Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa sựbiến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận 2.5.1.. Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo (Bộ phận đào tạo sau Đại học), Bộ môn Nội trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
- Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Khoa Tim mạch, Khoa Sinh hóa Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
- Ban Giám hiệu, Bộ môn Nội Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
Đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, công tác, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y học của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS TS Nguyễn Trọng Hiếu, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉbảo tận tình tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
- Tập thể y, bác sỹ và các cán bộ trong khoa Tim mạch, khoa Sinh hóaBệnh viện Trung ương Thái Nguyên luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiệnthuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận văn này
- Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo
vệ đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
- Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, tập thể Cao học K20 đã luôn giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi cảm ơn và tình cảm thân thương nhất tới:
Toàn thể gia đình, nơi đã tạo điều kiện tốt nhất, động viên tinh thần giúp tôi thêm niềm tin và nghị lực trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu này
Thái Nguyên, 2018
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADQI The Acute Dialysis Quality
Initiative
Hành động vì chất lượnglọc máu cấp
ANP A-type natriuretic peptide Peptit lợi niệu natri A
BNP B-type natriuretic peptide Peptit lợi niệu natri B
CI confidence interval Khoảng tin cậy
CRS Cardiorenal syndrome Hội chứng tim thận
EDTA ethylen diamine tetra acetat
eGFR glomerular filtration rate Mức lọc cầu thận ước tính
dựa vào creatinin
dựa vào cystatin CNYHA New York Heart Association Hội tim mạch New York
RAA Renin- Angiotensin- Aldosterol
ROC receiver operating characteristic Đường cong nhận dạng
Trang 41 2 Hội chứng tim thận( Cardiorenal syndrome- CRS) 7
1.3.2 Nguồn gốc tổng hợp, giải phóng và chuyển hóa cystatin C 12
1.3.4 Ý nghĩa sinh học và các yếu tố ảnh hưởng cystatin C 121.3.5 Cystatin C với vai trò chất chỉ điểm sinh học trong bệnh thận 151.3.6 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân suy tim mạn tính 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 25
Trang 52.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1: Mô tả nồng độ cystatin C huyếttương ở bệnh nhân suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương
2.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa sựbiến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận
2.5.1 Kỹ thuật và phương tiện thu thập số liệu 272.5.2 Các tiêu chuẩn đánh giá và phân loại sử dụng trong nghiên cứu 32
3.2 Nồng độ cystatin C huyết tương của đối tượng nghiên cứu 413.3 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương và một sốđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy tim mạn tính 48
4.2 Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính 614.3 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một sốđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính 68
1 Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính 75
2 Mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một sốđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán thừa
đo vòng eo áp dụng cho người trưởngBảng 2.2 Phân loại bệnh thận mạnBảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiênBảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiênBảng 3.3 Đặc điểm lâm sàng của đốiBảng 3.4 Một số đặc điểm cận lâmBảng 3 5 Nồng độ trung bình cystatitương của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.6 Nồng độ trung bình cystatinNYHA của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.7 Nồng độ trung bình cystatincủa đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.8 Nồng độ trung bình cystatintim
của đối tượng nghiên cứuBảng 3.9 Nồng độ trung bình cystatinlâm
sàng của đối tượng nghiên cứuBảng 3.10 Nồng độ trung bình cystatinhuyết áp lúc nhập viện
Bảng 3.11 Nồng độ trung bình cystatinBảng 3.12 Nồng độ trung bình cystatinBảng 3.13 Nồng độ trung bình creatinin huyết tương
Bảng 3.14 Nồng độ trung bình cystatintống máu EF %
Trang 7Bảng 3.23 Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tươngvới giai đoạn bệnh thận mạn (dựa vào MLCT ước tính theo creatinin) ởbệnh nhân suy tim mạn
Trang 8Danh mục sơ đồ
DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết huyết động 9
Sơ đồ 1.2 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết thần
47
Danh mục các đồ thị
Đồ thị 1.3 Phân tích ROC của Cys-C, Cr và Cr & Cys-C -điểm trên tỷ
lệ tử vong 3 năm của bệnh nhân suy tim mạn (Theo Ling Fei)
20
Đồ thị 3.1 Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương và nồng
độ creatinin huyết tương
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chẩn đoán và điều trị suy tim mạn tính, đánh giá chức năng thận
là một việc hết sức cần thiết Vai trò ảnh hưởng qua lại giữa tim và thận đãđược đề cập từ rất lâu trong y văn [8] Hội chứng tim thận (Cardiorenalsyndrome- CRS) được định nghĩa năm 2004: “Là một tình trạng rối loạn sinhbệnh học của tim và thận gây ra bởi các bệnh lý cấp hoặc mạn tính của một cơquan có thể ảnh hưởng tới rối loạn chức năng cấp hoặc mạn tính của các cơquan khác”[8], [26], [27], [59]
Tuy rằng có nghiên cứu đã chỉ ra suy tim mạn và bệnh thận mạn là cácyếu tố nguy cơ hoàn toàn độc lập nhưng cũng có nghiên cứu cho thấy bệnhthận mạn làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính, có 30- 60 %bệnh nhân suy tim có suy thận kèm theo; trong quá trình điều trị suy tim cấphoặc mạn có 20- 30% bệnh nhân suy thận tiến triển ( tăng creatinin máutrên 0,3 mg/dl hoặc 27 µmol/l) [31] Nghiên cứu tại Việt nam có 31,7% ngườibệnh suy tim cấp (52,4 % suy tim mạn đợt cấp) có tình trạng suy giảm chứcnăng thận [14] Điều này cho thấy sự thường gặp và nguy hiểm của suy giảmchức năng thận ở bệnh nhân suy tim Chức năng thận nên được xem xét trong
sự phân tầng nguy cơ và các chiến lược điều trị suy tim
Trên lâm sàng phát hiện tổn thương thận sớm có ý nghĩa quan trọngtrong điều trị suy tim mạn tính Từ trước đến nay để biết suy thận thường dựavào đo mức lọc cầu thận (MLCT) Đo mức lọc cầu thận là một việc vô cùngphức tạp thường chỉ có độ chính xác cao khi áp dụng trong các nghiên cứukhoa học Phương pháp xác định MLCT áp dụng phổ biến trong lâm sàng làước tính dựa vào nồng độ creatinin huyết thanh Tuy nhiên, ở giai đoạn sớmcủa tổn thương thận MLCT ước tính dựa vào creatinin huyết thanh chưa phảnánh được mức độ tổn thương thận [18], [57]
Trang 10Gần đây, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số chất chỉ điểm sinh học(biomarker) hứa hẹn có giá trị đánh giá biến đổi chức năng thận ở giai đoạnsớm tổn thương thận trong đó có cystatin C [29],[ 41], [51] Cystatin C là mộtprotein trọng lượng phân tử nhỏ, được sản xuất từ các tế bào có nhân của cơthể với tốc độ ổn định, được lọc tự do qua cầu thận, được tái hấp thu vàchuyển hóa tại ống thận Khi cầu thận bị tổn thương làm thay đổi khả năng lọccystatin C ở cầu thận làm tăng nồng độ cystatin C trong máu [11], [41] Cystatin C không chỉ vượt trội so với creatinin như một dấu hiệu của chứcnăng thận, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của bệnh thận mạn tính mà còn
có liên quan đến nguy cơ tim mạch, bệnh lí thần kinh cũng như tiền sản giật
ở phụ nữ có thai [60] Nghiên cứu của Ling Fei (2016) cho thấy nồng độcystatin C ở tất cả các bệnh nhân là 1,2 ± 0,4 mg/l, ở nhóm tử vong cao hơnnhóm sống, điểm Cr & Cys C đã có hiệu suất tốt hơn chỉ riêng Cr hoặc Cys
C Điều đó cho thấy cystatin C có giá trị đánh giá không chỉ chức năng thận
mà còn tiên lượng tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính [42]
Tại Việt Nam đã có một vài nghiên cứu về nồng độ cystatin C trên bệnhnhân đái tháo đường có tổn thương thận, xơ gan và suy tim cấp tính [10],[ 17],[19] Để làm rõ hơn vai trò của cystatin C trong chẩn đoán hội chứng tim thận
và tiên lượng điều trị ở bệnh nhân suy tim mạn tính vì vậy chúng tôi tiến hành
đề tài: “Nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn tính điều trịtại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên” với 2 mục tiêu:
1- Mô tả nồng độ cystatin C huyết tương ở bệnh nhân suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
2- Phân tích mối liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính.
