1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và có tính chất con đồ trong tội giết người theo luật hình sự việt nam

92 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dấu Hiệu Định Khung “Thực Hiện Tội Phạm Một Cách Man Rợ” Và “Có Tính Chất Côn Đồ” Trong Tội Giết Người Theo Luật Hình Sự Việt Nam
Tác giả Châu Thành Chơn
Người hướng dẫn TS. Phan Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tiễn áp dụng có nhiều khó khăn trong xác định dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo luật hình sự Việt Nam

Trang 1

CHÂU THÀNH CHƠN

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “THỰC HIỆN

TỘI PHẠM MỘT CÁCH MAN RỢ” VÀ “CÓ TÍNH CHẤT CÔN ĐỒ” TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “THỰC HIỆN

TỘI PHẠM MỘT CÁCH MAN RỢ” VÀ “CÓ TÍNH CHẤT CÔN ĐỒ” TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn "Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm

một cách man rợ” và “có tính chất con đồ” trong tội giết người theo luật hình

sự Việt Nam" đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

công trình nào khác

Tác giả luận văn

Châu Thành Chơn

Trang 4

Luật BV&PTR Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Viện KSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “THỰC HIỆN TỘI PHẠM MỘT CÁCH MAN RỢ” TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI 8 1.1 Quy định về vấn đề dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 8 1.2 Các vướng mắc trong thực tiễn xác định dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người 9 1.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người 16 Kết luận Chương 1 20 CHƯƠNG 2 DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “CÓ TÍNH CHẤT CÔN ĐỒ” TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI 21 2.1 Quy định pháp luật hình sự về vấn đề dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 21 2.2 Các vướng mắc trong thực tiễn xác định dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người 23 2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người 34 Kết luận Chương 2 38 KẾT LUẬN 39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xác định đúng các dấu hiệu định khung hình phạt của một tội là một vấn đề phức tạp trong khoa học pháp lý hình sự Quá trình giải quyết vụ án hình sự cần đảm bảo sự khách quan, khoa học và chính xác Áp dụng đúng dấu hiệu định khung hình phạt là yếu tố đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đúng theo các điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn hiện nay, khi mà công cuộc cải cách tư pháp đang được triển khai thực hiện trong hệ thống các cơ quan

tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, thì việc áp dụng đúng các quy định của Bộ luật

hình sự về dấu hiệu định khung hình phạt càng trở nên bức thiết nhằm phục vụ hiệu quả cho tiến trình cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự

Việc xác định đúng các dấu hiệu định khung hình phạt là một trong các nội dung cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình xét xử và là một trong những biện pháp đưa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống Trên cơ

sở xác định người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định một hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội đó Vì thế, xác định khung hình phạt đúng được xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết định hình phạt đúng đắn, góp phần mang lại hiệu quả trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các dấu hiệu định khung hình phạt nhất là đối với tội giết người Trong thời gian gần đây tình hình tội phạm giết người trong cả nước do nhiều nguyên nhân nên có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, có sự chuẩn bị trước, có

tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Tội giết người với tính chất côn đồ, hung hãn, trắng trợn, xem thường tính mạng con người không những gây nên đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân mà còn để lại gánh nặng cho xã hội, gia đình và gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự, tạo

Trang 7

ra tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân tại địa phương và làm cho giá trị đạo đức con người Việt Nam ngày càng giảm sút Do vậy, áp dụng chính xác dấu hiệu định khung tội phạm này để trừng trị nghiêm khắc, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Trong thực tiễn áp dụng có nhiều khó khăn trong xác định dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo luật hình sự Việt Nam

Chính vì vậy, học viên lựa chọn vấn đề “Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo

luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài “Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo luật hình sự Việt Nam”, có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều nhóm tài liệu khác nhau:

- Các giáo trình luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật như: (1) Trường

Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM; (2) Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (3) Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội; (4) Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc

gia, Hà Nội; Các giáo trình này cung cung những kiến thức lý luận cơ bản về dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” của tội giết người làm cơ sở tham khảo cho luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự về các dấu hiệu này

- Các sách bình luận khoa học luật hình sự, sách chuyên khảo có đề cập đến dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính

chất côn đồ” của tội giết người - có thể đến như : (1) Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, NXB Tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh; (2) Đỗ Đức Hồng Hà

(2008), Tội giết người và đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt

Trang 8

Nam trong giai đoạn hiện nay, NXB Tư Pháp, Hà Nội; (3) Nguyễn Đức Mai (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm

2009, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; (4) Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế Giới, Hà Nội; (5) Nguyễn Đức Mai và những người khác (2018), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017, NXB

Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội; (6) Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2018),

Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm

2017, Quyển 1, Phần các tội phạm, NXB Tư pháp, Hà Nội; (7) Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Phần các tội phạm, NXB Lao động, Hà Nội; (8) Đỗ Đức Hồng Hà (Chủ biên) (2018), Bình luận tội giết người và một số vụ án phức tạp,

NXB Lao động, Hà Nội Các sách bình luận này giúp cho việc nghiên cứu các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” của tội giết người đầy đủ và chính xác hơn

- Luận án, luận văn có liên quan đến đề tài có thể kể đến: (1) Đỗ Đức

Hồng Hà (2006), Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, Luận án tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; (2) Trần Thị Hồng Việt (2007), Tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự

và thực tiễn xét xử tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học

Luật Tp Hồ Chí Minh Các tài liệu này giúp tác giả có thể tham khảo thêm về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” của tội giết người theo luật hình sự Việt Nam

- Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến nội dung đề tài – có thể đến như: (1) Nguyễn Điều (2000), “Về tội giết người trong bộ luật

hình sự năm 1999”, Dân chủ & Pháp luật, Số 5, tr 4; 12; (2) Đào Trung Kiên

(2004), “Về hiểu và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có

tính chất côn đồ" trong hoạt động xét xử của tòa án”, Tòa án nhân dân, số 15,

tr.35-37; (3) Nguyễn Văn Trượng (2005), “Về áp dụng một số tình tiết định

khung tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS”, Tòa án nhân dân, số 3,

tr.24-26; (4) Đỗ Đức Hồng Hà (2006), “Phương hướng khắc phục những tồn tại, vướng mắc khi áp dụng một số quy định của pháp luật hình sự về tình tiết định

Trang 9

khung tăng nặng của tội giết người”, Kiểm sát, Số 23, tr.32-38; (5) Đỗ Đức Hồng

Hà, Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2011), “Quy định về tội giết người trong bộ Luật Hồng Đức, và bộ Luật Gia Long và phương hướng hoàn thiện quy định về tội

giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành”, Nghề luật, Số 3, tr.19-25;

(6) Lưu Hoài Bảo (2016), “Bàn về một số tình tiết tăng nặng định khung trong

tội giết người theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tòa án nhân dân,

Số 24, tr 16 – 20; (7) Đỗ Đức Hồng Hà (2017), “Tình hình, nguyên nhân của tội phạm giết người có tính chất dã man, gây bức xúc, lo lắng trong xã hội và giải

pháp phòng ngừa”, Kiểm sát, Số 10, tr 16 – 19; (8) Đỗ Đức Hồng Hà, Bùi Thị

Tâm (2018), “Một số điểm mới về tội giết người trong Bộ luật Hình sự năm

2015”, Tòa án nhân dân, Số 6, tr 12-18

Các công trình nói trên đã đề cập đến tội giết người nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là phân tích, đánh giá từ góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật và ở cấp độ một luận văn thạc sỹ Luật học Vì vậy,

việc đề tài “Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo luật hình sự Việt Nam” còn nhiều vấn

đề còn tiếp tục nghiên cứu, không trùng lặp về nội dung với các luận văn thạc sỹ Luật học khác theo định hướng ứng dụng đã công bố và có ý nghĩa thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

về dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người; từ đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về các dấu hiệu này và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” của tội giết người

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Trang 10

- Nghiên cứu quy định pháp luật về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” của tội giết người trong BLHS năm 2015

- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật quy định pháp luật hình sự về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

- Chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc quy định và áp dụng các quy định của luật hình sự về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và

“có tính chất côn đồ” của tội giết người

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định và thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ”

và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người trên phạm vi cả nước

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung đề tài thông qua các bản án

áp dụng dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người từ năm 2015 đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trang 11

Để phục vụ cho việc nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê,

so sánh, lịch sử

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tiến hành phân tích và tổng hợp một cách khái quát các nội dung cần nghiên cứu trong Luận văn Qua đó, phân tích thành từng vấn đề để tìm hiểu cụ thể quy định về dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người Đồng thời, Luận văn tiến hành tổng hợp từng vấn đề

lý luận đã phân tích, nhằm xây dựng một số lý luận mới đầy đủ và cụ thể về dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

- Phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập và tổng hợp các số liệu

về thực trạng áp dụng dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

- Phương pháp nghiên cứu thực hiện tội phạm là phương pháp nghiên cứu thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

áp dụng pháp luật về phương pháp nghiên cứu thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người Đây là phương pháp quan trọng

để nhận định thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ”

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt trong việc áp dụng dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người giữa các các bản án

6 Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và

- Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc hoàn thiện hơn quy định về xác định

Trang 12

dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người và góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn

áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về xác định dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của chính học viên và cho những người có quan tâm trong quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung Luận văn được cấu trúc thành hai chương:

Chương 1 Dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ”

trong tội giết người

Chương 2 Dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

Trang 13

CHƯƠNG 1 DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “THỰC HIỆN TỘI PHẠM

MỘT CÁCH MAN RỢ” TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI

1.1 Quy định về vấn đề dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (khoản 1 Điều 20)1

Để phù hợp với Hiến pháp, Điều 123 BLHS năm 2015 (BLHS) quy định tội giết người có mức hình phạt cao nhất là tử hình Như vậy, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật chúng ta cần nắm chắc khái niệm về tội phạm là gì

Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của khái niệm này chính là khoản 1 Điều

8 BLHS năm 2015: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” 2

Giết người là việc tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật Giết người một cách man rợ là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự được quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017) về tội giết người:

“Điều 123 Tội giết người

1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:…

2 Khoản 1, Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 14

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;” 3

Theo hướng dẫn tại điểm a Mục 1 Nghị quyết số: 04-HĐTPTANDTC/NQ

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì: “Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người

ra từng khúc…) 4 ”

Tính chất man rợ của hành vi giết người thể hiện ở chỗ, làm cho nạn nhân đau đớn, quằn quại trước khi chết như: mổ bụng, moi gan, khoét mắt, chặt chân tay, xẻo thịt, lột da, tra tấn cho tới chết… Các hành vi trên, người phạm tội thực hiện trước khi tội phạm hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết Nếu hành

vi trên thực hiện sau khi nạn nhân chết thì không phải là trường hợp giết người một cách man rợ

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng đã coi các hành vi nêu trên là những hành

vi có tính chất man rợ, nhưng không phải là thực hiện tội phạm mà là để che giấu

tội phạm, là trường hợp “thực hiện tội phạm một cách man rợ” Ví dụ: sau khi

đã giết người, người phạm tội cắt xác nạn nhân ra nhiều phần đem vứt mỗi nơi một ít để phi tang Đây là vấn đề về lý luận cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi nếu coi cả những hành vi có tính chất man rợ nhằm che

giấu tội giết người cũng là “thực hiện tội phạm một cách man rợ” thì nên quy định trường hợp phạm tội này là “phạm tội một cách man rợ”, vì phạm tội bao

hàm cả hành vi che giấu tội phạm, còn thực hiện tội phạm mới chỉ mô tả những hành vi khách quan và ý thức chủ quan của cấu thành tội giết người

Như vậy, những lý luận trên là tiền đề để hiểu thống nhất quy định của pháp luật để giải quyết trong thực tiễn được thống nhất

1.2 Các vướng mắc trong thực tiễn xác định dấu hiệu định khung

“thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người

Hiện nay, trong quá trình giải quyết các vụ án vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong giải quyết các vụ án liên quan đến xác định dấu hiệu định khung

Trang 15

“thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người Đặc biệt, trong hệ

thống Tòa án có quan điểm khác trong khi xét xử Tác giả xin nêu một số vụ án điển hình sau:

Ví dụ thứ nhất: “Do mâu thuẫn từ trước nên đêm ngày 01/01/2018, anh

Nguyễn Văn A cầm rựa chặn đường đánh Phan Thị B Trong lúc giằng co, Phan Thị B giật được cái rựa trong tay A rồi chị B dùng rựa chém trúng vào đầu anh

A, làm anh A chết ngay tại chỗ Sau khi anh A chết, chị B dùng rựa phân xác nạn nhân A ra làm nhiều phần nhỏ rồi bỏ vào nhiều bao đem vứt vào các điểm thu gom rác ở nhiều nơi Sau đó, nhân viên gom rác phát hiện báo cáo Công an bắt giữ B để xử lý theo quy định của pháp luật Phan Thị B bị khởi tố về tội giết người và bị truy tố và xét xử theo điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS 2015” 5

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra:

Sau khi xét xử vụ án nêu trên có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Sau khi giết chết A, Phan Thị B phân xác

thành nhiều phần nhỏ rồi bỏ vào bao đem vứt vào điểm thu gom rác ở nhiều nơi

là hành vi “man rợ”, gây phản cảm, trái đạo đức xã hội nên truy tố, xét xử đối

với Phan Thị B về tội giết người với tình tiết “thực hiện tội phạm một cách mang rợ” theo điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS là tuân thủ đúng quy định của

pháp luật

Quan điểm thứ hai cho rằng: Truy tố, xét xử Phan Thị B theo điểm i

Khoản 1 Điều 123 BLHS là không phù hợp mà cần truy tố đối với Phan Thị B về

tội Giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS Bởi vì: Hành vi giết người “một cách man rợ” khác với các hành vi giết người bằng thủ đoạn khác quy định tại

khoản 2 Điều 123 BLHS Hành vi giết người một cách man rợ nó không chỉ hướng đến tước đoạt mạng sống mà còn hơn thế nữa, nó làm cho người bị giết phải đau đớn, bị dày vò, chết trong sự đau khổ làm cho người khác phải rùng rợn, khiếp sợ, được thể hiện qua các hành vi như tùng xẻo, ngũ mã phanh thây, dùi lửa, tra tấn cho tới chết Các hành vi đó được người phạm tội thực hiện

5 Dương Phúc Trường, “Bàn về tình tiết thực hiện tội phạm giết người một cách man rợ”, nguồn: http:// vksdaknong.gov.vn/Vien-Kiem-Sat-Nhan-Dan-Tinh-Dak-Nong/78/1122/2500/66500/Trao-doi-phap-

luat/BAN-VE-TINH-TIET-THUC-HIEN-TOI-PHAM-GIET-NGUOI-MOT-CACH-MAN-RO -.aspx (truy cập ngày 20/9/2020)

Trang 16

trước khi tội phạm hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết Trong trường hợp này B thực hiện hành vi phân xác anh A sau khi A đã chết nên cũng giống như hành vi sau khi giết chết người rồi thủ phạm đem xác chôn, đem xác ném xuống sông, đem xác đốt, đóng chặt cửa để xác tự phân hủy… nhằm phi tang để tránh sự phát hiện, truy tìm tội phạm của cơ quan chức năng, chứ đó không phải

B “thực hiện tội phạm một cách man rợ”, B không làm cho A phải đau đớn, dày

Nói tóm lại, “thực hiện tội phạm một cách man rợ” đủ yếu tố cấu thành

định khung hình phạt theo điểm i Khoản 1 Điều 123 BLH khi B có hành vi làm cho A phải đau đớn, dày vò… trước khi chết, nhưng trong trường hợp này B chỉ chém trúng đầu A nên hậu quả A chết Hành vi phân xác nạn nhân A, Phan Thị

B thực hiện sau khi A đã chết với mục đích nhằm che giấu hành vi giết người của B Do đó, theo tác giả, B phạm tội theo khoản 2 Điều 123 BLHS

Song, trong thực tiễn xét xử cũng có quan điểm cho rằng hành vi phân xác

nạn nhân sau khi chết nhằm che giấu tội phạm cũng là hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” Về mặt lý luận đây là vấn đề còn nhiều ý kiến khác

nhau, nhưng theo ý kiến cá nhân tôi, nếu coi cả những hành vi có tính chất man

rợ nhằm che giấu hành vi phạm tội giết người (hành vi sau khi nạn nhân chết) là

hành vi giết người một cách man rợ nếu điều luật quy định tình tiết “phạm tội một cách man rợ”, còn điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS quy định “thực hiện tội phạm một cách man rợ” nên chỉ mô tả hành vi khách quan và ý thức chủ quan

của người phạm tội trong cấu thành cơ bản của tội phạm giết người (xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi trước khi nạn nhân chết) Đây cũng là vướng mắc đặt ra từ vụ án này

Trang 17

- Vụ án thứ hai:

Vụ án Giết người, Cướp tài sản đối với 2 bị cáo Trần Nhật Duy (22 tuổi)

và Đặng Gia Linh (24 tuổi) cùng ngụ Gò Công, Tiền Giang Đây là phiên tòa thứ 4 được mở theo đơn kháng nghị tăng hình phạt từ chung thân lên tử hình đối với bị cáo Trần Nhật Duy của VKSND TP.HCM và đơn kháng cáo thay đổi tội danh từ Che giấu tội phạm sang Giết người đối với bị cáo Linh của gia đình

bị hại8

Nội dung vụ án như sau:

“Theo bản án sơ thẩm Duy và nạn nhân Tuấn có quan hệ đồng tính từ năm 2011, ở Tiền Giang Hai năm sau Duy đậu đại học, lên Sài Gòn thuê phòng trọ trên đường Quang Trung, quận Gò Vấp Bị Tuấn ngăn cấm, đe dọa mỗi khi quen biết người khác nên Duy nảy sinh ý định giết người này Để thực hiện, đầu năm 2014, nam sinh lên mạng tìm mua 200gr thuốc độc, giá 800.000 đồng mang về chờ cơ hội ra tay Biết ý định của Duy, Linh ngăn cản nhưng anh

ta bỏ ngoài tai Ba tháng sau, một ngày giữa tháng 5, Duy nấu mì rồi bỏ nửa muỗng thuốc độc vào đưa cho Tuấn Chỉ ăn được một đũa, Tuấn ói nên bỏ đi

Kế hoạch của Duy không thành Tối 19/5/2014, thấy Tuấn kêu đau đầu, Duy lấy hai viên con nhộng đã bỏ sẵn thuốc độc bên trong đưa cho anh này uống Nạn nhân lập tức ngã xuống nền nhà bất tỉnh Đến khuya, nam sinh kiểm tra thì biết Tuấn đã chết Sáng hôm sau, Duy đi học bình thường rồi về phòng trọ nghĩ cách phi tang xác nạn nhân Nam sinh lấy điện thoại và xe của anh Tuấn mang đi bán được gần 10 triệu đồng đưa cho Linh Sau đó đi mua cưa về phân xác nạn nhân thành nhiều phần, cùng bạn gái là Đặng Gia Linh bỏ vào balo mang đi phi tang ở Long An, Bình Thuận rồi thuê khách sạn nghỉ Mấy hôm sau, phần thi thể còn lại của nạn nhân trong nhà trọ phân hủy, bốc mùi nồng nặc nên người dân phát hiện báo công an Sáng 24/5/2014, nghe tin bà ngoại bệnh nặng, Duy chở bạn gái về quê Trưa cùng ngày khi cả hai đến phà Mỹ Lợi (Tiền Giang) thì bị công an bắt” 9

Trang 18

https://vnmedia.vn/phap-Ngày 27/11/2014, TAND TP HCM tuyên phạt Trần Nhật Duy mức án

chung thân về “Tội giết người” với hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ”, “Cướp tài sản” Liên quan đến vụ án, Đặng Gia Linh nhận 2 năm tù về tội

“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Không tố giác tội phạm”

Như vậy, trong vụ án này, với hành vi nêu trên của bị cáo các Cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo Trần Nhật Duy phạm Tội giết người theo quy định

tại điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 với hành vi ““thực hiện tội phạm một cách man rợ”

Tương tự vụ án thứ hai, TAND thành phố Hồ Chí Minh cũng có cách hiểu như thế sẽ được tác giả trình bày trong vụ án thứ ba

- Vụ án thứ ba:

Nội dung vụ án như sau:

“Theo nội dung vụ án, từ năm 2002, Đặng Văn Thành và chị Bùi Mỹ Hạnh chung sống như vợ chồng ở nhà cha mẹ Thành tại P.Cầu Kho, Q.1 Lúc này, bị cáo Đặng Văn Tuấn, anh trai Thành, đang thi hành án 7 năm tù về tội buôn bán ma túy Năm 2003, Tuấn ra tù và đón con trai về ở chung nhà với Thành và Hạnh Trong thời gian sống chung nhà, giữa Tuấn và Hạnh nảy sinh tình cảm Hạnh nhờ Tuấn thực hiện kế hoạch làm quen và giả vờ yêu thím dâu của Hạnh (thím Mười)

để thím Mười và chồng ly hôn Tuy nhiên, sau khi quen thím Mười thì giữa hai người nảy sinh tình cảm Hạnh biết được chuyện này nên ghen tuông, đòi chém hết những người trong gia đình Từ đó, Tuấn nảy sinh ý định giết Hạnh Khoảng 15g ngày 28-9-2014, Tuấn sử dụng ma túy chung với Hạnh Sau đó, hung thủ đã bịt miệng, bóp cổ cho đến khi bà H tắt thở mới ngưng Tuấn cho hay, do trong ngôi nhà này chỉ có 2 người, mà 1 người đã bị giết, nên Tuấn nghĩ cứ để thi thể trong nhà sẽ không có ai biết Giết bà Hạnh xong, lúc 15h ngày 30/9, Tuấn thực hiện động tác chặt xác của nạn nhân làm nhiều phần, cơ thể và tay chân bỏ vào bao tải, đầu bỏ vào một bao nilon Rồi đến 3h sáng ngày 1/10, Tuấn mang toàn bộ các phần của thi thể bà H đem đi phi tang tại cầu Lò Gốm (Q.6) và đại lộ Võ Văn Kiệt (phường Cầu Kho, Q.1)” 10

10 Phương Mai, “Những vụ giết người, chặt xác man rợ gây chấn động dư luận”, luat/201712/nhung-vu-giet-nguoi-chat-xac-man-ro-gay-chan-dong-du-luan-589553/ (truy cập ngày 28/7/2020)

Trang 19

https://vnmedia.vn/phap-Với hành vi phạm tội như trên, ngày 24/8/2016, TAND TP.HCM đã tuyên phạt tử hình đối với bị cáo Đặng Văn Tuấn về tội “giết người” theo quy định tại

điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 với hành vi ““thực hiện tội phạm một cách man rợ”

* Nhận xét, đánh giá:

Với cách nhận thức giết người một cách man rợ là trường hợp người phạm tội tước đoạt tính mạng nạn nhân, chấm dứt sự sống của họ một cách tàn ác, dã man làm cho nạn nhân cảm thấy đau đớn rất nhiều trước khi chết hoặc gây ra cho người khác sự khủng khiếp, rùng rợn Với việc gây ra cái chết đau đớn đó, tính man rợ ở đây được thể hiện như việc giết người bằng cách hành hạ, tra tấn cho đến chết hoặc gây ra sự kinh hãi như chặt tay, chặt chân của nạn nhân, sử dụng các hình thức tra tấn dã man thời trung cổ như mổ bụng, khoét mắt, xẻo thịt,… Các hành vi này người phạm tội thực hiện trước khi tội phạm hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân chết thì Quyết định của Tòa án đưa ra trong trường hợp này là chưa chính xác vì “hành vi man rợ” là chặt xác nạn nhân chỉ được xuất hiện sau khi nạn nhân chết nhằm che dấu tội phạm

- Vụ án thứ tư:

Vụ án giết người man rợ gây chấn động dư luận nhất là vụ chàng sinh viên đại học Ngoại thương Nguyễn Đức Nghĩa (SN 1984, thường trú 112 đường Điện Nước, tổ 7 phường Lãm Hà, Kiến An, TP.Hải Phòng) sát hại dã man người yêu

cũ của mình

Nội dung vụ án như sau: “Năm 2006, khi bắt đầu vào một trường đại học danh tiếng Hà Nội, Nghĩa quen cô bạn cùng lớp Nguyễn Phương Linh Hai người chia tay sau một năm và Nghĩa trở thành người yêu của Hoàng Thị Yến (24 tuổi) Ngày 23/4 đến 5/5/2010, Yến cùng bà nội về quê ở Quảng Ninh nên giao căn hộ tầng 11 chung cư ở Yên Hòa, quận Cầu Giấy, nhờ Nghĩa trông giúp Những ngày ở đây, Nghĩa liên lạc với chị Linh và rủ đến Tối 4/5/2010, khi Linh đang chải đầu chuẩn bị về thì Nghĩa cầm dao giấu sẵn trên giá sách đâm mạnh vào sau lưng khiến nạn nhân chết tại chỗ Hung thủ cắt rời phần đầu, chặt hết

10 đầu ngón tay rồi quấn xác vào chăn đem giấu ở sân thượng của tòa nhà Để tránh camera ghi hình, hắn đi theo mép phải hành lang, lau dọn vết máu chảy

