MỤC LỤC I.TỤC THỜ MẪU 5 1.1 Khái niệm 5 1.2Nguồn gốc của tục Thờ Mẫu 5 1.3 Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt 7 1.4 Ý nghĩa tục thờ mẫu của người Việt 17 II.TỤC ĐỐT VÀNG MÃ 22 2.1 Khái niệm 22 2.2 Nguồn gốc của tục đốt Vàng Mã 22 2.3 Tục đốt Vàng Mã trong trong đời sống văn hóa người Việt 24 2.4 Ý nghĩa của tục đốt Vàng Mã 25 III. TỤC LÊN ĐỒNG ( HẦU ĐỒNG) 27 3.1 Khái niệm 27 3.2 Nguồn gốc của tục Lên Đồng( Hầu Đồng) 27 3.3 Ý nghĩa của tục Lên Đồng 30 IV. TỤC HIẾN SINH 32 4.1 Khái niệm 32 4.2 Nguồn gốc của lễ Đâm Trâu 32 4.3 Lễ đâm Trâu trong đời sống văn hóa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên 34 4.4 Ý nghĩacủa lễ Đâm Trâu 38 V.TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG 40 5.1 Khái niệm 40 5.2 Nguồn gốc của tục thờ cúng Cá Ông 40 5.3 Tục thờ cúng Cá Ông trong đời sống văn hóa người Việt 41 5.4 Ý nghĩa của tục thờ cúng Cá Ông 45 VI. CƯỚI HỎI 48 6.1 Khái niệm 48 6.2 Nguồn gốc, phong tục và nghi lế cưới hỏi 48 6.3 Lễ cưới của tín đồ tôn giáo 54 6.4 Ý Nghĩa của lễ cưới 55 VII. TANG MA 58 7.1 Khái niệm 58 7.2 Nguồn gốchình thành 58 7.3 Nghi thức tang ma trong đời sống người Việt 58 VIII.TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN 64 8.1 Khái niệm 64 8.2 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 66 8.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống văn hóa người Việt 72 8.3 Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 1Môn : Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Du Lịch
Bài tập số 2
Giới thiệu và giải thích ý nghĩa một số tục thờ và tín ngưỡng truyền thống : Thờ Mẫu, Đốt Vàng Mã, Lên Đồng, Hiến Sinh, Thờ cúng Cá Ông, Cưới Hỏi, Tang Ma, Tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên.
MỤC LỤC
I.TỤC THỜ MẪU 3
1.1 Khái niệm 3
1.2Nguồn gốc của tục Thờ Mẫu 3
1.3 Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt 5
1.4 Ý nghĩa tục thờ mẫu của người Việt 15
II.TỤC ĐỐT VÀNG MÃ 20
2.1 Khái niệm 20
2.2 Nguồn gốc của tục đốt Vàng Mã 20
2.3 Tục đốt Vàng Mã trong trong đời sống văn hóa người Việt 22
2.4 Ý nghĩa của tục đốt Vàng Mã 23
III TỤC LÊN ĐỒNG ( HẦU ĐỒNG) 25
3.1 Khái niệm 25
3.2 Nguồn gốc của tục Lên Đồng( Hầu Đồng) 25
3.3 Ý nghĩa của tục Lên Đồng 28
IV TỤC HIẾN SINH 30
4.1 Khái niệm 30
4.2 Nguồn gốc của lễ Đâm Trâu 30
4.3 Lễ đâm Trâu trong đời sống văn hóa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên 32
4.4 Ý nghĩacủa lễ Đâm Trâu 36
V.TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG 38
5.1 Khái niệm 38
Trang 25.2 Nguồn gốc của tục thờ cúng Cá Ông 38
5.3 Tục thờ cúng Cá Ông trong đời sống văn hóa người Việt 39
5.4 Ý nghĩa của tục thờ cúng Cá Ông 43
VI CƯỚI HỎI 46
6.1 Khái niệm 46
6.2 Nguồn gốc, phong tục và nghi lế cưới hỏi 46
6.3 Lễ cưới của tín đồ tôn giáo 52
6.4 Ý Nghĩa của lễ cưới 53
VII TANG MA 56
7.1 Khái niệm 56
7.2 Nguồn gốchình thành 56
7.3 Nghi thức tang ma trong đời sống người Việt 56
VIII.TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN 62
8.1 Khái niệm 62
8.2 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 64
8.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống văn hóa người Việt 70
8.3 Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 3I.TỤC THỜ MẪU 1.1 Khái niệm
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với nhữngảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thầntượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tínngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi
mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát củamình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến
1.2Nguồn gốc của tục Thờ Mẫu
Trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tục thờ Mẫu chỉ có
ở Việt Nam, bắt nguồn từ thời kỳ mẫu hệ ở nước ta đã từng tồn tại cách đây cảngàn năm Vì sao dân ta lại thờ Mẫu, tức thờ Mẹ? Mẹ đây không chỉ người sinh
ra dân tộc mà còn là những nguồn sống nuôi dưỡng cả một dân tộc
Giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong các vị thần củaĐạo Mẫu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng: Do xã hội Việt Nam cổxưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội Tuynhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn Do đó, nam giớicũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờcúng.Chẳng riêng gì các đền chùa, miếu phủ ở đất Hà thành mà hầu hết các chùachiền của người Việt đều trân trọng một ban thờ Mẫu Có những nơi còn dànhriêng để thờ Mẫu như Phủ Giầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội)…
Đầu năm mới, người người nô nức du xuân, đến các đình chùa, miếu phủcầu an, thì tục thờ Mẫu của người Việt lại càng được trân trọng hơn
Trong điện thờ Mẫu thường thấy bày ba pho tượng: Một vị mặc áo xanhtượng trưng cho mẹ trời, một vị mặc áo vàng tượng trưng cho mẹ đất, một vịmặc áo trắng tượng trưng cho mẹ nước Trời, đất và nước là nguồn gốc của sựsống.Điều đó được giải thích rằng từ thời hoang sơ huyền sử con người đã phảidựa vào núi rừng, hang động, sông suối để tồn tại Ăn thì có lá cây, hoa quả, cácloại củ rừng Ngủ phải làm chòi trên cành cây cao để phòng thú dữ
Trang 4Vì vậy từ xa xưa dân ta đã tôn vinh rừng cây như một vị thần hộ mệnh Tớikhi con người tiến hóa lại men theo các khe lạch ra các suối lớn để săn bắt cákiếm ăn rồi lần hồi tới các dòng sông và các lưu vực bằng phẳng, dựa vào sôngnước đất đai để canh tác, trồng tỉa lúa ngô khoai sắn làm lương thực Vì vậyngười xưa tôn vinh các nguồn nuôi sống mình là Mẫu, là mẹ, là các vị thần linhcứu mệnh.
Tục thờ ba Mẫu trời, nước và đất rừng gọi là thờ Tam phủ Sau này, khôngnhững đáp ứng nhu cầu về tâm linh của con người mà còn phải thỏa mãn nhucầu về tri thức của người Việt nên tục thờ Mẫu được bổ sung thêm một Mẫu đểnhớ về cội nguồn tổ tiên của dân tộc Đó là mẫu Liễu Hạnh
Thế nên trong các nơi thờ Mẫu, ngoài ba vị trên đã có thêm một vị nữamặc áo đỏ đứng phía trước, và tục thờ Tam phủ trở thành Tứ phủ Đạo Mẫu thờ
Tứ phủ là thờ bốn mẹ: Mẹ trời (Mẫu Thượng thiên), mẹ đất (Mẫu Thượngngàn), mẹ nước (Mẫu Thoải) và mẹ người (Mẫu Liễu Hạnh)
Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh vốn là tiên nữ có tên Quỳnh Hoa ở thượnggiới, vì làm vỡ chén quý của Ngọc Hoàng nên bị đày xuống trần gian đầu thaivào một nhà họ Lê ở thôn Vân Cát (huyện Vụ Bản, Nam Định ngày nay), đờivua Lê Anh Tông, thế kỷ 16 Bà lấy chồng ở làng Thiên Hương, sinh được haingười con thì viên tịch về trời Nhưng vì thương chồng con, thương nước nên bà
đã hiển thánh để phù hộ cho dân, cho nước được yên bình thịnh trị
Hiện nay cả hai làng Vân Cát và Thiên Hương đều lập đền thờ bà NgoàiPhủ Giầy (tức Vân Cát) thì đền Sòng (Thanh Hóa) cũng thờ bà nhưng đền Sòng
đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá Nay chỉ còn Phủ Giầy (Nam Định) và Tây
Hồ (Hà Nội) là hai nơi lớn nhất thờ bà chúa Liều Hạnh
Còn khắp cả nước, đâu có đền chùa, miếu phủ có điện thờ Mẫu là có banthờ Mẫu Liễu Hạnh Người dân ta dù giàu nghèo, sang hèn đều luôn tri ân, tônvinh các Mẫu, thờ cúng Mẫu vì đó là hồn của đất, là sông suối ao hồ đầy nước,
là cơm gạo ngô khoai, là cây rừng che phủ, là hoa trái bốn mùa tốt tươi, là cộinguồn dân tộc
Trang 5Tục thờ Mẫu ở nước ta đã có từ ngàn xưa là một nét đặc trưng rất độc đáo,rất đẹp, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn của văn hóa Việt, cần được tôn vinh,gìn giữ và duy trì mãi mãi.
1.3 Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt
Năm 2001, trong hội thảo về Đạo Mẫu và các hình thức Shaman ở ViệtNam và các nước Châu Á, PGS.TS Ngô Đức Thịnh đã đưa ra một mô hình tổngquát về Đạo Mẫu của người Việt ở Việt Nam, gồm ba lớp kế tiếp và có mối liên
hệ hữu cơ với nhau, đó là: Nữ thần, Mẫu thần và Mẫu Tam phủ, Tứ Phủ
Vì đây là mô hình tổng quát, nên nó chưa chưá đựng được các sắc thái địaphương, do vậy cần có sự bổ sung cần thiết cho các dạng thờ Mẫu ở các vùngmiền, ít nhất là với miền Trung Bộ và Nam Bộ
1.3.1Dạng thức thờ Mẫu Bắc Bộ
Có thể nói mô hình tổng quát kể trên là mô hình kinh điển, mô hình đầy đủnhất mà tục thờ Mẫu ở Bắc Bộ là đại diện Đây cũng là mô hình có sự phát triển
tuần tự và mang tính nội tại Tất nhiên, ở lớp thờ Nữ thần mang tính nguyên sơ,
bản địa và do vậy nó phổ cập rộng rãi trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian.Trong một số công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã có dịp đề cập tới và
lý giải các căn nguyên kinh tế, xã hội của chúng Lớp thờ Mẫu thần với các danh xưng, như Quốc Mẫu, Vương Mẫu hay Thánh Mẫu, thường là gắn với quá trình
cung đình hoá, lịch sử hoá, như hiện tượng thờ Ỷ Lan Nguyên phi, Bà Chúa
Kho, Mẹ Thánh Dóng, Tứ vị Thánh nương Và, tất nhiên, lớp thờ Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ là một hệ thống phát triển cao hơn, trên cơ sở thờ Nữ thần, Mẫu
thần bản địa và tiếp nhận các ảnh hưởng về quan niệm vũ trụ luận và hệ thốngthần linh của Đạo giáo Trung Hoa
Mối quan hệ giữa ba lớp thờ Mẫu này là mối quan hệ hai chiều, một chiềutheo hướng phát triển lịch sử, từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứphủ Tuy nhiên, theo chiều ngược lại, khi Mẫu Tam phủ, Tứ phủ định hình và
phát triển, thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hoá tục thờ mẫu thần và nữ thần theo
hướng sắp đặt hệ thống thần linh, nghi thức thờ cúng Xu hướng này rất mạnh
Trang 6mẽ không chỉ đối với việc thờ Nữ thần hay Mẫu thần, mà ngay cả với các tínngưỡng khác, thí dụ như với tục thờ Cá voi ở Bắc Trung Bộ hay đền thờ Tamgiáo ở động Nhị Thanh, Lạng Sơn.