Trang 111.1 Suy tim
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1.1 Định nghĩa, phân độ suy tim
- Định nghĩa suy tim
Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của tổn thươngthực thể hay rối loạn chức năng quả tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năngtiếp nhận máu (suy tâm trương) hoặc tống máu (suy tâm thu) [20], [32]
- Phân độ suy tim:
Phân độ suy tim theo Hội tim mạch New York (NYHA):
Độ I: Không hạn chế vận động - Vận động thể lực thông thường khônggây mệt, khó thở hoặc hồi hộp
Độ II: Hạn chế nhẹ vận động thể lực Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi Vậnđộng thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hoặc đau ngực
Độ III: Hạn chế nhiều vận động thể lực Mặc dù bệnh nhân khỏe khi nghỉngơi, nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng
Độ IV: Không vận động thể lực nào mà không thấy khó chịu Triệuchứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉ ngơi Chỉ cần một vậnđộng thể lực nhẹ, triệu chứng cơ năng trên bệnh nhân sẽ gia tăng [32]
1.1.2 Sinh lý bệnh suy tim
Suy tim thường làm cung lượng tim bị giảm xuống, khi cung lượng tim
bị giảm xuống thì cơ thể phản ứng lại bằng các cơ chế bù trừ của tim và các
hệ thống ngoài tim để cố duy trì cung lượng tim nhằm đáp ứng nhu cầu đưamáu đi nuôi cơ thể Nhưng cơ chế này kéo dài hoặc bị vượt quá sẽ xảy rasuy tim với nhiều hậu quả của nó
Trang 121.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim
Qua nhiều nghiên cứu người ta đã hiểu rõ cung lượng tim phụ thuộc vào
4 yếu tố chính: tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp của tim, tần số tim
* Tiền gánh.
- Tiền gánh được đánh giá bằng thể tích áp lực cuối tâm trương của tâmthất
- Tiền gánh là yếu tố quyết định mức độ kéo dài sợi cơ tim trong thời kỳtâm trương, trước lúc tâm thất co bóp
- Tiền gánh phụ thuộc vào
+ Áp lực đổ đầy thất, tức là lượng máu tĩnh mạch trở về thất
+ Độ giãn của tâm thất, nhưng ở mức độ ít quan trọng hơn
Như vậy tim càng suy thể tích nhát bóp càng giảm
Trang 13* Tần số tim
Trong suy tim, lúc đầu nhịp tim tăng lên, sẽ có tác động bù trừ tốt chochính tình trạng giảm thể tích nhát bóp và qua đó sẽ duy trì cung lượng tim.Nhưng nếu nhịp tim tăng lên quá nhiều, thì nhu cầu oxy của cơ tim sẽ lại tănglên, công của cơ tim cũng phải tăng cao và hậu quả là tim sẽ càng yếu đi mộtcách nhanh chóng [20]
1.1.2.2 Các cơ chế bù trừ trong suy tim
* Cơ chế bù trừ tại tim
- Giãn tâm thất: Giãn tâm thất chính là cơ chế thích ứng đầu tiên đểtránh quá tăng áp lực cuối tâm trương của tâm thất Khi tâm thất giãn ra sẽlàm kéo dài các sợi cơ tim và theo luật Starling sẽ làm tăng sức co bóp củacác sợi cơ tim, nếu dự trữ co cơ vẫn còn
- Phì đại tâm thất: Tim cũng có thể thích ứng bằng cách tăng bề dày củacác thành tim, nhất là trong trường hợp áp lực ở các buồng tim Việc tăng bềdày của các thành tim chủ yếu là để đối phó lại với tình trạng tăng hậu gánh
Ta biết rằng khi hậu gánh sẽ làm giãn thể tích tống máu, do đó để bù lại, cơtim phải tăng bề dày lên
- Hệ thần kinh giao cảm được kích thích: Khi có suy tim, hệ thần kinhgiao cảm được kích thích, lượng Catecholamin từ đầu tận cùng của các sợigiao cảm hậu hạch được tiết ra nhiều làm tăng sức co bóp của cơ tim và tăngtần số tim
* Cơ chế bù trừ ngoài tim
Trong suy tim, để đối phó với việc giảm cung lượng tim, hệ thống mạchmáu ở ngoại vi được co lại để tăng cường thể tích tuần hoàn hữu ích Cụ thể
có 3 hệ thống co mạch ngoại vi được huy động
- Hệ thần kinh giao cảm
Trang 14Cường giao cảm làm co mạch da, thận và về sau ở khu vực các tạng trong ổ bụng và ở các cơ.
