Để định tội danh chính xác đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì không chỉ dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự mà còn phải dựa vào vào các văn bản khác c
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI LỢI DỤNG, CHỨC VỤ QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM TỘI VỀ CHỨC VỤ
Quy định của pháp luật về dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ
Điều 352 Bộ luật hình sự đã đưa ra các khái niệm các tội phạm về chức vụ và người có chức vụ
Khoản 1: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”
Khái niệm trên đã chỉ ra khách thể bị các tội phạm này xâm hại là những quan hệ xã hội bảo đảm cho hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức, cụ thể là các quan hệ bảo đảm tính liêm chính, tính vô tư và công minh trong hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức Mặc dù Luật không chỉ rõ các cơ quan tổ chức trong bộ máy nhà nước hay cả khu vực tư nhân nhưng bằng việc bổ sung đối tượng tác động của tội phạm chức vụ là hoạt động thực hiện “nhiệm vụ” bên cạnh hoạt động thực hiện “công vụ” đã khẳng định việc mở rộng phạm vi của tội phạm về chức vụ sang khu vực tư nên các cơ quan, tổ chức theo quy định nêu trên bao gồm cả tổ chức trong hay ngoài nhà nước như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang, tổ chức phi chính phủ….Đồng thời, quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, của tổ ngoài nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng có thể trở thành khách thể của các tội phạm về chức vụ Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định trong phần giải thích từ ngữ:
Cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước (sau đây gọi là cơ quan, tổ chức, đơn vị) bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội (Khoản 9 Điều 2)
Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là doanh nghiệp, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều này (Khoản 10 Điều 2)
Khái niệm người có chức vụ được quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật hình sự
“Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”
Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn cũng chính là quy định về chủ thể của tội phạm Việc làm rõ khái niệm người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của luật hình sự rất quan trọng trong khoa học luật hình sự, nhất là trong việc định tội danh, bởi trong nhiều trường hợp cùng có những biểu hiện ở mặt khách quan và chủ quan như nhau nhưng có trường hợp do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, có trường hợp không phải do người có chức vụ quyền hạn thực hiện, nên các hành vi phạm tội cũng xâm phạm tới những khách thể khác nhau, dẫn đến các kết luận khác nhau về tội danh Như vậy, việc xác định chính xác người có chức vụ, quyền hạn giúp cho các cơ quan áp dụng pháp luật vận dụng đúng các quy phạm pháp luật hình sự vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Khái niệm người có chức quyền hạn được quy định tại Điều 352 Bộ luật hình sự Khái niệm trên mới chỉ mức độ khái quát nhất, chưa quy định một cách cụ thể, vì vậy trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật gặp không ít khó khăn trong việc xác định thế nào là người có chức vụ quyền hạn
Ngoài việc quy định trong Bộ luật hình sự, thì “người có chức vụ, quyền hạn” còn được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng 2018
Khoản 2 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2018 ngoài việc đưa ra khái niệm “người có chức vụ, quyền hạn” như Bộ luật hình sự, còn quy định cụ thể người có chức vụ quyền hạn bao gồm: a) Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; d) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó
