, bí mật thương mại bao gồm

“toàn bộ các hình thức và các loại thông tin tài chính, kinh doanh, khoa học, kỹ thuật,

11 Trường đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Công an nhân

dân, tr 292

12 Hoàng Minh Chiến (2016), “Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật

cạnh tranh và một số bất cập”, Tạp chí luật học, số 08 (195)/2016, tr 35

13 WIPO, “What is a trade secret?”

https://www.wipo.int/sme/en/ip_business/trade_secrets/trade_secrets.htm, truy cập ngày 30/5/2020

14 Thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong Đạo luật bí mật thương mại thống nhất (UTSA-Uniform Trade Secrets Act) đối với 48 tiểu bang năm 1979 và Đạo luật quy định về bí mật kinh doanh có giá trị áp dụng thống nhất cho toàn liên bang của Hoa Kỳ (DTSA-Defend Trade Secrets Act) được ban hành năm 2016

15 Thuật ngữ được quy định tại khoản 6 Điều 2 Đạo Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh (UCPA-Unfair Competition Prevention Act) năm 1993: “Bí mật thương mại là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một phương pháp sản xuất, phương pháp bán hàng hoặc bất kỳ thông tin nào khác về công nghệ hoặc kinh doanh”

16 Điểm b khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hộ bí mật thương mại năm 2016 (DTSA)

Trang 13

kinh tế bao gồm các mô hình, đồ án, tác phẩm, bưu kiện, soạn thảo, dụng cụ chương trình, công thức, thiết kế nguyên mẫu, cách thức, kỹ thuật, quy trình, chương trình hoặc mật mã dưới dạng vật chất hay phi vật chất được lưu trữ, soạn thảo hay ghi lại

cụ thể dưới dạng điện tử, đồ họa, hình ảnh hoặc bằng văn bản.” Bên cạnh đó, những thông tin trên còn phải đáp ứng những điều kiện nhất định bao gồm: “(i) được chủ sở bảo vệ thông tin bằng những biện pháp hợp lý; và (ii) có giá trị kinh tế độc lập, thực

tế hoặc tiềm năng từ việc không được biết đến một cách rộng rãi và không thể xác định được bằng các phương pháp hợp pháp bởi người khác, người mà có thể có được giá trị kinh tế từ việc tiết lộ hoặc sử dụng thông tin.” Có thể thấy, pháp luật Mỹ tiếp cận khái niệm bí mật thương mại chủ yếu bằng phương pháp liệt kê Không chỉ liệt

kê những hình thức mà pháp luật Mỹ còn đưa ra những điều kiện để một thông tin được xem xét dưới dạng bí mật thương mại

Trong khi đó, cũng đối với thuật ngữ bí mật thương mại, pháp luật Nhật Bản quy định tại Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 2006: “Thuật ngữ bí mật thương mại được sử dụng trong Đạo luật này có nghĩa là thông tin kỹ thuật hoặc kinh doanh hữu ích cho các hoạt động kinh doanh, như phương thức sản xuất hoặc tiếp thị, được giữ bí mật và không được công khai”.17

Thuật ngữ được quy định theo một cách khái quát và đơn giản hơn so với phương pháp liệt kê đã khiến cho nội hàm trở nên rộng hơn

Một thuật ngữ khác, thuật ngữ “bí mật kinh doanh” (Business Secret) đã được

sử dụng trong pháp luật cạnh tranh trước đây và pháp luật sở hữu trí tuệ hiện tại ở Việt Nam Cụ thể, thuật ngữ này được định nghĩa tại khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng được sử dụng trong kinh doanh” Luật Cạnh tranh năm 2004 không nêu ra một định nghĩa cụ thể cho thuật ngữ này mà chỉ

đề cập đến điều kiện để một thông tin được xem là bí mật kinh doanh

Có thể thấy có nhiều thuật ngữ khác nhau đã được các nhà làm luật trên thế giới

sử dụng nhằm điều chỉnh đối tượng của hành vi xâm phạm TTBMTKD Tại Việt Nam, thuật ngữ “thông tin bí mật trong kinh doanh” tương đồng với thuật ngữ thông tin bí mật (Undisclosed Information) được sử dụng trong Luật Cạnh tranh năm 2018 Đây cũng là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Hiệp định TRIPS (Trade Rela-ted Aspects of Intellectual Property Right)18 - thoả thuận đa phương toàn diện nhất

17 Khoản 6 Điều 2 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 2006

18 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ 1/1/1995 tại tất cả các nước là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Trang 14

về sở hữu trí tuệ cho đến nay.19 Mặc dù vậy, Hiệp định cũng không đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ này mà chỉ đề cập đến các điều kiện được bảo hộ của thông tin bí mật20

bao gồm:

(i) Có tính chất bí mật, có nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại

thông tin đó nói chung không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó;

(ii) Có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật; và

(iii) Được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện

pháp phù hợp thực tế

Việc sử dụng một thuật ngữ mới trong Hiệp định TRIPS so với pháp luật các quốc gia thời bấy giờ nhận được sự quan tâm của giới chuyên môn Các nhà nghiên cứu luật học đưa ra các quan điểm khác nhau để lý giải việc sử dụng thuật ngữ này của Hiệp định TRIPS và sự khác biệt của thuật ngữ này khi áp dụng

Quan điểm thứ nhất cho rằng mục đích khi sử dụng thuật ngữ thông tin bí mật

là để nhấn mạnh việc bảo hộ cần phải đi xa hơn so với những quan niệm hẹp hòi đã tồn tại trong các thế kỉ trước về loại đối tượng này.21 Cùng với ý kiến đó nhóm tác giả Trần Yến Nhi và Dương Thị Thảo Nguyên cho rằng thông tin bí mật có nội hàm rộng hơn và bao gồm cả bí mật kinh doanh.22 Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thái Mai trong bài báo khoa học được công bố vào năm 2010 đã bác bỏ lập luận này khi đưa

ra dẫn chứng về phạm vi rộng lớn của thuật ngữ bí mật thương mại23 trong Đạo luật

Bí mật thương mại thống nhất (UTSA) của Mỹ năm 1979, theo đó tác giả cho rằng phạm vi của của thuật ngữ bí mật thương mại trên vẫn đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí bảo hộ theo Hiệp định TRIPS.24

19 https://thanhtra.most.gov.vn/thanhtra/tin-tuc/4/225/tong-quan-ve-hiep-dinh-trips.aspx, truy cập ngày 22/4/2020

20 Khoản 2 Điều 39 Hiệp định TRIPS

21 Nguyễn Thị Quế Anh (2004), “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp

luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, số 03/2004, tr 78

22 Trần Yến Nhi (chủ nhiệm đề tài) (2018), Điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam - So sánh với pháp luật Hoa Kỳ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường

Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 15

23 Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, bản sưu tập thông tin, chương trình, thiết bị, cách thức, phương pháp hoặc quy trình mà trong đó:

(i) Làm phát sinh giá trị kinh tế, độc lập, thực tế và có tiềm năng, không phải là hiểu biết thông thường và người khác với các cách thức hợp pháp không thể tiếp cận được giá trị kinh tế đó từ việc tiết lộ hay sử dụng thông tin;

(ii) Cần phải đưa ra các biện pháp cần thiết và hợp lý để đảm bảo tính bí mật cho thông tin”

24 Nguyễn Thái Mai (2010), “Khái niệm thông tin bí mật - Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong

pháp luật thương mại quốc tế”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 02/2010, tr 47

Trang 15

Quan điểm thứ hai được ủng hộ bởi Fracois Dessemeontet với luận điểm “Thuật ngữ thông tin bí mật được đề cập do các thuật ngữ khác không có ý nghĩa tương tự trong các hệ thống pháp luật khác nhau” và “Điều 39 Hiệp định TRIPs dung hoà tất

cả các định nghĩa bí mật thương mại của Mỹ và các khái niệm của Châu Âu về CTKLM và các hoạt động thương mại trung thực”.25 Luận điểm trên được tác giả Nguyễn Thái Mai đồng tình bằng cách so sánh hai thuật ngữ bí mật thương mại giữa

Mỹ và Châu Âu Cụ thể, bí mật thương mại theo pháp luật Mỹ bao gồm cả bí quyết

kỹ thuật (know-how), trong khi đó, đây lại là hai thuật ngữ tách biệt nhau theo pháp luật Châu Âu,26 Hàn Quốc, Singapore, và Indonesia.27 Thuật ngữ thông tin bí mật được lựa chọn để sử dụng trong Hiệp định TRIPS trong hoàn cảnh có sự không đồng nhất về thuật ngữ giữa các quốc gia cũng như các điều ước quốc tế

