Các tác giả đều thống nhất cho rằng tỉ lệ bệnh mắt liênquan tới bệnh đái tháo đường có thể được xem như là một chỉ số sớm cho cáccải thiện về chăm sóc ban đầu cho bệnh đái tháo đường [31
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hóa có tốc độ phát triển rấtnhanh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Theo thông báo của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế (IDF): năm 1995
cả thế giới có 135 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, năm 2005 có 151triệu người mắc bệnh đái tháo đường Dự báo đến năm 2010 sẽ có 221 triệungười mắc bệnh đái tháo đường [36] Hiện nay khu vực châu Á - Thái BìnhDương được xem như là điểm “nóng” của bệnh đái tháo đường Mặt khácnền kinh tế phát triển kéo theo lối sống công nghiệp làm giảm thiểu các hoạtđộng thể lực, tình trạng dồi dào về thực phẩm, dư thừa về năng lượng, tốc độ
đô thị hóa nhanh cùng sự già đi của dân số thế giới đã thực sự là yếu tố thuậnlợi cho bệnh đái tháo đường tăng nhanh [45]
Ở Việt Nam, qua số liệu thống kê cho thấy bệnh đái tháo đường là mộtbệnh thường gặp [22] Năm 2001, lần đầu tiên một cuộc điều tra bệnh dịch tễhọc được tiến hành qui mô lớn ở bốn thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng
và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ đái tháo đường là 4% [4], [6]
Đái tháo đường là một bệnh tiến triển âm thầm, khi phát hiện đã có nhiềubiến chứng như: biến chứng tim mạch, thần kinh, thận, mắt, trong đó biếnchứng mắt là biến chứng rất hay gặp và thường dẫn tới mù lòa gây hậu quảnặng nề [12], [25], [23] Trong thực tế, hầu hết các nhà lâm sàng thường quantâm nhiều đến đánh giá kết quả điều trị, kiểm soát đường huyết và các biếnchứng về tim mạch mà ít quan tâm tới tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháođường Nhưng tại thời điểm chẩn đoán lâm sàng, người bệnh đái tháo đường
đã có biến chứng trong đó bệnh võng mạc có tới 35%, bệnh thần kinh ngoạibiên 12%, protein niệu 2,1% [6] Với các tổn thương tại mắt ở bệnh nhân đáitháo đường, hậu quả là không ít bệnh nhân bệnh tiến triển âm thầm, nặng nề,
1
Trang 2ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Đây cũng là nguyên nhân quan trọngdẫn tới tàn tật mù lòa, mất khả năng lao động, làm tăng gánh nặng cho giađình và cộng đồng Các tác giả đều thống nhất cho rằng tỉ lệ bệnh mắt liênquan tới bệnh đái tháo đường có thể được xem như là một chỉ số sớm cho cáccải thiện về chăm sóc ban đầu cho bệnh đái tháo đường [31], [33].
Các biến chứng mắt trên bệnh nhân đái tháo đường rất thường gặp: Ở
Mỹ đái tháo đường là nguyên nhân đầu tiên gây giảm thị lực và dẫn đến mùlòa [4], [9] Bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ mù lòa tăng gấp
20 - 30 lần so với những người cùng tuổi cùng giới Theo nghiên cứu củaWisconsin tỉ lệ mắc mới hàng năm của mù lòa do đái tháo đường là3.3/100.000 dân [6]
Tại Việt Nam, cho tới nay cũng đã có một số các tác giả đã nghiên cứu
về biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường và cho các tỉ lệ mắc bệnh khácnhau như: tại Hà Nội: 17,04%, tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ ChíMinh: 25,2% [16], [21]
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát hiện sớm biếnchứng mắt trong bệnh đái tháo đường, đồng thời góp phần vào công tác dựphòng, kiểm soát và điều trị kịp thời biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo
đường, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên" nhằm mục tiêu:
1 Xác định một số tổn thương mắt trên lâm sà ng ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tổ n thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường.
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính thường kếthợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự suy yếu chức năng của nhiều
cơ quan đặc biệt là mắt, tim, thần kinh và mạch máu [27]
1.1.Đặc điểm dịch tễ bệnh đái tháo đường
Trong những năm gần đây, ĐTĐ luôn là vấn đề sức khỏe lớn trên thếgiới, bệnh có tốc độ phát triển nhanh, vào những năm cuối của thế kỷ XX vànhững năm đầu của thế kỷ XXI, ĐTĐ là bệnh không lây phát triển nhanhnhất Bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nướcphát triển Điều đáng lo ngại là ĐTĐ đang tăng nhanh và cũng được xem làđại dịch ở các nước đang phát triển, khu vực gia tăng mạnh nhất là châu Á vàchâu Phi nơi đang có sự tăng trưởng mạnh về kinh tế Tại châu Á năm 1995
có 62,5 triệu người đái tháo đường, dự kiến năm 2010 sẽ có 221 triệu ngườiđái tháo đường Trên thế giới, dự báo năm 2025 sẽ có khoảng 300 - 330 triệungười mắc căn bệnh này (WHO) [4], [48]
Bệnh ĐTĐ có liên quan đến các yếu tố giống nòi, dân tộc và khu vực địa
lý Tỉ lệ ĐTĐ cao nhất ở người châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương, tiếptheo là người Mỹ gốc Mêhicô, người Mỹ gốc Ấn Độ và người Đông Nam Á,người Mỹ gốc Phi [54] Nhiều nghiên cứu dịch tễ đã dự báo ở các quốc giađang phát triển, tỉ lệ bệnh tăng gấp 1,5 lần vào những năm 2000 và sẽ tănggấp 3 lần vào khoảng năm 2025 Tỉ lệ bệnh ĐTĐ tăng nhanh ở các quốc gia
có nền kinh tế đang phát triển là do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống,
về thói quen ăn uống nhất là lối sống ít hoạt động thể lực Ở các nước phát
Trang 4triển bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ trung bình 6,2% (năm 2003), dự báo tỉ lệ này sẽ là7,6% (năm 2025) [4], [5], [9].