- Hệ Renin – Angiotensin – Aldosteron
Việc tăng cường hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm và giảm tưới máu chothận (do co mạch) sẽ làm tăng nồng độ renin trong máu Rennin sẽ hoạt hóaAngiotensinnogen và các phản ứng tiếp theo để tăng tổng hợp Angiotensin II.Chính Angiotensin II là một chất co mạch rất mạnh, đồng thời nó lại tham giavào kích thích sinh tổng hợp và giải phóng ra Noadrenalin ở đầu tận cùng cácsợi thần kinh giao cảm hậu hạch và Adrenalin từ tủy thượng thận Cũng chínhAngiotensin II còn kích thích vỏ thượng thận tiết ra Aldosterol, từ đó làm tăngtái hấp thu Natri và nước ở ống thận
- Hệ Arginin - Vasopressin
Trong suy tim ở giai đoạn muộn hơn, vùng dưới đồi - tuyến yên đượckích thích để tiết ra Arginin – Vasoprerssin làm tăng thêm tác dụng co mạchngoaị vi của Angiotensin II, đồng thời làm tăng tái hấp thu nước ở ống thận
Cả ba hệ thống co mạch này đều nhằm mục đích duy trì cung lượng tim,nhưng lâu ngày chúng lại làm tăng tiền gánh và hậu gánh, làm tăng ứ nước và
natri, tăng công và mức tiêu thụ oxy của cơ tim tạo nên một “Vòng luẩn
quẩn“ bệnh lý và làm cho suy tim ngày càng nặng thêm [20].
1.1.3 Điều trị suy tim
- Nguyên tắc điều trị suy tim
+ Loại bỏ các yếu tố thúc đẩy suy tim
+ Điều trị nguyên nhân gây suy tim
+ Điều trị triệu chứng: kiểm soát tình trạng suy tim sung huyết
+ Giảm công cho tim: giảm tiền tải và hậu tải
+ Kiểm soát tình trạng ứ muối và nước
+ Tăng sức co bóp cơ tim
Trang 15- Các thuốc điều trị suy tim
Các thuốc chính yếu để điều trị suy tim bao gồm: digitalis, thuốc giãnmạch, ức chế β, thuốc lợi tiểu và các chất ức chế phosphodiesterase(Amrinone, Milrinone, Enoximone) Hầu hết bệnh nhân cần phác đồ điều trịbao gồm nhiều loại thuốc phối hợp với nhau [20]
1 2 Hội chứng tim thận( Cardiorenal syndrome- CRS)
1.2.1 Định nghĩa
Trong một báo cáo năm 2004 của National Heart, Lung and BloodInstitute, hội chứng tim thận (Cardiorenal syndrome- CRS) được định nghĩa làmột tình trạng rối loạn sinh bệnh học của tim và thận gây ra bởi các bệnh lýcấp hoặc mạn tính của một cơ quan có thể ảnh hưởng tới rối loạn chức năngcấp hoặc mạn tính của các cơ quan khác [8], [59]
1.2.2 Phân loại
Ronco và cộng sự lần đầu tiên đề xuất một hệ thống phân loại năm phầncho CRS trong năm 2008 cũng đã được chấp nhận tại hội nghị đồng thuậnADQI năm 2010 [26], [27] Bao gồm:
Trang 16Loại 4 (Hội chứng thận
tim mạn tính)
Bệnh thận mạn (như bệnh cầu thận mạn) gópphần làm giảm chức năng tim, phì đại tim và/hoặc làm tăng nguy cơ của những biến cố timmạch
Trước đây cho rằng suy tim gây giảm tưới máu tới thận, tăng co mạch
là nguyên nhân dẫn đến thiếu oxi và tăng hoại tử ống thận Tuy nhiên giảmtưới máu dẫn đến xơ gan trước thận và cũng gặp ở cả những trường hợp suychức năng tâm trương và chức năng tâm thu thất trái bình thường Vậy nênthuyết mới bổ sung cung lượng tim giảm (do tăng sung huyết tim, tăng áp lựcnhĩ trái và tăng áp lực tĩnh mạch chủ dưới) dẫn đến tăng huyết áp tĩnh mạchthận, sung huyết thận, tăng fibrogenesis, tăng mất chức năng thận và tăngviêm, tăng hoạt động thần kinh hormone dẫn đến tăng muối nước dẫn đếnvòng xoáy bệnh lí
* Thuyết thần kinh - hormone
Nhấn mạnh vai trò của RAAS dẫn đến tăng muối nước tăng hoạt động
hệ thần kinh giao cảm làm tăng quá tải thể tích thông qua RAAS và tăng comạch hệ thống Kết quả: làm tăng xơ hóa tim thận dẫn đến rối loạn chức năngtim thận
Trang 17Suy thận (lưu lượng thấp)
Tăng sung huyết tim Tăng áp lực nhĩ trái Tăng áp lực TM chủ dưới
Giảm cung lượng tim
Tăng áp bên trong ổ bụng Giảm lưu lượng máu đến thận Tăng lưu thông TM
Đáp ứng hormone và thần kinh thể dịch Tăng hoạt động hệ TK giao cảm Tăng hoạt động hệ RAA
Thay đổi arginine vasopressin Thay đổi ANP và BNP Tăng viêm và kích hoạt tế bào
Tăng P tt bên trong cầu thận Giảm áp lực lọc
Giảm tưới máu qua thận
Tăng co mạch thận Thiếu máu thận Hoại tử ống thận cấp
Sơ đồ 1.1 Cơ chế bệnh sinh hội chứng timthận theo thuyết huyết động
[37]
Trang 18Tăng hoạt động hệ TK giao cảm Giảm cung lượng tim
Suy tim Tăng tái cấu trúc cơ tim
Tăng hoạt động hệ RAA
Thay đổi Arginin Vasopressin Tăng ANP Tăng BNP
Tăng Ang II
Tăng giữ muối và nước (tăng thể tích tuần hoàn) Tăng co mạch hệ thống
Tăng Aldosterone
Tăng Galectin-3 Tăng lưu thông TM
Sung huyết thận Tăng tái cấu trúc thận
Tăng viêm Tăng oxi hóa
Mất chức năng thận cuối cùng
Sơ đồ 1.2 Cơ chế bệnh sinh hội chứng tim thận theo thuyết thần
kinh-hormone [37]
Trang 191.3 Đại cương về cystatin C
1.3.1 Cấu trúc và chức năng của cystatin C
Cystatin C lần đầu tiên được miêu tả là “gamma-vết” vào năm 1961 bởiGrubb và Löfberg Cystatin C được tìm thấy trong máu, dịch não tủy và trongnước tiểu của bệnh nhân suy thận, đặc biệt nó tăng cao ở những bệnh nhân suythận cấp, và cũng chính Grubb và Löfberg là những người có báo cáo đầu tiên
về trình tự acid amin của cystatin C và đề xuất như là một thước đo tốc độ lọccầu thận vào năm 1985
Qua nhiều nghiên cứu người ta đã xác định được cystatin C là một protein cókhối lượng phân tử khoảng 13,3 kDa, pH đẳng điện là 9,2, gồm 120 acid amin,được mã hoá bởi gen CST3, được sản xuất đều đặn ở hầu hết các tế bào cónhân trong cơ thể Do khối lượng phân tử nhỏ nên cystatin C có thể dễdàng qua màng lọc cầu thận và bị giáng hóa tại các tế bào ống lượn gần củathận Người ta thấy cystatin C có trong hầu hết các dịch trong cơ thể như:máu, dịch não tủy, sữa, và một lượng nhỏ trong nước tiểu [2],[ 11],[ 17]