Trang 20

Sáng hôm sau, Nghĩa đem máy tính xách tay, xe máy của nạn nhân cầm cố tại các hiệu cầm đồ Chiều cùng ngày, sát thủ mang phần thi thể còn lại và quần áo của nạn nhân vứt ở sông Cấm, cách Hà Nội 200 km” 11

Với hành vi man rợ của bị cáo như đã nêu, ngày 14/7/2010, TAND Hà Nội

mở phiên tòa sơ thẩm xét xử Nguyễn Đức Nghĩa và tuyên án tử hình về tội "Giết người" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 với hành

vi“thực hiện tội phạm một cách man rợ” và "Cướp tài sản"

Nguyễn Đức Nghĩa kháng cáo cho rằng không phạm tội giết người man rợ như kết luận của tòa án sơ thẩm Tại phiên phúc thẩm ngày 11/11/2010, TAND Tối cao tại Hà Nội tiếp tục nhận định, bị cáo giết người man rợ, không có tình tiết giảm nhẹ Nghĩa không thể bị kích động, ghen tức dẫn đến việc tước đoạt mạng sống của nạn nhân Mục đích của anh ta là giết người, cướp tài sản Cấp phúc thẩm y án, cho rằng bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện các căn cứ giảm nhẹ cho

bị cáo như nhân thân, khai báo thành khẩn Sau hai lần bị tuyên tử hình, Nghĩa viết đơn xin ân xá gửi Chủ tịch nước Tuy nhiên, đơn của Nghĩa đã bị khước từ

* Nhận xét, đánh giá:

Trong vụ án này, tác giả thấy hành của Nguyễn Đức Nghĩa “thực hiện tội phạm một cách man rợ” là chặt xác nạn nhân sau khi nạn nhân chết nhằm che giấu tội phạm

do em Hoàng Đức Phượng (SN 1998, trú tại xã Kỳ Giang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) điều khiển Tai nạn làm em Phượng bị cuốn vào gầm xe ô tô

11 Phương Mai, “Những vụ giết người, chặt xác man rợ gây chấn động dư luận”, luat/201712/nhung-vu-giet-nguoi-chat-xac-man-ro-gay-chan-dong-du-luan-589553/ (truy cập ngày 28/7/2020)

Trang 21

https://vnmedia.vn/phap-Biết mình đã gây tai nạn, Phan Đình Quân dừng và nhảy xuống xe quan sát thấy em Phượng nằm bất động phía trước bánh sau bên phụ xe ô tô Sau đó, Phan Đình Quân lên xe cho xe chạy tiến lên đè qua đầu nạn nhân, làm cho nạn nhân bị vỡ sọ não dẫn đến tử vong” 12

Hội đồng xét xử đã tuyên bị cáo Phan Đình Quân 12 năm tù về tội Giết người theo Khoản 2, Điều 93, Bộ luật Hình sự năm 1999

trong tương lai.13

Như vậy, qua các vụ án cho thấy, nhận thức dấu hiệu “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội Giết người được hiểu chưa thống nhất, cần phải

được hướng dẫn cụ thể hơn

1.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người

Các vụ án ở mục 1.2 tác giả vừa nêu trên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức pháp luật dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật chưa thống

nhất Nguyên nhân có thể nói đến là do hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn và hành vi này vẫn giữ nguyên tinh thần

tại điểm i khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Bên cạnh đó, do năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất

Do đó, theo tác giả cần có văn bản hướng dẫn về hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” như Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của

Trang 22

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để việc áp dụng pháp luật thống nhất

và cần có các Hội nghị tập huấn về hành vi này để năng cao nhận thức cho người tiến hành tố tụng

Việc quy định hành vi giết người man rợ cho chúng ta hình dung được đây

là hành vi có tính nguy hiểm cao hơn, sự nguy hiểm đây không đến hoàn toàn từ hậu quả mà đến từ tính chất hành vi và thể hiện thái độ của người thực hiện hành

vi đối với hành vi của mình Hành vi giết người man rợ là các hành vi giết người khác biệt so với các hành vi giết người khác, nó không chỉ hướng đến tước đoạt mạng sống mà còn hơn thế nữa làm cho người bị giết cảm thấy đau đơn do bị dày vò, chết không toàn thây,… sự ghê rợn có thể được bộc lộ qua các hành vi như tùng xẻo, ngũ mã phanh thây Rõ ràng tuy cùng là hậu quả giết người, nhưng tính nguy hiểm của hành vi giết người ghê rợn ở một mức độ cao hơn và đáng bị ngăn chặn và chịu các chế tài nặng hơn

Trên thực tế có nhiều luồng quan điểm về hành vi giết người man rợ Để xác định hành vi đó có phải man rợ hay không còn phụ thuộc thời điểm chặt xác nạn nhân đã chết hay chưa Hành vi giết người có tính chất man rợ và hành vi đó

là hành vi dẫn đến cái chết của nạn nhân chứ không phải là hành vi sau khi nạn nhân đã chết Thực tế xét xử rất khó xác định được thời điểm nạn nhân tử vong

là trước hay sau khi nạn nhân đã chết mà chỉ có thể căn cứ vào lời khai của nạn nhân, người bị coi là có hành vi phạm tội và nhân chứng

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người

- Thứ nhất, kiến nghị Tòa ánh nhân dân Tối cao có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất tình tiết định khung tăng nặng của tội giết người: “Thực hiện tội phạm một cách man rợ”

Theo như phân tích tại tiểu mục 1.1 của Luận văn thì những hành vi có tính chất man rợ được người phạm tội thực hiện trước khi tội phạm hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay xảy ra rất nhiều trường sau khi đã giết người, người phạm tội chặt xác nạn nhân ra thành nhiều phần đem vứt mỗi nơi một ít để phi tang và thực tiễn xét xử ở nhiều địa

Trang 23

phương cũng đã coi các hành vi này là hành vi có tính chất man rợ, nhưng không

phải là thực hiện tội phạm mà là để che giấu tội phạm, cũng là trường hợp "thực hiện tội phạm một cách man rợ”

Nghị quyết số 04 ngày 29/11/1986 của HĐTP TAND tối cao là văn bản

duy nhất hướng dẫn về “thực hiện tội giết người một cách man rợ” đến nay

không bao quát được hết các yếu tố phát sinh mới trong xã hội Vì vậy, cần phải

có văn bản hướng dẫn mới để áp dụng thống nhất tình tiết này

Theo tác giả nếu coi cả những hành vi có tính chất man rợ nhằm che giấu

tội giết người cũng là “thực hiện tội phạm một cách man rợ”, thì nên quy định trường hợp phạm tội này là “Phạm tội một cách man rợ” vì phạm tội bao hàm cả

hành vi che giấu tội phạm, còn thực hiện tội phạm mới chỉ mô tả những hành vi khách quan và ý thức chủ quan của cấu thành tội giết người Cụ thể như sau

Nghị quyết số 4/HĐTPTANDTC/NQ

ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao

Nghị quyết hướng dẫn mới

Thực hiện tội giết người một cách man

rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn

tính người, dùng những thủ đoạn gây

đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với

nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng

rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo

thịt, moi gan, chặt người ra từng

khúc…)”

Thực hiện tội giết người một cách man

rợ (điểm i) là làm cho nạn nhân đau đớn, quằn quại cho đến chết ví dụ như

mổ bụng, moi gan, tra tấn, chặt chân tay, rút gân, móc mắt… hoặc sau khi giết chết nạn nhân thì chặt đầu, chân, tay… để phi tang khắp nơi Hành vi phạm tội man rợ còn thể hiện gây xôn xao, căm phẫn trong dư luận vì người phạm tội một cách dã man, ngoài sức tưởng tượng của mọi người ; hành vi phạm tội khiến nhiều người sợ hãi…

Thứ hai, cần có các Hội nghị tập huấn để nâng cao nhận thức cho người tiến hành tố tụng về hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015

Trang 24

Từ đó, áp dụng pháp luật được thống nhất đối với Tội giết người nói chung và

đối với hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” nói riêng

Thứ ba, tăng cường ban hành án lệ về tội giết người với dấu hiệu “thực hiện tội phạm một cách man rợ”

Áp dụng án lệ chính là phương thức hiệu quả để khắc phục các khiếm khuyết của pháp luật, đảm bảo việc áp dụng thống nhất trong xét xử, tạo tính ổn định, minh bạch và tiên liệu được trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác dụng hướng dẫn các hành vi ứng xử không chỉ đối với các bên trong vụ án, mà còn đối với cộng đồng xã hội Trong thời gian qua, có sự không thống nhất trong

việc nhận thức và áp dụng tình tiết định khung thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều tranh cãi, vì vậy tác giả đề xuất Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần phải sớm han hành các án lệ liên quan đến việc xét xử tội giết người để có cách hiểu và áp dụng thống nhất