Không biết đã có đủ dữ kiện để có thể đưa ra những phán đoán về thời gianhình thành và định hình các lớp tín ngưỡng trong hệ thống thờ Mẫu của ngườiViệt Tất nhiên tục thờ nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời nguyên thuỷ, cònlớp thờ nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần, thì
có lẽ đã xuất hiện sau thời phong kiến tự chủ với việc phong thần của nhà nướcphong kiến Còn lớp mẫu Tam phủ, Tứ phủ thì cũng phải sau thế kỷ XV, nhất làthế kỷ XVI, XVII mới thực sự định hình và phát triển mạnh mẽ Đây cũng làthời kỳ xuất hiện thánh mẫu Liễu Hạnh và thịnh hành Đạo giáo dân gian ở nướcta
1.3.2 Dạng thức thờ Mẫu ở Trung Bộ
Nói là Trung Bộ, nhưng thực ra dạng thức này phân bố chủ yếu từ phíanam Hải Vân cho tới Ninh Bình Thuận cực nam Trung Bộ, còn bắc Trung Bộ,như đã nói ở phần trên, tục thờ Mẫu cơ bản thuộc dạng thức Bắc Bộ Đặc trưng
cơ bản của dạng thức này là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ, mà chỉ có lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần.
Tục thờ Mẫu ở Trung Bộ tuy thiếu bóng Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, nhưng lạihết sức phức tạp, tuy nhiên, với các tiêu chuẩn nêu trên, chúng ta có thể phânthờ Mẫu ở đây thành hai lớp chính, đó là thờ Nữ thần mà đại diện tiêu biểu là BàNgũ hành, Tứ vị Nương Nương và lớp thờ Mẫu thần mà đại diện là thờ Thiên
Ya Na.Huế có vị trí rất đặc biệt trong sự giao thoa và chuyển tiếp của tục thờMẫu Xét tổng thể cả về hệ thống thần linh và nghi thức thờ cúng, lễ hội, thì tụcthờ Mẫu ở Huế vẫn thuộc hệ thống thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tuy nhiên, trongđiện thần, nhất là vị thần chủ thì không phải là Liễu Hạnh như ở Bắc Bộ, mà làThiên Ya Na, vị thần Việt gốc Chăm
Trang 71.3.2.1 Tứ Vị Nương Nương
Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hiện rất phổ biến ở nhiều làng người Việt venbiển từ bắc vào nam, ngoài ra còn thấy ở các làng ven sông lớn nằm sâu trongđồng bằng Tuy nhiên, tục thờ này phổ biến nhất vẫn là ven biển Trung Bộ, màtrung tâm là Đền Cờn (Nghệ An) Theo Ninh Viết Giao, ngoài Đền Cờn còn có
30 làng khác nữa ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) thờ Tứ Vị Thánh Nương Riênghuyện Hoàng Hoá (Thanh Hoá) cũng có 20 làng thờ Tứ Vị Thánh Nương (3).Nhiều nơi ở ven biển Bắc Bộ thờ Tứ Vị Thánh Nương dưới dạng thờ Tống Hậu,Thiên Hậu
Ở Quảng Nam, Đà Nẵng, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương rất phổ biến, hầunhư làng nào cũng có, tuy nhiên, ít khi có miếu thờ riêng bà, như trường hợp
làng Mỹ Khê có nơi thờ riêng Bà, gọi là Miếu Cả, còn phần lớn phối thờ với các
vị thần khác và được gọi với cái tên là Bà Giàng Lạch, tức vị thần chủ của sông
biển Theo Nguyễn Xuân Hương, người dân Thanh Nghệ, nơi phát nguồn tụcthờ Tứ Vị Thánh Nương đã mang tục thờ này vào trung và nam Trung Bộ và gọi
Bà với danh thần mang tính dân gian - Bà Giàng Lạch hay Dàng Lạch Chúa
Nương Nương,(4) Trong các sắc phong của Bà thường mang tước hiệu Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương.
Cũng giống như Quảng Nam, Đà Nẵng, ở Quảng Ngãi cũng không có nơinào thờ phụng riêng Bà, mà thường phối thờ với Thiên ya Na, Bà Ngũ hành,Thiên Hậu
Với những tư liệu biết được hiện nay, chúng ta có được những dị bảnhuyền thoại khác nhau về tục thờ Tứ Vị Thánh Nương, như gắn với triều thờiVua Hùng, sự tích gỗ thần ở Phương Cần (Hà Tĩnh) Thậm chí, Tạ Chí ĐạiTrừng cho rằng có mối liên hệ xa hơn giữa huyền thoại và tục thờ cúng Tứ Vị
Thánh Nương với tín ngưỡng cổ của người Chăm, đó là thần Po Riyak (Po
Rayak) là vị thần sông biển
Trang 81.3.2.2 Tục thờ Ngũ Hành Nương Nương - Bà Ngũ Hành
Ở miền Trung, Ngũ hành thường thờ ở miếu, gọi là miếu Ngũ hành Theo
hồi cố của các bậc già cả, xưa kia gần như làng nào cũng có miếu ngũ hành, naymất đi nhiều, chỉ còn một số nơi còn giữ được, như miếu Ngũ hành Nam Ô (ĐàNẵng), miếu Ngũ hành Cẩm Nam (Hội An), miếu Tân Hiệp (Cù Lao Chàm),miếu Ngũ Hành Tĩnh Thuỷ (Tam Kỳ) Còn lại đa phần phối thờ Ngũ hành vớiThiên Ya Na, như trường hợp phối thờ Ngũ hành với Thiên Ya Na ở miếu ĐạiĐiền (Núi Chúa) ở ngoại ô Nha Trang, Cổ Luỹ (Quảng Ngãi), Khuê Trung (ĐàNẵng)
Dân gian thường gọi gộp chung là Bà Ngũ Hành hay gọi tách riêng từng Bàtheo tước hiệu: Kim Đức Thánh Phi Tặng Chiếu Hiển Hiệu Ứng Trung ĐẳngThần, Mộc Đức Thánh Phi Tặng Thanh Tú Khởi Trực Trung Đẳng Thần, ThuỷĐức Thánh Phi Tôn Thần Gia Tặng Ôn Hậu Quang Trung, Hoả Đức Thánh PhiTôn Thần Gia Tặng Ôn Hậu Quang Trung Đẳng Thần, Thổ Đức Thánh Phi TặngHoằng Đại Hậu Trung Đẳng Thần Dân gian gọi tắt là: Bà Kim, Bà Mộc, BàHoả, Bà Thuỷ, Bà Thổ Nhiều nơi, gọi chung là Bà Ngũ Hành hay Ngũ Hànhthượng giới
Rất ít nơi còn thấy dạng thờ linh tượng Ngũ hành, như ở miếu thờ Bà chúaNgọc ở Đại Điền (Nha Trang) hay miếu Ngũ hành Cẩm Nam (Hội An) Ở CẩmNam, có năm tượng Bà Ngũ hành đặt trong khung kính, màu y phục mỗi Bàtương hợp với sắc màu của năm hành: Đen, đỏ, xanh, trắng, vàng Ở núi ĐạiĐiền (Nha Trang), tuy thờ thần chủ là Thiên Ya Na - Chúa Ngọc, nhưng phốithờ Ngũ Hành ở dạng linh tượng - tượng năm Bà mặc trang phục mang sắc ngũhành
Ngũ hành trong quan niệm dân gian liên quan tới mọi mặt của đời sống conngười, không kể người làm những nghề nghiệp khác nhau, như ngư nghiệp,nông nghiệp, thủ công nghiệp, buôn bán; không kể cư dân sống ở ven biển, dọcsông hay vùng đất bán sơn địa Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, những lăngmiếu thờ hay phối thờ Bà Ngũ hành thường tập trung ở ven biển, các lạch, cửa
Trang 9sông, vốn là nơi từ xa xưa, dù làm nghề đánh bắt cá hay trồng trọt thì cũng đềuquy tụ ở những nơi này Đặc biệt các làng làm nghề cá ven biển, nghề thủ công(làm muối, làm đường, làm gốm ) Người ta thờ Bà Ngũ hành và cầu mong Bàphù hộ độ trì trong việc làm ăn, cầu sức khoẻ, cầu may mắn, tránh rủi ro, hoạnnạn
Ở Trung Bộ, ngoài thờ chung Bà Ngũ hành ra, còn có hai Thần nữ được
thờ riêng, đó là Bà Thuỷ hay Thuỷ Long thần nữ và Bà Hoả Tuy nhiên, giữa hai
Bà này thì việc thờ Bà Thuỷ Long vẫn phổ biến hơn
1.3.2.3 Thờ Thiên Ya Na
Ở trung và nam Trung Bộ, Thiên Ya Na được thờ phụng như một Mẫuthần Dưới cái tên Pô Inư Nưgar, Bà vốn là một Mẫu thần, Thánh Mẫu, Thần Mẹcủa người Chăm, trước kia thờ chính ở tháp Bà Nha Trang, nay được thờ ởnhiều nơi trên đất Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng đất người Chăm đang sinhsống hiện nay Từ khi người Việt nam tiến vào miền trung, họ đã Việt hoá vị
thần mẹ Chăm để trở thành Mẫu thần Việt và gọi với các tên Thiên Ya Na thánh
Mẫu, Bà Chúa Ngọc
Nơi cực bắc thờ Thiên Ya Na là Huế, trong đó điển hình là điện Hòn Chén,tuy nhiên, như đã nói ở trên, Thiên Ya Na đã nhập vào hệ thống Tứ phủ, Tamphủ của hệ thống đạo Mẫu Bắc Bộ Tháp Bà Nha Trang, nơi thờ chính của PôInư Nưgar xưa nay là nơi thờ Thiên Ya Na của người Việt Oái oăm thay, một vịthần thôi, nhưng lại của hai dân tộc và mang hai danh xưng khác nhau: Pô InưNưgar của người Chăm và Thiên Ya Na của người Việt
Ngoài các nơi thờ phụng chính kể trên, suốt dọc Trung Bộ từ đèo Hải Vântới cực nam Trung Bộ, đâu đâu cũng có miếu, điện thờ Thiên Ya Na với các
danh thần khác nhau: Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Lồi, Bà Thu Bồn, Bà Bô Bô, Bà
Phường Chào, Bà Thân Xứ, Bà Chúa Tiên, Bà Trường, bà Mẹ Đất
Nghi thức thờ Mẫu ở Trung Bộ (trừ Huế là Mẫu Tam phủ) đều không có hệthống lên đồng, mà theo hồi cố xưa kia, chỉ có dạng múa bóng theo kiểu người
Trang 10Chăm, nhưng nay hầu như không còn nữa Các miếu, điện thờ thường là phốithờ nhiều vị nữ thần, trong đó Thiên Ya Na thường là thần.
