MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2 III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6 IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6 V. ĐÓNG GÓP CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 7 VI. CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU 7 B. NỘI DUNG 8 CHƯƠNG 1 8 GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NGUYỄN VĂN VĨNH VÀ VẤN ĐỀ LÀNG XA TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 8 1.1. Sơ lươc về tiểu sử và con người 8 1.1.2. Con người 9 1.2. Sự nghiệp 11 1.2. Giai đoạn 1930 – 1945 với vấn đề làng 14 CHƯƠNG 2: 16 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẶT RA TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH 16 2.1. Những vấn đề về phong tục 16 2.1.1. Những phong tục thường ngày của làng 16 2.1.2. Tín ngưỡng – tôn giáo trong làng xã cổ truyền Việt Nam 23 2.2. Những vấn đề về thiết chế 31 2.2.1. Các loại hình tổ chức làng xã 32 2.2.2. Bộ máy lãnh đạo làng xã 35 2.2.3. Vấn đề thuế khóa 39 2.2.4. Chơi họ Hình thức kinh doanh tài chính của người Việt 43 2.3. Những vấn đề về kinh tế xã hội 47 2.3.1. Vấn đề ruộng đất 47 2.3.2. Vấn đề lúa gạo 50 2.3.3. Địa bạ từng phần và tín dụng nông nghiệp 53 CHƯƠNG 3 59 NHỮNG GIÁ TRỊ, ĐÓNG GÓP NỔI BẬT TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH 59 1. Cung cấp cái nhìn, tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh về làng 59 2. Đặt nền móng cho những nghiên cứu dân tộc học về làng xã 60 3. Những đóng góp về tư tưởng riêng của Nguyễn Văn Vĩnh 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 1và tôn vinh những đóng góp của ông là một điều tất yếu Giờ đây thì câu trảlời cho câu hỏi “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” tuy không còn bị cặp kính ấu trĩđầy thiên kiến một thời (kéo khá dài) coi là nhân vật phản diện chỉ “vì hợp tácvới Tây” nhưng vẫn còn rất nhiều điều cần tìm hiểu, nghiên cứu để nhận ratầm vóc và những giá trị khai mở của một trong những người tiên phong, dấnthân trên bước đường đổi mới của đất nước trong bối cảnh dân tộc Việt Namkhông chỉ là nô lệ của của chế độ thực dân mà còn là nô lệ với những giá trị
đã lỗi thời của quá khứ”.[1]
Nguyễn Văn Vĩnh “đã từng tổ chức được nhiều cuộc thuyết trình vàtọa đàm, cả bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Nam, dù nhiều bản thuyết trình thật sự
có giá trị, song chúng vẫn khó có thể sánh được với những nghiên cứu củaông về các thiết chế, các phong tục và tập quán của các vùng miền ở Bắc Kỳ”.[2] Một trong những nghiên cứu ấy, đặc biệt phải kể đến cuốn sách “Lời ngườiman di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người An Nam)” Muốn hiểuđúng về Nguyễn Văn Vĩnh và tác phẩm của ông, người đọc phải tự trang bịcho mình hệ kiến thức mới, đòi hỏi có cách tiếp nhận và nhìn nhận vấn đềvượt ra khỏi những suy nghĩ định kiến đã từng tồn tại trong quá khứ
Trang 2Kể từ khi Nguyễn Văn Vĩnh bước vào con đường sự nghiệp với 30 nămlao động và cống hiến (1906 – 1936), ông đã để lại một khối lượng khổng lồcác di cảo, các bản dịch, bút tích Nhiều người biết và ấn tượng về NguyễnVăn Vĩnh, cùng tác phẩm của ông Song để nghiên cứu một cách có hệ thống
về cuốn sách “Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người
An Nam) do tác giả Nguyễn Lân Bình và Nguyễn Lân Thắng chủ biên thì cònchưa thấy Rải rác có các bài nghiên cứu trên báo, tạp chí và một số sáchnghiên cứu thiết nghĩ chưa đủ khẳng định sức nặng của một công trình nghiêncứu giàu tính dân tộc này Bài nghiên cứu mong mở đầu phần để ngỏ ấy Tìmhiểu về làng của Nguyễn Văn Vĩnh trong cuốn sách, hứa hẹn những trảinghiệm thú vị và sâu sắc
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Cuốn cách “Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế củangười An Nam)” là bước đầu tập hợp những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã nói, đãviết và là bước đi đầu tiên trên con đường dài nhiều cây số của việc tìm kiếmnhững di sản do Nguyễn Văn Vĩnh để lại Việc ra đời cuốn sách là bước đi kếtiếp sau tác phẩm phim tài liệu lịch sử, ra đời năm 2007 “Mạn đàm về ngườiman di hiện đại”, là cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Văn Vĩnh tính từ ngàyông qua đời tháng 5/1936
“Với cái nhìn đa chiều và khách quan có kèm dẫn chứng sinh động,Nguyễn Văn Vĩnh đã phân tích chi tiết thế nào là một cái làng, từ tín ngưỡngcho đến cơ cấu hành chính với những biện pháp chế tài linh hoạt Ông nhấnmạnh đến truyền thống trọng học sĩ và tình yêu sâu nặng của người Việt vớiđất đai” [3] Nguyễn Văn Vĩnh đã coi mình như “kẻ man di hiện đại” “Mandi” vì ông xuất thân nghèo khổ chỉ là một cậu bé kéo quạt thông ngôn vàkhông được đào tạo chính thống “Hiện đại” là bởi ông đã đào tạo mình cố
Trang 3gắng nỗ lực trở thành một người hiểu biết nhờ tự học Đúng như người đờitruyền tụng “thời thế sinh anh hùng”, trong bối cảnh giao thời của lịch sử gắnliền với thế hệ trí thức mới được giáo dục theo kiểu Pháp - Việt, thì việcNguyễn Văn Vĩnh sinh ra và và rèn luyện, trở thành một người tài năng đượccoi như một thần đồng của dân tộc vậy.
Đề cập đến nội dung cuốn sách, tác giả Dương Trung Quốc cho rằng:
“Cuốn sách vừa ra mắt chủ yếu bàn về thiết chế “làng của người An Nam”,cái tế bào sống, cái mô thức xã hội mà người Việt Nam ngàn đời khai thácnhư là một phương thức sống nhằm ưu tiên cho việc gìn giữ những giá trịtruyền thống khỏi bị những tác động đồng hóa từ bên ngoài, mà nhìn rộng rachính là bảo vệ nền tự chủ văn hóa và chính trị.” [4] Giới văn học đã có nhiều
ý kiến, nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh, một số bài viết trên các trang điện tử
đã từng xét đến các vấn đề ông đề cập Trong cuốn sách, ngoài 26 bài bàn vềthiết chế làng xã, ông Nguyễn Lân Bình còn đưa thêm 3 bài khác, trong đóNguyễn Văn Vĩnh lý giải một hiện tượng rất thú vị Đó là chuyện “ở nhữngvùng cấy được lúa mùa, phụ nữ đẹp hơn những vùng chỉ cấy được lúa chiêm.Đồng chiêm theo cách gọi của người nông dân là đồng trũng Theo học giả, ởnhững vùng cấy được lúa mùa thì vụ mùa là vụ chính Tới dịp tiết trời lạnh,hiếm mưa, khan nước người nông dân vùng này không phải chịu cảnh lộiruộng khổ sở cấy lúa Vì lẽ ấy, họ ăn và chơi tết thảnh thơi hơn rất nhiều sovới người nông dân vùng đồng chiêm trũng Cũng từ đây mới nảy sinh thóiquen đã đi vào ca dao, dân ca:
“Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè”
Nhưng hẳn nhiên người nông dân vùng đồng chiêm không thể bắtchước người nông dân vùng cấy lúa mùa: chính sự khó nhọc của khí hậu và
Trang 4địa lý đó mà phụ nữ ở đồng chiêm thường xấu và cũng ít tài lẻ hơn phụ nữ ởđồng mùa Và cũng nhờ cái sự thư thả của đồng áng, mà theo cụ Nguyễn VănVĩnh: phụ nữ ở đồng mùa cũng thích chuyện cầu cúng, hội hè như lên đồng,
đi chùa đi hội hơn.”[5] Báo Phụ Nữ đã giành sự ưu ái cho cuốn sách: “Khi đọcphong tục và thiết chế của người An Nam, chúng ta sẽ hình dung ra sự hiểubiết uyên thâm của ông với văn hóa nước nhà Đây là những bài báo đã in trênbáo L’Annam Noveau (Nước Nam mới) do Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng tiếngpháp; tác giả Phạm Toàn và Dương Tường chuyển ngữ tiếng Việt” Có thểnói, tập sách này “đem lại cho chúng ta nhiều thông tin rất hữu ích Giúp chongười đọc có cái nhìn toàn diện hơn về nông thôn Việt Nam với các sinh hoạt,văn hóa, kinh tế… đầu thế kỷ XX” [6]
Dương Trung Quốc đã khẳng định “có thể coi Nguyễn Văn Vĩnh làmột nhà xã hội học tiên phong” khi bàn về tập quán “chơi họ” : Nguyễn VănVĩnh phân tích về tập quán “chơi họ” rất phổ biến ở nông thôn, được coi là “một di sản có từ thời xa xưa” rất đặc sắc Nhưng từ sự phân tích rất chi tiếttheo cách tính toán của sổ sách hiện đại thì, theo ông “chơi họ” chỉ có khảnăng đáp ứng những nhu cầu rất hạn hẹp của những cá nhân sống chungđụng…Chính sự giản dị đã ngăn cản không thể phổ cập phương thức này đểdùng vào những nhu cầu thương mại hiện đại Lĩnh vực mà luật lệ lý tính cầnhơn sự tin cậy cảm tính”.[7]
Khi nhắc đến Nguyễn Văn Vĩnh, người ta thường có hai cách nhìnkhác nhau về con người và sự nghiệp của ông Một con người có tầm tư tưởnglớn, luôn hướng tới sự cách tân dân chủ như Nguyễn Văn Vĩnh đã có nhữngđóng góp lớn lao trong nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, văn học…nhưng vẫn chưa được đánh giá sâu sắc và toàn diện Thậm chí trong nhiềugiai đoạn, lịch sử đã hiểu sai khi cho rằng Nguyễn Văn Vĩnh là “kẻ bồi bút”,