Trang 25

Kết luận Chương 1

Qua phân tích các vướng mắc trong thực tiễn xét xử về hành vi khách

quan “Thực hiện tội phạm một cách man rợ” theo quy định tại điểm i khoản 1

Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tác giả đã phân tích các

cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử các vụ án về hành vi “thực hiện tội phạm một cách man rợ” Từ đó, tác giả đã mạnh dạn đề ra các giải pháp

để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “thực hiện tội phạm một cách man rợ” trong tội giết người, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này

Trang 26

CHƯƠNG 2 DẤU HIỆU ĐỊNH KHUNG “CÓ TÍNH CHẤT CÔN ĐỒ”

TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI 2.1 Quy định pháp luật hình sự về vấn đề dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

“Côn đồ” theo Từ điển Tiếng việt được hiểu là kẻ chuyên gây sự, hành

hung, có những hành động ngang ngược, thô bạo

Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm thể hiện sự hung

hãn, coi thường người khác, coi thường pháp luật “Khái niệm côn đồ được hiểu

là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị

an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự người khác, gây gỗ hành hung người khác một cách rất vô cớ hoặc chỉ

vì một duyên cớ rất nhỏ nhặt, ví dụ: đi xe đạp, xe máy va quyệt vào người khác,

có khi chính mình có lỗi, nhưng đã kiếm cớ đánh người hoặc giết người, mặc dù

có thể người kia cũng có lỗi nhỏ.” 14

Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995 giải thích “có tính chất côn đồ” là hành động của những tên: Coi thường pháp luật; Luôn phá rối trật tự trị an; Sẵn sàng và thích dùng vũ lực để uy hiếp người khác; Vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự người khác

Tại điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự 2015 về nguyên tắc xử lý, quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn

đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” Vậy côn đồ trong trường hợp này là con người “côn đồ” hay “phạm tội có tính chất côn đồ” Theo bản thân, quy định trên áp dụng với con người có bản chất côn đồ là kẻ luôn coi thường pháp luật, thích gây gổ, hành hung xâm phạm tính mạng, danh

dự, sức khỏe người khác, còn người “phạm tội có tính chất côn đồ” đã được

14 Xem: “Kết luận của Chánh án TAND tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995” trong sách: Tòa án nhân dân Tối cao (1996), Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, Hà Nội, tr 141-142

Trang 27

pháp luật hình sự quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc tăng nặng định khung hình phạt, là tình tiết được xem xét khi quyết định hình phạt, thì không nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 3 BLHS 2015, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đồng thời bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự

Giết người là việc tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật Giết người có tính chất côn đồ là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017) về tội giết người:

“Điều 123 Tội giết người

1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

………

n) Có tính chất côn đồ;” 15

Giết người có tính chất côn đồ là trường hợp khi giết người, người phạm tội rõ ràng đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, giết người vô cớ (không có nguyên cớ) hoặc cố tình sử dụng những nguyên cớ nhỏ nhặt để giết người

Tuy nhiên, việc xác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ không phải bao giờ cũng dễ dàng như các trường hợp giết người khác được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự Thực tiễn xét xử không ít trường hợp giết người không thuộc các trường hợp khác quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự, thì các Toà án thường xác định giết người có tính chất côn đồ để áp dụng khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự Nhiều bản án đã bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc bị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao sửa bản

án sơ thẩm chỉ vì xác định không đúng tình tiết này Đây cũng là một vấn đề hiện nay còn nhiều vướng mắc và cũng là vấn đề phức tạp có nhiều ý kiến khác nhau; việc tổng kết kinh nghiệm xét xử về vấn đề này chưa đáp ứng tình hình phạm tội xảy ra Do đó ảnh hưởng không ít đến việc áp dụng pháp luật

Trang 28

Khi xác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ cần phải có quan điểm xem xét toàn diện, tránh xem xét một cách phiến diện như: chỉ nhấn mạnh đến nhân thân người phạm tội, hoặc chỉ nhấn mạnh đến địa điểm xảy ra vụ giết người hay chỉ nhấn mạnh đến hành vi cụ thể gây ra cái chết cho nạn nhân, đâm nhiều nhát dao vào người nạn nhân là có tính chất côn đồ; nhưng có trường hợp người phạm tội chỉ đâm một nhát trúng tim nạn nhân chết ngay cũng là có tính chất côn đồ Cần xem xét đến mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, thái độ của người phạm tội khi gây án, nguyên nhân nào dẫn đến việc người phạm tội giết người…

2.2 Các vướng mắc trong thực tiễn xác định dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

Hiện nay, trong quá trình giải quyết các vụ án vẫn còn nhiều quan điểm

khác nhau trong giải quyết các vụ án liên quan đến xác định dấu hiệu định khung

“có tính chất côn đồ” trong tội giết người Dấu hiệu “có tính chất côn đồ” đa

phần thể hiện định tính, chưa có quy định cụ thể cho nên rất nhầm lẫn là người

phạm tội “có tính chất côn đồ” hay hành vi của họ khi “thực hiện tội phạm có tính chất côn đồ” Do cho có hướng dẫn thống nhất về cách hiểu “có tính chất côn đồ” trong tội giết người nên có rất nhiều vụ án đã áp dụng còn nhiều vướng mắc

Đặc biệt, trong hệ thống Tòa án có quan điểm khác trong khi xét xử Tác giả xin nêu một số vụ án điển hình sau:

Vụ án thứ sáu: Vụ án “Giết người” đối với bị cáo Nguyễn Văn H, sinh

năm 1977; trú tại phố A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế

* Nội dung vụ án:

“Khoảng 08h ngày 13-01-2015, do có mâu thuẫn trong sinh hoạt nên xảy

ra xô xát giữa các con của ông Dương Quang Q là Dương Quang T, Dương Quang R và Dương Quang K với ông Dương Quang H, Dương Quang L và Nguyễn Văn H Các con của ông Q dùng tay, chân đấm đá vào người ông Dương Quang H làm ông H bị xây xát nhẹ Thấy bố vợ là ông Dương Quang H

bị các con của ông Q đánh, Nguyễn Văn H gọi điện báo cho Trần Quang V (là con rể của ông H) Biết tin bố vợ bị đánh, V đi từ Hà Tĩnh về Thừa Thiên Huế và

rủ thêm Phạm Nhật T cùng đi đánh ông Q Khi đi, V và T lấy ở nhà T 02 cây mã

Trang 29

tấu, bỏ vào túi vợt cầu lông rồi mang theo Khoảng 16 giờ ngày 19-01-2015, V chở T đến thị trấn Lăng Cô và gọi điện cho H đến nhậu cùng Tại quán nhậu H nói với V “Ba bị đánh thương lắm, giờ vẫn còn đau” V hỏi H địa chỉ nhà ông Q

ở đâu và đặc điểm nhận dạng ông Q như thế nào Nghe H nói xong, V nói với T

“Tý nữa nhậu xong tau với mi đi đánh lại”, H nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi” Sau đó, H về trước, V và T vẫn tiếp tục nhậu

Khoảng 17 giờ 45 phút, khi đang thanh toán tiền, Trần Quang V nói với Phạm Nhật T “Có gì tao vào đánh, người dân ra thì mi chặn lại”, T đồng ý và lên xe máy để V chở đến nhà ông Q Sau khi chạy vòng quanh nhà ông Q, biết ông Q không có ở nhà, V dừng xe ở một chỗ vắng người, lấy vải nilon che biển

số xe rồi chở T đi lên cầu Lăng Cô đứng đợi Đến khoảng 18 giờ, V chở T vòng

xe quay lại đến trước nhà ông Q và nhìn thấy ông Q đang cúi người mở cổng V dừng xe mở túi vợt cầu lông lấy ra 01 cây mã tấu có lưỡi hình răng cưa rồi chạy đến chém liên tiếp vào đầu, mặt, lưng, chân và tay ông Q làm ông Q bị ngã gục xuống đất Do nhiều người dân xung quanh nhìn thấy hô hoán và chạy đến nên T cầm mã tấu đe dọa, ngăn chặn tạo điều kiện cho V chạy đến chỗ để xe máy và nổ máy tẩu thoát Khi đến gần đèo Phú Gia, V gọi điện thoại cho H hỏi về tình trạng thương tích của ông Q H hỏi lại V “Thế em có chém ông Q không? Ông Q