Có thể chứng minh tính hợp lý của quan điểm thứ hai do các điều kiện về thông tin bí mật được đưa ra trong Hiệp định TRIPS mang tính chất cơ bản và có phần hẹp hơn so với một số thuật ngữ trước đó Hơn thế nữa, Hiệp định TRIPS ra đời là một thoả thuận thương mại đa phương trong bối cảnh các quốc gia không có sự thống nhất

về mặt thuật ngữ Do đó, việc lựa chọn thuật ngữ trong Hiệp định TRIPS là nhằm dung hoà tất cả các thuật ngữ đã từng được đề cập trong các điều ước quốc tế và pháp luật các quốc gia liên quan đến các bí mật tồn tại trong quá trình kinh doanh và đáp ứng đủ các điều kiện được đặt ra tại Hiệp định TRIPS

Định nghĩa của thông tin bí mật từng được đưa ra trong pháp luật Chile là “thông tin đã tuân theo các bước hợp lý để đảm bảo tình trạng bí mật và không phải là hiểu biết thông thường và dễ dàng truy cập đối với những người làm nhiệm vụ xử lý thông tin trong lĩnh vực đó”.28 Có thể thấy định nghĩa được đưa ra mang nội hàm khá rộng

và đề cập đến các điều kiện để một thông tin được xem là bí mật Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, thuật ngữ được đưa vào sử dụng tại khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 mà không có bất kỳ định nghĩa kèm theo

Hiện tại, các nhà nghiên cứu pháp luật vẫn đang nghiên cứu về khái niệm của thuật ngữ “thông tin bí mật” Theo đó, tác giả Nguyễn Hữu Khánh Linh và Nguyễn Thị Hạnh đưa ra nhận định trong bài báo khoa học đăng trên tạp chí Công thương vào tháng 11/2017 rằng “Thông tin bí mật là các thông tin về lĩnh vực khoa học, kỹ thuật,

25 Fracois Dessemontet (1998), Protection of Trade Secret and Confidential Information, Kluer

Law International, London, p 19

https://www.unil.ch/files/live/sites/cedidac/files/Articles/Protection%20Trade%20Secrets.pdf, truy cập ngày 29/3/2020

26 Nguyễn Thái Mai, tlđd (24), tr 47

27 Alan S Gutterman and Bentley J Anderson (1997) Intellectual Property in global markets: A Guide for Foreign Lawyers and Managers, Kluwer Law International, London, p 305, 313

28 Khoản 2 Điều 89 Luật số 19,039 sửa đổi năm 2005 ( Law No 19,039)

Trang 16

các thông tin về hoạt động sản xuất - kinh doanh Trên thực tế, loại thông tin được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau.”29 Tương tự như vậy, tác giả Nguyễn Thái Mai trong bài viết “Khái niệm thông tin bí mật - Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế” đã đưa ra khái niệm chi tiết và đầy đủ hơn: “Thông tin

bí mật đó là các thông tin về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật về hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể có giá trị thương mại, đem lại các lợi thế cạnh tranh và được chủ thể bảo mật phù hợp với pháp luật”.30

Như vậy, có thể nói thông tin bí mật trong kinh doanh là thông tin mang nội hàm rộng có tính bí mật tồn tại trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp và được chủ sở hữu đảm bảo trạng thái bảo mật

1.1.3 Các dạng xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường, hành vi xâm phạm TTBMTKD ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp Tuy nhiên, có một số dạng hành

vi được xem là kinh điển đối với vấn đề xâm phạm TTBMTKD

Thứ nhất, hành vi tiếp cận thu thập thông tin bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật

Yếu tố cấu thành cơ bản của hành vi loại này là chủ thể vi phạm sử dụng các phương thức chống lại biện pháp bảo mật hoặc chống lại việc sử dụng hợp pháp TTBMTKD của chủ sở hữu.31 Biện pháp bảo mật được có thể là một là các biện pháp vật lý như cất giữ tài liệu trong tủ khoá hoặc lưu giữ tài liệu dưới sự bảo mật của mật khẩu Do đó, hành vi chống lại các biện pháp bảo mật có thể là trộm tài liệu từ tủ hoặc có thể sử dụng các biện pháp công nghệ thông tin để đánh cắp dữ liệu từ xa Như vậy, câu hỏi đặt đối với việc chủ sở hữu bất cẩn rời khỏi tài liệu hoặc vô ý để lộ mật khẩu khiến vô hiệu hoá biện pháp bảo mật thì người tiếp cận thu thập thông tin

đó có bị coi là đã thực hiện hành vi Có quan điểm cho rằng, việc vô ý, bất cẩn làm

lộ mật khẩu hoặc không khoá tủ trước khi rời khỏi văn phòng khiến thông tin bị thu thập mà không phải dùng bất kỳ biện pháp nào chống lại sự bảo mật thì không bị xem

là thực hiện hành vi.32 Tuy nhiên, tác giả không đồng ý với quan điểm này Các biện pháp bảo mật trước đó đã thể hiện rõ ràng chủ ý bảo vệ của chủ sở hữu về việc cản trở người không có thẩm quyền tiếp cận, thu thập thông tin được bảo mật Việc thu thập thông tin do sự vô ý, bất cẩn của chủ sở hữu trong một khoảng thời gian không

29 Nguyễn Hữu Khánh Linh, Nguyễn Thị Hạnh (2017), “Các khía cạnh pháp lý về bảo hộ thông tin

bí mật chống cạnh tranh không lành mạnh theo quy định pháp luật quốc tế”, Tạp chí công thương,

số 12/2017, tr 49

30 Nguyễn Thái Mai, tlđd (24), tr 56

31 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 89

32 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tldd (31), tr 89

Trang 17

hợp lý có thể là sự cố ý của chủ thể thực hiện hành vi Việc ghi nhận mật khẩu bảo mật của người khác cũng cho thấy sự bất thường Do đó, việc xác định yếu tố lỗi cũng như các hành vi tiếp theo của chủ thể thu thập thông tin do lỗi bất cẩn của chủ sở hữu

để xác định vấn đề vi phạm trên thực tiễn là vô cùng cần thiết

Ngoài ra, hành vi tiếp cận, thu thập thông tin không đòi hỏi sự sao chép hay chiếm đoạt phương tiện chứa thông tin mà chỉ cần chủ thể đọc được thông tin đó cũng

đã có thể hình thành hành vi Không thể áp dụng quy định về tội phạm chưa đạt khi người đó có biện pháp chống lại các biện pháp bảo mật nhưng chưa thực hiện được việc tiếp cận, thu thập thông tin.33

Dạng hành vi này là một trong những hành vi xâm phạm TTBMTKD phổ biến trong pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế Điển hình là pháp luật Trung Quốc khi mô tả một cách chi tiết những hành vi mang tính chất tiếp cận thu thập bằng cách liệt kê hành vi như “ăn cắp, hứa hẹn, bị cưỡng bức hoặc bằng các phương tiện không lành mạnh khác để tiếp cận được những bí mật kinh doanh của người có lợi ích hợp pháp”.34

Thứ hai, tiết lộ, sử dụng thông tin mà không được phép của chủ sở hữu kinh doanh

Tiết lộ là hành vi làm cho thông tin bị phổ biến ra ngoài và làm mất đi tính bí mật ban đầu của thông tin Hành vi tiết lộ thông tin phải được xem xét dưới yếu tố lỗi là lỗi cố ý Nếu tiết lộ thông tin là lỗi vô ý thì không cấu thành hành vi vi phạm này Trường hợp vô ý tiết lộ thông tin có được từ quan hệ hợp đồng với chủ sở hữu hoặc người đang sử dụng hợp pháp thông tin đó thì được xem là hành vi vi phạm hợp đồng.35

Sử dụng thông tin là hành vi áp dụng TTBMTKD của doanh nghiệp khác vào trong quá trình kinh doanh của mình Hành vi sử dụng thông tin được quy định nhằm nhắm đến nhóm đối tượng sử dụng thông tin có được do người khác thu thập, tiếp cận bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật hoặc cố ý tiết lộ TTBMTKD Hành

vi này nhắm đến nhóm đối tượng không trực tiếp chiếm đoạt nhưng tiếp nhận một cách có chủ đích từ người chiếm đoạt Ngoài ra, đây có thể là hành vi tiếp theo của một hành vi xâm phạm TTBMTKD khác đã được thực hiện trước đó để sử dụng cho doanh nghiệp của mình