1.3.3 Dạng thức thờ Mẫu ở Nam Bộ
Hiện nay, ở Nam Bộ chúng ta đều quan sát thấy sự hiện diện của cả ba lớpthờ Mẫu như đã trình bày ở trên: Lớp thờ Nữ thần, lớp Mẫu thần và lớp MẫuTam phủ, Tứ phủ Tuy nhiên, nếu như ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần
có sự phân biệt nhất định, mà biểu hiện rõ rệt nhất là thông qua tên gọi và xuấtthân của các vị thần, thì ở Nam Bộ có cảm giác sự phân biệt giữa hai lớp Nữthần và Mẫu thần thường ít rõ ràng hơn Thí dụ, nếu như ở Nam Bộ, Bà Chúa
Xứ, Bà Chúa Ngọc (Thiên Ya Na), Linh Sơn Thánh Mẫu - Bà Đen đựoc coi như
là nhưng Mẫu Thần và được tôn xưng là Thánh Mẫu, thì Bà Ngũ hành ( Kim,Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) trong đó đặc biệt là Bà Thuỷ Long, Bà Hoả thì là nữ thầnhay Mẫu thần? Hay trường hợp thờ cúng Bảy Bà (bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc,Chúa Xứ, Cửu Thiên huyền nữ, Thiên Hậu, Bà thuỷ, Bà Hồng, Nữ Oa) thì lạivừa có Mẫu thần và Nữ thần Tình trạng khó phân lớp giữa Nữ thần và Mẫu thầnnày ở Nam Bộ so với Bắc Bộ là hoàn toàn có thể giải thích được vì Nam Bộ làvùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ vừa mang các truyền thốngtín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống
từ trước, tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng văn hoá nói chung mà còn cả tínngưỡng nữa Đây cũng là một trong các đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu ở NamBộ
Do vậy, trên những nét đại lược nhất, có thể chọn ra trong những nữ thần
được thờ phụng ở Nam Bộ các vị nữ thần được tôn xưng là Mẫu thần, như Bà
Chúa Ngọc (Thiên Ya na), Bà Chúa Xứ, Bà Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu, Cửu Thiên huyền nữ (trong dó kể cả các biến dạng của các Mẫu thần
trên) Còn lại, các vị thần khác, như Bà Ngũ hành, Bà Thuỷ Long, Bà Hồng, Tứ
Vị Nương Nương, Trinh nữ Nương Nương, bà Chúa Động, tổ Cô đều là các
Nữ thần Sự phân biệt kể trên xuất phát từ hai tiêu chí, đó là: Các vị nữ thần
được coi là Mẫu thần là do vị trí được tôn vinh trong tâm thức dân gian cũng
Trang 11như hệ thống nghi lễ hàng năm nhân dân dành cho họ và Danh xưng của các vị
nữ thần này thường được gọi là Thánh Mẫu
Các vị thần được coi là Nữ thần hay Mẫu thần vừa nêu trên đều là kết quả
của quá trình giao lưu, hỗn dung văn hoá của nhiều lớp dân cư của người Khơ
me, Việt, Chăm, Hoa Đơn cử trường hợp Bà Chúa Ngọc vốn gốc là vị nữ thần
Pôn Inư Nưgar - Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm, mà nơi thờ tự chính là tháp BàNha Trang Sau này, khi người Việt đặt chân vào trung và nam Trung Bộ vớitruyền thống thờ Mẫu sẵn có từ quê hương nên đã Việt hoá vị thần Chăm nàyvới tên gọi mang chút chữ nghĩa là thánh Mẫu Thiên Ya Na, còn dân gian vẫngọi là Bà Chúa Ngọc, phổ biến từ Nha Trang ra tới Huế, trong đó Huế, với điệnHòn Chén được coi là nơi gặp gỡ giữa Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ Bắc vào và Bà
Mẹ Pôn Inư Nưgar của người Chăm từ nam ra Hiện nay, người Chăm khôngđến Tháp Bà Nha Trang để thờ phụng Bà Mẹ Xứ Sở của mình nữa, mà dichuyển nơi thờ chính của vị nữ thần này về Hữu Đức (Ninh Thuận) Khi ngườiViệt từ Trung Bộ vào Nam Bộ thì đã mang theo vị nữ thần Chăm đã Việt hoánày vào thờ phụng khá rộng rãi ở đây với linh tượng bà Chúa Ngọc với haingười con trai là Cậu Tài, Cậu Quý phối thờ hai bên
Bà Chúa Xứ và Linh Sơn thánh Mẫu-Bà Đen thì lại là kết quả giao lưu và
hỗn dung tín ngưỡng giữa người Việt và Khơ me Ai cũng rõ rằng, tiền thân của
Bà Chúa Xứ, Bà Đen của Khơ me và kể cả bà Pôn Inư Nagar của Chăm thì đềuthấy hình tượng thấp thoáng của Ấn Độ giáo, trong đó vai trò của Siva là nổibật Tuy nhiên, quá trình bản địa hoá văn hoá ấn Độ của người Khơ me và Chămtrên địa bàn Trung Bộ và Nam Bộ đã diễn ra trước khi người Việt đầu tiên cómặt Và sau đó, khi người Việt có mặt nơi đây thì họ lại Việt hoá các vị nữ thầnChăm và Khơ me này thành các vị nữ thần tôn kính của mình Trong công trìnhtrước kia của mình, chúng tôi đã có dịp bàn đến quá trình Việt hoá vị nữ thần
Khơ me này qua các chuỗi chuyển tiếp Kali - Bà Đinh - Bà Chúa Động - Bà
Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu Tất nhiên quá trình nhận thức sự chuyển tiếp này
cũng còn cần phải tiếp tục, nhưng một hiện tượng thường đập vào mắt các du
Trang 12khách là ở đền Bà Chúa Xứ, mà như trên đã nói vốn gốc là nữ thần Khơ me,không thấy có hiện tượng phối thờ Bà Đen, nhưng ở đền-chùa Linh Sơn ThánhMẫu ở núi Bà Đen, thì nơi chính điện, người ta thấy Bà Đen và Bà Chúa Xứngồi ngang nhau, một bà mặt đen (Bà Đen) và mặt trắng (Bà Chúa Xứ) Hơnnữa theo quan niệm dân gian ở đây, người ta coi Bà Đen và Bà Chúa Xứ là haichị em.
Với tâm thức thờ Mẫu từ quê hương là Bắc Bộ và Trung Bộ, người Việtvào Nam Bộ đã bắt gặp tục thờ nữ thần của người Khơ Me, đó là Bà NeangKhmau, một nữ thần Đất để tạo nên hình tượng bà Chúa Xứ mà ngày nay ngoàinơi thờ chính ở Núi Sam (An Giang), còn được dân gian thờ phụng ở hầu khắpNam Bộ trong phạm vi vùng, làng và thậm chí trong gia đình nữa Đây là vịMẫu thần có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp nhất ở Nam Bộ ngày nay
Còn một móc xích nữa mà nhân đây xin nêu là tại một ngôi đền lớn thờ Bà
Rá mà dân gian quen gọi là Bà Đen ở Phước Long (Bình Phuớc) lại phối thờlinh tượng Bà Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen và coi Bà Rá và Bà Đen- LinhSơn Thánh Mẫu là hai chị em, trong khi đó ở đền Linh Sơn Thánh Mẫu (TâyNinh) lại không phối thờ Bà Rá Xa hơn nữa, hé mở cho chúng ta mối quan hệgiữa Bà Chúa Xứ (An Giang) - Bà Đen (Tây Ninh) - Bà Rá (Phước Long) vớitục thờ Muk Juk (Bà Đen) của người Chăm ở phía đông nam trên địa bàn NinhThuận, Bình Thuận
Còn Thiên Hậu với rất nhiều đền, miếu, cung thờ Bà ở khắp Nam Bộ vàTrung Bộ thì do người Hoa di dân mang tới khoảng thế kỷ XVII Ở đây không
có sự Việt hoá Thiên Hậu của người Hoa, tuy nhiên, khi vào Việt Nam thì ThiênHậu không chỉ là vị thần bảo hộ của những người buôn bán trên biển mà đãmang đa chức năng hơn, khiến không chỉ người Hoa đến cầu cúng mà còn cảngười Việt, thậm chí có đền thờ Thiên Hậu ở Cà Mau lại do toàn người Việt địaphương đến hương khói, cầu xin sự phù hộ của Bà
Tính đa lớp trong tín ngưỡng thờ Mẫu là một đặc trưng chung trên phạm vi
cả nước, tuy nhiên, đặc trưng này thể hiện rất rõ, rất đậm trong tín ngưỡng thờ
Trang 13Mẫu ở Nam Bộ Trong đền thờ Bà Chúa Xứ ở Núi Sam hay Linh Sơn ThánhMẫu ở núi Bà Đen đều có những miếu nhỏ nằm ngoài điện thờ chính Nhìn vàokhông gian chật hẹp trong am miếu đó ta thấy hình tượng trụ đá tròn, trên đỉnh
có phủ tấm khăn đỏ, biểu tượng của Linga nguyên thuỷ, hai bên có tượng hayhai bát hương mà dân gian quan niệm đó là thờ Cậu (Cậu Tài, Cậu Quý) Bênngoài, người ta ghi đó là nơi thờ ông Tà hay Tà thần Nhìn vào hiện tượng thờcúng dân gian này chúng ta thấy ít nhất cũng có 4 lớp văn hoá - biểu tượng tiềm
ẩn: 1) Lớp thờ thần Siva của Ấn giáo biểu tượng bằng linga nguyên thuỷ, tồn tại
ít nhất từ thời vương quốc Phù Nam đã bị Ấn Độ hoá, 2) Người Khơ me đã dân
gian hoá linh tượng này thành biểu tượng của vị thần Nieak Tà, mà sau này
người Việt Việt hoá tên gọi thành ông Tà, vị thần mang lại mưa thuận, gió hoà,tránh rủi ro, dịch bệnh và cả cầu mong tình yêu nữa 3) Linh tượng này còn tiềm
ẩn lớp tín ngưỡng Chăm, với việc đồng nhất Linga với Pôn Inư Nưgar, mà hai
bên Bà luôn có linh tượng của hai con trai là cậu Tài và cậu Quý và 4) Người
Việt khi vào đây đã Việt hoá thành hình tượng thờ Cậu của đạo Mẫu, với tâm
thức lưỡng nguyên đực - cái / núi Bà - núi Cậu, mang lại sự phồn thực sinh sôi.Cũng như người Việt ở Bắc Bộ, trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần với
việc tiếp thu ảnh hưởng đạo giáo dân gian Trung Quốc đã ra đời đạo Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là hình thức phát triển cao nhất của tín
ngưỡng thờ Mẫu nói chung, nhất là từ thế kỷ XVI-XVII, trong điều kiện xã hộiViệt Nam thời đó xuất hiện Thánh mẫu Liễu Hạnh và bà đã trở thành vị thần chủcao nhất của Đạo Mẫu Việt Nam Và cũng từ đây, đạo Mẫu trở thành một tínngưỡng tôn giáo gắn với đời sống dân gian, thoả mãn ước vọng sức khoẻ, tàilộc, may mắm của con người
Những lớp cư dân Việt sớm nhất từ Bắc Bộ, bắc Trung Bộ vào trung, namTrung Bộ và Nam Bộ, khi mà ở Bắc Bộ đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ chưa thậthình thành và định hình, do vậy mà họ mang theo chủ yếu là tâm thức thờ Nữthần, Mẫu thần và khi vào vùng đất mới, nơi có người Chăm và Khơ me sinh
Trang 14sống, đã hỗn dung và tiếp thu tín ngưỡng người dân bản địa để hình thành nêncác lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần như đã nói ở trên.
Hiện tại, ở miền Trung, nhất là trung và nam Trung Bộ chưa thấy cơ sở đềnphủ thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và kèm theo nó là nghi lễ Hầu bóng, mặc dù ở đókhông ít nơi thờ Nữ thần và Mẫu thần, mà tiêu biểu là thờ Thiên Ya Na - BàChúa Ngọc Nhưng ở Nam Bộ thì lại khác, bên cạnh tín ngưỡng thờ Nữ thần vàMẫu thần thì ở nhiều nơi đã thấy các đền, điện thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ vàkèm theo là nghi lễ Hầu bóng.Theo điều tra bước đầu và có lễ còn xa với sự thậtthì ở Sài Gòn có 11 đền, điện, Bình Dương có 7 đền, điện, Đồng Nai có 4 đền,điện Ngoài ra còn thấy rải rác ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Lạt Vấn đề đặt ra là ai
và khi nào người Việt đã mang đạo Mẫu và kèm theo đó là nghi thức Hầu bóngvào Nam Bộ?