Thông thường ĐTĐ được chia ra hai “kiểu bệnh lý” phụ thuộc vào trình
óc tỉ lệ mắc bệnh là 3,9% mặc dù lao động của họ là tĩnh tại Rõ ràng trình độvăn hóa, kiến thức vệ sinh ăn uống tính hợp lý khoa học trong lựa chọn chế độ
ăn uống, ý thức về khả năng phòng bệnh … Những yếu tố giúp cho nhóm đốitượng này có tỉ lệ bệnh thấp mặc dù trong nhóm này có nhiều yếu tố nguy cơkhông thể thay đổi được, trong đó có 2 yếu tố quan trọng là tuổi tác và nghềnghiệp lao động tĩnh tại
Người ta thấy việc chẩn đoán ĐTĐ giống như một tảng băng, phần nổi(phần được chẩn đoán) chiếm một phần nhỏ, còn phần lớn chưa được chẩnđoán (phần chìm của tảng băng) Nghiên cứu Aus Diab – Australia [14],khẳng định rằng ở lứa tuổi ≥ 25 cứ một người được chẩn đoán có bệnh ĐTĐthì lại có một người chưa được chẩn đoán (tỉ lệ 50: 50) Các nghiên cứu khác
ở Nam Á hoặc người châu Phi, tỉ lệ này chiếm từ 22 - 23% [9]
Có nhiều yếu tố nguy cơ làm ĐTĐ trở thành “đại dịch” Nguyên nhânhàng đầu là giảm hoạt động thể lực và chế độ ăn uống giầu năng lượng, ít chất
Trang 5xơ Đây cũng chính là nguyên nhân chính dẫn tới thừa cân béo phì - Cănbệnh đặc trưng của thế kỷ Bệnh béo phì, đặc biệt béo bụng được xem làyếu tố “đương nhiên” tiến tới kháng insulin và hội chứng rối loạn chuyểnhóa và cũng đương nhiên tiến tới ĐTĐ, chiếm 1/4 dân số ở các nước côngnghiệp phát triển [7].
Ở Mỹ, từ năm 1990 - 1998, cân nặng trung bình của nam giới tăng 3,4
kg và nữ giới tăng 3,9 kg, tương đương với tỉ lệ bệnh ĐTĐ từ 4,9% - 6% [27].Rối loạn dung nạp glucose và suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói sẽ làmphát triển tình trạng kháng insulin tiến tới ĐTĐ Hiện nay, có từ 10 - 25% dân
số các nước phương Tây có rối loạn dung nạp glucose [40] Ngoài ra có một
số yếu tố được coi có nguy cơ cao khác dễ có khả năng phát triển đến bệnhĐTĐ như: tuổi ≥ 45, người có BMI ≥ 25, người thân thế hệ cận kề bị bệnhĐTĐ, tăng huyết áp vô căn, phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt (ĐTĐ thai kỳ,sinh con to ≥ 4 kg) [4], [6], [44]
1.2 Phân loại đái tháo đường
Đái tháo đường được chia làm 2 loại [25]:
- Đái tháo đường týp 1:
Thường gặp ở người trẻ tuổi (<35 tuổi), thể trạng gày, triệu chứng xuấthiện rầm rộ (ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều và gày sút nhanh) khiến bệnhnhân được chẩn đoán rất kịp thời Tuy nhiên, biến chứng ở võng mạc thườngnặng hơn đái tháo đường týp 2 dù cho bệnh nhân có chế độ điều chỉnh đườnghuyết tốt
- Đái tháo đường týp 2:
Thường xuất hiện ở người từ sau tuổi 40 đến tuổi 70, thể trạng béo(Chiếm 85% số người mắc bệnh ĐTĐ) Người bị đái tháo đường týp2 cáctriệu chứng khởi phát lại biểu hiện âm thầm, đa số người bệnh được phát hiệnmột cách rất tình cờ Có rất nhiều bệnh nhân đái tháo đường týp2 khi chẩn
Trang 6đoán ra thì tổn thương mắt đã ở giai đoạn gần mù Có những người tình cờphát hiện ra đái tháo đường khi đi khám mắt [19], [51].
1.3 Các biến chứng của bệnh đái tháo đường
Biến chứng của bệnh ĐTĐ thường được chia ra theo thời gian xuất hiện
và mức độ của các biến chứng Các biến chứng của bệnh đái ĐTĐ thường là hậuquả của chẩn đoán muộn, điều trị không thích hợp, hoặc do nhiễm khuẩn cấptính
Biến chứng vi mạch liên quan đến mạch máu nhỏ (võng mạc, thần kinh,thận); biến chứng mạch máu lớn (tim, não, mạch máu ngoại vi), thậm chí cácbiến chứng này có ngay tại thời điểm được phát hiện, nhất là ở người bệnhĐTĐ [18] Đây là nguyên nhân không chỉ làm tăng gánh nặng kinh tế của mỗi
cá nhân, mỗi cộng đồng, mà còn là lý do chủ yếu làm suy giảm chất lượngcuộc sống của người mắc bệnh ĐTĐ
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của tăng glucose máu trong quátrình phát triển của các biến chứng ở người bệnh ĐTĐ typ1 và ĐTĐ typ2 đềunhư nhau đối với các bệnh như: Bệnh tim, đột quỵ… loét bàn chân hoại thư
và cắt cụt chi dưới, giảm thị lực và mù lòa, rối loạn chức năng cương, cácbiểu hiện khác của bệnh lý thần kinh [38]
Ở khu vực Tây Thái Bình Dương, bệnh ĐTĐ là một trong 10 nguyênnhân hàng đầu gây tử vong Những nguyên nhân trực tiếp gây tử vong thường
là những biến chứng của bệnh ĐTĐ, trong đó hay gặp nhất là bệnh tim và độtquỵ, chiếm 75% số tử vong của người ĐTĐ ở các nước phát triển Tại nhiềuquốc gia đột quỵ và suy thận là nguyên nhân tử vong thường gặp nhất củangười bị bệnh ĐTĐ Ước tính tuổi thọ trung bình của bệnh nhân ĐTĐ giảm 5
- 10 năm so với người không bị ĐTĐ [7]
Ở nhiều nước đang phát triển, nguyên nhân phổ biến nhất buộc phải cắtcụt chi là do nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ gây nhiễm trùng máu Ở các quốc gia
Trang 7này, cắt cụt chi do ĐTĐ chỉ đứng thứ 2 sau tai nạn xe máy và tai nạn côngnghiệp.