Hình 1.1 Phân tử cystatin C (Cấu trúc bậc 1, bậc 2, bậc 3 và bậc 4)
Trang 201.3.2 Nguồn gốc tổng hợp, giải phóng và chuyển hóa cystatin C
Chức năng của cystatin C là điều hoà hoạt động của cystein protease, cụthể là ức chế enzym này trong một số quá trình sinh học trong cơ thể Ở ngườikhoẻ mạnh với chức năng thận tốt, cystatin C được lọc qua màng cầu thận và
bị giáng hoá hoàn toàn tại ống thận
Do cystatin C luôn được sản xuất tại các tế bào trong cơ thể và đượcchuyển hoá tại thận (cystatin C không trở lại máu nữa) một cách đều đặn vànhư vậy nồng độ của cystatin C luôn được giữ ở mức ổn định khi chức năngthận còn tốt và thận hoạt động đều đặn Trong trường hợp chức năng thận bịtổn thương, mức lọc cầu thận suy giảm, những chất cần đào thải qua thận tănglên trong máu, bao gồm cả cystatin C
Các kết quả nghiên cứu cho thấy: cystatin C là một protein trong huyếtthanh có giá trị như một chỉ số sinh học (biomarker) trong thăm dò chức năngthận, đặc biệt mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate - GFR) Ở bệnhnhân có mức lọc cầu thận thay đổi, nồng độ cystatin C huyết thanh tăngsớm hơn creatinin huyết thanh từ 24- 48 giờ, nồng độ cystatin C tăng ngaysau khi mức lọc cầu thận là 80 ml/phút/1,73 m2 da, trong khi đó creatininhuyết thanh chỉ tăng khi mức lọc cầu thận là 40 ml/phút/1,73 m2 da [2], [11]
1.3.3 Nguyên lý định lượng
Nguyên lý chung là thuốc thử chứa kháng thể đặc hiệu cystatin C ngườitạo phức hợp với cystatin C, chất chỉ thị phát hiện sự có mặt của phức hợpkháng nguyên- kháng thể chứa cystatin C Các phương pháp: RIA, miễn dịch
đo độ đục, ELISA, điện hóa phát quang [3]
1.3.4 Ý nghĩa sinh học và các yếu tố ảnh hưởng cystatin C
* Với các bệnh tại thận
Do trọng lượng phân tử thấp nên cystatin C dễ dàng lọt qua màng lọccầu thận, nồng độ cystatin C trong máu có liên quan với mức lọc cầu thận.Nồng
Trang 21độ cystatin C trong máu không phụ thuộc vào tuổi, giới, cân nặng, chiều cao
và khối cơ của người bệnh Trong khi đó chỉ số creatinin máu bị ảnh hưởngbởi các yếu tố trên, bên cạnh đó trong một số trường hợp, trị số creatininhuyết thanh sẽ không phản ánh sự tương thích với tình trạng người bệnhtrên lâm sàng, ví dụ với một bệnh nhân mắc bệnh thận có kèm mắc bệnh xơgan, bệnh béo phì, người dinh dưỡng kém hoặc người có khối cơ bị giảmnhiều
Trong những trường hợp này, cystatin C đặc biệt hữu ích giúp cho việcphát hiện sớm bệnh thận trong khi các thông số cũ như urê, creatinin, độ thanhthải creatinin có thể hầu như bình thường Cystatin C còn rất hữu ích đối vớicác trường hợp các bác sĩ nghi ngờ chức năng thận của người bệnh bị suygiảm nhưng các kết quả thăm dò cũ như creatinin và mức lọc cầu thận chothấy bình thường
Ở những bệnh nhân ghép thận việc phát hiện những tổn thương sớmtrong những ngày đầu sau ghép là rất quan trọng có giá trị tiên lượng rất lớnđối với bệnh nhân, qua nhiều nghiên cứu đã cho thấy giá trị của cystatin Ctrong phát hiện sớm, kịp thời hơn creatinin huyết thanh đối với bệnh nhânghép thận Ngoài ra cystatin C còn hỗ trợ rất tốt cùng với các thông số khácnhư creatinin, độ thanh thải creatinin trong sàng lọc và theo dõi tổn thươngchức năng thận ở những bệnh nhân có nghi ngờ tổn thương thận, người suy
Trang 22Với nhóm người có nguy cơ cao về tim mạch, trị số cystatin C caothường có tỷ lệ mắc suy tim, đột qụy và thậm chí tử vong cao hơn hẳn so vớicác nhóm khác có trị số cystatin C ở mức trung bình hoặc thấp.
Trong thai nghén: Tiền sản giật là một yếu tố gây tử vong cao đối vớisản phụ và thai nhi Việc theo dõi chức năng thận trong tiền sản giật là rất cầnthiết, cystatin C đã được xác nhận là một dấu hiệu quan trọng đáng tin cậy choGFR ở phụ nữ mang thai
Trong một số nghiên cứu còn thấy cystatin C tăng trong bệnhAlzheimer, hay những tổn thương của tế bào thần kinh
Ngoài ra cystatin C còn dùng để theo dõi để điều chỉnh liều lượng củamột số loại thuốc được dùng trong lâm sàng có ảnh hưởng đến chức năng lọccủa cầu thận [2], [11]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ cystatin C
Nồng độ cystatin C ít chịu ảnh hưởng bởi tuổi, giới tính, chủng tộc,khối lượng cơ Nồng độ cystatin C trong máu ở người khỏe mạnh ổn định [3],
[ 33].Mức độ cystatin C trong huyết thanh ở người khỏe mạnh lứa tuổitrưởng thành là 0,52 - 0,98 mg/l, ở phụ nữ là 0,52-0,90 mg/l và ở nam giới là0,56-0,98 mg/l, ở người dưới 50 tuổi là 0,53- 0,92 mg/l và ở người trên 50tuổi là 0,58- 1,02 mg/l [33]
Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Trần Thị Liên Minh ở 285 người tuổi
từ 18 tuổi tham gia nghiên cứu ở nhóm tuổi 18-29 nồng độ cystatin huyếtthanh là 0,53 ± 0,02 mg/l, ở nhóm 30-39 tuổi là 0,50 ± 0,01 mg/l, ở nhóm 40-
49 tuổi
là 0,55 ± 0,01 mg/l và nhóm 50-59 tuổi là 0,57 ± 0,01 mg/l, nhóm từ 60 tuổitrở lên là 0,58 ± 0,02 mg/l Không có sự khác biệt giữa nồng độ cystatin Chuyết thanh giữa nam và nữ ở tất cả các nhóm tuổi [13]
Trang 23Cystatin C có xu hướng tăng trong một số trường hợp như: bệnh viêmgan tiến triển, tràn dịch màng phổi, một số bệnh khớp, một số bệnh ung thư
Trang 24(nhưng nồng độ cystatin C không tỷ lệ với số lượng và kích thước khối u),chứng tăng homocystein máu ở những bệnh nhân ghép thận, dùng corticoidliều cao dài ngày…