Nguyễn Chí Bền và Hồ Tường cho rằng trong thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt
là từ sau năm 1954, thì Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ phát triển ở Nam Bộ dongười Việt từ Bắc Bộ trực tiếp di cư mang vào (8) Cùng với việc du nhập đạoMẫu từ Bắc Bộ, hình thức thờ phụng các anh hùng dân tộc, đặc biệt là thờ ĐứcThánh Trần, một “cặp bài trùng” với đạo Mẫu cũng du nhập theo, khiến chonhiều nơi ở Nam Bộ, nhất là phía đông Nam Bộ phát triển hình thức tín ngưỡngnày Tất nhiên, như trên đã nói, cùng với đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và thờ ĐứcThánh Trần, thì nghi lễ Hầu bóng và lễ hội “tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗMẹ”, mà ở đây Mẹ là Thánh Mẫu, còn Cha là Đức Thánh Trần, một thứ NgọcHoàng của đạo giáo dân gian Việt Nam cũng dần phổ biến ở Nam Bộ
Về phương diện nghi lễ, ở Nam Bộ, nếu nơi nào có tục thờ Nữ thần và Mẫu
thần thì thường có diễn xướng hát bóng rỗi, còn nơi có đền phủ thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ thì có diễn xuớng Hầu bóng Về diễn xướng nghi lễ Hầu Bóng ở
Bắc Bộ và Nam Bộ đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới Đó là nghi
lễ nhập hồn nhiều lần của các thần linh vào thân xác các ông, bà đồng nhằm
cầu sức khoẻ, tài lộc, đó là một dạng thức của shaman giáo, tồn tại ở nhiều nước
trên thế giới Để thực hiện nghi thức mang tính shanan này, nó đã sản sinh và
Trang 15tích hợp các hiện tượng văn hoá nghệ thuật, như hát văn và nhạc chầu văn, múa
thiêng tạo nên một thứ sân khấu tâm linh, tượng trưng cho sự tái sinh và hiện
diện của thần linh Tam Phủ, Tứ phủ thông qua thân xác các ông đồng, bàđồng.Đối với hát bóng rỗi Nam Bộ có lẽ chúng ta chưa có được những nghiêncứu đi sâu vào bản chất tín ngưỡng tôn giáo của nó
1.4 Ý nghĩa tục thờ mẫu của người Việt
Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng mang đậm chất bản địa vànguyên thuỷ Bởi vì tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc sâu xa từ chế độ mẫu hệ,trong đó người mẹ, người vợ giữ vị trí quan trọng trong gia đình
Do vậy, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong văn chương nghệ thuậtthì chữ “Mẫu”, chữ “Mẹ”, chữ “Cái” vẫn giữ nguyên giá trị như nó vốn có chođến bây giờ
Cách bày biện của đền, phủ cũng khác với cách bày biện của chùa Nếunhư ở chùa người ta bố trí theo thứ tự sự tu hành của đạo Phật thì ở đền người tabài trí theo Tứ phủ, gồm có bốn cấp là Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Nhạc Mẫu và MẫuThoải Ở điện thờ Mẫu Thiên, người ta làm các cảnh sắc, mô hình thuộc về cõitrời Mẫu Địa thì đó là các cảnh núi non, bờ đất như ở đồng bằng rộng lớn NhạcMẫu thì họ làm các cảnh núi non, cây cỏ và các cô gái mặc áo chàm, còn ở điệnthờ Mẫu Thoải thì họ làm các mô hình bờ sông và các bè trôi nổi trên sông đó.Như vậy, cách bài trí trong điện thờ Mẫu của Tứ Phủ, đền đựợc mô tả theo tựnhiên của bốn hình thái cơ bản của địa lý và thiên văn có mối quan hệ gắn bómật thiết với cuộc sống con người
Cách bày biện của đền, phủ cũng khác với cách bày biện của chùa Nếunhư ở chùa người ta bố trí theo thứ tự sự tu hành của đạo Phật thì ở đền người tabài trí theo Tứ phủ, gồm có bốn cấp là Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Nhạc Mẫu và MẫuThoải Ở điện thờ Mẫu Thiên, người ta làm các cảnh sắc, mô hình thuộc về cõitrời Mẫu Địa thì đó là các cảnh núi non, bờ đất như ở đồng bằng rộng lớn NhạcMẫu thì họ làm các cảnh núi non, cây cỏ và các cô gái mặc áo chàm, còn ở điệnthờ Mẫu Thoải thì họ làm các mô hình bờ sông và các bè trôi nổi trên sông đó
Trang 16Như vậy, cách bài trí trong điện thờ Mẫu của Tứ Phủ, đền đựợc mô tả theo tựnhiên của bốn hình thái cơ bản của địa lý và thiên văn có mối quan hệ gắn bómật thiết với cuộc sống con người
Thường ra, đạo Mẫu cũng vẫn chịu ảnh hưởng của đạo Phật cho nên trêncùng của điện thờ Mẫu có tượng phật để thờ thêm Cũng cần phải nhấn mạnhthêm sự ảnh hưởng sâu rộng của tín ngưỡng thờ Mẫu-tín ngưỡng bản địa với cáctín ngưỡng khác du nhập từ bên ngoài vào theo con đường khởi nguyên từ dângian như Phật giáo-một tín ngưỡng đã được nhân dân lao động hồ hởi đón nhậnngay từ khi mới được truyền bá vào nước ta (khoảng thế kỷ thứ VI) để thấyđược vai trò của người phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là trong nền nghệ thuật củanước nhà Trong quá trình tín ngưỡng thờ Phật du nhập vào nước ta, các bộ phậnquan trọng của tín ngưỡng này đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hóagiữa tín ngưỡng thờ Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thuảnh hưởng lẫn nhau Điều dễ nhận biết nhất là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay
ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu Trong đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậuMẫu” Người ta đi chùa vừa để lễ Phật, vừa để cúng Mẫu Nhiều khi điện Mẫu
đã tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng ỞBắc Giang, phần lớn các ngôi chùa đều có ban thờ Mẫu, tiêu biểu là khu thắngcảnh Suối Mỡ, huyện Lục Nam trong đó có các di tích nổi tiếng như đền Hạ, đềnTrung, đền Thượng lại thờ Mẫu là chính, trong đền có những tượng Mẫu rất đẹp
cả về mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình
Không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa, mà còn có con đườngngược lại Phật đi vào đền, phủ thờ Mẫu Trong điện thần cũng như cách thứcphối tự ở các ngôi đền, phủ ta đều thấy sự hiện diện của Phật, mà đại diện caonhất là Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh Cũng cần phải nhấnmạnh rằng: Quan Âm trong Phật giáo Ấn Độ vốn là một nam thần, nhưng khiqua Trung Quốc vào nước ta đã bị “nữ thần hóa”, thậm chí “Mẫu hóa” để trởthành Quan Âm Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam Trong cácngày giỗ Mẫu, giỗ Mẹ đều có nghi thức rước Mẫu lên chùa để đón Phật về đền,
Trang 17phủ cùng tham dự ngày hội Trong hệ thống các bài chầu văn thì có văn chầu nhị
vị Bồ Tát… Điều đó chứng tỏ vai trò của người phụ nữ được khẳng định từ xưa.Trong các truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa (tức Thánh Mẫu LiễuHạnh) có truyền thuyết ghi rõ sự tích Sòng Sơn đại chiến Truyền thuyết kể rằngtrong lúc Mẫu Liễu Hạnh đang ở vào tình thế nguy kịch bởi sự truy sát của cácđạo sĩ phái Đạo Nội thì Phật Bà Quan Âm đã hiện ra và ra tay cứu độ, giải thoátcho Liễu Hạnh công chúa Từ đó Thánh Mẫu Liễu Hạnh quy Yên Dũng, nghekinh tuân pháp, chuyển hóa từ bi theo gương Phật
Sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫutheo khuynh hướng dân gian hóa là điều dễ hiểu bởi lẽ, đó là tín ngưỡng dân dãcủa người dân, cùng hướng về cái từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyếnthiện trừ ác vốn là nền tảng trong nguyên tắc ứng xử của xã hội cổ truyền Haithứ tín ngưỡng này bổ sung cho nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của người nôngdân: Theo Phật để tu nhân tích đức cho đời, kiếp sau được lên cõi Niết Bàn đểcuộc sống tươi sáng hơn, tự do hơn, còn theo đạo Mẫu là mong được sự phù hộ
độ trì đem lại sức khỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống thường ngày
Tính dân gian của tục thờ Thánh Mẫu ở nước ta thể hiện dưới nhiều dạngkhác nhau, trong đó tranh thờ Mẫu là một trong những dạng thức biểu hiện sinhđộng về điều đó Ở Việt Nam, tranh thờ Mẫu phong phú về đề tài và nghệ thuậttạo hình Tuy nhiên, điều dễ nhận biết nhất ở thể loại tranh này là tính nhân dânvừa giản dị vừa gần gũi lại dễ hiểu Trong bộ tranh Tam Phủ, Tứ Phủ của tínngưỡng thờ Mẫu, ngoài các vị Ngọc Hoàng Thượng Đế, các bà chúa là nhữngngười cai quản giang sơn riêng được đặt ở trung tâm bức tranh chiếm tỷ lệ vượttrội thì ở xung quanh và ở dưới còn thấy rất nhiều những “Cô”, những “Cậu”đứng hầu Những “Cô” và “Cậu” này có tỷ lệ nhỏ hơn Đây hẳn có mối quan hệgiữa tín ngưỡng thờ Mẫu với tục thờ gia tiên của người Việt từ ngàn xưa Trong
đó, các “Cô”, các “Cậu” ấy cũng chính là các bà cô, ông mãnh, các thiện nam,tín nữ đã mất từ rất sớm mà chưa kịp làm phận sự của một con người mà ít giađình nào không có Lại thấy trong các tranh này các “Cô”, các “Cậu” trên tay
Trang 18cầm hoặc bưng các thứ đồ vật như khay trầu, gương, lược, hoa quả… là nhữngthứ các bà, các cô ở Việt Nam dùng thường nhật hoặc sai các con, các cháu cầmgiúp, điều đó đã tạo nên một không gian đầm ấm và thanh bình Tranh thờ Bàchúa Thượng Ngàn ở đồng bằng Bắc Bộ là một ví dụ điển hình Như vậy có thểthấy giá trị cơ bản nhất trong tranh tượng thờ Mẫu chính là ở sự dân gian hóacác bức tranh thờ, tượng thờ ở mức độ khái quát nhất, tiêu biểu nhất để trở thànhsức mạnh tâm linh, sức mạnh tinh thần cho con người Bởi thế bất kỳ ai khi đếnvới các đền phủ thờ Mẫu, được chiêm bái trước tranh thờ, tượng thờ, các cảnhvật và hương sắc trong đền, phủ đều thấy rất gần gũi, ấm áp, thanh bình.