Trang 8Về bệnh lý vi mạch, ở các nước có nền kinh tế phát triển, bệnh VM ĐTĐ
là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa và giảm thị lực ở người trên 60 tuổi Sau
15 năm bị ĐTĐ, khoảng 2% số người bệnh bị mù trong khi 10% bị giảm thịlực nặng [40] Nếu như bệnh VM ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp hàng đầu,thì suy thận giai đoạn cuối đứng vào hàng thứ 2 Tần suất thay đổi tùy quần thể
và liên quan với mức độ nặng, nhẹ của bệnh và thời gian mắc bệnh [6], [22].Theo thống kê của WHO, tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cókhoảng 35% số người ĐTĐ trong khu vực bị bệnh VM, một số vùng đặc biệt
ở các quần đảo Thái Bình Dương tỉ lệ bệnh VM là 40%, tỉ lệ bệnh thần kinh12%, tỉ lệ bệnh mạch máu ngoại biên 10%, và tỉ lệ cắt cụt chi thay đổi từ 1 -7% [9]
1.4 Biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường
1.3.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý mắt
1.3.1.1 Đặc điểm giải phẫu mắt
Nhãn cầu được chia thành hai phần [7], [26]:
- Phần trước nhãn cầu gồm: Giác mạc, mống mắt, góc mống - giác mạc, thể
mi và thể thủy tinh
- Phần sau nhãn cầu gồm: Củng mạc, VM và dịch kính Màng bồ đào là mộtmàng liên kết lỏng lẻo chứa nhiều mạch máu và tế bào sắc tố đen Màng nàygồm có ba phần: Mống mắt, thể mi, hắc mạc
+ Mống mắt hình tròn có lỗ thủng ở giữa tròn như lỗ đồng xu gọi là đồng
tử Mống mắt nằm sau giác mạc, phía trước thủy tinh thể ngăn cách ra tiềnphòng và hậu phòng
+ Thể mi bắt đầu từ chân mống mắt tới hắc mạc ở phía sau Thể mi cóchức năng tham gia điều tiết để nhìn rõ vật ở gần và tiết ra thủy dịch
+ Hắc mạc: Tiếp theo thể mi, mặt ngoài tiếp giáp với củng mạc, phíatrong tiếp giáp VM, phía sau kết thúc ở gai thị Hắc mạc là một màng liên kếtlỏng lẻo có chứa nhiều mạch máu và tế bào sắc tố đen Nhiệm vụ của hắc
Trang 9mạc: Nuôi dưỡng nhãn cầu và tạo cho nhãn cầu thành một buồng tối để ảnh của vật được in rõ trên VM.
Thủy tinh thể là một thấu kính trong suốt, hai mặt lồi không có mạchmáu, nằm dọc sau mống mắt Nó là lưỡng chiết quang học Đặc điểm chủ yếucủa thủy tinh thể là có thể thay đổi bán kính độ cong khi điều tiết, nhờ đó mà
VM bao bọc mặt trong của nhãn cầu VM được cấu tạo hai lớp khác biệtnhau về mặt phôi học: Biểu mô sắc tố, võng mạc thần kinh cảm thụ; về mặtlâm sàng người ta tách biệt ra: Vùng hoàng điểm là vùng VM trung tâm cóhình bầu dục Vùng trung tâm hoàng điểm, khi khám ta thấy vùng này sẫm
Trang 10màu hơn, vàng hơn và có một ánh trung tâm hoàng điểm, có khả năng phântách cao, do đó cho thị lực tối đa, gọi là thị lực trung tâm (10/10) [7], [26].
1.3.1.3 Đặc điểm tuần hoàn võng mạc
- Hệ thống động mạch và tĩnh mạch [7], [26]
Động mạch trung tâm VM bắt nguồn từ động mạch mắt tới nhãn cầu, khicách cực sau của nhãn cầu khoảng 14 mm, động mạch chui vào giữa trục thầnkinh thị giác đi tới VM ở đĩa thị Ở đĩa thị động mạch chia làm hai nhánh:Trên, dưới, mỗi nhánh lại tiếp tục phân đôi cho hai nhánh: Nhánh động mạchthái dương trên và động mạch mũi trên, nhánh động mạch thái dương dưới vàđộng mạch mũi dưới
Các nhánh tiếp tục phân đôi để đi vào nuôi dưỡng các vùng VM tươngứng Nếu một nhánh động mạch nào đó bị tắc thì cả vùng VM đó bị tổnthương vì không được nuôi dưỡng Tĩnh mạch cũng phân bố tương tự nhưvậy Động mạch và tĩnh mạch được bao quanh bởi một bao xơ chung nên khithành động mạch bị dày lên thì tĩnh mạch bị đè bẹp, xuất hiện dấu hiệu bắtchéo động tĩnh mạch
- Hệ thống mao mạch
Các mao mạch tách ra khỏi các tiểu động mạch đi sâu vào lớp giữa của
VM tới lớp rối ngoài Thành của mao mạch VM chỉ có một màng đáy có mộtlớp tế bào ở bên ngoài và một lớp nội mô bên trong xếp khít nhau Những tếbào nội mô không có lỗ hở, nối với nhau rất khít, tạo nên hàng rào máu VMtrong Mạng lưới mao mạch có một sự phân bố đặc biệt:
+ Ở hoàng điểm: Có một vùng vô mạch ở trung tâm với đường kínhkhoảng 0,5 mm bao quanh vùng này hệ mao mạch VM nối tiếp nhau nhưnhững vòng quai, là nơi dày nhất của VM
+ Vùng VM ngoại vi: Động mạch tận cùng bằng những vòng cung mànhững vòng cung này cho rất ít nhánh nên sự nuôi dưỡng rất nghèo nàn
Trang 11+ Vùng đĩa thị: VM quanh đĩa thị có một mạng mao mạch phụ nằmtrong lớp sợi thần kinh đi về phía thái dương trên và dưới.