là “tay sai” cho Pháp, hay nặng nề hơn là người đã cắt đứt nền văn hóa Hán
Trang 5Nôm của dđn tộc Theo nhă văn Vũ Bằng, chính quyền vì “không chịu nổiNguyễn Văn Vĩnh nín mới nghĩ ra chiíu trò tiíu diệt Nguyễn Văn Vĩnh” Bởiông đê phản bâc chế độ quđn chủ lập hiến của triều Nguyễn vă đả phâ chínhsâch cai trị của thực dđn Phâp Ông quyết liệt thực hiện chủ ý của mình quanhững băi bâo “Niềm say mí của ông lă bâo chí vă trở thănh diễn đăn choviệc tranh luận, trao đổi quan điểm, ý kiến Với ông, đó lă phương tiện để qua
đó có thể tấn công văo mọi vấn đề trong xê hội vă chính trị của thời đại mẵng tồn tại Người ta thấy nếu ở một trang bâo năy ông viết băi để bảo vệ luậnthuyết về chế độ trực trị liín quan đến nước Phâp vă Đông Dương, thì ở trangbâo sau, ông lại viết về những người nông dđn đê chống lại sự bóc lôt của bỉ
lũ quan lại, hay về những người phu kĩo xe đê chống lại sự bạo hănh của mộttín thực dđn Phâp Ông có thể phâc họa một bức tranh mí hồn về văn hóa củanông thôn Việt Nam, vă ngăy hôm sau lại viết vă đăng lín một tiểu luận vớichất lượng cao ngất về nền văn học Phâp…”.[8; 10] “Khi đânh giâ Nguyễn VănVĩnh, những người thuộc phâi “định kiến” cố xoay văo mđu thuẫn củaNguyễn Văn Vĩnh với một số nhă yíu nước thời đó, nhất lă với Phan BộiChđu nhưng họ chỉ trích dẫn một nửa sự thật” Sau năy, lịch sử đê ghi nhậnvai trò quan trọng đặc của Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thănh vă phât triểnchữ Quốc ngữ Cho đến nay, theo thống kí của tâc giả Nguyễn Lđn Bình, đê
có đến 16 cơ quan thông tấn vă bâo chí đưa tin về sự xuất hiện của bộ sâch [9 ]Nguyễn Văn Vĩnh đê từng bị lịch sử lín ân kịch liệt vă cuối cùng đê trả lại sựtôn vinh xứng đâng cho những đóng góp của ông Một số những băi viết,những ý kiến vừa trình băy trín đđy mang tính nhận định khâi quât về một sốvấn đề trong cuốn sâch “ Lời người man di hiện đại (Phong tục vă thiết chếcủa nguời An Nam)” Thật sự vẫn chưa có một công trình nghiín cứu năo đisđu văo khảo sât những vấn đề về lăng được đặt ra trong nghiín cứu củaNguyễn Văn Vĩnh
Trang 6III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu đi sâu khảo sát và nghiên cứu tập 1 cuốn sách “Lời
người man di hiện đại: Phong tục và thiết chế của người An Nam” Cái nhìnkhách quan của Nguyễn Văn Vĩnh khi mô tả về làng là một nét độc đáo.Người viết cố gắng khảo sát và tập hợp các quan điểm của ông về phong tục
và thiết chế về làng trên các bài báo tập hợp trên tờ L’ Annam Nouveau
Bên cạnh đó, lấy một số tác phẩm khác làm thao tác đối sánh như
“Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, “Việc làng” của Ngô Tất Tố, “ViệtNam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi đề tài này, người viết sử dụng phương pháp phân tích –tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống
Trên cơ sở những ghi chép, mô tả của Nguyễn Văn Vĩnh về phong tục
và thiết chế của người An Nam, người viết đi vào khảo sát, nghiên cứu và giảiquyết các vấn đề đã đặt ra theo quan điểm của mình một cách khách quan,nghiêm túc Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng nhằm cụ thểhóa, sau đó khái quát hóa các nội dung của vấn đề đã nêu Người viết sử dụngphương pháp so sánh đối chiếu quan điểm, cách tiếp cận về làng của NguyễnVăn Vĩnh với một số tác giả khác như Ngô Tất Tố, Phan Kế Bính, PhạmQuỳnh Phương pháp này giúp người viết có cái nhìn toàn diện về mặt tíchcực, hạn chế của cuốn sách với một số tác phẩm khác Phương pháp hệ thống,
hệ thống các nghiên cứu đặc trưng của Nguyễn Văn Vĩnh, về các phong tục
và thiết chế của người An Nam một cách khá đầy đủ, và mang màu sắc toàndiện
Trang 7V ĐÓNG GÓP CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác phẩm, với mong muốn làm nổibật những giá trị cơ bản trong nghiên cứu làng cổ truyền Bắc Bộ Việt Namgiai đoạn 1930 – 1945 của Nguyễn Văn Vĩnh và góp phần khẳng định lại têntuổi một học giả tài năng của đất nước
VI CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu vài nét về Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề làng xã tronggiai đoạn 1930 – 1945
Chương II: Những vấn đề cơ bản đặt ra trong nghiên cứu làng của NguyễnVăn Vĩnh
Chương III: Những đóng góp, giá trị nổi bật trong nghiên cứu làng củaNguyễn Văn Vĩnh
Trang 8B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NGUYỄN VĂN VĨNH VÀ VẤN ĐỀ LÀNG
XA TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
1.1 Sơ lươc về tiểu sử và con người
Nguyễn Văn vĩnh sinh ngày 15/6/1882 tại làng Phượng Vũ, xã PhượngDực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Phú Xuyên – HàNội Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, không phải từ giađình Nho học hay khoa bảng gì
Từ một cậu bé 8 tuổi nghèo khổ, làm công việc kéo quạt cho một lớphọc thông ngôn của người Pháp, ông đã thi đỗ khóa học chính thức năm 12tuổi và được hiệu trưởng cho phép học lại khóa học thông ngôn do tuổi cònquá nhỏ Năm 15 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm thông ngôn tại tòa
sứ Lào Cai (1897) Ông được điều chuyển từ tòa sứ Hải Phòng về tòa sứ BắcGiang khi mới 20 tuổi Bốn năm sau, ông chuyển về tòa Đốc lý Hà Nội Năm
1906, ông được cử đi Hội chợ thuộc địa Marseile – Pháp Trở lại Việt Nam,Nguyễn Văn Vĩnh thôi làm công chức của tòa Đốc lý Hà Nội Từ thời điểmnày cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh không giữ bất kỳ vị trí nào trong
hệ thống cai trị của chính quyền
Năm 1935, kinh tế đất nước suy thoái chính phủ bảo hộ đã không thểchịu đựng được cái gai trong mắt là Nguyễn Văn Vĩnh, chúng quyết định dậptắt ngòi bút của ông bằng cách: “xiết nợ…để Nguyễn Văn Vĩnh phải phásản!” Ông đã quyết định chọn con đường đi đào vàng để trả nợ và tiếp tụcđược tự do sáng tác “Ngày 1/5/1936 sau một đêm mưa gió,người ta tìm thấy
Trang 9Nguyễn Văn Vĩnh một thân một mình trên con thuyền độc mộc giữa dòngsông Sê Băng Hiêng, toàn thân đã tím đen, nhưng một tay vẫn giữ chặt cái bút
và tay kia là quyển sổ đang viết giở Thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn, họ đãđưa Nguyễn Văn Vĩnh lên trạm y tế của thị xã Sê Pôn… Nhưng… vô vọng!Nhà chức trách báo về gia đình rằng: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét” [10; 20]Một tuần sau, đám tang Nguyễn Văn Vĩnh được tổ chức tại Hà Nội với nhữngngười đưa tiễn “dài hàng cây số”
1.1.2 Con người
“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam gió tung mây, gan óc dễ đâu vùi chín suối; có lưỡi như cồng, có bút như thép trong làng báo mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu”
(Câu đối viếng của Tuần Báo Đông Tây) “Người công dân vĩ đại” Nguyễn Văn Vĩnh đã đem hết tài đức củamình cống hiến cho dân tộc Ở vào giữa giai đoạn giao thời của đất nước, việcgiữ vững lòng tự tôn dân tộc là một điều khó Nhưng với Nguyễn Văn Vĩnh,ông lại đem chính lòng tự tôn ấy để xây thành nền tảng cho những tư tưởngcải cách Ông chỉ mong sao cho đất nước ngày càng phát triển Nhà văn VũBằng đã nhận xét: “Không phải nói, ai cũng biết ông Vĩnh là nhà hộc rộng,vấn đề gì cũng biết Điểm đó, ông phải là một điểm đặc biệt, vì chung quanhông cũng có những người như thế Nhưng khác một điều là những người kiathì không áp dụng được cái biết của mình làm lợi ích cho người khác Đàngnày, ông Nguyễn Văn Vĩnh học và hành ngay Nói đến ông Vĩnh, người tanhớ ngay loạt bài đả kích chủ trương quân chủ của Phạm Quỳnh theo sát vớiTây, mà hầu như đều quên rằng chiến dịch làm cho từ Bắc đến Nam sôi nổi,hăng say, chiến dịch khích động lòng yêu nước của toàn dân lúc ấy, chiến dịchlàm cho Pháp giật mình, vì không ngờ ông Vĩnh lại được dân chúng tin yêu
Trang 10đến thế, chính là chiến dịch tẩy chay Hoa kiều bằng một bài báo ký tên “QuanThành” Những lời đe dọa, khi thì sỗ sàng, khi thì mềm dẻo của nhà cầmquyền Pháp hồi đó kéo dài không ngớt trong cuộc đời ông Vậy mà thà chịukhổ sở, thiếu thốn hiểm nghèo chớ không chịu vị tình người Pháp hay vì tiềncủa họ mà thay đổi lập trường, chí hướng…” [11] Ấy chính là phẩm chất hơnngười của Nguyễn Văn Vĩnh.