Đây là dạng hành vi phổ biến nhất đối với pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế Hành vi tiết lộ được quy định trong Hiệp định TRIPS dưới dạng “làm lộ

33 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tldd (31), tr 90

34 Khoản 1 Điều 10 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm

1993

35 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tldd (31), tr 91

Trang 18

bí mật”.36 Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ quy định một cách tổng quát hơn về việc doanh nghiệp sử dụng thông tin có được do chủ thể khác thu thập một cách trái pháp luật: “Chiếm đoạt thông tin bí mật do bên thứ ba thực hiện khi đã biết hoặc do bất cẩn không thể biết hành vi đó liên quan đến việc chiếm đoạt thông tin.”37 Tương tự với pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc quy định: “tiết

lộ, sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng bí mật thương mại của chủ sở hữu quyền có được bằng các phương tiện không phù hợp đã được đề cập”.38 Đặc biệt, pháp luật Mỹ không quy định hành vi tiếp cận hay thu thập thông tin bí mật là một dạng hành vi chiếm đoạt thông tin mà chỉ xem xét những hành vi mua lại hoặc tiết

lộ, sử dụng những thông tin được thu thập tiếp cận một cách không chính đáng là hành vi chiếm đoạt thông tin bí mật.39

Dạng hành vi này hướng đến rất nhiều đối tượng khi cách tiếp cận về mặt từ ngữ khá tổng quát cũng như được xem như một quy định mang tính chất “quét” đối với các hành vi khác khi nhắm vào mục đích tiết lộ và sử dụng Có thể nói đây là dạng hành vi tiêu biểu cũng như xuất hiện trong hầu hết các văn bản quy định về hành

vi xâm phạm TTBMTKD

Thứ ba, hành vi vi phạm hợp đồng bảo mật

Hợp đồng bảo mật là hợp đồng mà một bên được quyền tiếp cận TTBMTKD của chủ sở hữu, nhưng phải có nghĩa vụ bảo mật và không được tiết lộ thông tin đó cho bên thứ ba.40 Hiện nay có hai trường hợp phổ biến nhất mà hợp đồng bảo mật được sử dụng là thoả thuận bảo mật trong hợp đồng chuyển giao công nghệ và điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động

Việc chuyển giao công nghệ của các chủ thể có thể thực hiện thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó, TTBMTKD có thể là một trong những đối tượng được chuyển giao Trong trường hợp chuyển giao quyền sử dụng TTBMTKD, các bên sẽ kí kết những điều khoản để thoả thuận về nghĩa vụ bảo mật thông tin cũng như việc thực hiện các biện pháp bảo mật cần thiết của bên nhận chuyển giao Quy định về nghĩa vụ bảo mật TTBMTKD phổ biến tại nhiều quốc gia Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã quy định trong Luật Hợp đồng nếu một bên tiết lộ hoặc sử dụng bất hợp pháp bí mật thương mại thu được trong khi đàm phán hợp đồng và việc tiết

lộ hoặc sử dụng nó gây thiệt hại cho bên kia thì bên đó có trách nhiệm bồi thường

36 Chú thích số 10 Hiệp định TRIPS năm 1994

37 Khoản 3 Điều 9 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000 (Agreement between the United States of America and the Socialist republic of Vietnam on trade relations)

38 Khoản 2 Điều 10 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993

39 Điểm b khoản 1 Điều 2 Luật bảo hộ bí mật thương mại năm 2016 (DTSA)

40 Lê Anh Tuấn (2009), Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, tr 102

Trang 19

thiệt hại cho dù hợp đồng có được thực hiện hay không.41 Như vậy, đối với pháp luật Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, nghĩa vụ bảo mật TTBMTKD sẽ tự động xuất hiện ngay trong khi đàm phán hợp đồng và ngay cả khi hợp đồng không được thực hiện Nghĩa vụ bảo mật khi thực hiện hợp đồng nhận được sự quan tâm của các nhà làm luật Điều này xuất phát từ nguy cơ TTBMTKD bị xâm phạm theo dạng này ngày càng cao do các hợp đồng nhượng quyền thương mại ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh đó, một số người lao động sẽ được chủ sở hữu cho phép tiếp cận TTBMTKD nhằm mục đích công việc Khi đó, những người lao động này sẽ được kí kết một thoả thuận có liên quan đến vấn đề bảo mật Cụ thể, hai bên có thể thoả thuận

về nội dung TTBMTKD, thời hạn bảo mật, quyền lợi và mức bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm thoả thuận Theo đó, người lao động có nghĩa vụ bảo mật TTBMTKD theo yêu cầu của người sử dụng lao động Một số quốc gia như Pháp, Phần Lan và Thuỵ Sĩ có cơ chế bảo vệ TTBMTKD theo chiều hướng quy định nhân viên có trách nhiệm bảo mật TTBMTKD ngay cả khi đã thôi việc hoặc được bảo hộ bằng cơ sở văn bản pháp quy cục bộ của từng cơ sở sản xuất thường gọi là “Luật về quy tắc ứng xử của người làm công” như ở Nhật.42

Hành vi vi phạm có thể là doanh nghiệp cố tình tiết lộ thông tin có được cho một bên thứ ba hoặc người lao động và doanh nghiệp trực tiếp sử dụng thông tin nhằm trục lợi cho việc kinh doanh của mình Như vậy có thể thấy hành vi này là hành

vi tương tự hành vi thứ nhất chiếm đoạt thông tin một cách không chính đáng và việc

vi phạm nghĩa vụ bảo mật cũng có thể xem như một dạng chống lại biện pháp bảo mật của chủ sở hữu Vì lúc này, biện pháp bảo mật của chủ sở hữu là các điều khoản

41 Điều 43 Luật Hợp đồng Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1999 ( Contract Law of the People's Republic of China)

42 Nguyễn Thị Quế Anh, tldđ (21), tr 77

43 Khoản 2 Điều 9 Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000

Trang 20

quyền vật chất và lợi ích hợp pháp này là hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật TTBMTKD trong hợp đồng.44 Cộng hoà Indonesia cũng quy định tại Điều 13 Luật

Bí mật thương mại năm 2000 (Law No 30/2000 concerning on trade secret): “Hành

vi xâm phạm bí mật thương mại diễn ra khi một người cố ý tiết lộ bí mật thương mại hoặc vi phạm các nghĩa vụ hay thoả thuận bảo mật quy định dưới bất kỳ hình thức nào, bằng văn bản hoặc không” Có thể thấy pháp luật quốc tế và một số quốc gia rất quan tâm đến vấn đề bảo mật TTBMTKD bằng hợp đồng bảo mật

Thứ tư, tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm

Dạng hành vi này có liên quan đến bên thứ ba là cơ quan nhà nước Về cơ bản,

cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo vệ TTBMTKD của doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến kinh doanh hay lưu hành sản phẩm Điều này đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 39 Hiệp định TRIPS rằng nếu các quốc gia thành viên quy định điều kiện để được phép tiếp thị dược phẩm hoặc sản phẩm hoá nông có chứa các thành phần hoá học mới là phải nộp kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu bí mật khác thu được nhờ những nỗ lực lớn thì quốc gia thành viên

có trách nhiệm bảo mật thông tin bí mật đó cho doanh nghiệp nhằm chống CTKLM Quy định trên được làm rõ hơn tại Hiệp định này khi đưa ra các yêu cầu về thủ tục đúng đắn và công bằng, trong đó yêu cầu: “phải có phương tiện để nhận biết và bảo

hộ thông tin bí mật”.45 Như vậy, pháp luật quốc tế đã nhận thức được từ rất sớm rủi

ro đối với TTBMTKD khi thực hiện các thủ tục hành chính và quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước Pháp luật một số quốc gia cũng quy định viên chức nhà nước

có nghĩa vụ bảo mật các thông tin mà họ tiếp cận được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thông qua được kí kết những giao ước đặc biệt Đây là hình thức phổ biến

ở Anh và một số quốc gia thuộc địa cũ của Anh như Úc và Ấn Độ.46 Tuy nhiên, dạng hành vi này lại không nằm trong những hành vi xâm phạm TTBMTKD mà các điều ước quốc tế liệt kê Tại Việt Nam, pháp luật cạnh tranh hiện tại đã không còn xem xét dạng hành vi này là xâm phạm TTBMTKD