1.3.2 Cơ chế bệnh sinh của tổn thương mắt do đái tháo đường
1.3.2.1 Cơ chế đục thủy tinh thể do đái tháo đường
Sinh bệnh học của đục thủy tinh thể do đái tháo đường ở người cho đếnnay vẫn chưa thực sự sáng tỏ Đã có một vài nghiên cứu lý thuyết về vai tròcủa đái tháo đường trong việc gây ra đục thủy tinh thể Theo Duke – Elderđục thủy tinh thể trong bệnh đái tháo đường là do giảm nồng độ Plasma trongthủy tinh, nồng độ Plasma thấp trong thủy dịch liên quan đến thủy tinh thể vàdẫn đến thủy tinh thể ngấm nước, cuối cùng làm đục thủy tinh thể [52]
Hiện nay, nhiều xu hướng nghiêng về giả thuyết cho rằng bệnh ĐTĐ cóảnh hưởng tới độ trong suốt, chiết xuất và biên độ điều tiết của thủy tinh thể
Do glucose máu tăng sẽ khuyếch tán vào thủy tinh thể và glucose tăng trongthể dịch Một phần glucose được men Aldose Reductase chuyển thànhSorbitol, chất này không được chuyển hoá mà tích tụ tại thủy tinh thể, ngấmvào các sợi thủy tinh thể gây xơ hóa và tạo thành đục thủy tinh thể Đồng thờitình trạng Hydrat hoá có thể ảnh hưởng đến chiết xuất khúc xạ của thủy tinhthể Những biến đổi khúc xạ thường là cận hoặc viễn Bệnh nhân ĐTĐ sẽ xuấthiện sớm hơn so với người cùng tuổi [43]
Đục thủy tinh thể do ĐTĐ có 3 thể: Thể “bông tuyết” hay đục thủy tinhthể chuyển hoá, đục thủy tinh thể tuổi già và đục thủy tinh thể biến chứng hayđục thủy tinh thể thứ phát [1], [6], [7]
Trang 12+ Đục thủy tinh thể chuyển hoá: Là loại đục thủy tinh thể do ĐTĐ thực
sự, chủ yếu gặp ở ĐTĐ typ1, xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh và làm mờtoàn bộ thủy tinh thể, có thể xảy ra cả 2 mắt, liên quan nhiều đến glucose máu
Trang 13và glucose máu không được kiểm soát tốt, với các tổn thương giống như
“bông tuyết” hay “cục bông gòn” bắt đầu ở vùng dưới vỏ của thủy tinh thể.Tình trạng của thủy tinh thể có thể được cải thiện, nếu kiểm soát glucose máutốt, nhất là khi bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn mới bắt đầu
+ Đục thủy tinh thể tuổi già là dạng đục thủy tinh thể thường gặp nhấttrong ĐTĐ Nhiều bằng chứng cho thấy những bệnh nhân ĐTĐ có nhiềunguy cơ biến đổi thủy tinh thể do tuổi già, những biến đổi này gặp ở lứa tuổitrẻ so với những bệnh nhân không ĐTĐ Với những bệnh nhân ĐTĐ,những thay đổi theo tuổi của xơ nhân hoặc đục vỏ và dưới vỏ phát triển ởtuổi sớm hơn so với những người không bị ĐTĐ: 59% ở người mắc bệnhĐTĐ khởi phát muộn tuổi 30 - 54 so với 12% những người đối chứng ghépcặp theo tuổi Về mặt chuyển hoá, sự tích tụ Sorbitol trong thủy tinh thểkèm theo những biến đổi Hydrat hoá sau đó và sự tăng glucosyl hoá proteintrong thủy tinh thể của bệnh nhân ĐTĐ có thể góp phần thúc đẩy hình thànhđục thủy tinh thể do tuổi già ở những bệnh nhân ĐTĐ
Hiện tại không thể phân biệt được đục thủy tinh thể do ĐTĐ với đụcthủy tinh thể tuổi già của nguời không mắc ĐTĐ
+ Đục thủy tinh thể biến chứng, hay đục thủy tinh thể kết hợp với bệnhmắt khác như: Viêm mống mắt thể mi, viêm màng mạch VM, cận thị nặnghoặc bong VM Tỉ lệ này không khác biệt có ý nghĩa so với ở nhóm ngườikhông mắc bệnh ĐTĐ
1.3.2.2 Cơ chế bệnh sinh bệnh võng mạc đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ là bệnh của hệ thống vi mạch VM (cả mao động mạch lẫnmao tĩnh mạch) Đặc trưng của các cơ chế tổn thương trong bệnh võng mạcĐTĐ là những vi tắc mạch và tăng tính thấm của thành mao mạch
Ở người ĐTĐ có hai rối loạn riêng biệt đều có liên quan đến mứcglucose máu cao Khi glucose máu tăng trong tế bào, chuyển hoá glucose sẽ
Trang 14theo con đường hình thành những rượu có nhiều nhóm OH làm tích tụSorbitol (là một loại rượu của glucose) trong tế bào, làm mất khả năng chuyểnhoá của tế bào, làm tăng khả năng khuyếch tán oxy tế bào yếu đi và làm VMthiếu oxy gây phá huỷ nội mô hệ mạch VM gây phù VM, tuy nhiên nhữngmạch lớn hơn trong hệ thống mạch máu của cơ thể cũng có thể bị tổn thươnggây bệnh cảnh của tắc mạch, hoại tử vùng trên cơ thể.
* Vi tắc mạch.