Ông là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã từ chối làm thượngthư và hơn một lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Phápban tặng Vào thời người ta ganh đua nhau mua quan bán tước, cái thời đượcngồi mâm trên là sung sướng nhất của đời người “ một miếng giữa làng bằngmột sang xó bếp” ấy, Nguyễn Văn Vĩnh đã chối từ nó Điều này làm cho tất
cả giới văn sĩ trong nước thêm phần kính nể ông Nhân cách của ông nằm ởchính chỗ đó “Nguyễn Văn Vĩnh xứng đáng là một trong số các nhà văn lỗilạc của Việt Nam trong thế kỉ XX Tôi đồng ý với cách đặt vấn đề của Tạp chíXưa và Nay (số 1 – Xuân 1996, tr 13): “… đánh giá một nhân vật lịch sử làmột việc làm không đơn giản” Vì lý do ấy, tôi xin trích một vài ý của PhanKhôi, là một học giả sắc sảo, từng sống một thời với Nguyễn Văn Vĩnh, đãviết một bài vào dịp ông Vĩnh qua đời năm 1936, mà tạp chí trên đã đăng lại.Phan Khôi đã cân nhắc về văn nghiệp và thái độ chính kiến của ông Vĩnh, rồiđặt bút ngay ở những dòng đầu: “Tôi phục ông Vĩnh ở chỗ có chí tự lập,không mộ hư vinh” Phan Khôi đã kể qua một vài điều mà thời ấy có kẻ yêu,người gét ông Vĩnh, nên có người muốn đúc tượng ông để đời ngưỡng mộ, có
kẻ thì lại có ý ngược hẳn Riêng tôi rất mong ước sẽ còn nhiều người tiếp tụcnghiên cứu về nhà học giả này Phan Khôi đã kết luận: “Trong mắt tôi, ôngNguyễn Văn Vĩnh là một trang hào kiệt, Mạnh Tử có nói: đến như kẻ sĩ hàokiệt thì dù không có Văn Vương cũng dấy lên Trong câu nói ấy thấy người
Trang 11hào kiệt đầy cái khí phách tự lập đúng như cái khí phách của ông Nguyễn VănVĩnh chúng ta”.[12; 136]
“Chúng ta đã ca ngợi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà báo, nhà văn và nhàthuyết trình các chủ đề giáo dục, nhưng như thế vẫn chưa đủ Hầu như chúng
ta chẳng nói được gì về phẩm chất người của ông, về sự ngay thẳng chính trựccủa ông trước những thử thách, về triết lý sống biết cam chịu và cổ vũ mọingười của ông, vì trái tim yêu thương và nồng nàn ấy, mà dù có gặp bất hạnhthì chỉ càng được thanh lọc chứ chẳng chịu trở thành chua chát”.[13; 207]Mộtcuộc đời “lộng lẫy và nhiêu khê” (chữ dùng của nhà văn Vũ Bằng) củaNguyễn Văn Vĩnh phải chăng được hun đúc từ mảnh đất quê hương PhượngDực Nơi đây đã sản sinh ra những bậc anh tài cho dân tộc như Nguyễn Văn
Tố, Phạm Duy Tốn… một làng quê in đậm truyền thống hiếu học và bồidưỡng nhân tài
1.2 Sự nghiệp
Sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh trải dài trên nhiều lĩnh vực “Ông làngười xướng xuất lên phong trào diễn thuyết, phong trào viết báo Nam báoPháp; phong trào phổ thông chữ Quốc ngữ và truyền bá văn minh văn hóa ÂuTây; phong trào đem cái hay cái đẹp của văn minh văn hóa Nam diễn ra chongười Âu Tây biết; phong trào mở hội giúp những người thanh niên đi du học;phong trào Phật giáo, phong trào thể thao,…nhất nhất bao nhiêu những thứ
đó, ông cũng là thủ xướng hay ít ra cũng là 1 người lính tiên phong hăng hái”.[14; 41]
“Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở như chữ Quốc ngữ”
Đó là lời khẳng định bất hủ của Nguyễn Văn Vĩnh, mà bây giờ và maisau nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn Nhắc tới chữ Quốc ngữ, người ta nghĩngay tới Nguyễn Văn Vĩnh Ông là người có công đầu trong việc truyền báchữ Quốc ngữ vào Việt Nam, mà hoạt động đầu tiên đó là những công trình
Trang 12dịch thuật như các tác phẩm của một số đại văn hào Pháp Nguyễn Văn Vĩnh
là người đầu tiên dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Pháp Có ý kiến cho rằng;
“Bản dịch Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh rất đặc sắc vì ông không chỉ dịch câu
mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điềuchỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho) và Pháp mới có thể làm được Sự cố gắng và sứclàm việc phi thường của cụ Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền
bá kiến thức và văn hóa phương Tây trong dân Việt và đẩy xã hội chủ nghĩa điđến chỗ dần dần chấp nhận chữ Quốc ngữ” [15; 29-30] Các tác phẩm dịch thuậtcủa Nguyễn Văn Vĩnh đã giúp cho người dân Việt Nam tiếp xúc với những tưtưởng mới của phương Tây và hiểu sâu sắc hơn nền văn hóa của dân tộcmình Về điểm này, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên bắcchiếc cầu nối giữa 2 nền văn hóa Đông – Tây Văn học dịch thuật đã đóng mộtvai trò quan trọng và lót đường cho quá trình hiện đại hóa nền văn học nước
ta giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Nguyễn Văn Vĩnh đã “vô hình chung đóngvai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam” với việc truyền bá chữQuốc ngữ
Nhà văn Nguyễn Ngọc Phan nhận định: “Nguyễn Văn Vĩnh là ngườirất có công với Quốc văn Nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch…còn
là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học (Đông Dương tạp chí) vàobuổi mà đối với văn chương, mọi người hãy còn bỡ ngỡ” [16; 69] Con người
“lắm công nhiều việc” ấy đã khiến cho nhà văn Vũ Bằng thấy “sợ”: “Thú thật,cho đến bây giờ, tôi sợ nhiều người nhưng chưa sợ gì như sợ cái tài viết củaông… Ông viết tin, viết xã luận, làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểuthuyết thì quả không chê được”.[17] Nguyễn Văn Vĩnh đã làm chủ 7 tờ báo vớibút hiệu nổi tiếng “ Tân Nam Tử” (người Nam mới).Theo thống kê của ôngNguyễn Lân Bình, “Nguyễn Văn Vĩnh đã viết tới 2500 bài báo, riêng trong tờ
Trang 13Nước Nam mới, tờ báo tiếng Pháp và cũng là tờ báo cuối cùng Nguyễn VănVĩnh làm chủ bút, ông đã viết tới 500 bài”.[18] Nếu không yêu nước thì ôngviết làm gì để đeo vào cổ cái gông cùm của chế độ và buộc phải bỏ xứ sangLào để rồi vĩnh biệt ở nơi rừng thiêng, nước độc?!
Góp phần vun đắp sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn thể hiện mình
ở vai trò một nhà diễn thuyết tài ba với giọng nói “sang sảng ầm ầm, rõ ràngtừng chữ” Ông luôn tìm đọc sách, ra sức học hành và có thể diễn thuyết vềbất kỳ vấn đề gì tại các cuộc họp hội Trí Tri và Đông Kinh Nghĩa Thục G.SPhạm Huy Lê, Chủ tịch hội Sử học Việt Nam đã nhận xét: “Nếu đánh giá vềNguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếngViệt, là người có công phát triển chữ Quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắcthì chưa đầy đủ và thỏa đáng Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhấtcủa cụ, chính là về tư tưởng Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ củaViệt Nam mang tính khai sáng Cụ cũng là người biết dùng văn học và vănhóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ vượt thờiđại.[19] “Nguyễn Văn Vĩnh, năm 1907,chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc
Kỳ - Đăng cổ Tùng Báo, năm 1909, cùng Phan Kế Bính dịch toàn bộ TamQuốc Chí Diễn Nghĩa từ Hán ra Quốc ngữ, năm 1913, dịch toàn bộ TruyệnKiều từ Nôm ra Quốc ngữ, chủ bút Đông Dương Tạp Chí, là cơ quan Ngônluận quy tụ được toàn bộ các chí sĩ nổi danh và uy tín nhất cùng thời, năm
1917, Chủ bút báo Trung Bắc Tân Văn – tờ báo Nhật báo đầu tiên trong lịch
sử Báo chí Việt Nam, từ 1900 – 1920 dịch hàng loạt các tác phẩm tiến bộ Vănhọc Pháp ra Quốc ngữ: của La Fontaine, V.Hugo, A.Dumas, H.de.Balzac,Moliere…năm 1920, là người Việt Nam đầu tiên dựng sân khấu kịch nói tạiNhà hát lớn để trình diễn các vở hài kịch của Moliere như: Trưởng giả họclàm sang, Người biển lận,…năm 1924,cùng với những người Pháp dựng bộphim truyện đầu tiên trong điện ảnh Việt Nam (phim câm) được quay tại cảnh
Trang 14quan Chùa Láng – Hà Nội, những năm 30 hoàn thành trọn bộ việc dịch KimVân Kiều ra tiếng Pháp”.[20]
Với 30 năm lao động và cống hiến, với vai trò là một dịch giả, mộtnhà báo, một nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định vị thếcủa ông trong nền Quốc văn hiện đại Việt Nam “Nguyễn Văn Vĩnh có thể coi
là một ông tổ của văn học thế hệ 1913”.[21; 179, 187]Kiến trúc sư Tô Văn Y (BảoLộc – Lâm Đồng) đã viết dòng câu đối kính tặng Nguyễn Văn Vĩnh:
“Công rạng rỡ nếp gia phong con cháu mấy châu ngàn đời vẫn nhớ
Ơn mở mang nền Quốc ngữ người dân nước Nam muôn thuở không quên”
1.2 Giai đoạn 1930 – 1945 với vấn đề làng
Khái quát lịch sử nghiên cứu làng Việt, đặc biệt là về làng Việt ở vùngBắc Bộ có thể tính từ đầu thế kỷ XX Những nghiên cứu sớm nhất được thựchiện bởi các học giả người Pháp, nhằm mục đích cho sự cai trị của chínhquyền thực dân như “ Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” của P Gourou (Pari,1936) Các học giả Việt Nam cũng có những cố gắng trong nghiên cứu vềlàng Việt Trong giai đoạn 1930 – 1945, một số công trình có thể điểm quanhư: “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (1937), “Sở hữu công ởBắc Kỳ: Góp phần nghiên cứu lịch sử pháp luật và kinh tế công điền công thổcủa nước An Nam” của Vũ Văn Hiền (Pari, 1939), “Phong tục và thiết chế củangười An Nam” của Phan Kế Bính (1945) Từ đó, ta nhận thấy đã có xuhướng chuyển dịch những quan tâm của tầng lớp trí thức tân học đối với làngxã,trong đó có Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh Mỗi tác giả khi nghiêncứu về làng với một khía cạnh khác nhau
Làng trong những nghiên cứu của Nguyễn Văn Vĩnh