Có thể thấy, đây là dạng hành vi được thực hiện tương tự với hành vi tiếp cận thu thập TTBMTKD bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của chủ sở hữu Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai dạng hành vi là chống lại biện pháp bảo mật của cơ

44 Điều 10 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1993

45 Điều 42 Hiệp định TRIPS năm 1994

46 Nguyễn Thị Quế Anh, tldđ (21), tr 76

Trang 21

nhà nước mà không phải là của chủ sở hữu Hành vi này có thể được thực hiện bằng cách tiếp cận thu thập của chủ thể bên ngoài bằng cách mua chuộc hoặc đe doạ Điều này cũng có thể xuất phát từ hành vi cố tình đưa thông tin ra bên ngoài của nhân viên

cơ quan nhà nước nhằm trục lợi cá nhân

1.2 Sự cần thiết điều chỉnh bằng Luật Cạnh tranh về hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Nhìn vào những đặc điểm của hành vi CTKLM đã được khái quát hoá, hành vi xâm phạm TTBMTKD là một hành vi CTKLM cần sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Theo đó, hành vi này do chủ thể kinh doanh thực hiện với mục đích nhằm đạt được những lợi thế nhất định so với những chủ thể kinh doanh khác trên thị trường với những biểu hiện “không lành mạnh” Hành vi có khả năng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến doanh nghiệp khác Có thể nói, hành vi xâm phạm TTBMTKD không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp sở hữu bí mật mà còn mang đến tác động tiêu cực đối với người tiêu dùng và thị trường Mặc dù có nhiều quy phạm của các lĩnh vực pháp luật khác nhau đề cập đến những vấn đề liên quan đến TTBMTKD nhưng

sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi này là vô cùng cần thiết và không thể thay thế

1.2.1 Đối với doanh nghiệp

Năng suất lao động tăng dựa trên các cơ chế khuyến khích sáng tạo Khi kết quả của quá trình sáng tạo được bảo hộ, các doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn trong việc đưa

ra các thành tựu mới Nhà kinh tế học người Áo J Schumpeter cho rằng trong nền kinh tế thị trường sáng tạo và tính năng động là hai động lực cơ bản nhất.47 Để tạo ra một TTBMTKD có giá trị, các doanh nghiệp phải đầu tư thời gian và nguồn vốn đáng

kể Công sức đầu tư bị chiếm đoạt có thể làm giảm động cơ sáng tạo của các doanh nghiệp Do đó, cần có cơ chế bảo vệ TTBMTKD của doanh nghiệp trước hành vi xâm phạm TTBMTKD

Trong một nền kinh tế mà hành vi xâm phạm TTBMTKD không nhận được sự điều chỉnh đúng mức, một số doanh nghiệp thay vì sáng tạo ra điều mới sẽ chọn cách thức tiêu cực để có TTBMTKD của doanh nghiệp khác Lúc này, đối thủ cạnh tranh

có thể sử dụng những thành quả sáng tạo của doanh nghiệp khác mà không phải gánh chịu bất kỳ phí tổn cũng như rủi ro nào trong quá trình nghiên cứu và phát triển Doanh nghiệp xâm hại TTBMTKD của doanh nghiệp khác sẽ cho ra đời những sản phẩm tương tự với giá thành thấp hơn Doanh nghiệp đầu tư vào TTBMTKD bị mất

đi thị trường sẽ không còn động lực đầu tư phát triển khi thành quả sáng tạo không

47 Trần Thị Kim Huế (2012), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh - pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh, tr 10

Trang 22

được bảo vệ TTBMTKD là một loại tài sản vô hình có thể mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Khi pháp luật cạnh tranh điều chỉnh một cách phù hợp hành vi CTKLM, các doanh nghiệp trong thị trường sẽ yên tâm hơn để tập trung nghiên cứu sáng tạo mà không sợ thành quả lao động bị chiếm đoạt Điều này không chỉ ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của các doanh nghiệp mà còn của nền kinh tế nói chung

1.2.2 Đối với người tiêu dùng

Thông tin cá nhân cũng như nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cũng có thể được xem là một loại TTBMTKD có khả năng bị xâm phạm Khi thông tin cá nhân

bị xâm phạm, người tiêu dùng có thể bị quấy nhiễu bởi hàng loạt những quảng cáo không mong muốn Người tiêu dùng còn có thể phải đối mặt những cuộc điện thoại lừa đảo hoặc nghiêm trọng hơn là tài khoản tài chính bị xâm phạm Ngoài ra, việc này có thể tạo nên những lo ngại về sự an toàn và độ tin cậy của hệ thống bảo mật của doanh nghiệp Theo đó, người tiêu dùng sẽ tham gia giao dịch với doanh nghiệp với một tâm thế dè chừng và không thật sự tin tưởng, từ đó, kéo theo hiệu quả của các giao dịch bị giảm sút

Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 đã được ra đời giúp bảo vệ quyền lợi và giảm đáng kể thiệt hại cho người tiêu dùng Người tiêu dùng được bảo đảm quyền bí mật thông tin cá nhân của mình khi tiến hành giao dịch.48 Tuy nhiên, Luật Bảo vệ người tiêu dùng chỉ đề cập đến trách nhiệm bảo đảm thông tin của bên cung ứng hàng hoá dịch vụ.49 Quan hệ pháp luật mà Luật Bảo vệ người tiêu dùng điều chỉnh là quan

hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.50 Trong khi đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là doanh nghiệp bị xâm phạm TTBMTKD trong trường hợp này Phạm vi điều chỉnh của luật này không bao gồm mối quan hệ giữa người tiêu dùng và bên thực hiện hành vi xâm phạm TTBMTKD

Do đó, khi có vấn đề xâm phạm do lỗi của bên thứ ba người tiêu dùng không thể căn

cứ vào Luật Bảo vệ người tiêu dùng để tiến hành các biện pháp pháp lý đối với bên xâm phạm Ngoài ra, đặc điểm của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được thể hiện tại các quy định về giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại là có xu hướng bảo

vệ người tiêu dùng sau và trong khi xảy ra giao dịch Theo đó, pháp luật yêu cầu xác định cụ thể một hay một nhóm người chịu ảnh hưởng từ hành vi vi phạm Trong khi

đó, pháp luật về cạnh tranh lại hướng tới bảo vệ tất cả những người tiêu dùng bao gồm cả những người tiêu dùng tiềm năng ngay cả trước khi họ tham gia giao dịch Bằng việc ngăn chặn hành vi xâm phạm TTBMTKD pháp luật cạnh tranh đã góp

48 Khoản 1 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

49 Khoản 2 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

50 Điều 2 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 23

phần loại bỏ các khả năng phát sinh vi phạm đe dọa đến quyền lợi người tiêu dùng.51

Xây dựng hành lang pháp lý chống hành vi xâm phạm TTBMTKD bằng pháp luật cạnh tranh sẽ giúp hạn chế tối đa những tổn thất mà người tiêu dùng có thể gặp phải khi xuất hiện hành vi xâm phạm TTBMTKD

Hơn nữa, trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, sản phẩm sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng phong phú và đa dạng hơn, đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Các thành quả sáng tạo được bảo vệ sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp đẩy mạnh phát triển sản phẩm Từ đó, người tiêu dùng sẽ được đáp ứng tốt nhất nhu cầu mà họ đặt ra

1.2.3 Đối với thị trường

Hành vi xâm phạm TTBMTKD là một hành vi CTKLM có tác động tiêu cực đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như làm giảm động lực sáng tạo của các chủ thể trên thị trường Những doanh nghiệp thực hiện hành vi có tác động xấu đến những doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng và thị trường nói chung Ngăn ngừa hành vi xâm phạm TTBMTKD có thể hình thành một khuôn mẫu pháp lý góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh Theo đó, môi trường kinh doanh có thể trở nên

ổn định và minh bạch

Mặt khác, trong bối cảnh các nhà đầu tư Việt Nam muốn nhận nhượng quyền

từ những doanh nghiệp nước ngoài cũng như những doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều thì vấn đề tạo ra một khung pháp lý vững chắc bảo vệ TTBMTKD là điều vô cùng cần thiết Nền kinh tế trong nước minh bạch là cơ sở vững chắc cho sự phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về TTBMTKD sẽ đảm bảo sự thống nhất giữa pháp luật quốc gia với thông lệ quốc tế Điều này sẽ góp phần tạo điều kiện cho các quan hệ hợp tác thương mại song phương và đa phương Việc tạo ra một sân chơi công bằng sẽ tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam

51 Đoàn Tử Tích Phước (2017), “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh”, Bài viết toạ đàm về cạnh tranh không lành mạnh, tr.19

Trang 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong nội dung Chương 1, với mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận về hành vi xâm phạm TTBMTKD, tác giả đã đạt được những kết quả nghiên cứu sau:

Một là, khoá luận phân tích tính hiệu quả và nguyên nhân của việc lựa chọn

thuật ngữ thông tin bí mật của Hiệp định TRIPS thông qua việc nghiên cứu các thuật ngữ khác nhau được sử dụng để điều chỉnh đối tượng hành vi xâm phạm TTBMTKD Qua đó, tác giả đã đưa ra khái niệm của thuật ngữ TTBMTKD dựa vào bối cảnh ra đời và điều kiện của thuật ngữ trong Hiệp định

Hai là, khoá luận phân tích bốn dạng hành vi xâm phạm TTBMTKD phổ biến

nhất được thừa nhận tại những điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia nhằm làm cơ sở lý giải cho việc lựa chọn hai dạng hành vi khách quan của Luật Cạnh tranh năm 2018 ở Chương 2

Ba là, tác giả cũng làm rõ sự cần thiết của việc điều chỉnh hành vi xâm phạm

TTBMTKD của pháp luật cạnh tranh dựa trên những phân tích về ý nghĩa đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và thị trường

Trang 25

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM THÔNG TIN BÍ

MẬT TRONG KINH DOANH 2.1 Tổng quan pháp luật điều chỉnh hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Hành vi xâm phạm TTBMTKD là hành vi xuất hiện lần đầu tiên tại Luật Cạnh tranh năm 2018 Xét về mặt thuật ngữ thì đây là một hành vi mới nhưng nếu xét về khía cạnh nội dung thì trước Luật Cạnh tranh năm 2018 kiểu vi phạm này đã được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam điều chỉnh từ lâu dưới dạng hành vi xâm phạm thông tin bí mật được sử dụng trong quá trình kinh doanh Việc thay đổi thuật ngữ trong hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam

là để hướng sự hoàn thiện và tính áp dụng của các quy định

Hành vi xâm phạm TTBMTKD là một trong những hành vi CTKLM liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ điều chỉnh Vào năm 1994, Hiệp định TRIPS đã lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ “thông tin bí mật” cũng như quy định về việc bảo hộ đối tượng này tại Điều 39 Cho đến hiện nay, hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như các điều ước quốc tế song phương và đa phương đã ghi nhận về vấn đề bảo hộ đối với thông tin bí mật có giá trị trong lĩnh vực kinh doanh như Hiệp định tự do thương mại Bắc - Mỹ (NAFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì, …52

Tại Việt Nam, khi Hiến pháp năm 1992 ra đời thì pháp luật về sở hữu công nghiệp mới chính thức được ghi nhận.53 Từ đó, cơ chế bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam được thiết lập Một thuật ngữ đầu tiên mang tính chất khá tương đồng với TTBMTKD từng được ghi nhận là “bí quyết” Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy định: “Bí quyết là những kinh nghiệm, kiến thức, thông tin kĩ thuật quan trọng mang tính chất bí mật được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất kinh doanh có khả năng sáng tạo ra những dịch vụ, sản phẩm có chất lượng cao đem lại hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường” Có thể thấy khái niệm trên mang tính lý thuyết cao, chưa chi tiết và vẫn chưa phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế Mặc dù quyền

sở hữu công nghiệp đã được ghi nhận tại Điều 780 Bộ luật Dân sự 199554 nhưng mãi

52 Nguyễn Thái Mai (2012), “Bổ sung luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về bí mật kinh doanh trong mối

tương quan giữa quy định các nước và điều ước quốc tế”, Tạp chí Luật học, số 07/2012, tr 38

53 Điều 60 Hiến pháp năm 1992

54 Điều 780 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về quyền sở hữu công nghiệp: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định”

Trang 26

đến năm 2000 tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP, TTBMTKD mới lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật Việt Nam dưới tên gọi “bí mật thương mại” để làm rõ hơn “các đối tượng khác” được Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định Theo đó, bí mật kinh doanh được định nghĩa tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 54/2000/NĐ-CP Cụ thể, bí mật kinh doanh được bảo hộ là thành quả đầu tư dưới dạng thông tin có đủ các điều kiện sau đây: (i) Không phải là hiểu biết thông thường; (ii) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; (iii) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Như vậy, Nghị định không chỉ khái quát thuật ngữ bí mật kinh doanh mà còn đưa ra các điều kiện để bí mật kinh doanh đó được bảo hộ Đây có thể xem là một bước phát triển mới trong quá trình nội luật hoá và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết

Bên cạnh đó, tại Điều 7, 8, 9 Nghị định còn quy định các điều kiện về chủ thể

sở hữu bí mật kinh doanh, nội dung và thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Không dừng lại ở đó, Nghị định còn nêu được các hành vi xâm phạm quyền

sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh và trình tự xử lý đối với các hành vi xâm phạm này tại Điều 18, 21

Để tăng tính thực thi cho các quy định bảo hộ thông tin bí mật, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định chi tiết hơn so với Bộ luật Dân sự 1995 Theo đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh của một cá nhân hay một tổ chức phụ thuộc hoàn toàn vào việc các các nhân, tổ chức này có được bí mật kinh doanh đó một cách hợp pháp và tiến hành việc bảo mật thông tin đó.55 Trong khi Nghị định 54/2000/NĐ-CP vẫn còn giá trị pháp lý thì Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ra đời dẫn đến sự tồn tại cùng lúc hai khái niệm bí mật kinh doanh trong các văn bản pháp luật

sở hữu trí tuệ Nguyên nhân xuất phát từ việc Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 không quy định tuyên bố hết hiệu lực của văn bản điều chỉnh vấn đề bí mật kinh doanh được ban hành trong văn bản pháp luật trước đó Mãi đến năm 2009, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 mới xuất hiện điều khoản chuyển tiếp cho quy định về bí mật kinh doanh, cụ thể quy định tại khoản 30 Điều 1: “Bí mật kinh doanh và tên thương mại đã tồn tại và được bảo hộ theo Nghị định số 54/2000/NĐ-

CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

55 Khoản 2 Điều 751 Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 27

đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống CTKLM liên quan tới sở hữu công nghiệp tiếp tục được bảo hộ theo quy định của Luật này”

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 không chỉ quy định một cách cụ thể và mở rộng hơn về mặt khái niệm: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”56 mà còn cụ thể căn cứ về vấn đề xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên cơ sở: “có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó”.57 Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 còn chi tiết và cụ thể hơn khi đề cập đến điều kiện để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh,58 các hình thức sử dụng bí mật kinh doanh,59các hành vi chủ

sở hữu bí mật kinh doanh không được cấm người khác thực hiện,60 các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh.61 Có thể thấy, các quy định về bí mật kinh doanh tồn tại trong ngành luật Sở hữu trí tuệ xuất hiện một cách rất chi tiết và cụ thể

Tuy nhiên, TTBMTKD đã tồn tại trong ngành luật thương mại cũng như lĩnh vực cạnh tranh từ rất sớm Nếu như mãi đến năm 2000 bí mật kinh doanh mới thực

sự xuất hiện trong ngành luật Dân sự mà cụ thể là lĩnh vực Sở hữu trí tuệ thì từ năm

1997 vấn đề về bảo vệ TTBMTKD đã được đề cập trong Luật Thương mại năm 1997

Cụ thể, tại khoản 5 Điều 86 Luật Thương mại năm 1997 quy định về nghĩa vụ của người đại diện: “Không được tiết lộ hoặc cung cấp cho người khác các bí mật liên quan đến hoạt động thương mại của người được đại diện trong thời gian làm đại diện

và trong thời hạn hai năm, kể từ khi hợp đồng đại diện chấm dứt” Khi đề cập đến nghĩa vụ của bên nhận uỷ thác, Luật này cũng có quy định về vấn đề giữ các thông tin bí mật về kinh doanh đã được nhận từ bên uỷ thác.62 Có thể nói, đây là văn bản luật đầu tiên có điều chỉnh về vấn đề TTBMTKD Mặc dù chưa được đề cập một cách chi tiết và cụ thể, nhưng văn bản pháp luật này vẫn cho thấy ý thức của nhà làm luật trong việc bảo vệ bí mật kinh doanh của các chủ thể chẳng hạn như chủ thể được đại diện, chủ thể uỷ thác, …