- Dị thường các thành phần trong lòng mạch máu
+ Các hồng cầu: Khả năng giải phóng oxy bị giảm sút, hồng cầu bị biếndạng do tỉ lệ hemoglobin gắn glucose tăng lên (hemoglobin glucose), đây làloại hemoglobin có ái lực mạnh và bền vững khi kết hợp với oxy Do vậy,giảm sự khuyếch tán nội mạc bị phá huỷ và tăng sinh Tổn thương thườngkhông thuần nhất, oxy tự do cho tổ chức gây thiếu oxy VM Độ tập hợp củahồng cầu tăng do tăng tỉ lệ sợi huyết và các α Globulin huyết tương
+ Các tiểu cầu: Tăng độ tập trung, kết tập tiểu cầu sẽ dẫn đến hư hạithành mạch, đời sống tiểu cầu giảm, hậu quả cuối cùng là tạo nên những tậphợp tiểu cầu tự phát tuần hoàn gây huyết khối, làm tắc vi mạch trong VM
- Biến đổi thành mạch
Màng đáy dày lên, màng bên cạnh những mao mạch bị biến đổi cónhững mao mạch hoàn toàn bình thường Đặc biệt trong ĐTĐ là rối loạntương quan giữa tế bào thành và tế bào nội mô, bình thường tỉ lệ 1/1 nhưngtrong bệnh ĐTĐ tế bào thành giảm hay mất làm các mao mạch xung huyết,thành mao mạch dày lên tạo thành vi phình mạch
* Tăng tính thấm thành mạch.
Các tế bào đáy của thành mao mạch VM bình thường rất kín, tạo thànhhàng rào máu VM trong Trong bệnh ĐTĐ hàng rào máu VM trong không
Trang 15Máu Tăng độ nhớt Tăng kết dính và ngưng tụ tiểu cầu
Dầy màng nền, tăng tính thẩm thấu
còn giữ được đặc tính này, hậu quả là có thể gây xuất huyết hoặc phù VM lan toả hay cục bộ
- Phù VM lan tỏa là do hệ thống vi mạch bị giãn và xuất hiện nhiều lỗ dò
- Phù VM cục bộ thường xuất phát từ các vi phình mạch và các đoạn cuốicủa vi mạch bị giãn ra, khi phù lâu ngày sẽ gây lắng đọng lipid,cholesterol, chất lắng đọng này gọi là các xuất tiết cứng, vây quanh các vùngphù, những xuất tiết này thường tạo thành những vòng tròn quanh hoàngđiểm Các nhà lâm sàng thì coi xuất tiết cứng là dấu hiệu để chẩn đoán chắcchắn phù VM và phù hoàng điểm [1], [9]
Các tổn thương võng mạc của bệnh võng mạc đái tháo đường không có
sự khác biệt nhau giữa týp 1 và týp 2 của bệnh đái tháo đường [35]
Trang 161.3.3 Phân loại giai đoạn tổn thương bệnh võng mạc đái tháo đường [37]
1.3.3.1 Tổn thương cơ bản (bệnh võng mạc không tăng sinh)
- Các vi phình mạch: biểu hiện bằng những chấm đỏ, khi chụp mạch huỳnhquang các vi phình mạch trông như một vệt huỳnh quang tròn
- Xuất huyết: Các nhóm xuất huyết tách rời hay tụ thành từng nhóm, có
những xuất huyết khác hình ngọn lửa dọc ngoằn ngoèo như thân cây chết
- Phù nề võng mạc: Do tăng tính thấm của mao mạch võng mạc Trên chụp mạch huỳnh quang thấy khuếch tán hoặc khu trú chất màu
- Phù hoàng điểm toả lan được phát hiện bằng chụp mạch thấy có tỏa lan chất màu vào hoàng điểm
- Phù hoàng điểm dạng nang: thấy ở những giai đoạn muộn của chụp mạch
ký huỳnh quang, thể hiện bằng sự tích tụ các chất màu
- Xuất tiết cứng
1.3.3.2 Bệnh võng mạc tiền tăng sinh
Là hình thái lâm sàng báo trước nguy cơ cao về bệnh võng mạc tăngsinh, hình thái này được xác định bởi:
- Xuất tiết bông: là dấu hiệu quan trọng nhất, số lượng trên 5 xuất tiết bông
- Các vòng nối thông (shunt) động tĩnh mạch: liên quan tới dấu hiệu tắc maomạch, xuất hiện sự nối thông từ động mạch sang tĩnh mạch Trên lâm sàngthấy mạch nhỏ, màu đỏ, đường kính không đều chạy từ động mạc sang tĩnhmạch
- Các bất thường tĩnh mạch: tĩnh mạch giãn hình tràng hạt
- Các bất thường động mạch: Động mạch võng mạc chu biên co nhỏ, có hình ảnh giống như tắc nhánh động mạch võng mạc
- Thiếu máu võng mạc chu biên
- Xuất huyết rộng trong võng mạc
Trang 171.3.3.3 Bệnh võng mạc tăng sinh
* Có thể gặp các tổn thương sau:
- Các tân mạch trước võng mạc
- Các tân mạch trước hoàng điểm
- Các tân mạch gai thị: các tân mạch xuất hiện trên gai thị hoặc trong vòng một đường kính gai
- Bong võng mạc co kéo
- Tân mạch mống mắt
* Bệnh VM tăng sinh do ĐTĐ nhanh chóng đe dọa đến thị lực bởi:
- Các mạch máu tân tạo luôn có nguy cơ chảy máu, đặc biệt khi chúng bị kéo dài ra bởi sự co kéo của thủy tinh thể
- Sự tăng sinh của các mô xơ tiếp sau khi đã có tăng sinh các mạch máu dẫn đến hậu quả co kéo làm bong VM
1.5 Đục thủy tinh thể và bệnh võng mạc đái tháo đường theo một số nghiên cứu trong và ngoài nước
1.5.1 Trên thế giới
Theo những nghiên cứu gần đây nhất của một số tác giả cho thấy tỉ lệđục thủy tinh thể do đái tháo đường là 5,12%, đối với những bệnh nhân bịbệnh đái tháo đường có thời gian mắc bệnh lâu thì tỉ lệ đục thủy tinh thểchiếm tỉ lệ cao hơn so với những người bị đái tháo đường với thời gian mắcbệnh ngắn [47] Tác giả Jean - Atoine - Bernanel [6], tỉ lệ bệnh nhân đục thủytinh thể 16% và thường gặp đục thủy tinh thể khi ĐTĐ 5 - 6 năm Trong khi