đi Bệnh viện rồi” Gọi điện thoại cho H xong V gọi điện cho Dương Quang L nói

“Anh vừa mới chém ông Q xong! Em ở đâu, về cất 02 cây mã tấu cho anh!” Nghe V điện xong L ra đường đứng đợi V và T đến T đưa cho L túi vợt cầu lông đựng 02 cây mã tấu nhờ L cất giấu rồi V tiếp tục chở T về nhà của V và ngồi uống bia với T Sau khi L đưa túi đựng 02 cây mã tấu về nhà nhờ ông Dương Quang H cất hộ, ông H đem túi này sang nhà bếp của ông Hồ T (bố vợ của ông H) cất giấu Ông Dương Quang Q được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện thành phố Đà Nẵng đến ngày 03-02-2015 thì được ra viện.” 16

Tuy nhiên, vụ án này có nhiều quan điểm khác nhau:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2016/HSST ngày 23-5-2016, Tòa án

nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 xử phạt Nguyễn Văn H về tội “Giết người”

16 Xem: Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2016/HSST ngày 23-5-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 30

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 217/2016/HSPT ngày 02-8-2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo

Nguyễn Văn H; áp dụng khoản 2 Điều 104 xử phạt Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích”

Tại Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân

dân tối cao đã ra Quyết định hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 2107/2016/HSPT ngày 02-8-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản

1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T

“Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q

mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

93 Bộ luật Hình sự năm 1999

* Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra:

Như vậy, trường hợp đồng phạm trong tội giết người, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung

là “Có tính chất côn đồ” Người xúi giục bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội

“Giết người” nhưng không bị áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn

đồ” Việc nhận định về dấu hiệu “có tính chất côn đồ” chưa rõ trong điểm n

khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm n khoản 1 Điều

123 Bộ luật Hình sự năm 2015) và Khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015), dẫn đến việc áp dụng pháp luật có nhiều nhầm lẫn

Trang 31

Tương tự, do nhận thức về dấu hiệu “có tính chất côn đồ” chưa rõ, nên lại rất dễ nhầm lẫn với tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 104 BLHS 1999

cố Đến 03 giờ 30 phút ngày 21/9/2016, anh Đ triệu tập cuộc họp tại văn phòng công ty Tại cuộc họp anh Đ phê bình Phạm Mạnh H làm việc không có tinh thần trách nhiệm H không đồng ý cãi lại anh Đ Cuộc họp giải tán, H đi về tiếp tục làm việc Khoảng 04 giờ H đi ngang qua tổ tháo lắp khuôn thì thấy anh Đ đứng cùng Trần Văn H ở gần cần trục đang sửa thiết bị điều khiển từ xa của cần cẩu Nghĩ đến mâu thuẫn trước đó H nhặt dưới đất một thanh kim loại bằng thép, dài khoảng 120cm, được hàn từ 4 cây thép nhỏ có chiều dài 117cm, mỗi cây có đường kính 01cm, (ghép hình vuông một đầu thanh kim loại được hàn thên một đoạn dài 03cm, đường kính 02cm) rồi đi đến đứng sau chéch bên phải của anh Đ Phạm Mạnh H cầm thanh kim loại bằng tay phải Anh Trần Văn H la lên “ Đ! Coi chừng!” Đ vừa quay lại phía sau thì Phạm Mạnh H cầm cây sắt đánh một nhát theo hướng từ phải 17 qua trái vào đầu anh Đ Anh Đ ngã xuống bất tỉnh H bỏ cây sắt xuống đứng nhìn Đ một lát rồi bỏ đi Đ được mọi người đưa đi cấp cứu.”

Tại Cáo trạng số: 07/VKS – P2 ngày 27/12/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố Phạm Mạnh H về tội “Giết người” theo điểm

n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự

Trang 32

Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2017/HSST ngày 20/4/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích” áp dụng khoản 3 Điều 104

Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các tình tiết của vụ án và đã quyết định sửa bản án sơ thẩm Tuyên bố Phạm Mạnh H phạm tội “giết người” áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93

* Nhận xét, đánh giá:

Trong vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng có cách hiểu chưa thống nhất về dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự không thống nhất

Tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 26/3/2014 của TAND tỉnh H đã áp dụng

khoản 2 Điều 93; Điểm p, Hà Quốc Duy và Đỗ Phúc Biên đều là nhân viên nhà hàng ăn uống Phương Linh Khoảng 4 giờ sáng ngày 17/7/2013, Duy và Biên được phân công mổ gà ở khu vực bể nước nhà hàng Sau khi cắt tiết và vặt lông gà xong, Duy cầm con dao nhọn có chiều dài 27cm để chuẩn bị mổ gà Lúc này, Biên dọn dẹp, hắt nước mạnh tay làm nước bắn vào người Duy Duy nói “anh làm ăn cẩn thận, bắn hết nước vào người em rồi” Anh Biên nói “mày

sợ bẩn thì đi làm làm đéo gì”, Duy nói “anh không làm được thì ra chỗ khác cho em làm”, Anh Biên xông vào dùng tay đẩy vào vai Duy khiến Duy phải lùi

về phía sau vài bước Trong lúc anh Biên đẩy Duy thì bị Duy dùng dao đang cầm trên tay đâm một nhát vào bụng Biên theo hướng từ phải qua trái; anh Biên bị ngất, được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên đã bị tử vongkhoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Duy 12

năm tù về tội Giết người

Trang 33

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thông báo rút kinh nghiệm về việc xác định không chính xác tình tiết định khung về tội Giết người dẫn đến cấp phúc thẩm phải sửa án hoặc hủy án như sau: Hành vi của bị cáo Duy bị Tòa án nhân dân tỉnh H xét xử về tội Giết người là đúng người, đúng tội; tuy nhiên xét về hành

vi khách quan thì thấy: xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa bị hại và bị cáo, do lỗi vô ý của anh Đỗ Phúc Biên mà bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao nhọn đâm thẳng vào bụng anh Biên rồi bỏ mặc hậu quả đã xảy ra làm anh Biên bị

tử vong Hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ, bất chấp pháp luật chỉ vì lý do xung đột nhỏ nhặt mà có hành vi dùng dao tước đoạt tính mạng của người khác

Với hành vi trên cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 93

Bộ luật hình sự để xử bị cáo Duy 12 năm tù về tội Giết người là không chính xác Việc định khung và quyết định mức hình phạt là quá nhẹ không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Tại Bản án phúc thẩm ngày 27/6/2014 của Tòa án nhân dân tối cao đã sửa bản án sơ thẩm, áp dụng điểm n Khoản 1 Điều 93, Điểm b,p Khoản 1,2 Điều 46

Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Duy 15 năm tù

- Vụ án thứ chín

“Tối ngày 24/01/2012 (tức ngày mồng 2 Tết) tại nhà anh La Văn Dương ở xã

An Bá, huyện S, tỉnh BG do uống nhiều rượu nên Hoàng Văn Mã và Hoàng Văn Hùng đã xô xát với nhau được mọi người can ngăn, Mã và Hùng về nhà mình

Sáng ngày 25/01/2012, Hoàng Văn Hùng rủ 11 người đi cùng đến nhà Hoàng Văn Mã để giải quyết mâu thuẫn tối hôm trước; trong đó có La Văn Đức, Hoàng Văn Nam, Trần Văn Tiến, Mè Văn Tình…đi bằng 4 xe mô tô, đến nhà La Văn Dương để xe máy ở đó, đi bộ sang nhà Mã cách đó khoảng 300m Khoảng

12 giờ cùng ngày, nhóm của Hùng đến sân gia đình Mã, tại đây nhóm của Hùng

đã lấy búa, xẻng, gậy có sẵn ở sân làm hung khí để gây sự với Mã Khi Mã ra sân, Hùng hỏi tại sao tối qua Mã đánh Hùng, Mã trả lời do say rượu không nhớ việc gì đã xảy ra Liền đó Hoàng Văn Nam tát vào mặt Mã, Hùng bắt mã phải quỳ xuống xin lỗi, Mã không chịu Trước sự việc xảy ra Hoàng Văn Lạnh, Hoàng Văn Tạy là anh trai của Mã lúc đó đang ở nhà đã gọi điện thoại cho Trần Văn Tân là anh rể nhà ở gần đó biết sự việc, rồi Lạnh lấy chiếc gậy, Tạy cầm

Trang 34

một dao quắm đi ra, Lạnh nói “thằng nào phá nhà tao, tao đánh chết” Thấy vậy nhóm của Hùng bỏ về nhà Dương lấy xe về