Năm 1921, Nguyễn Văn Vĩnh nhận làm “ Chánh Hương hội” của làng
ở quê hương ông, làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông Ông nói: “Bởi lẽ trongsuốt 9 năm tôi điều hành Hội đồng làng xã, tôi đã có cơ hội tiếp thu những
Trang 15kinh nghiệm làng xã của người An Nam” [22; 73] Ở vị trí này ông đã có cơ hộiquan sát và miêu tả chân thực về làng Các bài viết về làng của Nguyễn VănVĩnh in trên tờ báo An Nam mới đã được tác giả Nguyễn Lân Bình tập hợptrong bộ sách “ Lời người Man di hiện đại” với các vấn đề như: “Phong tục vàthiết chế của người An Nam”, “Tập quán phong tục và tôn giáo của người AnNam”, Nguyễn Văn Vĩnh phân tích, phê phán những mặt hạn chế và sự lạchậu của một số tập quán cổ hủ trong dân gian, các kiến nghị cho việc cải cáchđối với một số phong tục tập quán và lối sống của người An Nam; “Cuộc sốngnông thôn và hoạt động sản xuất thâm canh với hình thức công cộng địaphương”, viết về một số chính sách cải cách nông thôn của chính quyền, cácloại hình chuyên canh với từng đối tượng cây trồng, vật nuôi và sản xuất đạitrà đối với một số loại hàng hóa đặc thù ở các vùng miền trong cả nước “Cótới hằng trăm nghiên cứu do ông tiến hành về các thiết chế và các tập quán,phong tục của người dân nước Nam Chúng ta không đề cao số lượng nhữngcông trình nghiên cứu mà chúng ta cần nhìn thấy các mối liên hệ hữu cơ giữacác dữ liệu tản mát, nhưng đã được kết nối lại, để dựng lên thành một tòa lâuđài, vinh danh các thành bang của đất nước An Nam này”.[23; 194] Viết về làngvới ông là một niềm đam mê trong suốt thời gian từ 25 tuổi “kéo dài gần nhưkhông ngừng nghỉ cho tới khi ông vĩnh biệt Chính những hoạt động này đãgiúp ông trở nên sung mãn suốt cả toàn bộ cuộc đời của mình” [24; 193] Ông đãtìm thấy chính mình trong các bài viết về làng xã Trong tác phẩm “lời ngườiMan Di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người An Nam)”, các bài viếtkhông theo thứ tự những số báo có bài viết trên tờ báo do chính ông sáng lậpL”Annam Novaeu (Nước Nam mới), với mục đích để độc giả sẽ dễ hìnhdung theo khái niệm thông thường: làng xã, dân cư, tập quán và một số điềukiện liên quan đến sinh hoạt của người nông dân.
Trang 16CHƯƠNG 2:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẶT RA TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH
2.1 Những vấn đề về phong tục
Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, ăn sâu vào đời sống xã hội,
được mọi người công nhận và làm theo Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc thường
có những phong tục, những đặc trưng khác nhau, người ta gọi đó là bản sắcdân tộc Những phong tục tốt đẹp, người ta gọi là “thuần phong mỹ tục”,những phong tục xấu, lạc hậu người ta gọi là “đồi phong bại tục” Phong tụcNguyễn Văn Vĩnh đề cập tới được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nótrở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục là một bộ phậncủa văn hóa và có thể chia thành nhiều loại
2.1.1 Những phong tục thường ngày của làng
2.1.1.1 Tục tang ma và truyền nghề
Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định: “Những phong tục tập quán mang tínhchất đạo lý và gia đình thường gây tò mò cho các nhà nghiên cứu” Phan KếBính đã ưu ái dành 8 chương với 87 trang trong “Việt Nam phong tục” để bànnhững phong tục trong gia tộc như cha mẹ với con cái, đạo làm con hay tang
ma, cải táng… Ở đây, Nguyễn Văn Vĩnh bàn về đám tang trên góc độ khi concái chết trước cha mẹ Đó được coi như một điều bất hạnh đối với gia đìnhngười đó Thói thường cha mẹ chết trước con cái, người ta sẽ làm lễ tiễn đưa
họ như một sự kiện thông thường Những bậc cha mẹ thường muốn đượcphụng dưỡng chăm sóc và khi chết đi được chôn cất bởi con mình Bởi thế,khi người con chết đi, họ chưa hoàn thành trách nhiệm và bổn phận với bậcsinh thành Đám tang của người con trai phải được tổ chức trong im lặng và
Trang 17giữ ở mức tối thiểu các nghi lễ tang ma Nguyễn Văn Vĩnh đã kể lại một tục lễ
mà bây giờ ta ít thấy Ở một số nơi, khi người con chết trước cha mẹ, lúc đặt
tử thi vào quan tài, họ sử dụng một loại nghi thức được coi như “sự trừngphạt” Họ cho những thi thể này ăn vận đồ tang và làm như người đó đã làmtang lễ tiễn đưa các bậc phụ mẫu ra đi Họ coi như người chết trẻ đó đã hoànthành nghĩa vụ của một người con Theo quan niệm Nho giáo, việc không cócon trai là một điều khó chấp nhận Khi mất đi người con ấy, họ đau lòng và
có phần trách móc là dễ hiểu Đành rằng, tục chịu tang mang một dấu ấn riêngcủa từng làng, nhưng nhiều nơi nhiều tục còn rườm rà Phan Kế Bính đã phêphán phong tục tang ma ở nhiều nơi và thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “ Nênnghĩ cách nào cho tiện mà giảm bớt phiền văn, bỏ bớt sự ăn uống, thì ngườigiàu đỡ tốn của, người nghèo khỏi vay công lĩnh nợ, không đến nỗi mất cơnghiệp vì làm ma” [25; 45] Nguyễn Văn Vĩnh không ủng hộ, không lên án Ông
mô tả lại những câu chuyện, tục lệ đó một cách khách quan
Những tục lệ mang tính chất của ngành nghề cũng được NguyễnVăn Vĩnh nhắc tới Ông lý giải tập tục đó được thiết lập riêng nhằm mục đíchbảo vệ, giữ gìn các công thức, bí kíp gia truyền cho việc sản xuất trong làng,tránh sự nhòm nhó của những người ở ngoài làng Tính cố kết cộng đồng gắnliền với tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết qua các quan hệ và thế hệtrong gia đình, trong làng Bởi ‘thuyền theo lái, gái theo chồng” Người congái khi lấy chồng ngoài làng sẽ đem những công thức sản xuất trong gia tộccho nhà chồng biết Những bí kíp sẽ chỉ được truyền lại cho nam giới và phụ
nữ đã kết hôn, không bao giờ truyền lại cho thiếu nữ chưa kết hôn Đó lànhững cách thông thường khi thế hệ trước truyền nghề lại cho thế hệ sau Bởithế, đôi khi nhờ vào tính cách đặc trưng của một làng, người ta có thể nhậnbiết được làng Chúng ta đã từng nghe những câu tục ngữ như: “Trai CầuVồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Linh”, “ Văn chương Xuân Mỹ, lý sự Thủy
Trang 18Khê”,… Hay như ở nước ta tồn tại rất nhiều làng nghề truyền thống: làngchiếu cói Nga Sơn (Thanh Hóa), làng lụa Hà Đông (Hà Nội), làng nấu rượuKim Sơn (Ninh Bình), làng gốm Gia Thủy (Ninh Bình) hay làng nem ThủĐức (Thành phố Hồ Chí Minh)… Đó cũng như một cách để bảo tồn nhữnglàng nghề truyền thống với thời gian và làm đặc sắc hơn nền văn hóa của từnglàng
đi sâu đánh giá những vấn đề đằng sau cánh cửa của nghi lễ trang trọng kia.Còn với Nguyễn Văn Vĩnh, ông trên chỉ trên phương diện là người xem và
mô tả lại các diễn biến của buổi lễ tế
Lễ Nam giao là nghi thức bắt buộc nhằm ca ngợi tình yêu, lòngngưỡng mộ với những cái cao đẹp và vĩ đại trong cuộc sống Lễ Nam giao lànghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ, vì chỉ nhà vua mới cóquyền làm lễ tế Giao; tức là lễ Trời Đất, nhằm khẳng định uy quyền của triềuđình và cầu mong cho mưa thuận gió hòa Bởi thế, trong buổi lễ sẽ xuất hiệnmột ông Vua mặc chiếc long bào Đó là một vị quan chức trong làng, hóatrang trong bộ “áo thụng đại diện cho vua làm lễ Nguyễn Văn Vĩnh miêu tảchi tiết mang đồ tế: “Đồ cúng tế được đặt trên một cái mâm và người ta phảinâng mâm lên ngang tráng, nửa con mắt của người nâng mân phải cố định vào
Trang 19miếng gương nhỏ được gắn vào cái vương miện bằng gỗ sơn son thiếp vàng”.Bởi họ quan niệm đó là hình ảnh của con người dâng hiến tâm hồn trong sạchvới thần linh Theo Nguyễn Văn Vĩnh “nó vượt lên trên hết thảy những gì tầmthường và dung tục” Một khi nghi thức quan trọng được tiến hành trang trọng
và ấn tượng, đến độ người phương Tây coi người An Nam là “man di”, cũngphải ngạc nhiên Nguyễn Văn Vĩnh đã so sánh sự trang nghiêm ấy với buổi tếcủa vị chủ tế Alexandre Đại đế do bất cẩn, đã làm đổ chiếc lư hương, nhưngông thà để những đốt ngón tay bị nướng chín chứ không chịu “buông lơi” nó.Alexander đã cố giữ chiếc lư hương đó để không làm ảnh hưởng tới khôngkhí trang nghiêm của buổi lễ, bởi mỗi vật thể trong buổi cúng tế đều được coi
là linh thiêng Tế là hình thức thờ phụng mặt đất, dâng đồ cúng tế với trầu têm
và rượu gạo Tế diễn ra hai lần trong năm, do các vị Nho sĩ trong làng và cácquan chức thực hiện nhằm tôn vinh Thành hoàng làng
Tế được sinh ra cùng thời với “Văn chỉ” trong làng “Cùng với sựphát triển và hưng thịnh của Nho giáo, Nho học một hệ thống các Văn miếu,Văn từ được thiết lập từ trung ương đến địa phương Vào thời cuối Lê đầuNguyễn, khắp các tỉnh trấn đều có Văn Miếu, khắp các huyện, tổng, xã, làngđều có Văn từ, Văn chỉ” [26] Văn chỉ là ngôi đền thờ cúng các vị Nho sĩ quá cốtrong làng Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” có chép: “ Mỗi làng cómột văn từ hoặc văn chỉ Đàn lộ thiên gọi là văn chỉ, có lợp mái gọi là văn từ.Văn từ văn chỉ để thờ riêng các bậc khoa hoạn trong làng Có làng hiếm vănhọc, chưa có người hiển đạt, thì thờ đức Khổng Tử gọi là Tiên thánh sư, đểlàm chủ trương cho việc văn học trong làng” [27; 41] Nguyễn Văn Vĩnh đồngquan điểm với Phan Kế Bính khi cho rằng một số người đã sai lầm khi gọiVăn chỉ là nơi thờ đức Khổng Tử ở các làng xã Tại Văn chỉ, ngôi đền thườngthấy ở các làng xã, lễ hiến sinh được thực hiện hai lần một năm và chỉ nhằmmục đính vinh danh các vị Nho sĩ xưa trong làng “Mỗi năm tháng 2, tháng 8