đó Towns và Casey (Mỹ) nghiên cứu 922 bệnh nhân ĐTĐ typ2 đục thủy tinhthể gặp là 52% [27]
Năm 1851, HelmohHz là nhà khoa học đầu tiên trên thế giới mô tả tổnthương VM trong ĐTĐ Năm 1988, Nettleshing đã mô tả bệnh VM tăng sinh,Premalate (1999) Ấn Độ cho thấy tỉ lệ tổn thương VM ở bệnh nhân ĐTĐ là
Trang 1834,2% Wannee Nituinant (1999) cho biết tại Thái Lan tỉ lệ tổn thương VM ởbệnh nhân ĐTĐ là 32% Một số nghiên cứu của các tác giả [49] tại Mỹ chothấy: Nghiên cứu dịch tễ học của bệnh võng mạc đái tháo đường Wisconsin,
15 năm sau khi chẩn đoán của bệnh đái tháo đường, bệnh võng mạc có tỉ lệgần 97% với đái tháo đường typ 1, 80% với đái tháo đường typ2 được điều trịbằng insulin, và 55% số bệnh nhân đái tháo đường typ 2 không được điều trịvới insulin Giai đoạn nghiêm trọng nhất của bệnh võng mạc, tăng nhanhthoái hóa võng mạc rất rõ 15 năm sau khi chẩn đoán trong 30% với đái tháođường typ 1, 10 - 15% với đái tháo đường typ 2 được điều trị bằng insulin và5% với đái tháo đường typ 2 không được điều trị bằng insulin Dựa trên sốliệu báo cáo từ Hiệp hội Quốc gia phòng tránh mù lòa cho thấy tỉ lệ mù đượcđăng ký do bệnh đái tháo đường ở Hoa Kỳ được ước tính là 6,1% đối với nam
và 9.7% là nữ Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, đái tháo đường làm cho8% người bị mù và là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp mới bị mù ởngười lớn độ tuổi 20 - 74 tuổi Qua nghiên cứu của một số tác giả [43] tạiOman cho thấy tỉ lệ của bệnh tổn thương võng mạc do đái tháo đường là14,39% (95% CI 13,46-15,31) Đàn ông có tỉ lệ bệnh tổn thương võng mạccao hơn đáng kể so với phụ nữ Tỉ lệ bệnh võng mạc được cao hơn ở 2 nhómtuổi 50 - 59 và 60 - 69 Tỉ lệ bệnh tổn thương võng mạc nền do đái tháođường là 8,65%, bệnh tổn thương võng mạc tiến triển do đái tháo đường là2,66% Tại Pháp một nghiên cứu cho thấy khoảng 2,5 triệu người bị bệnh đáitháo đường Tỉ lệ bệnh hiện tại là 3%, với tốc độ tăng 4,8% trong 5 năm qua
và dự kiến tăng 50% vào năm 2025 [46]
Trong một nghiên cứu ở những người > 60 tuổi ở Los Angeles cho thấyNgười cao tuổi bị đái tháo đường có tỉ lệ cao về bệnh của mắt Khoảng 17% -35% người bị bệnh đái tháo đường trên 65 tuổi có bệnh tổn thương võng mạc
do đái tháo đường, và hơn 8% bị phù võng mạc trung tâm [28]
Trang 19Tỉ lệ bệnh VM ĐTĐ tăng theo thời gian bị bệnh Theo FrancoiseRousselie khi bị bệnh ĐTĐ typ2 dưới 5 năm bệnh VM là 10 - 20%, > 15 nămbệnh VM là 40% - 60%, và 25 năm: 50% - 70% Sau 25 năm tỉ lệ bệnh VM sẽtiếp tục tăng [32] Theo Wisconsin: Để hạ glucose máu có dùng insulin, tỉ lệmắc bất kỳ tổn thương VM nào là 70%, những người không dùng insulin để
hạ glucose máu có tỉ lệ hiện mắc bất kỳ tổn thương VM nào là 39,0% [34]
1.5.2 Ở Việt Nam
Đục thủy tinh thể là tổn thương thường gặp trong bệnh ĐTĐ và cũng lànguyên nhân gây giảm và mất thị lực cho bệnh nhân Lê Huy Liệu và cộng sự[19] thống kê trên 476 bệnh nhân ĐTĐ nằm tại khoa nội tiết từ 1984 - 1988biến chứng mắt 33,40%, trong đó đục thủy tinh thể là 22,48%, Phạm HồngHoa 1995 [14] qua 1591 bệnh nhân ĐTĐ nằm tại khoa nội tiết từ 1983 - 1984thấy tổn thương mắt 21,10% trong đó đục thủy tinh thể là 11,7% Thái HồngQuang [22] qua 120 bệnh nhân ĐTĐ tại viện 103 thấy đục thể thủy tinh17,50% xuất hiện sớm < 5 năm Phạm Thị Hồng Hoa [13] qua 100 bệnh nhânĐTĐ thấy đục thể thủy tinh 30% Đặng Văn Hòa [17] trên 170 bệnh nhân tạiBệnh viện ĐKTW Thái Nguyên năm 2007 thấy đục thủy tinh thể 52,94%.Bệnh nhân ĐTĐ typ2 bị đục thủy tinh thể nhiều hơn ĐTĐ typ1: Typ1 gặp10%, typ2 gặp 43,33%
Bệnh VM ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp gây mù lòa Việc đánh giátổn thương VM dựa vào đo thị lực Nhưng để xác định phải soi đáy mắt, gầnđây chụp mạch huỳnh quang thực hiện ở đa số các trường hợp có tổn thương
VM, giúp xác định chính xác các tổn thương VM, những vùng không đượctưới máu đánh giá được tình trạng vi mạch quanh hoàng điểm và các tân mạch
Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm gần đây đã có một số nghiên cứu vềnhững biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường: nghiên cứu của TháiHồng Quang [22] cho thấy tỉ lệ biến chứng VM là 43% Tạ Văn Bình và cộng