Ngoài ra, các nghi thức của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng rất gần với các nghithức trang trí của dân gian Trong đền, phủ ta thấy có đủ các nón ba tầm, kiệu,võng đến các đồ dùng trong sinh hoạt thường ngày vẫn thấy trong các nhà dânViệt Nam xưa mà những người phụ nữ thường dùng như khay đựng trầu, cau,nón, quạt, ấm nước… Tất cả các đồ vật này chủ yếu được làm bằng giấy, đó làcác thứ giấy tráng kim rực rỡ mà mềm mại, duyên dáng rất phù hợp với tínhcách nữ Màu sắc trong đền, phủ thường dùng các màu sặc sỡ, chủ yếu là 5 màuchính: Xanh, trắng, vàng, đỏ, đen tức “Ngũ sắc” Năm màu này được thể hiện rõnhất trong hình tượng Thánh Mẫu gắn với các chức năng của họ như MẫuThượng Thiên thường dùng y phục màu xanh, Mẫu Địa thì màu vàng… Tất cảcác yếu tố ấy đều tương ứng với thuyết “Ngũ phương”, “Ngũ hành” là nhữngthuyết mang đậm chất văn hóa của các dân tộc Á Đông Các hình thức này giúpngười ta hình dung một không gian với những vẻ đẹp của trần gian và nhữnghình thức của đền, phủ cũng là những hình thức quen thuộc trong sinh hoạt củangười nông dân trong cộng đồng Việt Nam
Về các điệu múa được sử dụng trong các lễ hội đền, phủ thờ Mẫu cũngmang tính dân gian Việt Nam rất rõ, nhất là dạng múa của phụ nữ Có thể chỉ làbận các áo chàm, áo mớ bảy, mớ ba và họ múa những điệu múa giống như múachèo nhưng nhịp điệu, lời ca lại hợp với nhạc cung văn Có những điệu múa màngười múa đội trên đầu cả một mâm hoa quả nhưng họ rất mềm mại uyển
Trang 19chuyển không làm rơi, đổ các thứ lễ bày trên mâm đó Và những bước đi, nhưngnhịp điệu mềm mại, uyển chuyển của các động tác, lời ca hết sức cô đúc, nhuầnnhị và gây ấn tượng hết sức mạnh mẽ của sự múa ấy lại được cung văn tấu lêncác thứ nhạc có nhịp điệu vui nhộn làm cho không khí của các ngày lễ hội đền,phủ Mẫu thêm tưng bừng Mặt khác, nếu chúng ta hiểu sâu về đạo Mẫu chúng ta
sẽ tìm thấy những giá trị mang tính nhân văn tốt đẹp trong phong tục tập quáncủa tổ tiên ta từ xa xưa truyền lại, đồng thời góp phần ngăn chặn kịp thời nhữngbiểu hiện sai lệch tín ngưỡng thờ Mẫu và làm ảnh hưởng không tốt đến nhiềungười
Tín ngưỡng thờ mẫu là sự tôn vinh những vị nữ thần được cho là có khảnăng siêu phàm, có thể điều khiển được tự nhiên vốn mang tính quy luật Trongquá trình mưu sinh tìm nguồn sống, con người luôn vẫn phải dựa vào thiênnhiên, vì thế họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao, là mẫu, vàthờ mẫu với mong muốn mẫu sẽ bảo trợ và che chở cho sự sống con người, làcứu cánh của mọi khổ đau, bất hạnh
Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần quan trọng vào việc bảo tồn vàphát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Đó là các phong tục tậpquán có từ lâu đời từng hun đúc lên sức mạnh của nhân dân trong lịch sử dựngnước và giữ nước của dân tộc; là nền tảng đạo đức trong cách thức ứng xử giữacon người với con người, được thể hiện ở sự kính trọng với những người đã sinhthành ra mình, những người có công với dân, với nước Tất cả những nghi lễ, tậptục cổ truyền tốt đẹp cần phải được giữ gìn và phát huy trong xu thế toàn cầuhóa trên mọi lĩnh vực đang phát triển nhanh, mạnh và rộng khắp nhưng khônglàm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống
Trang 20II.TỤC ĐỐT VÀNG MÃ 2.1 Khái niệm
Đồ mã là khái niệm chỉ chung những đồ làm bằng giấy và có thể đốt điđược Nó liên quan đến quan niệm, muốn người âm nhận được thì đồ lễ phảiđược đốt (hóa) sau khi dâng cúng, vì thế, đồ mã không thể làm bằng gỗ hay vậtliệu khác Đồ mã chính là những thứ vật dụng như nhà, xe, voi, ngựa, đồ đạc,hình nhân bằng giấy Còn vàng mã là những thỏi vàng, bạc hay tiền địa phủ(sau này người ta in giống như tiền thật)
Đốt vàng mã là nghi thức được thực hiện một cách trân trọng và thànhkính trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, hành động này được coi là phươngtiện thể hiện “sự giao tiếp của con người với thế giới siêu nhiên "
2000 năm trước Công nguyên) Từ quan niệm này, hình thành tín ngưỡng ngườichết cũng giống như người sống, tức cần phải có những nhu yếu phẩm cần dùngtrong cuộc sống Cho nên sau khi chết đi thì thân nhân người quá cố sẽ chôntheo nhưng vật dụng cần dùng mà trong đó có cả tiền bạc Khám phá từ các cuộckhai quật của các ngành khảo cổ đã xác quyết điều này Tuy nhiên, về sau,người ta thấy rằng chôn tiền và vật dụng thật thì quá lãng phí nên dần dần hìnhthành quan niệm đốt tiền và đồ dùng bằng giấy để cho người chết sử dụng Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy: Vào thời vua Đạt Tônnhà Đường (762) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên làĐạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã củangười dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở
Trang 21âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc
lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu cácvong nhân dùng.Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lờitâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ Thế là nhân dân Trung Hoa lạiđược dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên.Như vậy, chúng ta đã xác quyết tục lệ đốt vàng mã là tập tục của ngườiTrung Hoa có nguồn gốc từ thời cổ đại Tục lệ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến đờisống tinh thần của người dân Trung Hoa và các nước chịu ảnh hưởng của vănminh Trung Hoa, trong đó có Việt Nam Căn nguyên của tục lệ này là niềm tin
có một đời sống khác sau khi chết, cộng với lòng hiếu thảo, bổn phận và tráchnhiệm, ước mong được đầy đủ, sung túc của người sống đối với người chết KhiPhật giáo truyền sang Trung Hoa và Việt Nam, với truyền thống hiếu đạo, uốngnước nhớ nguồn, tri ân và báo ân của người con Phật cùng với sự tôn trọng tậptục của người dân bản địa cho nên trong nghi lễ hiếu sự của người bình dân vàthậm chí với một số Phật tử tại gia thiếu chánh tín còn có tục lệ đốt vàng mã
Ở Việt Nam, tập tục đốt vàng mã đã phát triển rất phổ biến ở miền Bắctrước khi diễn ra phong trào chấn hưng Phật giáo
Đồ mã đương thời đa dạng về chủng loại, hiện đại về loại hình, tinh xảo về
mỹ thuật Chi phí cho đồ mã phụ thuộc vào sự đa dạng, sự hiện đại và sự tinhxảo của đồ mã.Với quan niệm “trần sao âm vậy”, người ta đã đốt, đã hoá, đã gửi
đủ loại đồ mã xuống cõi âm Phủ cho người thân, cho tổ tiên, trong đó chủ yếu lànhững vật dụng trong gia đình mà người thân khi còn sống thường dùng, chẳnghạn như: “ xe cao su, giường Hồng Kông, màn lan tiêu, đồ chè chén mẫu, chỗ
ăn, chỗ ngồi đủ hết, không sót một thứ gì Mà làm giống như hệt, làm hàngtháng mới xong, tốn kể bạc nghìn”.Trong một số trường hợp, có lẽ là ở nhữnggia đình giàu có, đồ mã gửi xuống Cõi Âm cho người thân, ngoài những vậtdụng thông thường, còn cả vật nuôi trong nhà lẫn con sen người ở
Trang 222.3 Tục đốt Vàng Mã trong trong đời sống văn hóa người Việt
Tại Việt Nam, tục lệ đốt vàng mã trong các dịp cúng lễ đã và đang pháttriển mạnh, thậm chí đốt vàng mã còn là một nghi thức không thể thiếu, trởthành hủ tục trong văn hóa tâm linh người Việt
Theo quan niệm dân gian, tháng 7 âm lịch là dịp để đốt vàng mã gửi chongười đã mất Việc đốt vàng mã đã trở thành tục lệ lâu đời trong đời sống tâmlinh người Việt Từ cách nghĩ “trần sao âm vậy”, nhiều người tin rằng: nhữngngười đã chết không phải đã “mất” mà họ vẫn tồn tại trong một thế giới đâu đónhư vẫn còn sợi dây liên hệ vô hình với người đang sống Tín ngưỡng đó cũng
có tác dụng nhắc nhở con cháu nhớ về tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn”
Như vậy, ý nghĩa sâu xa của tục đốt vàng mã, tự nó đã phản ánh tâm thứcnhân sinh đáng trân trọng trong đời sống tinh thần người Việt Tuy nhiên, khôngphải lúc nào tục đốt vàng mã cũng được sử dụng với ý nghĩa tích cực
Có những người vì “phú quý sinh lễ nghĩa”, hoặc vì mù quáng tin vàonhững “ông thầy, bà cốt” mà đã đốt không biết bao nhiêu tiền vàng kim ngân, vô
số ngựa tía, thuyền rồng, kiệu vàng hay hình nhân thế mạng để cúng tế, vớimột khát vọng ngây thơ rằng nhờ đó có thể thay đổi số phận hoặc hiện trạngcuộc sống của mình Và riêng tại Hà Nội, hàng trăm tỉ đồng đã được chi ra đểmua ngựa, xe, nhà cửa,… để đốt trong dịp Xá tội vong nhân Người ta sẵn sàngđốt vàng mã ở khắp nơi, từ gia đình, đến chùa chiền, miếu, thậm chí ngay cả ởcông sở, cơ quan … dẫn đến sự lãng phí tiền của một cách không cần thiết.Lợi dụng sự mê tín của nhiều người mà bây giờ các nhà sản xuất hàng mãcho ra thị trường hàng mã các sản phẩm vô cùng phong phú và đa dạng từ nhàlầu, xe hơi, điện thoại di động, xe gắn máy…Theo số liệu thống kê, trung bìnhmột năm có khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng và riêng Hà Nội đã tiêutốn trên 400 tỷ đồng cho việc đốt vàng mã - những con số này đã khiến không ítngười phải giật mình Số tiền đó đủ để 8.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng hoặcgia đình chính sách neo đơn có được ngôi nhà tình nghĩa, che mưa, che nắng Số
Trang 23tiền đó đủ để xây hàng trăm cây cầu treo qua suối cho các cô, trò ở vùng sâu,vùng xa khỏi phải vật lộn giữa cái sống và chết trên đường tới trường Số tiền đó
đủ để hàng chục nghìn em nhỏ có thuốc để giành lại sự sống từ những căn bệnhhiểm nghèo
Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Tổng thư ký Giáo hội Phật giáo ViệtNam cho biết: “Thực chất đốt vàng mã không phải là hành động báo hiếu mùa
Vu Lan mà là một sự lãng phí Xã hội hiện nay đang nghĩ rằng việc đốt vàng
mã, nhà cửa, xe cộ là để thể hiện tình cảm và là sự trao đổi với người âm để phù
hộ cho những mưu cầu của mình, đó là một cách hiểu sai”
Như vậy, từ một tín ngưỡng, với cội nguồn tâm linh nhân văn, giờ đâycuốn theo cơn lốc “tác dụng phụ” của kinh tế thị trường, tục đốt vàng mã đangtrở thành một vấn nạn xã hội đang bị phê phán, ngăn chặn
2.4 Ý nghĩa của tục đốt Vàng Mã
Tục đốt vàng mã được hình thành, phát triển cách đây hàng ngàn năm, đốtvàng mã đã trở thành tập quán mang ý nghĩa văn hoá - tinh thần, là nghi lễkhông thể thiếu trong bất kỳ một hình thức tế lễ, thờ cúng nào của gia đình, củadân tộc Việc thể hiện tấm lòng, ngưỡng mộ, tôn kính đối tổ tiên, với người đãkhuất, với những người có công đối với quê hương đất nước - chúng ta cần phảitrân trọng Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay tập tục này phần nào đã vượt quakhỏi giới hạn của tín ngưỡng văn hoá và đang dần hướng về chủ nghĩa mê tín -sùng bái Để phong tục này phát huy giá trị của nó trong đời sống tinh thần củangười dân thì cần phải có những điều chính đúng hướng, phù hợp với xu thếphát triển, như vậy mới tránh được lãng phí về kinh tế, hạn chế sự mê tín và gópphần củng cố, xây dựng một môi trường văn hoá lành mạnh, văn minh, ý nghĩahơn
Và tục đốt vàng mã không chỉ còn nằm trong phạm vi nghi lễ tại gia đình,
tế lễ ở chùa, đền mà đã vựợt ra khỏi khuôn khổ đó Hàng mã được sử dụng ngàycàng nhiều, hàng mã được bán nhiều nơi và trở thành một mặt hàng có tínhthương mại Nó không chỉ là vài đinh tiền vàng, mà đã có nhiều loại hình như:
Trang 24nhà lầu, xe hơi, ti vi, xe máy, vi tính và những đồ cao cấp mang tính thờithượng.v.v Có một điều mà bất cứ ai cũng rõ việc mua hàng mã đều phụ thuộchoàn toàn vào người bán và người chủ trì làm lễ (thầy cúng), họ bảo mua thứhàng nào thì chủ nhân chỉ việc mua, người mua không mặc cả, nếu mặc cả thìthiếu lòng thành và sẽ bị người thuộc thế giới bên kia oán trách Việc đốt hàng
mã còn tạo nên nhiều điều ảo tưởng, sự mơ hồ về những niềm tin không giớihạn… Điều này đã khiến cho những người không hiểu rõ ý nghĩa của tục đốthàng mã thì thi đua nhau, gia đình nào eo hẹp kinh tế không đốt được nhiềuvàng bạc, tài sản cho thần thánh, cha mẹ, người thân thì buồn tủi, do đó cố gắngsắm cho đủ các bộ hàng mã để đốt ngang bằng với bà con lối xóm Cũng không
ít người đốt vàng mã tại các đền, chùa là những đồ mã đắt tiền nhưng chưa hẳn
là thể hiện hết tấm lòng thành mà chỉ để cầu xin các vị thần linh phù hộ sắmđược xe hơi đắt tiền, những ngôi nhà cao to và phúc, lộc sẽ về đầy…
Việc đốt vàng mã cho tổ tiên là không sai, nhưng nếu đốt vàng mã thái quá,cùng với những mong muốn được người âm trợ lực cho kinh tế hay thăng quantiến chức lại trở thành hủ tục, không chỉ gây lãng phí tiền của mà còn gây ra sự ônhiễm môi trường, gây mất trật tự an toàn xã hội
Trang 25III TỤC LÊN ĐỒNG ( HẦU ĐỒNG) 3.1 Khái niệm
Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thứctrong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong
đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp vớithần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng) Người ta tinrằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằmphán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ
tử Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn làmình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ
3.2 Nguồn gốc của tục Lên Đồng( Hầu Đồng)
Hầu đồng thực chất là một trong những tín ngưỡng văn hóa có từ lâu đờiliên quan đến tục thờ Mẫu của người Việt cổ Người Việt quan niệm có bốn thếgiới tồn tại: trên trời (Thiên Phủ); dưới đất (Địa Phủ); dưới nước (Thoải Phủ);trên rừng (Nhạc Phủ) Mỗi thế giới đều do một người đàn bà cai quản gọi là cácMẫu, các mẫu đều không có tên, duy mẫu Liễu Hạnh là mẫu Thượng Thiên danhtính đầy đủ.Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng lànam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng" "Cậu"thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như congái) Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầudâng) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt Trong một buổi lênđồng thì có rất nhiều "giá" Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấmkhăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phảithay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng sao cho tươngxứng với "giá" này Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì làmột quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăngnhảy múa Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của
"giá" "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì
Trang 26múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa taykhông, múa cờ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múakhăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân Nghi
lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan,Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khilên tới 36 giá
Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ởdưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câuhát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho nhữngngười xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xungquanh nhặt lấy cất giữ để lấy may Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc
là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới.Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trốngchầu,chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là nơi hay tổ chức lênđồng nhiều nhất
Nếu múa trong Hầu bóng là múa của thần linh, biểu tượng của sự tái hiệncủa thần linh trong thân xác các ông đồng, bà đồng, vậy múa bóng là múa củathần linh hay múa của con người dâng lễ trước thần linh? Có hay không hình
thức nhập hồn hay thoát hồn trong hát - múa bóng rỗi? Nguồn gốc của tục hát
bóng rỗi ở Nam Bộ? Trong hoàn cảnh xã hội nào mà Hát bóng Nam Bộ pháttriển theo hướng giảm dần tính nghi lễ, tính thiêng để trở thành diễn xướngmang tính tạp kỹ? Những giá trị văn hoá nghệ thuật của hát bóng rỗi là gì? Đó
là những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải trả lời
Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâmcác bài thơ cổ Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiềncho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầunước Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươmhoặc bơi thuyền Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơithuyền rồng" là để chỉ sự này
Trang 27Hầu bóng, lên đồng khác hẳn gọi hồn Diễn xướng hầu bóng giống mộtchiếu chèo thuở xưa, chỉ có điều hầu bóng là tín ngưỡng tâm linh còn hát chèo làloại hình giải trí, văn nghệ.Hầu bóng có nhạc hát, múa (diễn), trang phục chocác giá cũng rất đặc biệt về nghệ thuật trang trí Trong 36 giá đồng điệu múakhác nhau, lời hát văn, y phục cũng khác nhau Một thầy đồng hoặc cô đồng độcdiễn qua các giá cho thấy điều đó: Giá quan giá chầu chân bước nghiêm cẩnkhép nép, giá cô bé nhí nhảnh chân sáo, giá ông hoàng thì khoáng hoạt Tất cảđều có qui phạm Một thầy đồng có thể diễn 36 vai khác nhau trong nhiều giờ.Người theo cửa phủ phải nhiều năm hầu thánh rồi thuộc nằm lòng các vaiquan, vai cô, vai cậu, vai ông hoàng bà chúa mới có thể ngồi đồng Có ngườiphải mất 20 năm mới có thể ngồi giá Học là học theo lối dân gian như thế.
Hầu đồng cũng có hội thân thiết với nhau dù chẳng có hội trưởng Tronggiá hầu, tứ trụ là những người phục vụ cho thầy đồng, đều là người giỏi hầuđồng cả Tứ trụ gồm bốn người ngồi bốn bên- người lo thay xiêm y, người lo đốtnhang rót rượu sắp lễ, người lo tung khăn trùm đầu cho giá hồi cung, người loviệc ban phát lộc cho con nhang đệ tử Khi ông hoàng bà chúa cô cậu dùng tràthưởng rượu, hút thuốc thì nâng quạt che chắn kín đáo Cho nên có lúc thầyđồng lại làm tứ trụ cho người khác trong một lần hầu đồng khác
Các nhà nghiên cứu hầu như đã làm rõ được giá trị văn hóa trong tínngưỡng hầu bóng, xem ra chẳng cần bàn lại Còn chuyện lợi dụng hầu bónghành nghề mê tín lại là chuyện khác Cho nên bàn chuyện cấm hầu bóng lúc nàyxem ra hơi thừa? Nếu cấm hầu bóng, lên đồng trong các điện thờ nhưng lại ủng
hộ hầu bóng, diễn xướng tại những khu vui chơi du lịch thì là chuyện lạ đời
Có câu “là người chứ có phải thánh đâu” Trong quan niệm đó, thánh là sựtoàn mĩ Người được ví như thánh thì tốt đẹp từ lúc sinh ra đến khi khuất núi.Thánh như vậy khác xa thánh trong tín ngưỡng dân gian
Trong hầu bóng, xem kĩ các giá hầu mới thấy thánh trong Tứ phủ thật sựrất đời Và qua các giá đồng từ giá chầu, giá quan, giá ông hoàng bà chúa, đếngiá cô bé, chuyện các vị thánh dâng rượu, vểnh râu cáo dùng trà chuốc rượu,
Trang 28thuốc xái diễn ra trong từng giá đồng Thánh cũng thích nghe nịnh Khi cungvăn đàn ngọt, hát câu chầu lọt tai là thánh sướng rên, chau mày vỗ gối, rút tiềnthưởng kịp thời.
Trong tín ngưỡng hầu đồng, thánh giống như con người ngoài đời- ngoàicông quả thì cũng đầy tật xấu, mà chẳng cần giấu diếm ai.Những người theo tínngưỡng này thường có căn cốt tự nhiên Không phải ai cũng theo hầu đồngđược Người có căn có cốt, nghe tiếng đàn, lời hát chầu là như bị thôi miên.Những người như thế gọi là có căn đồng bóng
3.3 Ý nghĩa của tục Lên Đồng
Hầu đồng (lên đồng) mang ý nghĩa tôn vinh công trạng của các nhân vậttrong lịch sử dưới hình thức diễn xướng, thể hiện giá trị nghệ thuật qua phầnnghi lễ và hát văn.Ca ngợi công tích, đức độ của Mẫu và thánh thần.Giữ gìn cáchình thức diễn xướng trong dân gian
Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tínngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt Các nghi lễ này thường được tổchức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đềnthánh, phủ mẫu Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thốngtín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫncòn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống Do đó, khi lên đồng, linhhồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để tròchuyện với thân nhân đang sống Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này,người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điềuchỉnh và cúng xin cho phù hợp Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, ngườisống cũng biết được vận mạng tương lai của mình
Một thực tế không thể phủ nhận: càng ngày hầu bóng càng nhiều trong đờisống văn hóa xã hội Đến nỗi ở nhiều làng quê, không có tiền mời cung vănngười ta phải bật băng có thu 36 giá đồng lên để hầu Còn trong các đoàn nghệthuật cổ truyền gần đây thường đưa thêm tiết mục “3 giá đồng vào” cuối cácchương trình biểu diễn.Người xem luôn cảm thấy hứng thú, và đôi khi đó chính
Trang 29là một tiết mục để nhiều dư vị nhất, nếu không thuộc phạm vi thưởng thứcchuyên môn Có lẽ bên cạnh những ý nghĩa văn hóa cổ truyền của chuyện hầubóng, mọi người cũng nên nhìn nhận thêm một khía cạnh giải tỏa stress của nó,trong cuộc sống hàng ngày vốn nhiều bức xúc
Trang 30IV TỤC HIẾN SINH ( Lễ Đâm Trâu của các dân tộc Tây Nguyên) 4.1 Khái niệm
Tục hiến sinh có nghĩa là sử dụng một loài vật ( con vật sống ) để dâng lênthần linh nhằm tạ ơn, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với cuộc sống củacộng đồng cư dân
Lễ đâm trâu, có nơi còn gọi là lễ ăn trâu Đây là lễ hiến sinh, là sự "thôngquan" giữa con người với giàng và thần linh, là lời cảm ơn giàng (trời), cảm ơnthần linh đã cho mưa thuận gió hoà, đã giúp cho dân làng ngăn cản muông thú,chim chóc không phá hoại rẫy nương, cho mùa màng tươi tốt, dân làng sống hoàthuận, vui vẻ, không xảy ra dịch bệnh
4.2 Nguồn gốc của lễ Đâm Trâu
Nguồn gốc cuộc vui cộng đồng từ xưa cha ông gọi là lễ hội ấy có từ baogiờ chưa ai biết, chỉ biết trong hệ thống lễ hội nông nghiệp rải rác khép kín chu
kỳ sản xuất ở Tây nguyên, lễ hội đâm trâu có lâu đời, được xem là lễ hội lớnphản ánh mối quan hệ biện chứng giữa con trâu - SapaKô - cây lúa - sự ấm no -
Trang 31Có ba vật thể hiện tâm linh của Lễ đâm trâu tại Tây Nguyên, đó là câynêu, Chiếc “gu” treo ở xà nhà; “Lá vang” Cây nêu (hay còn gọi là cây cột lễ)
là trung tâm của lễ đâm trâu Nó vừa là chiếc cột để buộc con trâu tế, vừa là
“cây hoa” trang trí, làm cầu nối giữa thế giới thần linh với con người Cây nêuphướn cao tới 14m Gốc nêu là nơi trang trí đẹp nhất với chiếc “mâm thần” xoèrộng Trên đó, vẽ nhiều loại hoa văn bằng 3 màu: đen, đỏ, trắng là gam màutrang trí truyền thống của người Co Thân nêu chạm khắc nhiều hình ảnh sinhđộng như thỏ, rùa, chim bay, cá lượn, bướm đậu cành hoa, khỉ ngồi gốc quếv.v… Ngọn nêu là những lá phướn đan bằng sợi giang xoè ra rất đẹp Nhữngbông hoa kết bằng xơ vỏ cây được điểm xuyết cũng góp phần làm cho cây nêuthêm rực rỡ Trên đỉnh cây nêu là hình tượng chim chèo bẻo (Sip lít) và phượnghoàng đất (Sip rak) làm bằng gỗ tượng trưng cho tinh thần thượng võ của người
Co cũng là linh vật được thờ cúng
Chiếc “gu” treo ở xà nhà là nơi ngự trị của thần linh Nó mang dáng dấpmột bông hoa xoè 8 cánh với 16 mảng hoa văn khác nhau Ngoài ra, còn có chúkhỉ bằng gỗ và một con chim đại bàng xoè cánh, được treo trước cửa ra vào,hình thức giống như con rối Khi bước lên thêm mọi người giẫm vào thanh tre
có sợi dây nối với chú khỉ làm chú giơ tay, gật đầu chào khách, còn chim đạibàng thì vỗ cánh như thật
“Lá vang” là những tấm ván gỗ được chạm khắc tinh xảo treo ở gian chínhgiữa giống như bức đại tự trong nhà cổ người Việt Thực chất là bức tranh liênhoàn phản ánh đời sống sinh hoạt, văn hoá, phong tục tập quán của người Cobằng một thứ ngôn ngữ hội háo rất sinh động Thần lửa vị thần trông coi việclàm ăn sinh sống của gia đình Vì Thần luôn bận mãi việc bếp núc nên khôngthấy được quang cảnh lễ hội vui vẻ bên ngoài nên thường thì dân làng làm tấm
“lá vang” treo ở cửa bếp mô tả hoành tráng về quang cảnh một lễ hội đâm trâu
Trang 324.3 Lễ đâm Trâu trong đời sống văn hóa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy bà con dân tộc thiểu số ở các buôn làngthuộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên và một số vùng khác lại tổ chức lễ hộithần Ndu và các vị thần khác nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ, độ trì cho bàcon dân làng trong một năm qua, bà con làm ăn được mùa, con cháu khoẻmạnh Đó chính là lễ “Sa-rơpu” (ăn trâu ) mà người miền xuôi thường gọi là tếtThượng hay lễ Đâm Trâu được tổ chức từ tháng 12 cho đến tháng 3 âm lịch
Lễ hội Đâm trâu với biểu tượng “cây nêu thần” là một sinh hoạt văn hoádân gian nổi bật nhất, mang tính tổng hợp cao, có ý tưởng mong muốn cuộcsống ấm no, hạnh phúc, trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội củabuôn làng như lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng được mùa Đây lànhững ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống, thể hiện rõ yếu
tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, thần linh được gắn với nhau chặt chẽ, là sự
kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Tây Nguyên Nhiều loại hình dângian được huy động tham gia vào lễ hội này như âm nhạc, sân khấu, múa hát,múa kiếm, nghệ thuật tạo hình.Lễ hội đâm trâu góp phần làm nên bản sắc Tâynguyên Từ người Stiêng, Bahnar, Cờ tu, Êđê, Xê đăng, Yẻh, Xeđrá đến ngườiBrâu đâu cũng có lễ hội đâm trâu, dù nghi thức lễ hội mỗi nơi tuy có khác nhaunhưng mục đích thì giống nhau
Lễ hội đâm trâu là một nét văn hóa của người dân tộc thiểu số TâyNguyên thể hiện rõ nét tinh thần dân tộc và đoàn kết của mọi thành viên trongcộng đồng Lễ hội thường được tổ chức ở bãi đất trống trong làng Đến ngày
đầu tiên của lễ hội, tiếng cồng chiêng, thường là chiêng arap, nổi lên để mời
gọi và đón tiếp thần linh cũng như những người tham dự và hoàn thành cácbước chuẩn bị cho lễ hội Trong suốt thời gian này, cồng chiêng liên tục nổi lên
để khuấy động không khí
Để chuẩn bị cho tục đâm trâu, những thanh niên trai trẻ sẽ vào rừng chặtbốn cây to bằng bắp chân vài thước cao và bốn ngọn lồ ô đem về buôn làng
Trang 33Sau đó họa khắc lên các cây và các ngọn lồ ô những hoa văn, họa tiết đặc trưngcho văn hóa tâm linh, địa hình kỳ bí và tín ngưỡng nơi đây.