• Nồng độ cystatin C có thể giảm khi dùng cyclosporin
• Vỡ hồng cầu: Nồng độ Hb ≤ 435 μmol/mol/l (700 mg/dl) ảnh hưởng không đángkể
• Mỡ máu: không bị ảnh hưởng
• Yếu tố dạng thấp: ≤ 1200 IU/ml không bị ảnh hưởng
• Thuốc: hầu hết các thuốc trong danh mục chung không gây ảnh hưởng đếnnồng độ cystatin C [2], [3]
1.3.5 Cystatin C với vai trò chất chỉ điểm sinh học trong bệnh thận
Cystatin C được đánh giá là một marker sinh học trong đánh giá chứcnăng thận [29],[ 41],[ 51], [54], [56]
1.3.5.1 Cystatin C để ước tính mức lọc cầu thận
Công thức Stevens LA:
MLCT = 76,7 x CysC – 1,19
Hoặc = 127,7 x CysC-1,17 x tuổi-0,13( nhân với 0,91 nếu là nữ, với 1,06nếu là người gốc Phi)
Công thức Hoek: MLCT = - 4,32 + 80,35 x 1/CysC [17], [54]
1.3.5.2 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân tổn thương thận
Ở bệnh nhân tổn thương thận cấp tính xảy ra do nhiều nguyên nhânkhác nhau dẫn tới suy thận cấp tính, tăng nồng độ cystatin C trong huyếtthanh
Cystatin C ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính: các nghiên cứu so sánh chothấy MLCT ước tính dựa vào cystatin C sai lệch với giá trị MLCT thực ít hơn
so với creatinin ở đối tượng nghiên cứu khác nhau Theo Hojs R1 (2008)nghiên cứu trên 592 bệnh nhân người lớn bị bệnh thận mạn kết quả là độ
Trang 25thanh thải 51CrEDTA trung bình là 47 ml/phút/1,73 m2 da, creatinine huyếtthanh trung
Trang 26bình là 269 µmol/l và nồng độ cystatin C huyết thanh trung bình là 2,68 mg/l[57].
Biến đổi nồng độ cystatin C ở bệnh nhân đái tháo đường: ở bệnh nhânđái tháo đường týp 2 có tổn thương cầu thận giai đoạn sớm các protein trọnglượng phân tử lớn hơn 6 kDa như cystatin C bị giảm lọc qua cầu thận trongkhi creatinin chưa bị ảnh hưởng Albumin niệu phối hợp với tổn thương mạnglưới mao mạch quanh ống thận gây tổn thương ống thận Ở bệnh nhân đái tháođường tổn thương thận có thể có tăng nồng độ cystatin C trong huyết thanh.Nghiên cứu của Phạm Quốc Toản (2007) mô tả cắt ngang trên 235 đối tượngđái tháo đường type 2 cho thấy kết quả tỉ lệ tăng cystatin C huyết thanh ởbệnh nhân tổn thương thận (1,51 ± 0,78 mg/l) cao hơn so với nhóm chứngkhỏe mạnh(0,78 ± 0,13 mg/l) và nhóm chứng bệnh (0,85 ± 0,16 mg/l) Tỉ lệtăng cystatin C trong nhóm tổn tương thận chiếm 67,7 % với p < 0,01 có ýnghĩa thống kê Nồng độ cystatin C huyết thanh tương quan thuận mức độchặt với creatinin, tương quan nghịch mức độ chặt với MLCT creatinin.MLCT cystatin C tương quan thuận mức độ chặt với MLCT creatinin Khiước tính mức lọc cầu thận bằng cystatin C, tỷ lệ bệnh nhân thận tăng thêm29,4% so với ước lượng bằng creatinin huyết thanh [17]
Theo Nguyễn Thị Lệ (2011), nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnhnhân có các bệnh lý cầu thận tại khoa Nội thận - Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng12/2009 đến 8/2010 có creatinin từ 0,8-3,0mg/dl chia thành 2 nhóm: nhóm A
có độ thanh lọc creatinin 24 giờ dưới 90ml/phút/1,73m2 da, nhóm B có độthanh lọc creatinin 24 giờ trên 90ml/phút/1,73m2 da Ở nhóm A, cystatin Chuyết thanh tương quan nghịch với độ thanh lọc creatinin 24 giờ tốt hơncreatinin huyết thanh (r= -0,918; p < 0,05) và (r= -0,715; p < 0,05) Ở nhóm
B, cystatin C huyết thanh tương quan nghịch với độ thanh lọc creatinin 24giờ tốt hơn creatinin huyết thanh (r= -0,522; p < 0,05) và (r= -0,423; p <0,05) Độ nhạy,
Trang 27độ đặc hiệu của cystatin C huyết thanh, creatinin huyết thanh, độ thanh lọccreatinin 24 giờ lần lượt là 91%, 89%; 78%,87%; 85%, 80% [12] Như vậy,cystatin C huyết thanh giúp phát hiện sớm sự suy giảm độ lọc cầu thận ởnhững bệnh nhân có bệnh lý cầu thận tốt hơn creatinin huyết thanh.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2014) mô tả cắt ngang 124bệnh nhân xơ gan cho thấy diện tích dưới đường cong ROC của cystatin C là93,4 % cao hơn của creatinin là 87,8 %, chứng tỏ cystatin C có giá trị chẩnđoán sớm bệnh nhân xơ gan có tổn thương thận [19]
1.3.6 Nồng độ cystatin C máu ở bệnh nhân suy tim mạn tính
Nồng độ cystatin C được coi như là một yếu tố nguy cơ độc lập và cógiá trị tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cao tuổi Điều này đã được Sarnak(2005) nghiên cứu quan sát dựa trên đo nồng độ cystatin C từ huyết thanhđông lạnh thu được trong năm 1992-1993 của Cardiovascular Health Studytheo dõi 6 tháng 4384 người lớn từ 65 tuổi trở lên từ không bị suy tim trước
đó tại Hoa Kỳ cho thấy trong thời gian theo dõi trung vị 8,3 năm (tối đa, 9,1năm) có 54,4% bệnh nhân suy tim tăng nồng độ cystatin C huyết thanh (763người tham gia suy tim) [44]
Cystatin C là một yếu tố tiên đoán mạnh mẽ hơn về tử vong so vớicreatinine ở người cao tuổi bị suy tim Theo Shlipak (2005) nghiên cứu trên
279 người tham gia có tiền sử suy tim và đo nồng độ cystatin C và creatininetrong huyết thanh được theo dõi trên các kết cục tử vong trong khoảng 6,5năm Mức creatinine trung bình và cystatin C là 1,05 mg/dl và 1,26 mg/l.Mỗi độ lệch chuẩn tăng cystatin C (0,35 mg/l) có liên quan đến nguy cơ tửvong điều chỉnh được 31% (95% CI 20% - 43%, p < 0,001), trong khi mỗi độlệch chuẩn tăng
Trang 28creatinine (0,39 mg /dl) có nguy cơ tử vong được điều chỉnh cao hơn 17% (95% CI 1% - 36%, p = 0,04) [47],[ 48],[ 49],[ 50].