Vài phút sau, Trần Văn Tân đến nghe anh em Mã kể lại sự việc, cả 4 anh

em đều nhất trí phải đuổi theo đánh cho nhóm của Hùng một trận Khi đuổi theo Tân cầm một thanh củi gỗ dài 173cm, đường kính 4cm chạy trước Tạy cầm dao quắm chạy phía sau Tân Mã cầm một thanh dỗ dài 82cm có 4 cạnh mỗi cạnh 3cm; Lạnh cầm một đoạn gỗ dài 142cm, đường kính 3cm chạy sau cùng Khi nhóm của Tân, Mã chạy đến ngã ba thôn Lái thì gặp nhóm Hùng Tân hô

“chúng mày dừng lại” Cùng lúc đó, Lý Văn Đỗ đi xe mô tô đến Thấy vậy Đỗ đã đuổi theo, vượt lên chặn nhóm của Hùng lại Nhóm của Hùng dừng xe, chạy tản

ra xung quanh, nhổ gậy ở bờ rào, nhặt gạch đá ở ven đường để đánh nhau với nhóm của Mã, Tân, Lạnh, Taỵ

Thấy La Văn Đức cầm gậy đứng gần mình, Tân lao vào định đánh Đức thì

Mã đứng sau Tân dùng gậy gỗ mang theo vụt một cái vào đầu Đức làm Đức bị thương khuỵu xuống Mã vụt nhát thứ hai vào cẳng chân phải làm Đức ngã xuống đường bất tỉnh

Thấy Trần Văn Tiến cầm đá, Tạy cầm dao xông đến đánh Tiền nhưng bị Tiến giữ được tay dao, Tiến và Lạy đang ôm giữ nhau thì Tân vụt một gậy vào đầu Tiến; Tiến hô giục nhóm của mình là “chúng mày đánh đi”, Tiền và Tạy vật nhau ngã vào bờ rào, Tiến nhặt một viên đá đập vào đầu Tạy

Sau khi vụt một cái vào đầu Tiến thì Tân bị Đặng Thế Bay (trong nhóm của Hùng) dùng một cọc rào bằng gỗ đập một cái vào đầu, Tân bị đau phải ngồi

ra rìa đường Trong lúc hai nhóm xô xát, Hoàng Văn Lạnh dùng gậy đánh một người nhưng không trúng, không xác định được người này là ai

Lý Văn Đỗ cùng rút một cọc rào ven đường đánh một cái vào đầu Trần Văn Vinh Sau khi được mọi người đến can ngăn, việc đánh nhau đã kết thúc La Văn Đức, Trần Văn Tiến, Trần Văn Tân được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh, đến 0 giờ 30 ngày 26/01/2012 thì Đức chết” 19

Tại Bản án hình sự sơ thẩm ngày 18/9/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã

áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm a Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự

Trang 35

tuyên bố các bị cáo: Hoàng Văn Mã, Hoàng Văn Tân, Hoàng Văn Tạy, Hoàng Văn Lạnh về tội “Giết người” (không tuyên bố các bị cáo này phạm tội Cố ý gây thương tích) Áp dụng khoản 1 Điều 245, điểm h,p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Lý Văn Đỗ, Trần Văn Tiến về tội Gây rối trật tự công cộng và tuyên hình phạt đối với các bị cáo

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thông báo rút kinh nghiệm về việc xác định không chính xác tình tiết định khung về tội Giết người dẫn đến cấp phúc thẩm phải sửa án hoặc hủy án như sau: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội Giết người của bị cáo Hoàng Văn Mã và đồng phạm là do Hoàng Văn Hùng đã rủ nhiều người đến nhà của bị cáo vào đúng mồng 3 Tết nguyên đán để đánh và bắt

Mã phải quỳ xuống xin lỗi Hùng; ngay từ đầu nhóm của Hùng đã có ý định đánh

Mã, trong ngày Tết, nhóm của Hùng đến tận nhà đánh, bắt chủ nhà quỳ xuống xin lỗi, chủ nhà không làm theo thì lập tức Nam đi cùng Hùng đã đánh Mã Ngay sau

đó, do bực tức trước hành vi trái pháp luật của bị hại nên anh em bị cáo đã cầm hung khí đuổi theo đánh nhóm của Hùng; bản thân Hùng cũng có hành vi bẻ cọc rào để đánh nhau với nhóm của Mã tại hiện trường vụ án

Xét các tình tiết, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng các bị cáo thực hiện hành vi giết người trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra Bởi vậy, hành vi giết người của các bị cáo không thuộc trường hợp có tính chất côn đồ theo Điểm n Khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình

sự như các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã quy kết

Trong vụ án này hành vi của Hoàng Văn Hùng có dấu hiệu của tội Gây rối trật tự công cộng theo Điều 245 Bộ luật hình sự nhưng Cơ quan điều tra chỉ xử

lý hành chính Viện kiểm sát cấp sơ thẩm cũng đồng ý với việc xử lý trên của Cơ quan điều tra là bỏ lọt tội phạm

Ngoài ra trong phần quyết định của bản án sơ thẩm, Tòa án chỉ tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Mã, Trần Văn Tân, Hoàng Văn Tạy, Hoàng Văn Lạnh phạm tội Giết người, không tuyên bố các bị cáo này phạm tội Cố ý gây thương tích nhưng vẫn tuyên phạt các bị cáo từ 6 tháng đến 1 năm về tội này là vi phạm Sau khi xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử sơ thẩm cũng không phát hiện được vi phạm để kiến nghị khắc phục theo quy định của pháp luật là thiếu sót cần rút kinh nghiệm

Trang 36

Tại bản án phúc thẩm ngày 01/7/2014 của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử đã quyết định hủy án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh B

để điều tra lại

* Nhận xét, đánh giá:

Trong 2 vụ án nêu trên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo về tội Giết người là có căn cứ nhưng đã nhận thức và áp dụng không chính xác tình tiết định khung “phạm tội có tính chất côn đồ” nêu dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm phải sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” là tình tiết định khung tăng nặng Hiện nay các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có văn bản hướng dẫn tình tiết này

Vụ án thứ mười:

Ngày 16/8/2013, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đối với Đỗ Văn Tuyến phạm tội "giết người" để xét xử phúc thẩm lại Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự thấy cần rút kinh nghiệm để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu

“Ngày 9/12/2011, Đỗ Văn Tuyến tham gia vụ án " Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản" ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội rồi bỏ trốn vào miền Nam Ngày 21/12/2011, Tuyến từ cần Thơ đến nhà anh Hoàng Văn Bảy (là người cùng quê với Tuyến) ở ấp Phú Long, xã Tân Phú, Sa Đéc, Đồng Tháp Khi Tuyến đến, anh Bảy tổ chức uống rượu, đến khoảng 18 giờ cùng ngày, anh Bảy thuê xe taxi của anh Nguyễn Chí Thông cho Tuyến đến bến xe Sa Đéc để mua vé về bến xe Miền Đông Trước khi Tuyến lên xe, anh Thông đã nhận tiền cước do vợ anh Bảy thanh toán là 60.000 đồng và hứa sẽ giúp Tuyến mua vé xe Khi đến bến xe, anh Thông

đã dẫn Tuyến vào mua vé, nhân viên trạm xe "Phương Trang" thấy Tuyến say rượu, không bán vé cho Tuyến, Tuyến bảo anh Thông đưa Tuyến đi tìm xe khác và

sẽ thanh toán tiền cước cho anh Thông, nhưng anh Thông nói "hết xe rồi" Nghĩ là anh Thông lừa mình nên giữa Tuyến và anh Thông đã cãi, chửi, giằng co, xô xát với nhau Trong lúc giằng co, xô xát, Tuyến dùng dao đâm vào cánh tay trái của anh Thông rồi bỏ chạy Thấy anh Thông mặc đồng phục của lái xe taxi, trên tay

Trang 37

cầm cục đá đang đuổi theo Tuyến, cùng lúc này lại có tiếng hô "cướp, cướp", do

đó một số người dân trong khu vực bến xe tưởng Tuyến cướp xe taxi nên đã cầm theo gạch, đá để tham gia vây bắt Tuyến Thấy đông người đuổi theo, Tuyến đã lên xe taxi do anh Hồ Minh Lưu điều khiển (đang dừng trả khách trước cửa bến xe) và yêu cầu anh Lưu cho xe chạy Thấy vậy, anh Thông chạy đến chặn xe và nói với Lưu "đừng chở nó, nó vừa đâm tài xế đấy" Anh Lưu dừng xe, tắt máy và xuống xe bỏ chạy, Tuyến cũng xuống xe và chạy về phía Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp Tuyến chạy được khoảng 26,5 mét thì dừng lại; lúc này anh Thông, anh Lưu cùng một số người đuổi kịp Tuyến và dùng gạch, đá ném Tuyến Tuyến nhặt một đoạn tre để khua khoắng, không cho mọi người xông vào bắt mình Nhân lúc Tuyến không để ý, anh Thông dùng đá đánh mạnh vào đầu Tuyến rồi bỏ chạy Cùng lúc này, một người trong đám đông giật được đoạn tre của Tuyến rồi dùng đoạn tre này đánh Tuyến Tuyến một tay bịt vết thương trên đầu, một tay dùng dao nhọn có sẵn trong người khua khoắng loạn xạ; anh Phan Văn Giàu và anh Đỗ Quốc Phong xông vào khống chế Tuyến thì anh Phong bị Tuyến dùng dao đâm sượt qua ngực, anh Giàu bị đâm trúng ngực Tuyến đẩy anh Phong