Để đủ cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể trong nền kinh tế bảo

vệ lợi ích của mình cũng như bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh năm 2004 vào ngày 03/12/2004 Trong

56 Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

57 Khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

58 Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

59 Khoản 4 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

60 Khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

61 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

62 Khoản 4 Điều 107 Luật Thương mại năm 1997

Trang 28

văn bản pháp luật này, thuật ngữ “bí mật kinh doanh” lần đầu tiên được đề cập trong ngành luật thương mại và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được xem xét dưới dạng hành vi CTKLM63 đã thể hiện sự tiến bộ của các nhà làm luật trong công cuộc điều chỉnh mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể trên thị trường Luật Cạnh tranh năm 2004 đã đưa ra những điều kiện để một thông tin được xem là bí mật kinh doanh tại khoản 10 Điều 3:

Bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau đây:

a) Không phải là hiểu biết thông thường;

b) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;

c) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không

bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Có thể thấy Luật Cạnh tranh năm 2004 và Nghị định 54/2000/NĐ-CP là hai văn bản có sự tương đồng về mặt điều kiện Nhưng nếu trong Nghị định những điều kiện được đề cập là điều kiện để bí mật kinh doanh được bảo hộ thì quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 lại yêu cầu thông tin phải đáp ứng những điều kiện nêu trên để được xem là một bí mật kinh doanh Trong khi đó, quy định có sự không đồng nhất

về mặt khái niệm giữa Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Nếu Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ đưa ra các điều kiện của bí mật kinh doanh thì Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 lại có một định nghĩa riêng cho bí mật kinh doanh Điều

đó cho thấy, trong hệ thống pháp luật bấy giờ cùng quy định về một đối tượng nhưng lại có sự không đồng nhất

Ngoài quy định về mặt khái niệm, Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2004 còn quy định những hành vi được xem là xâm phạm bí mật kinh doanh với bốn nhóm hành vi điển hình là tiếp cận, thu thập bằng cách chống lại biện pháp bảo mật; tiết lộ, sử dụng

mà không được chủ thể cho phép; vi phạm hợp đồng bảo mật; tiếp cận, thu thập khi chủ thể làm thủ tục hành chính

Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh năm 2004 đã được thay thế bằng Luật Cạnh tranh năm 2018 vào ngày 01/07/2019 Sự khác biệt lớn nhất của Luật Cạnh tranh năm 2018 đối với những văn bản pháp luật trước đây là thuật ngữ được sử dụng trong văn bản này sử dụng là “thông tin bí mật trong kinh doanh” thay thế cho thuật ngữ “bí mật kinh doanh” trước đó và không đưa ra bất kì định nghĩa nào cho thuật ngữ này Ngoài

ra, đối với hành vi xâm phạm TTBMTKD, Luật Cạnh tranh năm 2018 còn khái quát hoá các hành vi thành hai hành vi chính so với bốn hành vi trước đó được quy định

63 Khoản 2 Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004

Trang 29

trong Luật Cạnh tranh năm 2004.64 Sự thay đổi của Luật Cạnh tranh năm 2018 qua việc thay đổi thuật ngữ, loại bỏ định nghĩa và điều kiện cũng như khái quát hoá hành

vi xâm phạm TTBMTKD là nhằm mục đích hạn chế các bất cập đã phát sinh trên thực tế

Ngoài ra, thông tin bí mật còn được đề cập trong một số văn bản pháp luật khác Chẳng hạn như Luật tiếp cận thông tin năm 2016 có đề cập công dân có thể tiếp cận

bí mật kinh doanh trong điều kiện chủ thể đồng ý.65 Ngoài ra, có thể kể đến Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 khi quy định về vấn đề cán bộ, công chức Ngân hàng nhà nước và chính Ngân hàng nhà nước có trách nhiệm bảo mật thông tin của Ngân hàng nhà nước và các tổ chức, cá nhân.66 Bên cạnh đó, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng có yêu cầu bảo mật bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.67 Trong lĩnh vực chứng khoán, Luật Chứng khoán năm 2019 cũng có một số quy định liên quan Cụ thể, khoản 2 Điều 12 Luật Chứng khoán năm

2019 nghiêm cấm các hành vi sử dụng hoặc tiết lộ thông tin nội bộ của doanh nghiệp

để mua bán chứng khoán

Từ các văn bản pháp luật trên, có thể thấy, hành vi xâm phạm TTBMTKD không chỉ là đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh mà còn có thể được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác, có thể khác nhau về thuật ngữ nhưng bản chất vẫn có nhiều điểm tương đồng.68 Do đó, nguồn luật áp dụng đối với hành vi này có thể nằm

“rải rác” trong các văn bản pháp luật chuyên ngành Hành vi sẽ được xử lý theo pháp luật CTKLM khi chúng thoả các điều kiện về mặt chủ thể, mục đích, cũng như hậu quả

2.2 Nhận diện hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Do đó, chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm TTBMTKD có thể xác định là doanh nghiệp

64 Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018

65 Khoản 1 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

66 Điều 36 Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010

67 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010

68 Lê Anh Tuấn, tldđ (40), tr 108

69 Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018

70 Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018

Trang 30

Hơn nữa, chủ thể là doanh nghiệp được Luật Cạnh tranh năm 2018 đề cập tại mục đối tượng áp dụng Điều này cho thấy đây là điều kiện tiên quyết để giải quyết

vụ việc theo pháp luật cạnh tranh cũng như kết luận tính không lành mạnh của hành

vi Theo đó, một hành vi không phải do chủ thể kinh doanh mà pháp luật cạnh tranh quy định dù được thực hiện trên thị trường và có tính chất đối lập, đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức thông thường trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến với lợi ích của doanh nghiệp khác thì vẫn không thể cấu thành hành vi CTKLM.71

Doanh nghiệp được đề cập trong pháp luật cạnh tranh có sự khác biệt so với thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 Thuật ngữ doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 được định nghĩa là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.72 Trong khi đó, thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng trong pháp luật cạnh tranh được giải thích là “Tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam”.73 Như vậy, chủ thể của hành vi xâm phạm TTBMTKD được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm các loại hình doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp mà bao gồm tất cả các chủ thể được phép tiến hành hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế.74

Do không có điều kiện đính kèm, cá nhân kinh doanh có thể được hiểu là cả các

cá nhân có đăng kí kinh doanh75 và các cá nhân không đăng kí kinh doanh Điều này

mở rộng đến các chủ thể là các cá nhân không phải đăng kí kinh doanh được quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP như hộ kinh doanh, hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp Ngoài ra, việc gọi chung

tổ chức, cá nhân là doanh nghiệp có ý nghĩa kĩ thuật về mặt soạn thảo tạo điều kiện cho sự trích dẫn về sau mà không có nghĩa thống nhất giữa tổ chức kinh doanh và cá nhân kinh doanh.76

71 Hoàng Minh Chiến, tldđ (12), tr 28

72 Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014

73 Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2018

74 Trường đại học luật Tp Hồ Chí Minh, tldđ (31), tr 71

75 Chủ thể hộ kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP

76 Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học luật cạnh tranh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr

18

Trang 31

Bên cạnh đó, văn phòng đại diện và chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam có thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh năm 2018 và bị xử lý đối với hành vi CTKLM hay không vẫn là một thắc mắc Hai đối tượng này được quy định tại Luật Thương mại 2005 là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp nước ngoài được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.77 Về cơ bản có thể thấy hai đối tượng này không phù hợp với định nghĩa doanh nghiệp ở của cả Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Cạnh tranh năm 2018 nên không thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh năm 2018 Do đó, không thể bị xử lý với tư cách chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm TTBMTKD Tuy nhiên, hai nhóm đối tượng này vẫn có khả năng thực hiện những hành vi CTKLM nói chung và hành vi xâm phạm TTBMTKD doanh nói riêng

Có quan điểm cho rằng vẫn có thể xử lý hành vi của văn phòng đại diện chi nhánh và chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài nhưng đối tượng bị xử lý ở đây sẽ

là doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm trên do doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh năm 2018.78 Hoạt động thương mại được quy định tại Luật Thương mại năm 2005 như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.79 Theo đó, văn phòng đại diện có chức năng tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại80 và chi nhánh là đơn vị được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam.81 Chính vì vậy, khi doanh nghiệp nước ngoài thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện tại Việt Nam thì doanh nghiệp nước ngoài được xem là hoạt động tại Việt Nam Hơn nữa, tại Điều 4 Nghị định 07/2016/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của mình tại Việt Nam” Vì vậy, có thể nói vi phạm của văn phòng đại diện và chi nhánh tại Việt Nam sẽ được xem là vi phạm của doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài sẽ chịu trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với hành vi vi phạm