Nồng độ cystatin C cao cũng dự đoán nguy cơ gia tăng đáng kể tử vong
do mọi nguyên nhân, các biến cố về tim mạch, và suy tim xung huyết trong sốnhững người đi cùng với bệnh tim mạch Theo Joachim H Ix (2007) nghiêncứu trên 990 người bệnh tim mạch sau thời gian theo dõi trung bình 37 tháng,
132 người tham gia (13%) tử vong, 101 (10%) có các biến cố tim mạch, và 57(7%) bị suy tim Cystatin C có nguy cơ tương tự cao nhất đối với những người
có nồng độ thấp hơn (≤ 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da) hoặc tỉ lệ lọc cầu thận caohơn và trong số những người có hoặc không có microalbumin niệu [36]
Phân loại cystatin C cao nhất cũng liên quan độc lập với nguy cơ tử vong
và suy tim cao Phân tích của Meng Lee (2010) từ dữ liệu được thu thập từ 14nghiên cứu, với 13 nhóm nghiên cứu có nguy cơ tim mạch và 1 nhóm nghiêncứu chung, có 22 509 đối tượng với 2321 trường hợp bệnh tim mạch, 741trường hợp bệnh mạch vành, và 828 đột quỵ Mức cystatin C cao nhất so vớithấp nhất có liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn (RR 2,62, 95% CI2,05-3,37, p < 0,001), bệnh mạch vành (RR 1,72, 95% CI 1,27 - 2,34, p <0,001) ), và đột quỵ (RR 1,83, 95% CI 1,12 – 3,00, p= 0,02) sau khi điều chỉnhcác yếu tố nguy cơ tim mạch đã được xác lập Mỗi độ lệch chuẩn tăng nồng độcystatin C làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch (RR 1,34, 95% CI 1,18 -1,51, p <0,001) [46]
Nghiên cứu của Ling Fei (2016) nghiên cứu mô tả 221 bệnh nhân suytim mạn với tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,6 tuổi, trong đó 59% bệnhnhân (n = 131) là nam, 18,6% bệnh nhân (n = 41) qua đời cho thấy nồng độcystatin C ở tất cả các bệnh nhân là 1,2 ± 0,4 mg/l, ở nhóm bệnh nhân tử vong(18,6%) là 1,5 ± 0,4 với p < 0,001: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [42]
Trang 29Theo Trần Quang Khánh (2012) nghiên cứu 214 bệnh nhân nhập viện vìsuy tim cấp (n = 214) được đo cystatin C tại thời điểm nhập viện và 48 giờsau
Trang 30nhập viện Tại thời điểm nhập viện giá trị trung vị của cystatin C là 1,2 mg/l(khoảng tứ phân vị 1,1 – 1,6 mg/l) Tăng cystatin C ≥ 0,3 mg/l sau 48 giờnhập viện xảy ra ở 35%, hậu quả làm kéo dài thời gian nằm viện hơn 2 ngày(p = 0,05), liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện một cách có
, p < 0,001) [28]
Cystatin C là một yếu tố tiên đoán mạnh mẽ và độc lập của kết cục ở 12tháng trong suy tim cấp Hơn nữa, cystatin C xác định bệnh nhân tiên lượngxấu mặc dù creatinine huyết tương bình thường Các bệnh nhân suy tim cấpđược đo nồng độ cystatin C (n = 480) từ một nghiên cứu đa trung tâm Tửvong do mọi nguyên nhân ở tháng thứ 12 là 25,4% Cystatin C, creatinine,tuổi tác, giới tính và huyết áp tâm thu khi nhập viện được xác định là cácyếu tố nguy cơ độc lập về tiên lượng Kết hợp tứ phân vị giữa NT-proBNP vàcystatin C cải thiện sự phân tầng nguy cơ xa hơn Hơn nữa, ở những bệnhnhân có creatinine huyết thanh bình thường, cystatin C tăng có tỷ lệ tử vongcao hơn đáng kể ở thời điểm 12 tháng: 40,4% so với 12,6% ở bệnh nhân códấu hiệu trong phạm vi bình thường, p < 0,0001[38]
Theo Hojs R1 (2008) phân tích khả năng dự đoán chính xác GFR củabệnh nhân dưới hoặc trên 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da cho thấy dự đoán cao hơnđối với công thức cystatin C so với công thức MDRD (91,6 so với 84,1%, p <
Trang 310,0005) và xu hướng dự đoán cao hơn công thức CG (91,6 so với 88,3%, p =0,078) [36].