Thực tiễn xét xử thì người có chức vụ quyền hạn có thể là công chức, viên chức nhà nước hay không phải là công chức, viên chức nhà nước được giao một công vụ, nhiệm vụ nhất định, không phụ thuộc vào hình thức được giao Họ có thể là người được bổ nhiệm, tuyển dụng, do hợp đồng, do dân cử hay do bất kỳ một hình thức nào khác, miễn là việc giao công vụ, nhiệm vụ này được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, những người được giao công vụ, nhiệm vụ đó có thể được hưởng lương hoặc không hưởng lương, có quyền năng nhất định khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ; có thể được giao công vụ, nhiệm vụ một cách thường xuyên hay theo thời vụ hay chỉ trong một thời gian ngắn như trường hợp thủ trưởng ủy quyền cho cấp dưới thực hiện công vụ của mình khi vắng mặt
Trong thực tiễn điều tra truy tố xét xử tội phạm về tham nhũng thì người có chức vụ, quyền hạn thường là:
Người đại diện chính quyền: Những người này khi thực hiện công vụ được giao không phải nhân danh cá nhân mình mà nhân danh nhà nước, đại diện và thực thi quyền lực nhà nước có quyền ra những quyết định mang tính cưỡng chế pháp lý đối với người khác
Người có chức vụ thực hiện chức năng tổ chức quản lý hành chính: Những người này giữ vai trò lãnh đạo, điều hành hoạt động của cơ quan, tổ chức, có quyền ra những quyết định xử lý kỷ luật hay khen thưởng đối với nhân viên thuộc quyền, có quyền điều hành hoạt động của cơ quan, tổ chức mình, đề ra những biện pháp để thực hiện các kế hoạch được giao, phân công nhiệm vụ cho nhân viên thuộc quyền, có quyền tuyển dụng, bổ nhiệm vào cơ quan, tổ chức của mình, những người này còn có chức năng quản lý về mặt nhân sự, kiểm tra hoạt động của người khác như giám đốc đốc nhân viên, những người đứng đầu trong các tổ chức bí thư đoàn thanh niên, hội trưởng hội phụ nữ
Những người thực hiện chức năng hành chính, kinh tế những người này có vai trò tổ chức điều hành việc sản xuất kinh doanh có liên quan đến việc quản lý bảo vệ và phân phối tài sản như kế toán, thủ kho, thủ quỹ những người này thường là không có nhân viên thuộc quyền
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Người phạm tội đã làm trái chức vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của mình như trong tội tham ô tài sản, người có chức vụ cũng có thể làm trái công vụ, thực hiện những hành vi vượt quá thẩm quyền, công vụ, nhiệm vụ của mình như trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Chiếm đoạt tài sản: Trong Bộ luật hình sự không đưa ra khái niệm chiếm đoạt hay chiếm đoạt tài sản Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xét xử thì chiếm đoạt tài sản được hiểu là việc cố ý dịch chuyển một cách bất hợp pháp tài sản đang trong sự quản lý của người khác thành tài sản của mình
* Tài sản là đối tượng chiếm đoạt: Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản:
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Khái niệm tài sản trong nhóm tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản không đồng nhất với khái niệm tài sản trong Bộ luật dân sự mà nó có nội hàm hẹp hơn nhiều Đó là: Tài sản phải là vật có thực, hiện hữu (không phải tài sản hình thành trong tương lai), có thể cầm nắm, định đoạt được; tiền; giấy tờ có giá (có hai loại giấy tờ có giá vô danh và giấy tờ có giá ghi danh, trong đó chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản) Các quyền tài sản (như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả…), bất động sản cũng không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản
Những vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ
Trong thực tiễn xét xử, có rất nhiều vướng mắc phát sinh trong việc định tội danh giữa hai tội phạm này với nhau và các tội phạm khác trong bộ luật hình sự
Các vướng mắc trong việc định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong thực tiễn áp dụng pháp luật được thể hiện trong nội dung các bản án sau:
1 Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9-10
Bản án số 07/2017/HSST ngày 24/02/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm tại Bản án số 477/2017/HSPT ngày 11/9/2017 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh)
Công ty Công trình giao thông Đồng Tháp là doanh nghiệp Nhà nước Năm
2003, Công ty phân công Nguyễn Thành Long làm chỉ huy trưởng công trình tuyến dân cư Để có đất san lấp công trình, Nguyễn Thành Long quan hệ các hộ dân gần công trình để mua đất san lấp, khi thỏa thuận với các hộ dân, Long đưa giá mua đất mặt 9.000đ/m2, nếu chuyển quyền sử dụng đất (bán đứt) thì mua với giá 14.000đ/m2 Sau khi thỏa thuận, các hộ dân không đồng ý bán đất mặt mà đồng ý bán với hình thức chuyển quyền sử dụng đất (bán đứt) giá từ 14.000đ/m2 - 15.000đ/m2 Tại thời điểm này, Long biết rõ công ty quy định chỉ mua đất mặt, khai thác xong trả đất (ao) lại cho bên bán nên để chiếm đoạt được diện tích đất ao mà không tốn tiền mua, Long đã thực hiện hành vi gian dối trong việc báo cáo nâng giá với Ban giám đốc công ty là giá mua đất mặt của các hộ dân với giá từ 14.000đ/m2
- 15.000đ/m2 Công ty thống nhất cho Long tiến hành mua đất mặt để san lấp với giá từ l4.000đ/m2 - 15.000đ/m2 Đồng thời, Công ty ký các Hợp đồng mua đất mặt với các hộ dân Trong nội dung hợp đồng đều thể hiện sau khi khai thác lớp đất mặt xong trả đất ao lại cho dân
Sau khi khai thác lớp đất mặt để san lấp công trình, Nguyễn Thành Long đã lập hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất ao mà công ty đã mua sang tên mình Những người bán đất do đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận nên đều đồng ý ký tên vào hồ sơ chuyển nhượng do Long lập sẵn Ngày 04/06/2003, Long được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối trong việc nâng giá mua đất mặt, Nguyễn Thành L đã chiếm đoạt diện tích 30.759m2 đất ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty
Ngày 13/8/2012 Nguyễn Thành L đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất chiếm đoạt với tổng diện tích 30.759m2 cho người khác
Tổng giá trị tài sản (đất ao diện tích 30.759m2, sau khi lấy đất mặt): là 184.554.000đ
Ngày 13/8/2012 Nguyễn Thành L đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất chiếm đoạt với tổng diện tích 30.759m2 cho ông Võ Văn Đ3 - Bí thư xã T9, huyện T giá 40.000đ/m2, tổng thành tiền 1.230.360.000 đồng
* Phần quyết định của bản án:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tham ô tài sản” Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 278; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm tù
* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này, Tòa án nhận định: “Như vậy, bằng thủ đoạn gian dối trong việc nâng giá mua đất mặt, Nguyễn Thành L đã chiếm đoạt diện tích 30.759m2 đất ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty.”, đã làm phát sinh một số vướng mắc là: (1) Đối tượng của hành vi chiếm đoạt (nếu có) trong vụ án này là “diện tích 30.759m2 đất ao (đo đạc thực tế là 31.215,15m2) của Công ty; thành tiền là 184.554.000đ” hay là số tiền chênh lệch giữa giá mua đất mặt với giá mua đứt Nếu là diện tích đất ao thì quyền sử dụng đất ao đó có là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội tham ô hay không? và Nguyễn Thành Long có hành vi chiếm đoạt hay không? Công ty có bị thiệt hại hay không;?
Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
Lê Vinh Chi là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Trong năm 2015, lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, ông Lê Vinh Chi cùng với ông Nguyễn Thanh Liêm (là công chức Địa chính-Xây dựng của xã Hàm Minh) đã bàn bạc và nhờ ông Trần Phi Hùng và ông Trương Văn Dự đứng tên giùm để làm hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) trên 02 thửa đất chưa sử dụng do UBND xã Hàm Minh quản lý
Cụ thể như sau: Để thực hiện tiêu chí giảm nghèo (một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới), ông Lê Vinh Chi đề xuất phương án lấy quỹ đất của xã tại khu kinh tế Mũi Né thuộc thôn Minh Thành để cấp cho số hộ nghèo thiếu đất sản xuất của xã
Sau khi cho người phát dọn đất, Chi bàn bạc với Liêm nhờ lập khống hồ sơ để nhờ người khác đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Để làm thủ tục đề nghị cấp giấy CNQSDĐ theo quy định, sau khi được ông Dự, ông Hùng cho mượn giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, Liêm bằng nghiệp vụ đã vẽ file số hình thể, diện tích và dùng máy định vị bấm toạ độ 02 thửa đất đề nghị cấp giấy CNQSDĐ rồi ông Liêm đến chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Hàm Thuận Nam chuyển các dữ liệu này cho ông Trần Hữu Thạnh, là Tổ trưởng Tổ đo đạc chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện và nhờ ông Thạnh lập giúp bản đồ trích đo địa chính 02 thửa đất Ông Thạnh không đi kiểm tra thực địa mà chỉ căn cứ vào các dữ liệu do ông Liêm cung cấp và đối chiếu với bản đồ tổng thể của xã Hàm Minh rồi biên tập bản đồ mảnh trích đo địa chính 02 khu đất gồm: khu đất đứng tên Trần Phi Hùng gồm diện tích 47.708m2 và khu đất đứng tên Trương Văn Dự gồm diện tích 41.594m2 Sau khi đã có bản đồ trích đo 02 thửa đất, Liêm tự làm, tự giả chữ ký của ông Hùng và ông Dự ký vào 02 đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 02 tờ khai lệ phí trước bạ nhà đất đứng tên Trần Phi Hùng và Trương Văn Dự; ngày 26/4/2015, ông Liêm tự lập phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của 02 thửa đất đề nghị cấp giấy CNQSDĐ; tiếp theo, ông Liêm tiến hành và lập biên bản việc công khai, kết thúc công khai các trường hợp đủ điều kiện cấp giấy CNQSDĐ theo đúng quy định rồi trình cho ông Chi ký xác nhận với tư cách là Chủ tịch UBND xã Hàm Minh vào tất cả các loại giấy tờ nêu trên để có cơ sở pháp lý trình đề nghị Chủ tịch UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ Sau đó, ông Liêm chuyển toàn bộ 02 hồ sơ đề nghị cấp giấy CNQSDĐ đứng tên Trần Phi Hùng và Trương Văn Dự cho bộ phận một cửa của xã để chuyển cho chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hàm Thuận Nam theo đúng trình tự, thủ tục quy định
Ngày 03/8/2015, UBND huyện Hàm Thuận Nam có 02 giấy CNQSDĐ số CA.067416 cấp diện tích đất 47.708m2 đứng tên Trần Phi Hùng; giấy CNQSDĐ số
CA 067411 cấp diện tích 41.594m2 đứng tên Trương Văn Dự Ông Liêm là người trực tiếp nhận 02 giấy CNQSDĐ trên rồi điện thoại báo cho ông Chi biết và mang về giao cho ông Trần Văn Quế cất giữ, không báo cho ông Hùng và ông Dự biết theo yêu cầu của ông Chi, do đó, ông Hùng và ông Dự hoàn toàn không biết gì về 02 giấy CNQSDĐ nói trên, không biết diện tích đất này nằm ở đâu và cũng không tác động gì đến đất
Trong thời gian này, ông Chi xây nhà ở và ông Đặng Hữu Lợi là người nhận thầu (ông Lợi là bạn thân của ông Chi) Do không có tiền để trả tiền công và mua vật liệu cho ông Lợi nên ông Chi thống nhất cho ông Lợi lấy giấy CNQSDĐ (số CA067416) đứng tên Trần Phi Hùng chuyển nhượng cho ông Lợi để ông Lợi thế chấp vay ngân hàng lấy tiền chi trả các khoản chi phí trên Ngày 31/8/2015, theo yêu cầu của ông Lợi, ông Liêm đã nhờ ông Trần Phi Hùng cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh Linh đến Văn phòng công chứng huyện Hàm Thuận Nam ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho ông Đặng Hữu Lợi nhưng không nhận khoản tiền nào của ông Lợi từ việc chuyển nhượng này
Sau một thời gian, chi phí xây nhà cho ông Chi lại tiếp tục thiếu, ông Lợi có báo với ông Chi thì ông Chi thống nhất giao giấy CNQSD đất (số CA067411) đứng tên Trương Văn Dự chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền xây nhà nên ông Lợi đã nói với bạn của ông Lợi là bà Võ Bảo Giang thì bà Giang đồng ý nhận chuyển nhượng Ngày 27/11/2015, theo yêu cầu của ông Lợi, ông Liêm nhờ vợ chồng ông Trương Văn Dự đến Văn phòng công chứng huyện Hàm Thuận Nam ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho bà Võ Bảo Giang nhưng không nhận khoản tiền nào của bà Giang từ việc chuyển nhượng này
