29 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG………...39 2.1 Một số suy nghĩ về chất lượng xây dựng công trình ………39
Giải thích các từ ngữ
1.1.1 Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình
1.1.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để đầu tư xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ sở P7F 8 P
1.1.3 Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là:
Xây dựng công trình mới;
Cải tạo sửa chữa công trình cũ;
Mở rộng, nâng cấp công trình cũ
1.1.4 Công trình xây dựng là sản phẩm của dự án đầu tư xây được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất , phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, và công trình hạ tầng kỹ thuật P8F 9 P
1.1.5 Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình P9F 10
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng
8 Luật xây dựng Việt Nam số 16 ban hành ngày 26-11-2003
9 Nghị định 209/2004/NĐ-CP về Quản lý chất lượng công trình xây dựng
10 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước
Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của
Doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định
Đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo quy định của pháp luật
Đối với dự án sử dụng các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn theo thỏa thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ
% lớn nhất trong tổng mức đầu tư
Đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, trong đó nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được chấp thuận trong văn bản phê duyệt báo cáo đầu tư thì mỗi dự án thành phần được quản lý và thực hiện như một dự án độc lập
1.1.6 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng
1.1.7 Tổng thầu xây dựng là nhà thầu chính ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng thầu xây dựng bao gồm các hình thức chủ yếu sau: Tổng thầu thiết kế, tổng thầu thi công xây dựng công trình, tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình, tổng thầu thiết kế-cung ứng vật tư, thiết bị-thi công xây dựng (Tổng thầu theo hợp đồng EPC), tổng thầu lập dự án đầu
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT tư xây dựng, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị và thi công xây dựng công trình
(Theo hợp đồng chìa khóa trao tay)
1.1.8 Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình
1.1.9 Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng
Các khái niệm về chất lượng, quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng và phạm trù quản lý chất lượng
và phạm trù quản lý chất lượng
1.2.1 Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người chúng ta từ xưa tới nay tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi
Tùy theo đối tượng sử dụng từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và các yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau
Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn ISO, trong dự thảo ISO
9000:2000, đã đưa ra định nghĩa chất lượng như sau:
“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng:
Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng nào đó, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng
Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hằng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
1.2.2 Khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng a Khái niệm sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh (bao gồm cả phần lắp ráp thiết bị bên trong công trình) Sản phẩm xây dựng là kết tinh thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức của toàn xã hội ở thời kỳ nhất định b Các khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng
Khái niệm về chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được phổ biến và rất thông dụng hằng ngày trong đời sống cũng như trong sách báo Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm:
Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các thuộc tính của công trình thỏa mãn các yêu cầu sử dụng
Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính của một thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn
Chất lượng sản phẩm xây dựng là tổng thể các đặc trưng của công trình xây dựng bao gồm các khía cạnh: tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính sẵn sàng, độ tin cây, tính thuận tiện và dễ dàng trong sửa chữa, tính an toàn, thẩm mỹ, các tác động đến môi trường
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
Chất lượng sản phẩm xây dựng là tập hợp các đặc tính, đặc trưng cho giá trị sử dụng công trình do các giai đoạn hình thành công trình xây dựng quy đinh
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định Hay nói cách khác chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện:
Giá thỏa mãn nhu cầu;
Khái niệm, đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng thủy lợi có liên quan đên chất lượng xây dựng công trình
thủy lợi có liên quan đên chất lượng xây dựng công trình
Sản phẩm xây dựng thủy lợi là những công trình cụ thể, là tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngành sản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim…
1.3.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng thủy lợi P10F 11 a Sản phẩm xây dựng là những công trình như cầu, cống, đập, nhà máy thủy điện, kênh mương… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau Sản phẩm xây dựng thủy lợi phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, về cách cấu tạo và về phương pháp chế tạo Phần lớn các công trình thủy lợi đều nằm trên sông, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều kiện giao thông khó khăn, hiểm trở Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơi xây dựng công trình Do vậy, nếu các công tác điều tra khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công trình không đảm bảo đúng yêu cầu các quy phạm kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện và đặc điểm tự nhiên của khu vực dẫn đến chất lượng công trình bị ảnh hưởng
11 Giáo trình Kinh tế xây dựng 2010 – Bộ môn Kinh tế