Họ dắt một con trâu đắc ý đem buộc chặt vào cột “Gingga” trước sânnhà Rông Có một cây lồ ô tượng trưng cho tay thần, cắm cao chính giữa Tróithêm một con heo lớn áp sát vào cột để chứng tỏ sự trù phú của buôn làng
Bắt đầu khai hội thường vào giờ Sửu xế chiều Những trai làng thành thạo
có nhiệm vụ đánh trống và cồng chiêng Đầu họ chít khăn đỏ, mặc áo lễ “Blan”hoặc mặc áo ló chui đầu, không tay, có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo,đóng khố hoa “Kteh” và trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh trỗi nhạc Các sơn nữmặc áo “Phia” – một kiểu áo lễ của nữ giới, váy hoa “Kteh”, đầu chít khăntrắng tựa sắc lan rừng đang nở rộ Mọi người trong buôn làng, từ già trẻ, gáitrai xúng xính trong bộ áo quần mới nhất, trò chuyện líu lo nơi sân nhàRông Chủ trì ngày hội đâm trâu là một già làng, còn gọi là “Riu Yang” (thầycúng) Riu Yang đứng nghiêm trang bên cột đang buộc con trâu, sau lưng ông
là nam thanh nữ tú, ban nhạc cồng chiêng
Sau khi mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng, thầy cúng khấn: Cầu xin thần trời –thần nước – thần núi- thần sông suối hãy đến đây chứng kiến ngày hội đâm trâucủa dân làng Cầu xin các thần linh thiêng hãy phù hộ cho dân làng trồng đượcnhiều lúa, nuôi được nhiều trâu bò, súc vật… Sau đó cho dẫn ra một con trâuđực và cột chặt vào cây nêu với một sợi dây thật chắc được làm bằng vỏ câyrừng, gọi là cột Gưng (Cột Gưng là một cây gỗ quí to lớn cao thẳng dựng lênsân tổ chức lễ hội đâm trâu, cột chia làm ba phần Phần từ đất lên làm thành giàncho già làng bước lên cúng tế Phần thân cột được chạm trổ công phu các hìnhảnh hoa văn, các màu sắc rực rỡ buộc các chùm tua ngũ sắc chuốt sợi từ thânnứa Phần trên cùng là biểu tượng chim hoặc cá, dưới treo chùm ống nứa già gọi
là toơng nơơng nhờ gió phát ra âm thanh)
Tiếng cồng chiêng lúc này ngừng lại để nhường lời cho vị già làng, chủ tếbuổi lễ, phát biểu vài lời Sau đó cồng chiêng lại tiếp tục nổi lên với một nhịp
độ nhanh hơn và thúc giục hơn cho thanh niên thiếu nữ sẽ cùng vào nhảy múa
Trang 34theo điệu nhạc Âm thanh sôi động trong những vũ điểu uyển chuyển, đa dạng
của các sơn nữ khiến cho lễ hội thêm phần quyến rũ, hấp dẫn Vũ nhạc của cácsơn nữ lặng xuống cũng là lúc các chàng trai đầu chít khăn đỏ trong tay manglưỡi kiếm sáng loáng nhảy ra múa tiếp Nhảy múa một lúc, họ đặt vũ khíxuống, dùng những gậy gỗ dài một thước đấu với nhau Tốp này vào nghỉ đã cótốp khác ra thay Trong lúc họ múa, gái làng thi nhau té nước vào họ Chàngnào tài hoa thì không bị ướt, chàng nào bị ướt nhiều tức là bị thần quở và cónguy cơ ế vợ
Sau các màn múa hát họ bắt đầu đâm trâu Chàng nào chỉ đâm một nhát
mà trâu chết ngay thì được khen ngợi Trâu ngã xuống bắt đầu xẻ thịt chia đềucho từng bếp trong buôn làng Một phần thịt trâu được dành lại ăn uống chungtại nhà Rông Đầu trâu được gác lên cột lề Sáng ngày sau còn có lễ rước đầutrâu lên nhà Rông Đầu trâu được chẻ ra làm món ăn Riêng cặp sừng được giữlại và treo lên vách nhà Rông Người làng còn lấy máu trâu hòa với rượu để rửanhững bảo vật truyền kiếp nhà Rông
Trong suốt ngày và đêm này, mọi người sẽ nhảy múa theo tiếng chiêng.Ngoài ra còn có các hoạt động thi thố tài năng bằng đấu vật, đánh roi… đểtranh giành bùa do già làng (pô khua) tặng Và đặc biệt là các chiến binh ranhảy múa, diễn lại cảnh đánh nhau và chiến thắng để khơi dậy dũng khí tronglòng mọi người tham dự Tất cả mọi hoạt động đều được diễn ra xung quanhcây nêu có con trâu – vật tế lễ đã được buộc chặt
Theo nhịp trống, cồng chiêng, sáo bầu, các nữ tú nắm tay nhau thành vòngxoang (múa), các nam thanh dũng sĩ múa khiên, lao Một nam thanh niên lựclưỡng cầm cây Peh (dao dài) sắc lẻm chặt đứt nhượng hai chân sau con trâu cho
nó quị xuống không còn lồng lộn được nữa Mũi lao của dũng sĩ cắm phập vàohuyệt tử con trâu Đầu con trâu được cắt ra bày lên mâm cúng thần rồi sau đóchủ lễ biếu khách là ân nhân số một của nhà mình năm qua Thịt trâu phân phátcho mọi người dự lễ hội Ai nấy nhận phần và chế biến thành món ăn truyềnthống Đọt mây rừng nướng lên chấm muối, rau nhiếp rừng thái nhỏ trộn thịt
Trang 35trâu làm món Biếp Kwanh, các món này ăn với cơm lam, cháo bồi, uống rượucần.
Lễ hội đâm trâu với nhiều hoạt động văn hóa truyền thống mang ý nghĩanhân văn và tâm linh Đỉnh cao và linh hồn của lễ hội là lúc mũi lao cắm vàotim con trâu, cùng lúc tiếng cồng chiêng, tiếng hát, những vũ điệu theo cột đâmtrâu vút lên không trung tạo niềm tin mùa bội thu, hăng say lao động sản xuấttrước cuộc sống thường trực bất trắc, thiên tai, địch họa Để sinh tồn phát triển
và vượt thách thức ấy con người cần giao lưu gắn kết cộng đồng, cùng hướngtới sức mạnh siêu nhiên qua hình ảnh các thần linh qua nghi lễ
Tiếp nghi lễ, bắt đầu cuộc ăn uống vui chơi Nữ cao tuổi nhất được mờinâng cần rượu đầu tiên rồi lần lượt theo thứ tự già trước trẻ sau
Ngày thứ hai, cây nêu trang hoàng rực rỡ được dựng lên trong tiếng vỗ tayreo hò của dân làng Bốn thiếu nữ váy đen, áo trắng, cổ đeo hạt cườm, đầu độinhững quả bông xanh dổ, tay đeo vòng đồng lấp lánh Các ông gùi trên lưngnhững ống lồ ô đựng nước thiêng lấy ở thác nước đầu nguồn về” Trong tiếngchiêng trống rộn rã họ múa bài “Kđáo” vòng quanh gốc cây nêu 9 lần Sau đó
té nước thiêng lên mình trâu và cây cột lễ Lúc này chú trâu hiến sinh đã ngoan
Trang 36ngoãn nằm trong lọng dây buộc vào gốc nêu Trâu lễ phải là trâu mộng dángđẹp: thân dài, mông nở, cặp sừng nhọn và cân đối: Để đột rửa uế tạp, chú trâuđược tắm rửa sạch sẽ và ăn “lá đoóc”- một loại cỏ thơm trước khi hành lễ Đêmthứ hai, cả làng vẫn tụ tập quang cây cột lễ để ăn uống ca hát vui vẻ Tiếngchiêng trống náo nức trong ánh lửa bập bùng.