Ngày 16/11/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Nam đã tiến hành định giá và kết luận: trị giá thửa đất cấp theo giấy CNQSDĐ số CA067416 là 954.160.000 đồng; trị giá thửa đất cấp theo giấy CNQSDĐ số CA067411 là 831.880.000 đồng Như vậy, tổng giá trị tài sản của 02 thửa đất nói trên là: 1.786.040.000 (một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu không trăm bốn mươi ngàn) đồng
* Phần quyết định của bản án:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Vinh Chi phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”
Áp dụng: Khoản 3 Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 1999 (khoản 3 Điều 356
Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017) Điểm b, v, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt: Bị cáo Lê Vinh Chi 7 (Bảy) năm tù và bị cáo Nguyễn Thanh Liêm
* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án thứ nhất và thứ hai:
Giải pháp nhằm định tội danh đúng đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ
Từ các vụ án được nêu trong 4 ví dụ nêu trên, thấy rằng có 03 vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn có vướng mắc, quan điểm của các Tòa án hay giữa Tòa án với Viện kiểm sát chưa thống nhất dẫn đến việc định tội danh không thống nhất trong các vụ án có cùng một số dấu hiệu đặc trưng mà các vấn đề này chưa được các cơ quan tư pháp trung ương hướng dẫn Các vướng mắc cụ thể đó là:
- Vướng mắc thứ nhất: Quyền sử dụng đất có phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt không, nếu không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt thì những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình (hoặc cho người khác mà mình nhờ đứng tên giùm) sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác và bị cáo đã chiếm hưởng số tiền chuyển nhượng này thì định tội danh như thế nào?
Vướng mắc thứ nhất này có 02 vấn đề cần phải giải quyết:
Một là, quyền sử dụng đất có phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản hay không:
Chúng tôi cho rằng quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản bởi vì mặc dù quyền sử dụng đất cũng là một tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự, nhưng đây là tài sản đặc biệt Nó đặc biệt ở chỗ về mặt pháp lý, theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, không có sở hữu tư nhân về đất đai, nhà nước chỉ trao cho người sử dụng đất một số quyền như: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn… mà trong các tội có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản đều xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là quan hệ sở hữu tài sản; và trên thực tế đất đai không tự sinh ra, mất đi, không thể cầm nắm, dịch chuyển, định đoạt Các bị cáo có thể dùng mọi thủ đoạn để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất có thể chuyển nhượng từ chủ thể này sang chủ thể khác nhưng đây chỉ là thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, mặc cho ai được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì đối tượng là mảnh đất đó vẫn đang tồn tại, Nhà nước hoặc chủ sử dụng đất hợp pháp chỉ mất quyền quản lý, quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định và hậu quả của tội phạm sẽ được khắc phục bằng bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không mất luôn quyền sử dụng đất
Hai là, định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, vì vụ lợi, làm trái công vụ được giao để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cho mình hoặc nhờ người khác đứng tên), sau đó chuyển nhượng đất cho người khác và hưởng số tiền chuyển nhượng này: Như đã phân tích ở trên, trong các trường hợp này, đối tượng tác động của tội phạm là quyền sử dụng đất chứ không phải là giá trị quyền sử dụng đất, mà quyền sử dụng đất thì không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, những người có hành vi nêu trên không phạm tội tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay các tội khác có hành vi chiếm đoạt tài sản mà phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Vướng mắc thứ hai, phân biệt giữa vụ lợi, gây thiệt hại về tài sản và chiếm đoạt tài sản