Trang 20sự [6] cho thấy: 15% bệnh nhân ĐTĐ typ2 có bệnh lý VM tại thời điểm chẩnđoán, 55% người bệnh có bệnh lý VM sau 15 năm Phạm Thị Hồng Hoa [13]thấy tổn thương VM ở bệnh nhân ĐTĐ typ2 là 45% Bệnh VM ĐTĐ có thểgặp ở cả tuổi trẻ cũng như ở người nhiều tuổi Thái Hồng Quang [22] thống
kê có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là > 40 tuổi Trong nghiêncứu của Đặng Văn Hòa tỉ lệ tổn thương VM là 22,94% [17]
Như vậy, bệnh tổn thương võng mạc do đái tháo đường là một vấn đề y
tế công cộng quan trọng Đây là nguyên nhân chính gây mù ở bệnh nhân đáitháo đường và là nguyên nhân quan trọng nhất gây mù ở những người vẫntrong giai đoạn làm việc [55]
Trang 21Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán là ĐTĐ, vào khám, điều trị ngoạitrú và nội trú tại khoa Khám bệnh và khoa Nội tiết - Hô hấp Bệnh viện Đakhoa Trung ương Thái Nguyên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2010
- Địa điểm nghiên cứu: khoa Nội tiết - Hô hấp, khoa Khám bệnh, Bệnh viện
Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: được tính theo công thức: n = Z 2
1 −α 2: Hệ số giới hạn tin cậy = 1,96
d2: Độ chính xác tương đối của ước lượng, chọn d = 0,04 Chọn p = 0,25 (25%)
(Dựa vào kết quả nghiên cứu trước trên 250 bệnh nhân ĐTĐ ở bệnh việnChợ Rẫy thì tỉ lệ mắc bệnh võng mạc đái tháo đường là 25% [21])
Trang 22Vậy cỡ mẫu trong nghiên cứu này là 450 bệnh nhân.
Trang 232.3.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Chúng tôi chọn tất cả các bệnh nhân đáp ứng với tiêu chuẩn sau:
* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (WHO 1998):
- Dựa vào ít nhất 1 trong 2 tiêu chuẩn:
+ Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l ở một thời điểm bất kỳ kết hợp với các triệu chứng lâm sàng (đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, gầy sút cân)
+ Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7 mmol/l (sau 8h không ăn)
Chẩn đoán chắc chắn khi kết quả được lặp lại 1 - 2 lần trong những ngàysau đó
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ Typ2 gồm 1 trong 2 tiêu chuẩn trên và:+ Bệnh nhân 35 - 55 tuổi
+ Khởi phát lâm sàng từ từ, tiến triển chậm
+ Có thể cân bằng glucose máu bằng chế độ ăn, luyện tập và dùng thuốcsulfonylurea uống hạ glucose máu
* Tiêu chuẩn loại trừ.
+ Các bệnh ảnh hưởng tới mắt: Cận thị, tắc tĩnh mạch, tắc động mạch võng mạc mắt, các bệnh về máu
+ Đục thủy tinh thể hoàn toàn
Trang 24+ Đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, gầy nhiều …
+ Thời gian phát hiện bệnh (tuổi bệnh): Là thời gian (tính theo năm) kể
từ khi bệnh nhân được chẩn đoán xác định ĐTĐ
- Định lượng các chỉ số lipid máu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả các bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn trên đều được hỏi bệnh, thămkhám theo mẫu Bệnh án nghiên cứu thống nhất
2.5.1 Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng phát hiện các triệu chứng:
Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng để biết được các dữ liệu về:
- Tuổi đời, giới
- Tuổi bệnh (thời gian kéo dài của bệnh): phải hỏi bệnh để biết thời gian có cáctriệu chứng lâm sàng: sút cân, tiểu nhiều Trường hợp không có triệu chứnglâm sàng thì tuổi bệnh được tính từ lần điều trị đầu tiên
- Các dấu hiệu lâm sàng: Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sút cân
- Khám lâm sàng: toàn thân, đếm mạch, đo huyết áp, khám tim, phổi phát hiện biến chứng kèm theo
Trang 25+ Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ chuẩn của Nhật Bản Thời gian
đo vào buổi sáng, bệnh nhân ở tư thế nằm, đã được nghỉ ngơi 15 phút trướckhi đo, bệnh nhân không dùng chất kích thích Huyết áp tâm thu và huyết áptâm trương xác định theo phương pháp Korotkoff
Bảng 2.1 Phân loại huyết áp (Theo tiêu chuẩn của JNC VI)
Huyết áp Huyết áp tâm thu (mmHg) Huyết áp tâm trương (mmHg)
- Định lượng glucose huyết tương lúc đói hoặc glucose huyết tương bất kỳ Glucose huyết tương bình thường 3,6 - 6,4 mmol/l
Nồng độ glucose huyết tương được chia làm 3 nhóm:
+ Glucose huyết tương < 10 mmol/l
+ Glucose huyết tương ≥ 10 mmol/l, < 16,5 mmol/l
+ Glucose huyết tương ≥ 16,5 mmol/l
- Định lượng chỉ số lipid máu:
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn phân loại rối loạn lipid máu theo khuyến cáo Hội Tim mạch học Việt Nam [6].
Lipid máu Bình thường (mmol/l) Bệnh lý (mmol/l)
Trang 26+ Độ chiếu sáng của bảng thị lực là 100 lux.