77 Khoản 6, 7 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005

78 Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2018

79 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005

80 Khoản 6 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005

81 Khoản 7 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005

Trang 32

Luật Cạnh tranh năm 2018 cũng mở rộng đối tượng áp dụng so với Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm cả “đơn vị sự nghiệp công lập” Điều này phù hợp với quy định của Hiến pháp về chính sách cạnh tranh “các chủ thể thuộc các thành phần kinh

tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”.82 Theo đó, pháp luật cạnh tranh cần phải điều chỉnh mọi đối tượng tham gia vào thị trường Đây là một sự thay đổi hợp lý vì đơn vị sự nghiệp công lập vẫn có thể thực hiện hành vi mang tính chất cạnh tranh Khi đơn vị sự nghiệp công lập tham gia vào các lĩnh vực y tế hoặc giáo dục họ vẫn có mong muốn theo đuổi lợi nhuận và vẫn thực hiện hành vi cạnh tranh.83 Trên thực tế, sự phát triển của nền kinh tế thị trường với những cố gắng xã hội hoá của chính phủ đã đem lại một môi trường cạnh tranh trong những lĩnh vực mà chủ thể tham gia có cả doanh nghiệp tư nhân và đơn vị sự nghiệp công lập Tiêu biểu

là lĩnh vực giáo dục Việt Nam được nhận định là đang bùng nổ giáo dục tư nhân Trong thời gian qua, thị trường Việt Nam đã chứng kiến nhiều thương vụ nhượng quyền thương mại giữa các trường tư thục Trong đó, những thương vụ nổi bật có thể

kể đến là Công ty cổ phần Đầu tư phát triển giáo dục Hutech mua lại Trường đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM; Tập đoàn Đầu tư tài chính toàn cầu TPG mua lại phần lớn cổ phần của VAS thông qua việc thoái vốn của 2 quỹ đầu tư Mekong En-terprise Fund II và MAJ Invest Hơn nữa, nhiều tập đoàn lớn đã chính thức tham gia cho thấy sự hấp dẫn của thị trường này Tập đoàn Vingroup sau khi thành công với

mô hình giáo dục phổ thông liên cấp Vinschool đã gia nhập lĩnh vực giáo dục đại học với VinUni phát triển các chuyên ngành trọng điểm là kinh doanh, công nghệ và khoa học sức khỏe, chính thức tuyển sinh khóa đầu tiên vào năm 2020 Bên cạnh đó, Tập đoàn FLC cũng gia nhập vào lĩnh vực này với số vốn gần 4000 tỷ đồng vào Trường đại học FLC tại tỉnh Quảng Ninh với chuyên ngành công nghệ cao, du lịch và hàng không.84 Riêng đối với lĩnh vực y tế, sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực này đã nâng số giường bệnh/10.000 dân từ 23,56 năm 2011 lên khoảng 29 giường/vạn dân/2018 Đầu tư tư nhân được sự khuyến khích trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế, từ sản xuất, cung ứng thuốc, trang thiết bị đến đào tạo, tư vấn sức khỏe, khám chữa bệnh…Đến tháng 12/2019, cả nước ghi nhận được 248 bệnh viện tư nhân với 21.048 phòng khám chuyên khoa, trên 15.475 giường bệnh.85

82 Khoản 2 Điều 51 Hiến pháp năm 2013

83 Theo PGS-TS Phan Huy Hồng trong Hội thảo “Những điểm mới của luật cạnh tranh 2018, Đặng Quốc Chương, Tổng thuật Hội thảo "Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”,

diem-moi-cua-luat-canh-tranh-2018-0530, truy cập ngày 4/4/2020

http://hcmulaw.edu.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc-hop-tac-quoc-te/bao-cao-tong-thuat-hoi-thao-nhung-84 Anh Hoà, “Tư nhân chạy đầu từ vào giáo dục vào bài toán lợi nhuận”,

https://vietnamfinance.vn/tu-nhan-chay-dua-dau-tu-vao-giao-duc-va-bai-toan-loi-nhuan-20180504224225089.htm, truy cập ngày 3/4/2020

85 “Những cú hích để hệ thống y tế tư nhân bứt phá ngoạn mục”,

Trang 33

Năm 2018, nước ta đã xuất hiện hai viện nghiên cứu đầu tiên thuộc sở hữu tư nhân là PRATI và TIAS.86 Điều này đánh dấu vai trò ngày càng lớn của khối tư nhân trong lĩnh vực phát triển khoa học Có thể thấy, những đơn vị sự nghiệp công lập tham gia trong những lĩnh vực này sẽ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân với mức

độ cạnh tranh ngày càng lớn Do đó, việc bổ sung đơn vị sự nghiệp công lập vào chủ thể các hành vi CTKLM nói chung và hành vi xâm phạm TTBMTKD là hoàn toàn

có cơ sở và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

Trên thực tế, việc xác định chủ thể thực hiện hành vi có tác động rất lớn trong việc tạo cơ sở pháp lý để chủ thể bị xâm phạm TTBMTKD bảo vệ quyền lợi của mình Phân tích vụ án số 609/2009/ QĐXX-LĐ87 có thể làm rõ hơn vấn đề này Trong

vụ án, ông Đăng Hữu Đức đã khởi kiện ra toà công ty Con Én Li (gọi tắt là Công ty Celi) về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật của bị đơn Tuy nhiên trong tình tiết vụ án có một số vấn đề có liên quan đến hành vi xâm phạm TTBMTKD

Cụ thể, ông Đức đã lợi dụng công việc là Quản lý bộ phận du học để tiếp cận, thu thập các TTBMTKD mà không cần chống lại các biện pháp bảo mật của Công ty Với những thông tin có được ông Đức đã thành lập một công ty có Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp số 4104008914 cấp ngày 37/3/2009 bởi Sở Kế hoạch và Đầu

tư Thành phố Hồ Chí Minh Công ty này có cùng ngành nghề với Công ty Celi ngay trong thời gian ông đang làm việc tại Công ty Hành vi của ông là hành vi sử dụng TTBMTKD dưới tư cách là doanh nghiệp khi ông sử dụng những thông tin đó cho doanh nghiệp mình đang làm chủ Toà án trong vụ việc trên không thể xác định thông tin mà hai bên tranh chấp là bí mật kinh doanh theo pháp luật sở hữu trí tuệ do không thoả mãn những điều kiện đi kèm Do đó, dù Công ty Celi có yêu cầu phản tố vẫn sẽ không thể bảo vệ được thông tin bị sử dụng trong trường hợp này Tuy nhiên, đối với pháp luật cạnh tranh, công ty của ông Đức sẽ được xác định là chủ thể có hành vi xâm phạm TTBMTKD Nếu như Luật Cạnh tranh năm 2018 được áp dụng với những quy định mở rộng về việc xác định TTBMTKD, Công ty Celi sẽ có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình Do đó, chủ thể trong pháp luật cạnh tranh được xác định là doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề áp dụng pháp luật cũng như đảm bảo hành

vi được thực hiện nhằm hướng đến mục tiêu CTKLM

http://tuyengiao.vn/y-te-cong-dong/nhung-cu-hich-de-he-thong-y-te-tu-nhan-but-pha-ngoan-muc-125924, truy cập ngày 3/4/2020

86 Trọng Đạt, “Thành lập hai viện nghiên cứu công nghệ cao của tư nhân tại Việt Nam”,

cua-tu-nhan-tai-viet-nam-469324.html, truy cập ngày 3/4/2020

https://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/tin-cong-nghe/thanh-lap-hai-vien-nghien-cuu-cong-nghe-cao-87 Bản án số 09/2010/LĐ-ST ngày 10/12/2010

Trang 34

2.2.2 Chủ thể bị xâm phạm

Chủ thể có quyền và lợi ích liên quan bị xâm phạm do hành vi xâm phạm TTBMTKD cũng cần được nghiên cứu trong trường hợp này Chủ thể có quyền và lợi ích liên quan trong trường hợp này được Luật Cạnh tranh năm 2018 đề cập là

“doanh nghiệp khác” Do cụm từ “doanh nghiệp khác” xuất hiện mà không có bất kì giải thích hay điều kiện nào đi kèm đã nhận được nhiều cách nhìn nhận và giải thích khác nhau Điều mà những nhà nghiên cứu pháp luật quan tâm là “doanh nghiệp khác” có cần thoả mãn yêu cầu là đối thủ cạnh tranh đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi hay không.88