Trang 20hai kỳ gọi là xuân thu vịnh đình, có nơi cả làng tế, có nơi chỉ người có chântrong hội tư văn mới được dự tế”[28; 142] Nguyễn Văn Vĩnh nói văn chỉ khôngphải đền thờ Khổng Tử, bởi chỉ có vua và quan chức hàng tỉnh mới được làm
lễ hiến sinh tôn thờ Khổng Tử trong những nghi lễ quốc gia Do đó, nghi lễnày chỉ dành cho đại diện cấp cao của nhà nước Trong cuốn “Nếp cũ – Tínngưỡng Việt Nam”, tác giả Toan Ánh có mô tả về cấu trúc văn chỉ: “Lớptrong cùng (của văn từ, văn chỉ) thờ đức Khổng Tử được tôn làm Thiên ThánhSư…lớp này gồm một ban xây thay cho hương án, 2 bên có những câu đối và
ở trên, nếu là Văn chỉ thì viết ngay vào tường”.[29;58] Nói thờ Khổng Tử là theo
ý Phan Kế Bính, làng nào không có người hiển đạt, thì thờ Khổng Tử để làmchủ chương cho việc văn học trong làng Tại nhiều vùng quê, trong bối cảnhchiến tranh loạn lạc, khi văn chỉ bị phá hủy, các cụ cao niên trong làng đãmang bia văn chỉ về thờ tại các đình làng, miếu để tiếp tục duy trì thờ tự Từxưa, các văn chỉ là nơi tôn vinh Nho học, diễn ra các hoạt động tế tự ban bốcác chính sách khuyến học, nhiều văn từ lớn còn có chức năng làm trườnghọc, nơi khảo hạch sĩ tử và đón rước Tiến sĩ vinh quy bái tổ Vì vậy, NguyễnVăn Vĩnh nói rằng “ trong những ngôi làng không có tầng lớp Nho sĩ sinhsống thì không có văn chỉ”
Trang 21nhiều vô kể vì không có nhóm nào hay hội nào mà lại không có những lễ hộiriêng, kèm theo cỗ bàn ăn uống: hội của giáp, của thôn, của tư văn Nhữngngười già đến 60 tuổi phải làm cỗ mời những người già khác; các bà già cũng
có những cỗ bàn riêng”.[30; 255]
Trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố, chuyện ăn uốngnày cũng được khai thác ở nhiều góc độ Đó là lời chăng chối của cụ Thượngkhi xót xa cho bản thân và thằng con trai mình: “Ấy là bởi gánh việc làng Cáilàng Lão Việt nhà tôi có thể đại diện cho cả hương thôn già cỗi của nước ViệtNam Vì nó là chỗ chứa hủ tục Bất kì hủ tục nào, làng tôi đều có đủ cả Vì thế
mà tôi suốt đời còm cọm, chỉ để đóng góp là vừa Bây giờ tôi sắp nằm xuống,lại sắp để lại cho thằng con tôi một cái gánh nặng Những sự linh đình ôngthấy ở ngoài sân kia, sẽ là món nợ mà một đời nó chưa chắc trả hết”.[31; 13 – 14]Mỗi khi có việc gì đó của làng, lại xuất hiện việc tụ tập ăn uống Một ông vìmua được chức quan nơi “góc chiếu sân đình” đã phải bán trâu, bán ruộng,vay nợ khắp chốn để khao làng Những hủ tục đẩy người dân vào cảnh điêuđứng khốn cùng, thậm chí có người khuynh gia bại sản cũng chỉ vì miếng ăncho làng Đơn giản chỉ một cuộc họp bàn về thể chế thường niên, làng cũng
mổ một con lợn hoặc vài ba con chó, chi phí được cộng luôn vào tổng số thuếkia Khi một nhà bị mất cắp cũng phải mở tiệc đãi làng để vừa ăn vừa bàn tính
sự việc Chi phí thường là tương đương có khi còn cao hơn giá trị kinh tế củavật bị mất cắp Đó là lý do tại sao trước một vụ trộm người ta thường tìm cáchgiấu đi Một sự mâu thuẫn cá nhân cũng được các vị hào lý hội họp ăn uống
để phân xử “Mọi cơ hội đều được tận dụng để ăn uống” Nếu muốn giảiquyết ổn thỏa bất kì công việc gì, đầu tiên là phải đãi ăn Nguyễn Văn Vĩnh đã
mô tả lại một câu chuyện thú vị: “Muốn nhìn thấy một người hạnh phúc, hãynhìn một anh chàng nhà quê nốc rượu trong cái ấm sành và dùng hàm răngchắc khỏe, cắn rôm rốp cái giẻ sườn của con chó vàng Cảm giác thăng hoa
Trang 22đến độ anh ta vươn vai, giãn xương kêu răng rắc, dường như là để chứng tỏcái công dụng của chất kích thích tuyệt hảo kia, ảnh hưởng thế nào với các bộphận trong cơ thể” Nó cho thấy sự thích thú và hào hứng thế nào của việcđược đãi ăn
Đằng sau bữa tiệc linh đình ấy là cả một “món nợ chung thân” màngười khổ chủ có khi phải nai lưng trả nợ suốt đời Hẳn bạn đọc còn nhớ anhchàng phu xe trong “Việc làng” của Ngô Tất Tố: “ lệ làng ta là vậy…mộtngười nằm xuống dù giàu nghèo đều phải giết một con lợn đãi “phe” một bữadấm nghém…Đời con không biết lúc nào trả xong nợ ấy Bây giờ đã vậy,không biết rồi khi về già không kéo nổi cái xe kia nữa thì làm thế nào?”.[32; 127]Tiệc ăn uống cũng được mở khi đón tiếp vị quan chức xuống thông báo chỉ
dụ Bàn công việc thì ít mà chè chén với họ là trên hết Một vụ việc có thể kéodài hằng năm, cốt chỉ để được đãi ăn Để giành được một vị trí cao trong làng,người đó trước hết phải khao làng Ca dao ta có câu: “Bụng lép vì đình, bụngphình vì chùa “Nếu anh chưa đến ăn tại nhà người khác, thì cha hoặc ông nội
a đã ăn ở nhà người ta hồi nào rồi, và anh có nghĩa vụ trả cái bữa mà họ đã ănhồi nào đó” Món “nợ miệng”ấy đã có từ rất lâu, giai đoạn 1930 – 1945 nước
ta đương còn rất nhiều Người nông dân dù không muốn, nhưng vẫn phải è cổchấp thuận: “Thiếu nợ vua chứ không ai thua lệ làng” Ta thấy được bộ mặtcủa những kẻ tạo ra và duy trì phong tục ấy, dựa vào nó để kiếm lời, củng cốquyền lực trên mồ hôi thậm chí cả xương máu của dân đen Những ngườinông dân đã chán ngấy tranh cãi về việc bãi bỏ tục này Họ lên kế hoạch cấmcác buổi tiệc cá nhân lớn và ăn uống tại đám ma, nhưng không thực hiệnđược Cuộc trao đổi, đánh chén này diễn ra như một thông lễ bắt buộc mà nếukhông có nó, sẽ bị coi như làng chết
Trang 23
2.1.1.4 Cách sống ở nông thôn
Nguyễn Văn Vĩnh đã vẽ ra phần nào cuộc sống thường ngày của ngườidân trong làng Cái gọi là “quyền con người” đã không được người dân hàilòng Ông so sánh một số nét văn hóa và tập tục của cư dân An Nam vớingười phương Tây Họ bỡ ngỡ trước cảnh người chồng khoác tay vợ và có cửchỉ âu yếm khi trên đường Họ coi người tập thể dục là những “sinh vật lạ” vàcười phá lên khi thấy một người trầm ngâm sáng tác văn thơ Ngược lại,người phương Tây coi họ là mọi rợ và trơ chẽn khi tự ý vào nhà người khác
Có người do ngấm lối sống phương Tây đã không thể sống được trên chínhquê hương mình
Người dân bản địa có những phong tục riêng mà dù muốn hay không,người ta cũng phải chấp nhận Không ai được phàn nàn khi họ khóc than, tổchức các nghi lễ ồn ào trong đám tang Ngay cả tiếng nhạc réo rắt của cây sáobuộc trên cánh diều hè cũng không ai được than phiền Mọi người sẽ phảinhường nhịn nhau nếu muốn cùng chung sống trên một làng.Theo NguyễnVăn Vĩnh, giữa người dân Châu Âu và Châu Á có sự đối lập về đạo lý và cáchsống Người phụ nữ khi nhìn thấy người phu nghèo tắm ao thì ngoảnh mặt đi,nhưng nhìn thấy người thợ đấu trần truồng lao động thì trong đầu không hềgợi ý nghĩ phàm tục Chính “sự trần trụi của nghèo đói trên đất nước chúng takhông làm mất đi sự kín đáo, e lệ” của chính những người dân quê mộc mạc
2.1.2 Tín ngưỡng – tôn giáo trong làng xã cổ truyền Việt Nam
2.1.2.1 Lễ hội
Lễ hội là phần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của ngườinông dân trong làng “Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tínhcộng đồng “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tônkính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con
Trang 24người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện “Hội” làsinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầucuộc sống”[33] Nói như Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”: “
Cư dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân nôngnghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụtạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp
để người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ mùa màng đã qua, vừacầu xin thần linh cho mùa màng sắp tới Dần dà, biến thiên thời gian đã lắngđọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân gọi
là lễ hội”.[34; 97]
Theo Nguyễn Văn Vĩnh, lễ hội của người dân thường gắn liền với sinhhoạt tôn giáo, tín ngưỡng Những người theo Phật giáo tổ chức lễ hội vào dịpđầu hè hằng năm để cầu xin thần thánh một năm yên bình, tránh xa mọi bệnhtật Khi khoa học chưa có biện pháp để giải quyết vào những đợt hạn hán lớnhay côn trùng phá hoại, thì tìm đến và tổ chức những buổi lễ hội sẽ là hy vọngduy nhất của người nông dân “Người nông dân được tái tạo trong nhiều lễhội, lễ hội công cộng, bán công cộng hay lễ hội của nhóm, lễ hội tư… nhữngtrò chơi đa dạng nói lên những giai đoạn trong cuộc đời của thần, khiến ngườidân quê vui thú: trò đấu vật, đá cầu, kéo co, hát ghẹo nam nữ, đua thuyền, tròdiễn nghề nông, thi nấu cơm, chơi cò người, đám rước chữ, hát chèo, chọigà…”[35; 254 - 255] Gía trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh.Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng Đó là
“một sinh hoạt tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cảmọi người, cho mỗi một con người Những quy cách và những nghi thức của
lễ hội mà mọi người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộngđồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó thấymình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn.”[36; 180 - 181]
Trang 25Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra những lý do nhiều người vội kết luận vềtôn giáo của một làng khi họ chỉ nhìn thấy một cơ sở vật chất chung của làng.