Nghiên cứu của Axel Åkerblom (2015) mô tả cắt ngang 2716 bệnh nhânngoại trú tim mạch cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa creatinine và cystatin C,MLCT creatinine trung bình xấp xỉ 10 ml/phút/1,73 m2 da so với MLCTcystatin C trung bình lên đến 90 ml/phút/1,73 m2 da [23]
Nghiên cứu của Ling Fei (2016) cho thấy tuổi, huyết áp tâm thu, LVEF,BNP, creatinin có liên quan đến sự thay đổi nồng độ cystatin C Kết quả phântích cho thấy điểm Cr & Cys C có auROC là 0,75 (95% CI: 0,69–0,81), caohơn đáng kể so với Cr (p = 0,001), với điểm cắt là 5,99, độ nhạy là 66,7%, đặchiệu là 76,7% Điểm Cr & Cys C đã có hiệu suất tốt hơn chỉ riêng Cr hoặc Cys
C Điều đó cho thấy cystatin C có giá trị đánh giá không chỉ chức năng thận
mà còn tiên lượng tử vong ở bệnh nhân suy tim mạn tính [42]
Đồ thị 1.3 Phân tích ROC của Cys-C, Cr và Cr & Cys-C -điểm trên tỷ lệ
tử vong 3 năm của bệnh nhân suy tim mạn (Theo Ling Fei [42]
Nghiên cứu của Kazumasa Nosaka (2013) tại Bệnh viện Okayama (NhậtBản) từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009 ở các bệnh nhân có bệnhđộng mạch vành, rối loạn nhịp tim, bệnh cơ tim, bệnh tim bẩm sinh, và van timloại trừ hội chứng vành cấp tính và đo mức cystatin C huyết thanh, creatininehuyết thanh,
Trang 32hocmon kích thích tuyến giáp (TSH), và peptide lợi niệu type B (BNP) Sau đóphân tích mối quan hệ giữa cystatin C huyết thanh và các thông số siêu âm tim
ở 78 bệnh nhân Trong phân tích hồi quy tuyến tính đơn giản, các mô hìnhLAD, E / A, E 'và TMF, các thay thế cho chức năng tâm trương tim, có liênquan đáng kể với cystatin C huyết thanh Tuy nhiên, LVDd, LVDs, và LVEF,thay thế cho chức năng tâm thu, không liên quan với cystatin C huyết thanh khiphân tích đơn biến r = 0,266, p
< 0,01 phân tích đa biến với r = 0,017, p = 0,39 [39]
Theo M Mendez (2010) thì cystatin C là một yếu tố tiên đoán tốt hơn về
tử vong toàn cầu so với NT-proBNP trong nhóm bệnh nhân cao tuổi suy timkhông được chọn trước bởi phân suất tống máu thất trái của họ Nghiên cứu có
194 bệnh nhân suy tim Tuổi trung bình là 78,62 ± 8,6 năm, 58% là phụ nữ,39% suy tim NYHA III-IV, LVEF dưới 45% chiếm 41% trường hợp, 11% chếttrong quá trình theo dõi Nồng độ cystatin C cao hơn ở những người không sốngsót so với người sống sót (2,44 mg/dl so với 1,59 mg/dl, p = 0,030) Khu vựcdưới đường cong ROC của cystatin C cho tử vong toàn cầu là 0,769 (IC: 0,634 -0,904, p < 0001).; không tìm thấy bất kỳ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữanồng độ NT-proBNP giữa những người sống sót và những người không sốngsót (logNT-proBNP 3,64 ± 0,56 so với 3,38 ± 0,49; p = 0,432) [43]
Nghiên cứu của Pérez-Calvo (2012) trên 526 bệnh nhân có suy tim cấp vàNTpro-BNP trên 900 pg/ml đã được đưa vào nghiên cứu Từ nhóm này, 367bệnh nhân (69,8%) có creatinine huyết thanh dưới 1,3 mg/dl Các đường congnhận dạng (ROC) được sử dụng để xác định giá trị cắt tốt nhất cho cystatin C.Bệnh nhân có nồng độ cystatin C trên 1,25 mg/dl có tỷ lệ tử vong 37,8%, so với13,6% đối với những người dưới ngưỡng giới hạn (p < 0,001) Sau khi mô hìnhnguy cơ tỷ lệ Cox, tuổi, cystatin C, cholesterol toàn phần thấp và suy tim vớiphân suất tống máu bảo quản vẫn liên quan đáng kể đến tử vong do mọi nguyên
Trang 33nhân trong một năm tiếp theo Trong suy tim cấp và chức năng thận bìnhthường hoặc suy giảm chức năng
Trang 34thận, hiệu quả của cystatin C có thể cao hơn NT-proBNP Do đó, cystatin C cóthể là nhãn sinh học được ưa thích trong việc đánh giá bệnh nhân với suy timcấp và chức năng thận suy giảm nhẹ [55].
Năm 2011 Anoop Shankar và Srinivas Teppala đã công bố kết quả kiểmtra Khảo sát Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia 1999-2002 với 2583 người từ
20 tuổi (54,5% phụ nữ) không có bệnh thận mạn được nhận biết lâm sàng(được định nghĩa là tỷ lệ lọc cầu thận ước tính < 60 ml/ phút/ 1,73 m2 da hoặcalbumin niệu) Nồng độ cystatin C trong huyết thanh được phân loại thành các
tứ phân vị (< 0,76 mg/ l, 0,76 - 0,86 mg /l, 0,87 - 0,97 mg/ l, > 0,97 mg/ l).Tăng huyết áp được định nghĩa là dùng thuốc giảm huyết áp hoặc huyết áp tâmthu > 140 mmHg và / hoặc huyết áp tâm trương > 90 mmHg Nồng độ cystatin
C trong huyết thanh tăng cao có liên quan đến tăng huyết áp ở phụ nữ, nhưngkhông phải ở đàn ông Sau khi điều chỉnh tuổi, chủng tộc, giáo dục, hút thuốc,lượng cồn, chỉ số cơ thể, đái tháo đường, cholesterol toàn phần và protein phảnứng C, tỷ lệ chênh lệch (khoảng tin cậy 95%) của tăng huyết áp so với tứ phân
vị cystatin C từ tứ phân vị I (tham chiếu) là 2,04 (1,13-3,69); p = 0,02 ở phụ nữ
và 0,86 (0,53-1,41); p = 0,51 ở nam giới [22]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 3569 bệnh nhân được chẩn đoán là suy tim mạn tính đợt cấp đang điều trịtại khoa Tim Mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định suy tim mạn
Theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Châu Âu 2012 [6]
- Chẩn đoán suy tim tâm thu:
+ Triệu chứng cơ năng (khó thở khi gắng sức/ nghỉ ngơi, mệt mỏi, hokhan, ho nhiều khi nằm, khi về đêm, phù)
+ Triệu chứng thực thể (nhịp tim nhanh, tiếng tim T3, tiếng thổi tim,nhịp thở nhanh, có ran ở phổi, tĩnh mạch cổ nổi, phù ngoại biên, gan to, cóphản hồi gan tĩnh mạch cổ)
+ Giảm phân suất tống máu (LVEF < 50%)
- Chẩn đoán suy tim tâm trương:
+ Có triệu chứng cơ năng và/hoặc thực thể của suy tim
+ Phân suất tống máu bảo tồn (LVEF ≥ 50%)
+ Tăng Natriuretic Peptide (BNP ≥ 35 pg/ml và/hoặc NT-proBNP ≥ 125pg/ml)
+ Chứng cứ biến đổi cấu trúc cơ tim (dày thất trái, giãn nhĩ trái) và/hoặc rối loạn chức năng tâm trương
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp của suy tim mạn tính gồm các bệnhnhân suy tim mạn nặng hơn hoặc mất bù : ở bệnh nhân suy tim mạn đangđiều trị diễn tiến nặng hơn và có bằng chứng sung huyết hệ thống và phổi
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối
- Bệnh nhân đang điều trị bệnh lí tuyến giáp, viêmgan tiến triển, bệnh khớp
Trang 36- Bệnh nhân sử dụng corticoid trong một tháng trước thời điểm nghiêncứu, ung thư, có thai, nhiễm trùng nặng, nhiễm HIV, rối loạn tâm thần.
- Những bệnh nhân có bệnh lý cấp tính: nhồi máu cơ tim cấp tính, độtquỵ não, nhiễm khuẩn, tiền hôn mê và hôn mê
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017
- Địa điểm: Khoa Tim Mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu.