Trong luật hình sự không giải thích thuật ngữ vụ lợi Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định: Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng
Từ khái niệm trên thấy rằng giữa vụ lợi và chiếm đoạt tài sản khác nhau về nhiều mặt Chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm, còn vụ lợi là động cơ thúc đẩy người có chức vụ quyền hạn thực hiện tội phạm và đây là yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm Khi người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản thì đương nhiên họ cũng vì vụ lợi và họ cũng gây ra thiệt hại nhưng vì vụ lợi không bao hàm cả hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, người có chức vụ quyền hạn vì vụ lợi, làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản mà không có hành vi chiếm đoạt tài sản thì có dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; nếu người có chức vụ quyền hạn có hành vi chiếm đoạt tài sản (thì cũng bao hàm là do vụ lợi và gây thiệt hại về tài sản) thì không phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà có dấu hiệu của các tội tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay các tội khác trong mặt khách quan có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản
- Vướng mắc thứ ba: Phân biệt giữa lạm dụng và lợi dụng chức vụ quyền hạn
Lợi dụng chức vụ quyền hạn được hiểu là người có chức vụ quyền hạn đã sử dụng chức vụ quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện hành vi trái pháp luật Lạm dụng chức vụ, quyền hạn được hiểu là người có chức vụ quyền hạn đã thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền của mình, tức là đã làm những việc không thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao Trên thực tế có rất nhiều trường hợp việc phân định giữa lạm dụng và lợi dụng chức vụ quyền hạn cũng gặp không ít khó khăn do không chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự mà phải căn cứ vào các văn bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người có chức vụ quyền hạn Trường hợp một người lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản không do mình quản lý thì xử lý như thế nào?
* Nguyên nhân của các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ xuất phát từ các lý do sau:
- Thứ nhất, do tính chất phức tạp của các dấu hiệu trong các tội phạm về chức vụ như: vụ lợi, chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, lạm dụng chức vụ ; và hiện nay các dấu hiệu này chưa có văn bản hướng của các cơ quan tố tụng trung ương, do đó, trên thực tế dễ nhầm lẫn khi định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ
- Thứ hai, do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau về các dấu hiệu định tội của các tội phạm về chức vụ nên định tội danh đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm về chức vụ ở một số vụ án không thống nhất
Trên cơ sở nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, tác giả kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao ra nghị quyết hướng việc định tội trong nhóm các tội phạm về chức vụ trong một số trường cụ thể như sau:
1 Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, pháp luật không quy định quyền sở hữu tư nhân về đất đai nên quyền sử dụng đất không phải là đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản Trường hợp người có chức vụ quyền hạn đã làm trái công vụ để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật, sau đó đã chuyển nhượng cho người khác và chiếm hưởng số tiền chuyển nhượng thì không xử lý hình sự về Tội tham ô tài sản (Điều
353 BLHS) hay Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS) mà tùy từng trường hợp cụ thể xử lý hình sự về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356 BLHS) hoặc Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357 BLHS)
2.Trường hợp người có chức vụ quyền hạn vì vụ lợi, làm trái công vụ, gây thiệt hại về tài sản thì phải xác định rõ người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản hay không để xác định tội danh cho chính xác Hành vi chiếm đoạt tài là dấu hiệu bắt buộc trong các Tội tham ô tài sản, Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, dấu hiệu vì vụ lợi gây thiệt hại về tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Do đó cần phân biệt:
- Nếu người phạm tội không có hành vi chiếm đoạt tài sản thì sẽ xem xét định tội danh là lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