Họ cho rằng dân tộc An Nam theo đạo Phật khi nhìn thấy ngôi chùa Nhữngngười khác nhìn thấy quán Văn chỉ thì nghiêng về đạo Khổng, hay thờ tổ tiên.Cũng có ý kiến khẳng định mỗi làng đều có vị thánh riêng bảo hộ cho làng.Thực tế, làng nào cũng có một cái đình là nơi sinh hoạt văn hóa chung, hoặc
là nơi để hội họp, giải quyết các vấn đề trong làng “Bàn về tôn giáo củangười Việt Nam người ta thường cho rằng có 3 tôn giáo: Khổng giáo, Phậtgiáo và Lão giáo Song thật ra thì tôn giáo của ta phức tạp hơn thế nhiều Batôn giáo ấy do ở Trung Quốc truyền sang, không những ảnh hưởng nhau mậtthiết, mà lại còn dung hòa với các tín ngưỡng và tế tự lộn xộn, trong ấy khôngthể nào phân biệt được phần nào thuộc về loại nào Theo đại khái thì trước khi
có cơ đốc giáo du nhập, người nước ta đồng thời sung bái cả Trời, Phật, cácthần linh ở trong vũ trụ, các quỷ thần hay là linh hồn người chết.”[37; 221]
2.1.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Thờ Thành hoàng làng là một nét đặc sắc trong tín ngưỡng của người AnNam “Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cáihào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vịthần coi giữ, bảo trợ cho cái thành.”[38] Người Việt có truyền thống “uốngnước nhớ nguồn”, do vậy hầu hết ở mỗi làng quê đều lập đình hoặc đền, miếuthờ vị Thành hoàng của làng mình Thành hoàng là người có công với dân,với nước lập làng hay sáng lập ra một nghề (ông tổ của nghề) Mà theoNguyễn Văn Vĩnh, “Thành hoàng của một ngôi làng là nhân vật của lịch sử,hoặc theo huyền thoại, hạt nhân đầu tiên có công sáng tạo ra ngôi làng theomột cách ngẫu nhiên, mà cũng có thể mơ hồ, dựa theo ý tưởng của một vị đứccao vọng trọng nào đó…” Nguồn gốc xuất thân của Thành hoàng làng nhưtrong Việt Nam phong tục có chép: “Xét về cái tục thờ Thành hoàng này từ
Trang 26đời Tam quốc trở về vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầuđảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làmtướng, mới bắt đầu lập miếu Thành hoàng ở thành đô , kế đến nhà Tống, nhàMinh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ Nước ta thuở bấy giờ đang lúcnội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh , Lê thì việc thờ quỷthần đã thịnh hành rồi Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương códanh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy để làm chủ tểcho việc ấm tí một phương mà thôi Kế sau triều đình tính biểu những bậctrung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền chodân xã ở gần đâu thờ đấy Từ đó dân gian dần dần bắt chước nhau, chỗ nàocũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình Làng nào có sẵn ngườianh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì cầulấy một vị thần linh khác rước về nhà thờ Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị,việc bói toán, việc tá khẩu, tin là một sự linh dị mà thờ Hoặc nơi thì vì một sựngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duệ hiệu để thờ Té ra làng nào cũng cóđền, xã nào cũng có miếu Đến cả những xã mới lập, trước tiên cũng nghĩ đếnviệc thờ thần”.[39; 96 - 97]
Bản chất của tín ngưỡng thờ Thành hoàng là liên kết cộng đồng làng
xã, cầu mong đời sống ổn định ấm no cho làng và thờ thần bảo vệ làng.Không có tiêu chuẩn cụ thể để trở thành Thành hoàng của làng “Động vậtcũng được thường xuyên thần thánh hóa Một số trường hợp khác hiếm thấyhơn thậm chí thần thánh là những người còn sống như một ông quan cấp cao,hoặc một nhân vật đã có tầm ảnh hưởng lớn, đã giúp đỡ dân làng trong mộtdịp nào đó, vì thế, dân làng tôn người đó làm Thành hoàng thay thế cái ôngThành hoàng cũ vốn đã không làm gì để bảo vệ họ” Bởi Thành hoàng lànhững vị có công với dân, nên đó chính là “đức tin với người dân và là biểutượng đối với học giả” Lập Thành hoàng như một nguyên tắc thống trị của
Trang 27triều đình Thành hoàng chính là ông Thần làng được du nhập từ Trung Hoa,sang nước ta phần nào biến đổi Tại sao các Thần làng được phong tướcvương với chức danh “Thành hoàng”? Trong giai đoạn này, giai cấp phongkiến muốn thâu tóm vương quyền, họ muốn quản lý người dân một cách triệt
để cả về mặt thần quyền Đây chính là phương thức quản lý tinh vi của giaicấp phong kiến Thành hoàng đã vô tình trở thành một trong những quan chứccủa Nhà nước để bảo vệ làng Một làng hay một tổ chức mới thành lập ngaylập tức được đặt dưới sự bảo trợ của thần thánh Vì “dân ta tin rằng: Đất cóThổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có Thành hoàng ấy, vậy phải thờphụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc sự thần một thịnh”.[40; 97]Thành hoàng không thờ ở miếu hay đền , mà ở đình “Trời lấy đình để nuôimuôn vật Đất lấy đình để chứa muôn loài Người lấy đình làm nơi tụ họp”(Ngô Thì Nhậm) Theo GS Hà Văn Tấn: “Đình có nguồn gốc từ ngôi nhàchung của làng xã (thời tiền sử hoặc sơ sử) Đình là một thiết chế văn hóa dunhập từ Trung Hoa, người Việt Nam đã tiếp nhận và biến đổi trở thành nơi thờcúng
Độc lập với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng còn có một loại nghi lễđộc đáo khác Đó là tín ngưỡng chính thức được Văn chỉ thực hiện dành riêngcho người quá cố nổi tiếng trong giới học giả trí thức Tín ngưỡng này thựchiện một tháng 2 lần vào lúc trăng khuyết và trăng tròn của mùa xuân và mùathu, được đưa vào bởi Văn Phả và sự trợ giúp của các vị quan chức trong làng
và các văn sĩ
Ngày mùng một (lễ Sóc vọng) và ngày mười lăm hàng tháng âmlịch, người gác đình thắp đèn, hương, đánh chuông và trống, đại diện cho cảlàng cúi lạy trước bàn thờ Cửa đình mở cả ngày để dân vào lễ còn bìnhthường thì không Vào ngày thường, họ thắp một ngọn nến và ba thẻ hươngthờ trong đình Người gác đình có thể là người làm thuê hay ông một ông già
Trang 28không nơi nương tựa muốn cống hiến đời mình và bảo vệ ngôi đình Trongthời gian trông coi đình, người đó không được giao du với bên ngoài Có làngđặt ra quy định rất nghiêm ngặt, phải luôn ở trong đình, cấm tất cả liên hệ vớithế giới bên ngoài, thực hiện chế độ ăn chay tuyệt đối Các nhân vật chức sắctrong làng chỉ có thể nhận được quyền ưu tiên sau một năm trông coi đình Takhông khó để bắt gặp một ngôi đình khi về các làng quê hay bất cứ nơi đâutrên đất nước Việt Nam Chỗ nào đất đai và vị trí thuận lợi, tiện cho dân hộihọp thì người ta cho xây đình Đình theo Nguyễn Văn Vĩnh là nơi “bảo vệ các
vị thần thánh” Đình thường trồng nhiều cây cối cho sầm uất, nơi nào lắm cổthụ, tức là nơi thắng cảnh và là đình miếu lâu đời Nguyễn Văn Vĩnh đã ghilại dấu ấn khi được vinh dự đứng đầu Hội đồng hương xã, điều hành buổi lễtại đình Chính Nguyễn Văn Vĩnh là người chủ trương khôi phục lại sự thờphụng, để mang lại hòa khí và sự phát triển ổn định Ông đã dựng lại khôngkhí trang nghiêm của buổi lễ mà từ 20 năm nay người dân nơi đây khôngđược chứng kiến
2.1.2.3 Phật giáo dân gian
Phật giáo là một tôn giáo phổ biến trong đời sống tâm linh của ngườidân ta Ở đây, Nguyễn Văn Vĩnh không nói tới những tín đồ theo Phật giáo.Mỗi làng thường có ít nhất một ngôi chùa Phật giáo Đó là “tài sản quý báu,
là nơi lưu giữ các áng văn trên những tấm bia cổ, những tiêu đề và những bảntruyền miệng hiếm cần được gìn giữ” Ngôi chùa đó là tài sản của cộng đồng,bởi dân làng đã góp tiền để xây dựng nên Nơi đây thờ phụng Đức Phật vàQuan Thế Âm Bồ Tát (Quan Âm) Trụ trì là người đứng đầu tu sĩ trong chùa,