để bỏ chạy, làm cho anh Phong bị ngã đập lưng vào các mảnh gạch ống vỡ sắc nhọn nằm trên đường Tuyến chạy vào nhà trọ của bà Võ Thị Thắm thì được bà Thắm lấy cho chiếc quần cũ để bịt máu trên đầu, sau đó bà Thắm điện thoại báo Công an phường 2, thị xã Sa Đéc đến giải quyết và đưa Tuyến đi cấp cứu Tuyến

bị bắt sau hai ngày điều trị vết thương Đối với anh Nguyễn Văn Giàu, sau khi bị Tuyến đâm vào ngực đã được người nhà đưa đi cấp cứu, nhưng do vết thương quá nặng nên anh Giàu đã bị chết sau hơn 20 ngày điều trị”

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2012/HSST ngày 30/5/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đ 20áp dụng các điểm a,n, và p khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự,

xử phạt Đỗ Văn Tuyến tử hình về tội "Giết người”

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo

Ngày 3/5/2013, vụ án được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên Ngày 16/8/2013, Hội đồng thẩm phán

Trang 38

Tòa án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy bản án hình sự phúc thẩm số 754/2012/HSPT ngày 20/8/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa

án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại cho đúng pháp luật

* Nhận xét, đánh giá:

Về xác định "có tính chất côn đồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn Tuyến

Từ việc Hoàng Văn Bảy là người thuê xe taxi của Nguyễn Chí Thông và

vợ anh Bảy là người trả tiền cước cho anh Thông để anh Thông đưa Đỗ Văn Tuyến đến bến xe tìm xe khách Do anh Thông nói giờ này vẫn còn xe nên trước khi lên xe taxi giữa Tuyến và anh Thông có thỏa thuận, anh Thông có trách nhiệm tìm xe khách cho Tuyến Tại bến xe Sa Đéc, anh Thông không tìm được xe khách cho Tuyến, nên hai người đã xô xát với nhau, anh Thông bị Tuyến dùng dao gây thương tích ở cánh tay trái với tỷ lệ thương tật 01%, anh Thông đã cầm đá đuổi đánh Tuyến Thấy lái xe taxi bị thương, đang cần đá đuổi đánh Tuyến, có người tưởng Tuyến cướp xe taxi đã hô "cướp, cướp" Mặc

dù biết Tuyến không cướp xe taxi, nhưng anh Thông vẫn để cho mọi người đuổi theo bắt Tuyến Thấy đông người cầm gạch, đá vây quanh mình, Tuyến đã lấy dao ra để dọa Anh Phan Văn Giàu và Đỗ Quốc Phong nghe tiếng hô "cướp, cướp" cũng tham gia đuổi đánh và xông vào giằng co con dao với Tuyến, thì anh Thông đi từ phía sau cầm cục đá đập mạnh vào đầu Tuyến rồi bỏ chạy Tuyến bị chảy máu ở đầu nhưng vẫn giật được dao, rồi dùng dao khua khoang loạn xạ làm anh Phong bị thương tích ở phần ngực 01%, anh Giàu bị đâm vào ngực dẫn đến tử vong.Do Tuyến đẩy anh Phong ngã nên anh Phong bị thêm

thương tích ở lưng 4% Như vậy, hành vi nêu trên của Đỗ Văn Tuyến không

xuất phát từ một lý do vô cớ hay vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt nào khác, đồng thời có cơ sở để khẳng định Tuyến không có ý thức tước đoạt tính mạng của anh Nguyễn Chí Thông và anh Đỗ Quốc Phong, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a (giết nhiều người) và điểm n (có tính chất côn đồ) theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng với tính chất của hành vi

phạm tội

Trang 39

2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

Mục 2.2 của Luận văn đã chỉ ra các vướng mắc trong thực tiễn xác định dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người

Nguyên nhân của các vướng mắc trong thực tiễn trong việc xác định dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người xuất phát từ các lý do sau:

- Thứ nhất, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người dẫn đến việc xác định dấu hiệu định khung này còn nhiều lúng túng

- Thứ hai, do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng khác nhau nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau về dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất

Trên cơ sở nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm xác định đúng dấu hiệu định khung “có tính chất côn đồ” trong tội giết người theo các hướng như sau:

- Thứ nhất, kiến nghị Tòa án nhân dân Tối cao ra văn bản hướng dẫn tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” (được quy định tại d khoản 1 Điều 52 BLHS)

và “có tính chất côn đồ” (được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về 02 tình tiết này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, “phạm tội có tính chất côn đồ” và “có tính

chất côn đồ” là trường hợp khi phạm tội, người phạm tội rõ ràng đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, càn quấy, bất chấp sự can ngăn của người khác, chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt, nhưng cũng

cố tình gây sự để phạm tội

Quan điểm này tương tự như cách hiểu tại Công văn số 38/ NCPL ngày 06-01-1976 của Toà án nhân dân tối cao và Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1995 Đây cũng là quan điểm của Viện phúc thẩm 2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao được kết luận tại Tọa đàm khoa học nghiệp vụ với các Viện kiểm sát khu vực Tây nguyên

Trang 40

Quan điểm khác cho rằng, côn đồ là kẻ chuyên gây sự, hành hung Phạm tội có tính chất côn đồ là phạm tội hoàn toàn từ nguyên cớ do mình gây ra Quan

điểm này đã có sự phân biệt “côn đồ” với “có tính chất côn đồ” Theo đó, khi xem xét có vận dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ”, “có tính chất côn đồ” hay không hoàn toàn dựa vào hành vi mà người phạm tội đã thực hiện Trong đó, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội được thực hiện có ý nghĩa quan trọng để đánh giá hành vi phạm tội có tính chất côn đồ hay không

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai bởi vì, theo Từ điển tiếng Việt, côn đồ có nghĩa “kẻ chuyên gây sự, hành hung” Tức thuật ngữ “côn đồ” chỉ chủ thể chứ không phải chỉ hành vi Phân tích nội dung tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS và tình tiết “có tính chất côn đồ”

tại Điều 123, thấy rằng, cả hai tình tiết này đều chỉ hành vi vi phạm vào một tội

mà BLHS quy định chứ không phải chỉ cá nhân người thực hiện hành vi phạm

tội Vì vậy, khi xem xét các tình tiết này, cần phải hiểu “côn đồ” ở khía cạnh là thuộc tính, phản ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tội đã được thực hiện

Xét về nhân thân người phạm tội, trong khoa học luật hình sự, nhân thân người phạm tội được xem xét ở nhiều mức độ khác nhau Chúng có thể là yếu tố định tội, định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; là một căn

cứ độc lập khi quyết định hình phạt Ở khía cạnh tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, yếu tố nhân thân là một thuộc tính làm cho tính chất của hành vi phạm tội

đã thực hiện nguy hiểm hơn so với hành vi không có thuộc tính đó Tuy nhiên, mỗi người chỉ chịu trách nhiệm đối với hành vi mà mình đã, đang thực hiện Nếu hành vi đó nguy hiểm cho xã hội thì chúng sẽ bị Nhà nước lên án ở những góc độ khác nhau Trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS, chỉ tình tiết “tái phạm, tái phạm nguy hiểm” tại điểm h khoản 1 Điều 52 thuộc về nhân thân người phạm tội nhưng nó có nguồn gốc từ việc người phạm tội đã thực hiện hành vi bị xác định là tội phạm mà nay họ tiếp tục phạm tội Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác đều gắn với hành vi

mà người phạm tội đang bị xử lý Cho nên, các dấu hiệu khác thuộc về nhân thân người phạm tội chỉ xem xét thuần túy về khía cạnh nhân thân khi quyết định hình phạt (là một căn cứ độc lập) hoặc làm tăng giảm mức độ tăng nặng của mỗi hành

vi chứ không có ý nghĩa để xác định tăng nặng trách nhiệm hình sự

Ngày đăng: 22/04/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w