+ Phải thử kính thị lực từng mắt một, khi thử mắt nọ phải bịt mắt kia
- Thử thị lực: Giải thích cho bệnh nhân và hướng dẫn ngồi đúng tư thế, tiếnhành đo thị lực cho bệnh nhân:
+ Thử bằng bảng thị lực: Thử thị lực từng mắt một, lần lượt cho bệnhnhân đọc từng hàng chữ từ trên xuống dưới, khi nào không đọc được nữa thìdừng lại, ghi kết quả thị lực tương ứng với hàng trên
+ Nếu thị lực bệnh nhân giảm đến mức không nhìn thấy chữ nào trênbảng thị lực, cho bệnh nhân đếm ngón tay Ghi khoảng cách bệnh nhân đếmngón tay đúng xa nhất
+ Nếu không đếm được ngón tay, dùng bàn tay khua trước mắt bệnhnhân ở khoảng cách 15 - 20 cm Nếu bệnh nhân nhìn thấy, ghi kết quả BBT(bóng bàn tay) 20 cm
Trang 27+ Nếu không nhận biết được BBT, dùng đèn chiếu trực tiếp vào mắt bệnh nhân.
Nếu bệnh nhân nhận biết được ghi kết quả: ST (sáng tối) (+)
Nếu bệnh nhân không nhận biết được ghi kết quả: ST (-)
Thị lực ST (-) là chức năng thị giác mất hoàn toàn
Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thị lực theo phân loại của WHO (1977) [26]
* Khám phát hiện tổn thương viêm nhiễm giác kết mạc, tình trạng màng bồ đào và vận động nhãn cầu
* Khám đáy mắt
- Giải thích cho bệnh nhân, tra thuốc giãn đồng tử bằng Mydriacyl 0,5%
- Sau 30 phút đồng tử giãn tối đa tiến hành soi đáy mắt bằng đèn soi đáy mắt cầm tay, kính Volk 900
- Đánh giá các tổn thương:
- Phân loại tổn thương võng mạc [37]:
+ Tổn thương cơ bản (bệnh võng mạc không tăng sinh): Các vi phìnhmạch, xuất huyết, phù nề võng mạc, xuất tiết cứng
Trang 28+ Bệnh võng mạc tiền tăng sinh: Xuất tiết bông, biến đổi vi mạch vùnghậu cực, các vòng nối thông động tĩnh mạch, thiếu máu võng mạc chu biên,xuất huyết rộng trong võng mạc.
+ Bệnh võng mạc tăng sinh: Tân mạch trước võng mạc, tăng sinh dịch kính võng mạc, bong võng mạc co kéo, tân mạch võng mạc
2.5.3 Xét nghiệm
- Định lượng HbA1C bằng phương pháp miễn dịch đo độ đục
- Định lượng cholesterol máu toàn phần bằng phương pháp enzym so màu
- Định lượng triglycerid máu bằng phương pháp enzym so màu
- Định lượng HDL-C, LDL-C bằng phương pháp enzym so màu
- Định lượng glucose máu lúc đói bằng phương pháp Hexokinase
Các xét nghiệm trên được thực hiện trên máy AU 640 Olympus của Nhậttại khoa Sinh hoá - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2.6 Trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
- Máy sinh hiển vi khám bệnh
- Bảng thị lực chữ E
- Hộp kính thử
- Đèn soi đáy mắt trực tiếp Karl - Zeiss
- Kính soi đáy mắt gián tiếp volk 90D
- Thuốc giãn đồng tử: Dung dịch Mydriacyl 0,5%
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê y học
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới
* Về giới:
Bệnh nhân ĐTĐ gặp ở nam là 47,8%, ở nữ là 52,2%, sự khác biệtkhông có ý nghĩa thống kê (với p>0,05)
Trang 30Tû lÖ (%)
40 35 30 25 20 15 10 5 0
0,9 1,3 0,7 1,5 2,0 0,9 3,5 4,5
10,2 8,6
30,5 35,4
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới
Bảng 3.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp và nơi cư trú
- Trong số 452 đối tượng nghiên cứu, số bệnh nhân ở thành thị (64,4%) chiếm
tỉ lệ cao hơn số bệnh nhân ở nông thôn (35,6%), sự khác biệt có ý nghĩathống kê (với p<0,05)
- Số bệnh nhân lao động trí óc (65,5%) chiếm tỉ lệ cao hơn số bệnh nhân laođộng chân tay (34,5%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05)
Nam N÷
Trang 31Bảng 3.3 Thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu
Trang 32Bảng 3.4 Một số triệu chứng lâm sàng thường gặp ở đối tượng nghiên cứu
Tỉ lệ (%)
90 80
60 50 40 30 20 10 0
Trang 33Bảng 3.5 Đặc điểm về huyết áp của đối tượng nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân có THA chiếm tỉ lệ 50,4%, trong
đó THA độ I (23,5%), THA độ II (19,8%), THA độ III (7,5%)
- Số bệnh nhân ĐTĐ không tăng huyết áp là 49,6%
Trang 34Bảng 3.6 Thực trạng kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu
(Dựa vào HbA 1 C)
Bảng 3.7 Rối loạn chuyển hoá lipid máu của đối tượng nghiên cứu
Trang 35Tỉ lệ (%) 90
80 70 60 50 40 30 20 10 0
Tăng Triglycerid Giảm HDL - C Tăng LDL-C
Lipid máu
Biểu đồ 3.5 Rối loạn chuyển hoá lipid máu của đối tượng nghiên cứu
3.2 Tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường
Bảng 3.8 Tổn thương mắt của đối tượng nghiên cứu (n = 452)
Trang 36Tổn thương khác Tổn thương
Biểu đồ 3.6 Tổn thương mắt của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.9 Đánh giá mức độ thị lực của đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân có thị lực bình thường chiếm tỉ lệ 41,4%, thị lực giảm nhẹ
là 33,6%, thị lực giảm nặng là 20,4%, có 20/452 bệnh nhân bị mù chiếm tỉ lệ4,4%, chỉ có 1 bệnh nhân bị mất chức năng chiếm tỉ lệ 0,2%