là bậc thầy của các môn đồ Phật giáo Người đó có quyền lợi ngang hàng vớinhững người sáng lập và chủ sở hữu ngôi chùa.Vì nguyên tắc tu sĩ Phật giáokhông sở hữu bất kỳ cái gì cho riêng mình Cuộc sống của các nhà sư được
Trang 29đặt dưới sự bảo hộ của các tín đồ trung thành với Phật giáo Họ thiết lập cáckhoản chi phí cá nhân, chứng minh công lao của nhà sư giành cho chùa
2.1.3 4 Chuyện bói toán
Bói toán là một phương pháp “lai Tàu lai ta” được Nguyễn Văn Vĩnhtìm hiểu khá kĩ Người viết xin trích đoạn trong nghiên cứu của ông: “ Nếu có
ai đó hỏi tôi: người dân nước nào ham hố hơn cả trong việc tiên đoán tươnglai, hoặc hỏi rằng dân tộc nào sở hữu nhiều phép thuật bói toán nhất, tôi sẽ trảlời không chút ngần ngại rằng: đó là dân Trung Hoa! Xin bạn hãy biết rằng,chỉ mấy năm trước đây thôi, số lượng những người làm thầy bói đông vô kểtại cái đất nước cộng hòa tự xưng là hiện đại này” Khi chịu ảnh hưởng vănhóa Trung Hoa, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và cả một số phong tục “lạ” đã dunhập vào nước ta Các phương pháp bói toán cũng từ đó mà sang “Đây chính
là tổ quốc của tất thảy các loại hình mê tín dị đoan mà người ta có thể tưởngtượng được ra và cũng không thể nào tưởng tượng ra được” Khi các loại hình
đó xâm nhập vào nước ta, có cách không thay đổi, có cách đã bị biến đổi ítnhiều, có kiểu trước khi hòa nhập vào nước ta đã bị thay đổi những chi tiếtkhông quan trọng Nguyễn Văn Vĩnh gọi đó là những phương pháp bói toán
“lai Tàu lai ta” là vì cớ đó Mỗi kỳ có thư báo từ Hồng Kông tới, hàng “bầyđàn” những người đợi xem bói, bói chữ viết, bói chữ ký, những người xemđịa lý, thầy bói đủ loại đến xem như phong trào vậy Cuốn Kinh Dịch nổitiếng và cổ nhất của Trung Hoa đã đặt những viên đá tảng đầu tiên cho thuậtbói toán tại nước này Những thầy bói toán vô cùng sùng bái “bát quái” củaPhục Hy Người Trung Hoa tự hào vì sự ra đời của Kinh Dịch và tin rằng các
vị thánh trên trời không ngừng bịa ra các phương pháp để đặng tiên đoán chotương lai Các phương pháp đó ngày nay vẫn được sử dụng rất phổ biến, lêntới 50 phương pháp Trong đó, phương pháp rất phức tạp có, đơn giản có Nó
Trang 30xâm nhập từ Trung Hoa sang theo cao trào, có khi bị lãng quên ngay ở TrungHoa, nhưng lại được duy trì bởi người An Nam.
Nguyễn Văn Vĩnh đã kể ra một cách bói toán thú vị bằng chân gà trống(bói bằng động vật) Ông đã phỏng vấn những người hành nghề bằng phươngpháp này và biết được đây là môn khoa học bắt nguồn từ Trung Hoa Trướckhi bói, họ khấn bà tiên Cửu Thiên Huyền Nữ, tác giả của phương pháp này.Cũng có ý kiến khác cho rằng đây là phương pháp do Nguyễn Thị Châm,người gốc Hải Dương đặt ra Khi đất nước có chiến tranh, bà đã trốn và định
cư bên nước Tàu Bà đã nghĩ ra cách bói toán bằng chân gà trống để đoán biếttin tức của quê hương Phương pháp này được bà truyền dạy lại cho nhữngngười xung quanh, ta hay gọi là thầy giò Ở Hà Nội bây giờ còn khoảng bốnhoặc năm chục những ông thầy giò như thế Họ tụ tập tại các ngôi chùa “Đồđoàn của họ chỉ có một cái hòm hình chữ nhật sơn then đen, bên trong có cả
bộ chân gà trống tiêu biểu và một cuốn sách nhỏ hành nghề bói toán bằngđộng vật” Nguyễn Văn Vĩnh đã mô tả rất chi tiết từng công đoạn của cáchbói này, mà người viết xét thấy có nhiều thủ tục rườm rà, kết luận tiên đoánthiếu căn cứ
Những phong tục, tập quán của dân ta, chủ yếu bắt nguồn từ TrungHoa “An Nam ta kể từ lúc có nước đến bây giờ thì đã ngoại bốn ngàn năm.Song về đời Hồng Bàng thì còn là một nước tối cổ, tục khi đó hẳn cũng nhưMường Mán bây giờ Kế đến hồi Tàu sang cai trị, thì những văn minh của Tàumới dần dần truyền bá sang nước ta Bấy giờ ta mới có học hành, có giáo hóathì phong tục ta cũng mở mang ra ít nhiều Từ đời Ngô Quyền gây nền độclập, rồi kế đến Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê cho chí Nguyễn triều nước ta đãthành ra nước tự chủ; mà trong cách chính trị, cách giáo dục điều gì cũng lànoi theo của Tàu, cho nên phong tục ta bây giờ phần nhiều do ở Tàu mà racả”.[41; 7] Trong những phong tục đó, hủ bại có, tốt đẹp có, nhưng Nguyễn Văn
Trang 31Vĩnh không lên án cũng không hô hào Ông làm công tác thu thập chúng.Người nông dân nhờ vào những ngày lễ, hội tập tục mà nghỉ ngơi và thờ cúngthần linh sau những ngày làm việc “Dưới biểu hiện tẻ nhạt và nghèo nàn,cuộc sống trong làng rất sôi động và phong phú; nó đem đến cho người dânquê lợi ích và sự đam mê Những hiện tượng muôn vẻ của đời sống chính trị,tôn giáo và xã hội đem lại cho người nông dân cơ hội để thỏa mãn ước mơchinh phục, những cỗ bàn phong phú, hận thù của thất bại, chua chát của mốinhục phải chịu, thú vị của những mưu mô và thủ đoạn, những hội hè náo nhiệt
mà cả làng đồng lòng tham gia, tất cả những cái tránh cho người nông dânphải suy nghĩ về điều kiện sống tồi tàn, để tính toán về những món lợi cỏncon, nghĩ suy về những món nợ đang đeo đẳng mà phần lớn thu nhập nhỏnhoi phải dồn vào công nợ”.[42; 247] Trong “Người nông dân châu thổ Bắc Kì”
có chép: “Là yếu tố chủ yếu của cảnh quan, làng còn đóng vai trò hàng đầutrong đời sống tâm linh và xã hội của người nông dân Nông dân không phải
là những cá thể cô độc, không phải là một công dân bất kì của một xã hội chỉtham gia từ xa vào đời sống của xã, như cư dân của nông thôn Pháp, ngược lạiđời sống tôn giáo, chính trị và xã hội của làng xã Việt Nam rất sôi nổi vàthường nhật, và mọi người nông dân đều tham gia một cách chân thành, nhiệttình với tham vọng sẽ giữ được vai trò ngày một lớn hơn”
2.2 Những vấn đề về thiết chế
Thiết chế là hệ thống các quy chế, chương trình có tính quy định về sử
dụng các cơ sở vật chất cũng như các tổ chức, các hoạt động liên quan đếnmột phạm vi cụ thể trong cộng đồng làng
Trang 322.2.1 Các loại hình tổ chức làng xã
2.2.1.1 Khái niệm làng
“Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nôngnghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặtkhác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông,với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xãhội nông nghiệp ấy Làng được hình thành, được tỏ chức chủ yếu dựa vào 2nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ Một mặt, làng có sức sống mạnh liệt, mặtkhác xét về cấu trúc, làng là cấu trúc động, không có làng bất biến Sự biếnđổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của nhữngmối liên hệ làng và siêu làng” [43; 130] Làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ là hìnhthức công xã nông thôn với những đặc thù riêng của làng, hình thức công xãnông thôn “nửa kín, nửa hở” (chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng) Nhữngđặc thù riêng của làng thể hiện ở chế độ ruộng đất, các loại hình tổ chức xãhội, phong tục, tín ngưỡng, thiết chế của làng
“Làng mạc ở châu thổ Bắc Kì khiến cho người ta phải chú ý Nhìn từmọi phía, nó hiện lên thành một mảng màu thẫm, có ranh giới rõ ràng củanhững bờ rào mọc xung quanh Mỗi ngôi làng không xuất hiện trong cảnhquan như một tập hợp của nhà cửa, mà là một khối cây xanh Nó được baobọc bằng một rào tre với những ngọn cây dày đặc tạo thành một lũy chắcchắn, những cành tre rung rinh đem lại một khung cảnh xanh tươi và trangtrọng cho ngôi làng… Người ta tính ở châu thổ Bắc Kì khoảng hơn 7.000làng, chiếm diện tích 1.100 km2, nghĩa là gần 7,5 % tổng diện tích của đất đai:những con số đó cho thấy tầm quan trọng địa lý của làng; mặt khác, các bản
đồ phụ lục về làng cũng cho thấy vị trí đáng kể của làng trong châu thổ”.[44; 216]