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu: được tính theo công thức ước lượng một giá trị trung bình [7]:
n= Z2 1-α/2 s2(X.ε))2n: là cỡ mẫu nghiên cứu của đối tượng suy tim mạn
α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
s: Phương sai của nghiên cứu Ling Fei [42] là 0,4
X: giá trị trung bình nồng độ cystatin C ở bệnh nhân suy tim mạn củanghiên cứu của Ling Fei [42] là 1,2 ± 0,4 mg/l
ε): Sai số mong đợi, chọn ε) = 0,1
Từ công thức trên ta có số đối tượng nghiên cứu là 43
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi thu thập được thông tincủa 69 đối tượng nghiên cứu
Trang 37* Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện Trong quá trình nghiên cứu chọn bất
kỳ bệnh nhân suy tim mạn tính nhập viện vì suy tim nặng hơn hoặc mất bù từthời điểm tháng 8/2017 đến tháng 12/2017
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới
- Tuổi
- Nguyên nhân suy tim
- Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu: khó thở, đau ngực, phù ngoạibiên, thiểu niệu, nhịp tim nhanh, loạn nhịp hoàn toàn, tiếng thổi tim, ran phổi,tràn dịch màng phổi, gan to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+)
- Một số đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu:
+ Công thức máu: Số lượng bạch cầu, số lượng hồng cầu, hematocrite,hemoglobin, số lượng tiểu cầu
+ Đông máu: PT (s), Fibrinogen, APTT (s)
+ Sinh hoá máu: Glucose, ure, creatinin, điện giải đồ( Na+, K+, Cl),SGOT, SGPT, NTproBNP, cystatin C
- Phân độ suy tim theo NYHA
2.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1: Mô tả nồng độ cystatin C huyết
tương ở bệnh nhân suy tim mạn đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
- Tỷ lệ bệnh nhân suy tim có tăng cystatin C huyết tương
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương của đối tượng nghiên cứu
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo phân độ NYHA
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo tuổi và giới
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo nguyên nhân suy tim
Trang 38- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo một số triệu chứng lâm sàng
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo nhịp tim, huyết áp lúc nhập viện
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo BMI
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo hemoglobin
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo ure, creatinin huyết tương
- Phân giai đoạn bệnh thận mạn (dựa vào MLCT ước tính cystatin C) theokhuyến cáo KDIGO-2012
- Nồng độ trung bình cystatin C huyết tương theo phân suất tống máu EF %
2.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích mối liên quan giữa sự
biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim mạn tính.
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với tuổi và giới
- Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương với tuổi và BMI
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với phân độ suytim theo NYHA
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với từng nguyênnhân suy tim
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số triệuchứng lâm sàng
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với nhịp tim, huyết áp lúc nhập viện
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với BMI
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với hemoglobin
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với ure, creatinin
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với giai đoạn bệnh thận mạn (dựa vào MLCT ước tính theo creatinin)
- Tương quan giữa nồng độ cystatin C và nồng độ creatinin huyết tương
Trang 39- Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương và MLCT creatinin
- Tương quan giữa MLCT cystatin C và MLCT creatinin
- Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương với lg(NT-proBNP)
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số hìnhảnh Xquang: tim to, phổi ứ huyết
- Liên quan giữa sự biến đổi nồng độ cystatin C huyết tương với một số thông
số siêu âm tim: phân suất tống máu thất trái (EF %), giãn thất trái, tăng áp lựcđộng mạch phổi
- Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết tương với EF (%)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Kỹ thuật và phương tiện thu thập số liệu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị đợt cấp suy tim mạn tạiKhoa tim mạch, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên được khám lâm sàng,làm các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, các xét nghiệm thăm dò chức năng,được phỏng vấn khai thác kỹ các yếu tố liên quan đến bệnh theo mẫu bệnh
án đã được chuẩn bị trước Các kết quả được ghi vào phiếu bệnh án nghiêncứu
* Tuổi
- Cách tiến hành: bệnh án nghiên cứu, ghi năm sinh của bệnh nhân
* Giới tính: Nam và nữ
* Nguyên nhân suy tim
- Cách xác định: dựa vào kết luận cuối cùng trong bệnh án (dựa vào tiền
sử, Xquang, điện tim, siêu âm Doppler tim )
* Triệu chứng lâm sàng suy tim mạn
- Cách đánh giá: thăm khám và hỏi bệnh bằng bệnh án nghiên cứu:+ Khó thở: đếm nhịp thở của bệnh nhân khi > 20 lần/phút
Trang 40+ Đau ngực: đau vùng xương ức hoặc vùng trước tim kiểu đau thắtngực điển hình với thời gian kéo dài từ vài phút đến hàng chục phút.
+ Phù ngoại biên: thường phù vào buổi chiều tối, bắt đầu ở chân Khámbằng cách ấn ngón tay cái trên nền xương gây áp lực tại các vị trí: mắt cátrong, trên mắt cá 5 cm, mặt trước thân xương chày, xương sườn, xương ức,trán (nếu phù toàn thân) Đánh giá phù khi có vết ấn lõm (5- 30 giây), mất lâu(tối thiểu 15 giây)
+ Thiểu niệu: khi lượng nước tiểu 24 giờ đo được từ 300 – 500 ml.+ Nhịp tim nhanh: nghe tim nhịp đều tần số trên 90 chu kì/phút
+ Loạn nhịp hoàn toàn: nghe tim nhịp không đều lúc nhanh lúc chậm,lúc mạnh lúc yếu Chính xác theo kết quả điện tim
+ Tiếng thổi tim: là một loạt những rung động kéo dài hơn một tiếng cóthể nghe được có thể là thổi tâm thu, thổi tâm trương hoặc thổi liên tục
+ Ran phổi: thường là ran ẩm vùng rốn phổi có thể nghe được trong cảthì hít vào hoặc thở ra do ứ huyết phổi
+ Tràn dịch màng phổi: có hội chứng 3 giảm vùng đáy phổi: rung thanhgiảm, gõ đục, nghe phổi rì rào phế nang giảm hoặc mât Tốt nhất dựa vàoXquang phổi hoặc siêu âm ổ bụng
+ Gan to: xác định to khi sờ bờ dưới vượt ra khỏi bờ sườn, mật độ mềm,
bờ tù, cùng với phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) và gõ bờ trên gan vượt quá liênsườn V
+ Phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+): xác định (+) khi sờ gan bệnh nhânnghiêng trái ấn vào vùng gan thấy tĩnh mạch cổ nổi lên nhanh mất chậm
- Cách tiến hành: bệnh nhân nằm yên tĩnh nghe tim và đếm nhịp timbằng ống nghe trong một phút ghi lại kết quả Những trường hợp loạn nhịphoàn toàn cần chính xác ghi theo điện tim