Ngày thứ ba, mọi người đều tề tựu đông đủ quanh góc cây nêu và con trâuhiến tế Trong đội hình nghị thức người chủ lễ dẫn trâu, tiếp đến là chiêngtrống, những xạ thủ phóng lao, phụ nữ, trẻ nhỏ Tất cả đi vòng quanh cây cột 9vòng rồi dừng lại Thầy cúng lắc lục lạc bằng đồng mời gọi thần linh về chứngkiến Hương trầm từ chiếc mũng đựng tro thơm nghi ngút Không gian trầmlặng, linh thiêng Chủ nhà tiến lại con trâu nói: “Trâu ơi, Hãy ngoan ngoãn vềvới thần linh thì mày được hoá giải luôn kiếp khác” Ông ta cầm con dao cúng
“đâm làm phép” vào mông phải con trâu Bị đau, con vật lồng lộn chạy quanhgốc cây cột lễ Những trai làng đóng khố, mình khoác tấm choàng, đầu chítkhăn đỏ cầm những cây giáo dài lập tức thể hiện bài võ rất dũng mãnh Nhữngmũi giáo sắc, loang loáng bay đi cắm phập vào mình con trâu tế Dân làng xúmlại giật những sợi lông trâu rắc lên đầu nhau Những em bé cũng được mẹ làm
để cầu phước lành của thần linh ban xuống Trâu được xẻ thịt làm cỗ
4.4 Ý nghĩacủa lễ Đâm Trâu
Lễ hội đâm trâu là sự tổng hợp bởi nhiều yếu tố, và gắn liền với những hoạtđộng văn hóa truyền thống, mang ý nghĩa tâm linh và nhân sinh sâu sắc Nếuđỉnh cao lễ hội là lúc mũi lao cắm vào tim con trâu, thì những âm thanh, nhữngđiệu vũ, lời ca, sự hiện diện cao vút lên không trung của cột đâm trâu chính làlinh hồn của lễ hội Trong những ngày diễn ra lễ mừng được mùa, công việc cầu
kỳ chiếm nhiều công sức nhất là tuyển lựa và trang trí cột đâm trâu, biểu trưngcho sức mạnh, sự sống và niềm ước vọng của bản làng trong vụ mùa tới
Lễ hội đâm trâu còn được phản ánh qua không khí linh thiêng, đậm chấtnúi rừng linh ứng, khi vị chủ lễ thông báo tình hình bản làng trong năm, cungthỉnh sự phù hộ của các vị thần linh, ma quỷ về dự lễ, chứng giám cho tấm lòng
Trang 37của dân làng Hòa cùng với tiếng trống, tiếng chiêng là sự cổ vũ của dân làng,những chàng trai tay lao, tay giáo nhảy múa xung quanh con trâu tạo mộtkhông khí nhiệt huyết, đầy sức sống Trong những ngày lễ, tiết mục đâm trâuchính là phần không thể thiếu nó thể hiện rõ tính chất của lễ hội Tất cả hòa vàonhau tạo thành một bản nhạc rộn ràng, đầy lạc quan, báo hiệu những điều tốtđẹp bắt đầu.
Sau lễ hội đâm trâu mọi nỗi buồn, hiềm khích, đố kỵ trong làng được thầnlinh mang đi, niềm vui và hạnh phúc được nâng lên gấp bội, ai nấy hăng hái trởlại chuỗi ngày lên nương xuống rẫy dưới mưa dầm nắng gắt, đêm sương muốixót thịt xương, con người bán mặt cho đất bán lưng cho trời nơi đại ngàn lắm
dã thú, nhiều sỏi đá đã khô cằn hơn màu mỡ, hi vọng tết mùa sau với nhiều lễcúng, nhiều tiếng hát, nhiều tiếng cồng chiêng vang lên quyến rũ con người vàocuộc vui say bất tận
Không khí của buổi lễ vẫn không hề lắng xuống sau khi lễ đâm trâu, lúcnày chính là khoảng thời gian cả bản làng quây quần bên ché rượu cần, bênnhững mâm thịt, cùng nhau nhảy múa ăn uống quanh đống lửa tận hưởngnhững thành quả của ngày lễ, sự ban thưởng của thần linh Vì thế, lễ hội toát lênmột cách đầy đủ nhất những sắc thái đặc trưng văn hóa tộc người, thể hiện tínhcộng đồng trong sự cộng hưởng: cầu mùa, cầu an, cầu phúc Qua lễ hội những
vốn văn hóa truyền thống của tộc người như nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn
xướng, văn học dân gian, những thuần phong mỹ tục được trân trọng, bộc lộ vàthăng hoa
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, lễ hội của nhiều vùng các dân tộc TâyNguyên đang bị mất dần, không ít buôn làng lâu nay không còn tổ chức lễ hộiđâm trâu nữa Một số nơi khác ở Tây Nguyên, lễ hội bị “biến tướng” đi nhiều,các trai làng múa khiên, đâm trâu với những nghi lễ khác xưa, tiếng chiêngkhông còn giữ được âm vang như trước Việc nghiên cứu phong tục về văn hóaTây Nguyên đang đặt ra nhiều vấn đề Nên chăng có sự gạn lọc để chọn và giữgìn phần ý nghĩa tinh thần có tính chất truyền thống của đồng bào dân tộc TâyNguyên trong tục lệ đâm trâu, bên cạnh việc bãi bỏ những yếu tố ít nhiều mangtính bạo lực cổ xưa
Trang 38V.TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG
5.1 Khái niệm
Tục thờ cá Ông (tức cá voi) là một tín ngưỡng dân gian, là tín ngưỡng của
cư dân vùng biển, hay còn gọi là vạn chài "Cá Ông" ở đây là cá voi lưngxám mà theo ngư dân chính là thần Nam Hải Ngư dân thường phối thờ Cá Ôngcùng các vị thần khác đã giúp đỡ và phù hộ cho ngư dân no ấm như: Ngũ HànhNương Nương, Hữu Lý Ngư, Tả Lý Lịch…
5.2 Nguồn gốc của tục thờ cúng Cá Ông
Tục thờ thủy thần được các làng chài chiêm bái như Hà Bá Long vương,Đức Ông sông nước Từ các dòng sông tiến ra biển lớn tục thờ ấy lại tích hợp,gắn liền với tín ngưỡng thờ các vị Thần biển biểu hiện dưới các danh thần như:Nam Hải Đại Vương, Long Thần, Độc Cước, Tứ vị Thánh Nương Cùng vớicác danh thần, cư dân biển luôn có niềm tin vào những lực lượng của tự nhiêntrợ giúp họ trong cuộc mưu sinh, chính vì vậy mà tục thờ nhiên thần - thờ cáÔng (cá Voi) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của họ Cá Voitôn xưng với các tước hiệu khác nhau như Nam Hải Đại Tướng Quân, Cự TộcNgọc Lân Tôn Thần, Đại Càn Nam Hải Đại Tướng Quân, Đông Hải Ngọc LânTôn Thần và các danh xưng dân gian khác như: Ông Khơi, Ông Lộng
Tục thờ Cá Ông xuất nguồn từ tục thờ Cá Ông của người Chăm Tuy nhiên,trải qua sự bản địa hóa, tục thờ cá Ông trở thành tín ngưỡng của người Việt Tụcnày thời Gia Long đã thành lệ.Đối với người Việt, Cá Ông chính là mảnh pháp y(áo choàng sau) của Quan Thế Âm (hay Nam Hải Bồ tát) quăng xuống biển đểcứu giúp cư dân vùng biển trong cơn giông tố giữa biển
Theo lệ thì dân chài ai phát hiện được cá voi mắc cạn, tục gọi là "ông lụy"thì có bổn phận chôn cất và để tang Ông như để tang chính cha mẹ mình Xác cáđược đem tắm bằng rượu rồi liệm bằng vải đỏ Dân làng còn lấy giấy đỏ đắp vàomiệng cá thấm lấy nước dãi, xong đem phơi khô rồi đốt thành tro để chữa
Trang 39bệnh suyễn Xác cá được mai táng trong đụn cát gần biển Người phát hiện ra cávoi mắc cạn thì được nhân dân tôn sùng và dưới triều nhà Nguyễn còn đượcmiễn sưu dịch 3 năm.Hàng năm dân làng chọn ngày "ông lụy" (ngày cá Ông trôivào bờ) làm lễ cúng giỗ theo nghi thức Nghinh Ông Người địa phương có câu:
"Thấy ông vào làng như vàng vào tủ" vì theo tín ngưỡng này, Cá Ông lụy và trôidạt vào làng nào, làng đó muôn đời ấm no, tai qua nạn khỏi
Ba bốn năm sau khi chôn thì dân làng phải cải táng, thường làm vào mùaxuân sang hè rồi đem cốt cho nhập lăng và tế chung Đối với xương cá Ông tolớn thì dân làng sẽ chờ đủ 3 năm cho xương cốt rã ra rồi mới đem vào hòm đểđưa về làng thờ Với trường hợp cá nhỏ, người ta sẽ cho trực tiếp vào hòm vàđem về thờ Khi tế cá thì dân làng cũng cúng các vong hồn ngư dân chết ngoàibiển Tế xong thì có các mục mua vui như hát "chèo ghe", đua 1thuyềnthúng, kéo co, hát tuồng cùng các trò khác
5.3 Tục thờ cúng Cá Ông trong đời sống văn hóa người Việt
Hàng năm, ngư dân thường tổ chức lễ hội cầu ngư chủ yếu vào mùa xuânvới nhiều nội dung và hình thức phong phú, cầu cho mưa thuận gió hoà, biểnnhiều tôm cá, tạ ơn các vị thần linh chở che và giúp họ “đi khơi gặp đống, đisông gặp tía”
Thanh Hóa có nhiều lễ hội cầu ngư ở các làng xã ven biển như: Bạch Câu(Nga Bạch, Nga Sơn), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Quảng Cư, Quảng Tiến(Thị xã Sầm Sơn), Cự Nham, Đồn Điền (Quảng Xương), Hội Hiền, Hải Thanh,Hải Bình, Nghi Sơn, (Tĩnh Gia) Nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội cầu ngư xã NgưLộc, huyện Hậu Lộc Mảnh đất có tự lâu đời, qua chứng cứ khảo cổ học cho biếtcách ngày nay hơn 5.000 năm đã có cư dân sinh sống bằng nghề đánh cá biển
Từ bao đời nay, người Diêm Phố có tục thờ cá Voi (Ông Nam Hải) và lễhội cầu ngư được tổ chức với những nghi thức trang trọng, thành kính Theo bàcon trong vùng kể lại, vào năm 1739 có một người đánh cá làng Diêm Phố đãđược cá Ông cứu giúp Khi cá vào bờ mắc cạn người dân đã mai táng cho cáÔng Bộ xương của ngài được chia làm ba phần, rước vào thờ ở các làng biển:
Trang 40Diêm Phố (Ngư Lộc), Phú Lương (Hưng Lộc) huyện Hậu Lộc và đền thờ ở xãHoằng Trường huyện Hoằng Hóa
Cứ ba năm lễ hội lớn được tổ chức định kỳ vào dịp mùa xuân, trong bangày, từ 22 đến ngày 24 tháng hai âm lịch Tín ngưỡng này gắn liền với lễ hộiCầu Ngư (xưa còn gọi là Cầu Mát) thờ các vị thần biển và đám rước Hội đồngthần linh của làng, đó là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân không chỉ
ở Hậu Lộc mà còn có sức thu hút cả những ngư dân miền biển tỉnh Thanh về
dự
Cũng vào dịp đó, ngư dân Hoằng Trường, Hoằng Hóa tổ chức lễ hội cầungư - cầu an Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với nghi thức rước long châu,các dòng họ trong xã dâng lễ vật cho Long Vương và các vị thần cầu mong mộtmùa đánh bắt hải sản thắng lợi, đời sống ngư dân ấm no hạnh phúc Tiếp theo làphần hội diễn ra khá sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như kéo co, đua thuyền,cùng các tiết mục văn nghệ được đông đảo nhân dân và khách thập phươnghưởng ứng Kết thúc lễ hội Ban tổ chức hóa long châu về biển, các thần biểnchứng giám lòng thành và che chở cho ngư dân một năm trời yên bể lặng, tôm
cá đầy thuyền
Miền đất Nghệ An có nhiều đền, miếu thờ thần biển như Tứ vị thánhnương, Hà Bá, Long Vương, cá Ông Lễ hội Cầu Ngư là lễ hội lớn nhất củangư dân vùng biển nơi đây Làng Thanh Liệt, xã Hưng Lam, huyện HưngNguyên có lễ hội cầu ngư đền Thanh Liệt tổ chức vào ngày mùng 6-7 tháng 2
âm lịch Thị xã Cửa Lò có nhiều làng cúng tổ chức lễ hội cầu ngư, cầu mát như
lễ hội Đền Vạn Lộc (phường Nghi Tân), đền Yên Lương (phường Nghi Thủy) Ngư dân Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu tổ chức Lễ hội Cầu Ngư vào dịp đầu xuân
Lễ hội mở màn bằng những đoàn thuyền du xuân trang trí cờ hoa cùng với tiếngchiêng trống rền vang Ngày hội chính diễn ra trận thuỷ chiến, mô phỏng quânxanh, quân đỏ giao chiến trên một dải núi non hiểm trở kéo dài từ làng Ói về đềnCờn Trong trò chơi trận giả còn có trò chơi “Chạy ói“ Đám rước chạy ói gồm
có 4 kiệu, 4 ngai, 4 tàn, 4 quạt khởi hành từ đêm Sáng ra rước tiếp 4 kiệu, 2 voi,