Trang 332.2.1.2 Tập hợp người theo địa vực thôn, xóm, giáp
Ban đầu, làng được phân chia thành các thôn, xóm, giáp, ngõ theocách thức phân chia rành mạch giữa các đơn vị này với nhau Chính quyềntỉnh phân chia đến thôn Đó là một trong những hình thức tổ chức xã hội quantrọng nhất của nông thôn người Việt “Thôn là một xóm có thể có đình, chùa
và những tập quán riêng”, [45; 250] độc lập với phong tục tập quán chung Vì lẽ
đó, có sự chanh chấp giữa các thôn trong làng với nhau Thôn này phân cáchvới thôn khác bằng một khoảnh đất riêng biệt trong không gian cư trú Khiđăng ký suất đinh ở thôn gốc, họ vẫn là người của thôn dù sống ở thôn khác.Nhiều thôn hợp lại thành một làng và có xu hướng tách biệt nhau về hànhchính Các thôn đôi khi đối lập nhau về cách thức phân chia đất đai, các côngviệc chung của chính quyền Các thôn đều có thể có hoặc không các viênchức cấp xã Có thôn thường muốn giành những hoạt động chính trong xã,nhưng có thôn không màng tới Số lượng nông thôn không giới hạn trong xã,
có thể từ hai, ba hoặc lên năm, tám trong một xã Một thôn có thể bao gồmnhiều xóm và giáp Khi một thôn có tầm quan trọng trong xã và có chút độclập khỏi xã thì được coi là một thôn riêng biệt của làng
Xóm là một sự phân chia địa lý của làng hay của thôn: ví dụ nhữngngôi nhà 2 bên một con đường, một cái hố hay một rặng tre hợp thành mộtxóm Nó có nguồn gốc là một phần đất, rồi trở thành một phần lãnh thổ theonhững quy ước chung Xóm tham gia vào việc thờ cúng trong làng bằng đồcúng tế riêng Có sự chênh lệch về nhân khẩu giữa các xóm: “có xóm có tới
100 nhân khẩu, nhưng có xóm chỉ có được 2 người” Có xóm vì quá ít hoặckhông có nhân khẩu phải xóa sổ Có một phong tục hình thành trước đó là dùxóm ít hay nhiều nhân khẩu, xóm đó vẫn phải đóng góp vào việc thờ cúngchung theo tỉ lệ chia đều “Lĩnh”là người đại diện và mang lễ vật cho xómtrong các buổi lễ hay họp xã Người này có nhiệm vụ đi thu các khoản đóng
Trang 34góp cá nhân hay hay quản lý tài sản, đất đai ruộng đất hoặc ao chuôm Ngườidân trong xóm sẽ tụ họp ăn uống tại nhà của Lĩnh
Mỗi làng có nhiều giáp mà số lượng có thể lên tới hai mươi Nguồngốc “giáp”chắc chắn là một sự phân chia về mặt địa lý, bởi cái tên giáp đượcđăng kí lúc đầu là bao gồm của một khối dân cư Có những giáp mà các thànhviên của nó phân bố trong tứ phía của làng và hiển nhiên là không bị bắt buộcphải tham gia vào công việc thờ cúng chung Các buổi lễ đặc biệt của giápthường được tổ chức ở đền hay chùa nằm trong địa phận của giáp Đặc điểmnổi bật của giáp là sự tồn tại của nhiều lứa tuổi tức con đường tiến thân củamỗi cá nhân qua các tuổi kế tiếp nhau Giáp không hoàn toàn giống các hìnhthức tổ chức khác trong làng Bởi nó có nhiều khả năng nhất để khuôn mọingười vào một thân phận chung Đây là những người tiểu nông tư hữu thuộcnhiều thành phần giai cấp có thể đối lập nhau, cư trú trong những xóm ngõ cóthể xa nhau trên địa vực của làng xã, xuất thân có thể từ những dòng họ khácnhau Nhưng khi đã là thành viên của giáp thì cùng chung một thân phận (thờiđiểm trình làng, tuổi lên đinh, tuổi lên lão làng…) Giáp hay còn gọi nôm na làphe Ngõ là một lối đi hay một con đường nhỏ theo đúng nghĩa đen của nó.Mỗi lối đi đó thường mang tên của giáp hay xóm Giáp mang tên kí tự, ngõmang tên dân dã của người An Nam
2.2.1.3 Tập hợp người theo nghề nghiệp
Phường có thể bao gồm những người có gốc gác khác nhau, nhưnglàm cùng một nghề Phường là một đơn vị hành chính trong một thành phố,cũng như làng là một đơn vị hành chính trong một tỉnh Phường trong thànhphố thường là một đơn vị hành chính tách biệt không như làng là nơi cư dânđịnh cư thường làm cùng một loại ngành nghề Phường có thể mang tên củalàng gốc và thờ vị Thành hoàng của làng đó Những người có xuất xứ từ làng
Trang 35được tiếp nhận tại tòa thị chính và hưởng quyền ưu tiên như nhau Người cóphẩm hàm tại phường có quyền dùng phẩm hàm đó tại làng gốc của mình Làng Việt còn có các hội theo chức nghiệp và theo lứa tuổi Hội Tưvăn xuất hiện rất sớm, có thể có từ thế kỷ XV duy trì và phát triển vào các thế
kỷ XIX, XX Đây là hội của các đồ nho chữ Hán Một số làng có thêm hội Tư
võ hội Làng binh của những người đi lính và các quan võ về làng Hội theolứa tuổi có hội Lão hay hội Đồng niên
2.2.2 Bộ máy lãnh đạo làng xã
2.2.2.1 Bộ máy tự trị - tự quản
Mỗi làng đều có một bộ máy lãnh đạo riêng, duy trì đời sống của dânlàng một cách có tổ chức Hội Tu Văn hoặc hội Học sĩ, bảo tồn truyền thốngvăn chương Hội quy tụ những người tự cho mình có học, có phẩm hàm vănchương, có một chức quan, thực chất hoặc danh dự Tại những làng không cónhững nhân vật như trên, họ tiếp nhận cả người đang hoặc đã từng làm việccho xã Đó là các Chánh, Phó tổng, Lý trưởng
Văn phả (Học sĩ đoàn) gồm những người có bằng cấp đại học hoặc đãtừng tham gia ít nhất 1 lần các cuộc thi văn chương Các thành viên Văn phảđược xếp thứ tự theo sổ sách và trong cuộc họp theo trật tự được xem xét kĩlưỡng Đầu tiên là thứ hạng các phẩm cấp về văn chương Những người thitrượt cũng được xếp hạng theo trình độ đã được ghi nhận Những người vàođược ba vòng thì xếp trên người chỉ vào được hai vòng, người qua hai vòngthì xếp trên người chỉ tham gia một vòng Người này lại xếp trên người chỉtham gia vòng thi loại cấp tỉnh Các phẩm cấp tương đồng nhau lấy tuổi táclàm tiêu chí Văn trưởng là người có phẩm cấp cao nhất lãnh đạo Văn phả, gọi
là Hội Trưởng học sĩ Thông thường Văn trưởng là người chủ trì các hoạtđộng lễ nghi của làng xã, viết điếu văn tại lễ tang theo phong tục từng làng
Trang 36Võ phả (Đoàn nhà binh), là nơi tham gia của những người có cấp bậctrong quân đội Binh lính được triều đình phong hàm qua các bài thi lí thuyết
và thực hành quân sự Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ ra, trong số các cử nhân quân
sự, gọi là cử võ người duy nhất còn sống trên toàn cõi Bắc Kỳ là ngài NguyễnĐình Tốn Ngoài các cấp bậc giành được trong các cuộc thi, các hội viên Võphả được xếp thứ tự theo cấp bậc đã đạt được trong cuộc đời binh nghiệp,trong các đội lính cơ, lính tuần hay lính vệ Tại các nghi lễ dành cho quầnchúng, họ được xếp riêng một nơi, theo trật tự riêng, không lẫn lộn vào hàngngũ của dân sự
Các Bô lão bao gồm tất cả công dân trên 60 tuổi Họ “long trọng bướcvào cái tầng lớp đáng kính bằng một buổi lễ dâng các đồ cúng tế hoặc bằngviệc nộp cho làng một khoản tài chính nào đó” Có khi người ta tổ chức một
lễ thượng thọ 60 tuổi mời cả làng tới dự Ở đây, ta lại bắt gặp tục trả nợ miệngkhi tục lệ khoản đãi làng được tính đến từng chi tiết Người được lên Bô lão
sẽ tùy theo khả năng tài chính của con cái mà phóng tay làm cỗ to hay nhỏ đãilàng
Cuối cùng là Kì Mục, thật ra là các thân hào, nói văn vẻ theo NguyễnVăn Vĩnh là các trưởng lão Đó là những vị đã từng nắm một chức vụ nào đótrong làng xã, như Chánh phó tổng, Lý trưởng, Phó lý Có cả những người đã
từ nhiệm sau thời gian quy định, mà không nhận được chức quan danh dựnào Bởi nếu có chức quan thì họ sẽ vào hội Tu Văn Những người bị cáchchức do bị kết án hoặc bị kỷ luật không được phong Kỳ Mục Các chức vụhành chính mới được hình thành từ công cuộc cải cách làng xã như: Chánh,Phó Hương hội, Thư kí, Thủ quỹ, Chưởng bạ và Tộc biểu chỉ được công nhận
là thân hào sau khi từ nhiệm một cách bình thường ở một số làng xã là tín đồcủa công cuộc cải tổ Nhiều làng xã đã từ chối việc công nhận chức danh mới