Quan điểm thứ nhất cho rằng doanh nghiệp khác phải là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thực hiện hành vi CTKLM Cơ sở để lý giải cho quan điểm này là xuất phát từ định nghĩa về cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch nhằm giành cùng một loại khách hàng.89

Quan điểm thứ hai cho rằng hành vi CTKLM không cần xuất phát từ đối thủ cạnh tranh trên thị trường Lý do nếu xác định “doanh nghiệp khác” ở đây là đối thủ cạnh tranh thì phải chứng minh thị trường liên quan và điều này là rất khó khăn để

xử lý những hành vi này cũng như pháp luật cạnh tranh cũng không đặt ra yêu cầu này đối với vụ việc CTKLM.90 Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm mà tác giả đồng tình đối với hành vi xâm phạm TTBMTKD Nguyên nhân xuất phát từ một trong các hành vi được pháp luật cạnh tranh sử dụng liên quan đến TTBMTKD có hành vi “tiết lộ” Đối với hành vi này, chủ thể thực hiện hành vi có khả năng là đối tác hoặc bên nhận chuyển nhượng của doanh nghiệp bị xâm phạm quyền và lợi ích liên quan Trong trường hợp này mối quan hệ giữa hai bên không phải là quan hệ đối thủ cạnh tranh Tác giả cho rằng việc quy định hành vi “tiết lộ” là một trong những hành vi thuộc pháp luật cạnh tranh các nhà làm luật đã dự trù cho trường hợp chủ thể thực hiện hành vi và chủ thể bị ảnh hưởng không là đối thủ cạnh tranh với nhau Tuy nhiên hành vi tiết lộ này cho một doanh nghiệp khác với lỗi cố ý nhằm mục đích CTKLM

88 Đặng Quốc Chương, Tổng thuật Hội thảo "Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”,

diem-moi-cua-luat-canh-tranh-2018-0530, truy cập ngày 4/4/2020

http://hcmulaw.edu.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc-hop-tac-quoc-te/bao-cao-tong-thuat-hoi-thao-nhung-89 Theo TS Phạm Trí Hùng trong Hội thảo “Những điểm mới của luật cạnh tranh 2018,

Đặng Quốc Chương, Tổng thuật Hội thảo "Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”

diem-moi-cua-luat-canh-tranh-2018-0530, truy cập ngày 4/4/2020

http://hcmulaw.edu.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc-hop-tac-quoc-te/bao-cao-tong-thuat-hoi-thao-nhung-90 Theo TS Hà Thị Thanh Bình trong Hội thảo “Những điểm mới của luật cạnh tranh 2018,

Đặng Quốc Chương, Tổng thuật Hội thảo "Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018”

diem-moi-cua-luat-canh-tranh-2018-0530, truy cập ngày 4/4/2020

Trang 35

http://hcmulaw.edu.vn/vi/hoat-dong-khoa-hoc-hop-tac-quoc-te/bao-cao-tong-thuat-hoi-thao-nhung-cũng sẽ được xem xét dưới dạng hành vi xâm phạm TTBMTKD theo pháp luật cạnh tranh

Một điểm khác cần quan tâm là chủ thể có quyền khiếu nại trong Luật Cạnh tranh năm 2018 không hoàn toàn đồng nhất với chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp

bị xâm phạm Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về chủ thể có quyền khiếu nại như sau: “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh có quyền thực hiện khiếu nại

vụ việc cạnh tranh đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia”.91 Điều luật quy định chủ thể

có quyền khiếu nại là “tổ chức, cá nhân” mà không phải là “doanh nghiệp”, tức không yêu cầu phải là “cá nhân, tổ chức kinh doanh” Đối với quy định trên, chủ thể có quyền khiếu nại của hành vi xâm phạm TTBMTKD có thể là bất kì đối tượng nào cho rằng bị thiệt hại bởi hành vi xâm phạm TTBMTKD mà không cần là doanh nghiệp theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018

Hơn thế nữa, với quy định về chủ thể có quyền khiếu nại như trên, Luật Cạnh tranh năm 2018 cũng không đặt ra yêu cầu chủ thể khiếu nại là chủ sở hữu của TTBMTKD bị xâm phạm Quy định này có sự khác biệt rất lớn so với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Do mang tính chất coi trọng quyền sở hữu của chuyên ngành Dân sự, chủ thể có quyền khởi kiện phải là chủ

sở hữu của bí mật kinh doanh.92 Theo đó, trong pháp luật Sở hữu trí tuệ, chủ thể quyền phải là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.93 Điều này thể hiện rõ tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định về quyền tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và khởi kiện ra toà án hoặc trọng tài yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình chỉ thuộc về chủ sở hữu bí mật kinh doanh Đối với các tổ chức cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi CTKLM thì chỉ có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp dân

sự và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật cạnh tranh.94

Trong khi đó, pháp luật cạnh tranh không yêu cầu chủ thể có quyền khiếu nại là chủ sở hữu của TTBMTKD xuất phát từ bản chất của luật cạnh tranh tranh là bảo vệ

sự cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các chủ thể hoạt động trên thị trường Trên thực

tế, chủ thể chịu tác động tiêu cực đối với hành vi xâm phạm TTBMTKD ngoài chủ

sở hữu còn có cả các doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm cũng như các bên nhận nhượng quyền, đại lý, Hiện tại, Việt Nam đang ở vị trí số 8 trong số những thị

91 Khoản 1 Điều 77 Luật Cạnh tranh năm 2018

92 Điểm d khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

93 Khoản 6 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

94 Khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

Trang 36

trường hàng đầu của nhượng quyền trên thế giới và ngày càng có nhiều doanh nghiệp trở thành bên nhận nhượng quyền trong nền kinh tế.95 Đối với bên nhận nhượng quyền hoặc đại lý nếu TTBMTKD bị xâm phạm họ sẽ chịu tác động lớn về mặt doanh thu do đó việc mở rộng chủ thể có quyền khiếu nại sẽ đảm bảo quyền và lợi ích của nhóm đối tượng này

Bên cạnh đó, khách hàng cũng là một trong những đối tượng bị ảnh hưởng lợi ích khi TTBMTKD bị xâm phạm nếu thông tin đó có liên quan đến thông tin liên lạc,

sở thích, khả năng tài chính hay thói quen mua sắm Trong báo cáo kết quả tình hình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại năm 2019, Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng công bố có đến 34% thư khiếu nại gửi đến cục tập trung vào việc doanh nghiệp thu thập thông tin trái phép.96 Điều này cho thấy nhu cầu bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng là rất lớn Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng lại chỉ điều chỉnh quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp cung cấp97 nên không

có hiệu quả xử lý đối với trường hợp doanh nghiệp khác thực hiện hành vi xâm phạm TTBMTKD Do đó, quy định về chủ thể có quyền khiếu nại có thể tạo lập công cụ pháp lý cho khách hàng bảo vệ quyền lại của mình trong trường hợp bị xâm phạm

mà doanh nghiệp nắm giữ thông tin không tiến hành các biện pháp pháp lý

2.2.3 Hai dạng hành vi khách quan

Trước đây, Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định bao gồm bốn dạng hành vi khách quan của hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh.98 Nhưng hiện tại, Luật Cạnh tranh năm 2018 chỉ giữ lại hai dạng hành vi khách quan mô tả hành vi xâm phạm TTBMTKD

So với Luật Cạnh tranh năm 2004 thì hành vi xâm phạm TTBMTKD được tiếp cận theo hướng đơn giản hoá mô tả hành vi nhằm mục đích mở rộng phạm vi.99 Theo

đó, các quy định cũ tương tự với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sẽ chỉ có thể tập trung vào các bí mật kinh doanh mang tính chất bí quyết công nghệ Những quy định cũ được đánh giá là không phù hợp với tính đa dạng của hành vi trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Mô tả hành vi một cái khái quát phù hợp hơn hình thức liệt kê với tính chất của lĩnh vực mà pháp luật cạnh tranh điều chỉnh

95 Như Huỳnh, “Làn sóng nhượng quyền thương hiệu ở Việt Nam vẫn mạnh mẽ”,

97 Điều 2 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

98 Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2004

99 Bộ Công thương (2017), Báo cáo giải trình ý kiến của các bộ ngành về dự án Luật Cạnh tranh,

Hà Nội, tr 6

Ngày đăng: 22/04/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w