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT b Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc riêng lẻ, nhiều chi tiết phức tạp, do đó cần phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình c Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất tài sản cố định nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vì thời gian sử dụng lâu dài nên chất lượng phải được đảm bảo, vì vậy cần phải chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng công trình ở tất cả các khâu: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, giao nhận thầu theo luật đấu thầu, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình…bất kỳ khâu nào trong các việc trên sai sót có thể gây ra những hậu quả trong quá trình khai thác sử dụng d Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi công…và đều có ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng công trình e Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này đòi hỏi phải có sự đồng bộ giữa các khâu từ khi chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công, từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây lắp, mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng, kết cấu công trình…đến khi nghiệm thu từng phần, tổng nghiệm thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác sử dụng
1.3.3 Những đặc điểm chủ yếu của việc sản xuất xây dựng có liên quan đến chất lượng sản phẩm xây dựng thủy lợi P11F 12 a Việc sản xuất xây dựng luôn luôn biến động, thiếu ổn định theo thời gian và địa điểm Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng là cố định Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức thi công xây dựng công trình, quá trình thi công thường hay bị gián đoạn Đòi hỏi trong công tác quản lý phải lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, sử dụng tối đa lực lượng xây dựng tại nơi công trình xây dựng đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông, tuy nhiên lực lượng lao động tại đây thường không đáp ứng được trình độ tay nghề mà những thợ tay nghề cao lại
12 Giáo trình Kinh tế xây dựng 2010 – Bộ môn Kinh tế
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT không muốn đến Chính điều này ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng
Mặt khác có những địa điểm lại rất khó khăn cho việc cung ứng vật liệu hoặc vật liệu khai thác không đảm bảo chất lượng vì vậy chất lượng cũng bị ảnh hưởng b Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng) thường dài Công trình thủy lợi có khối lượng lớn, thi công trong điều kiện rất khó khăn nên thời gian thi công phải kéo dài Điều này dẫn đến vốn hay bị ứ đọng hay gặp rủi ro trong thời gian thi công Đòi hỏi việc quản lý chất lượng phải thường xuyên, liên tục và có hệ thống từ khi khởi công công trình đến khi đưa vào khai thác sử dụng Nếu một trong các khâu làm không tốt chất lượng công trình xây dựng cũng bị ảnh hưởng do đó chất lượng toàn công trình sẽ bị ảnh hưởng c Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể, thông qua giao thầu hay đấu thầu do đặc điểm công trình xây dựng có tính đơn chiếc Ta biết rằng sản phẩm của ngành xây dựng thủy lợi rất khác so với các ngành xây dựng cơ bản khác, ta không thể tiến hành sản xuất hàng loạt mà có nhu cầu mới sản xuất và phải đặt hàng trước thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu Do vậy việc mua, bán sản phẩm được xác định trước khi thi công Người mua và người bán được biết trước về đối tượng sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm, hình thức và kết cấu sản phẩm…,do đó trong công tác quản lý tìm mọi giải pháp đề đánh giá về chất lượng và giá thành sản phẩm Muốn thế phải tăng cường công tác quản lý, giám sát đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng công trình cho đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng d Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp Vì công trình có nhiều chi tiết phức tạp nên việc thiết kế phải có nhiều bộ phận tham gia Nhiều đơn vị thi công cùng tham gia xây dựng một công trình trong điều kiện thời gian và không gian cố định Vì vậy nó gây khó khăn trong việc tổ chức thi công và ảnh hưởng đến tiến độ thi công e Sản xuất xây dựng phải thực hiện ngoài trời, bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện địa hình, địa chất phức tạp Các ảnh hưởng này làm gián đoạn quá trình sản xuất ra sản phẩm, quá trình thi công…từ đó ảnh hưởng đến vật tư, thiết bị, sản phẩm dở dang, chi phí, sức khỏe con người và sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình
Nhìn chung đặc điểm của sản xuất xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm của các công trình xây dựng và giá cả trong xây dựng
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
Các yếu tố tác động đến chất lượng xây dựng công trình
Các yếu tố ảnh hưởng có thể chia thành hasi nhóm : các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong
1.4.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài :
1 Nhu cầu của nền kinh tế:
Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế Tác động này thể hiện như sau: a Đòi hỏi của thị trường :
Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi của thị trường Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thị trường để tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm Điều cần chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sách lược đúng đắn b Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất : Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích lũy, đầu tư ) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹ năng cần thiết) có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mức chất lượng tối ưu hay không Việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế c Chính sách kinh tế:
Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
2.Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật :
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là :
Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế;
Cải tiến hay đổi mới công nghệ;
Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
3 Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế : chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội như :
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế;
Tổ chức quản lý về chất lượng
1.4.2 Nhóm yếu tố bên trong
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị bằng qui tắc 5M, đó là : a Men : con người, lực lượng lao động được biểu hiện ở năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, ý thức và tinh thần hợp tác b Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của đơn vị c Machines: khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của đơn vị thể hiện ở tính năng, trình độ hiện đại, tương thích với yêu cầu chất lượng ngày càng cao d Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên vật liệu của đơn vị: chất lượng vật liệu, phương pháp cung cấp đúng yêu cầu, đồng bộ và kịp thời gian e Measuare : Kiểm soát đo lường chất lượng Xác định việc theo dõi và đo lường cần thực hiện bằng phương tiện theo dõi và đo lường cần thiết, đó là các thiết bị đo lường
Trong 5 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất
1.5 Vai trò của chủ đầu tư với chất lượng công trình Để một công trình xây dựng (CTXD) hình thành và tồn tại bền vững với thời gian thì công trình đó phải đảm bảo chất lượng Quá trình đảm bảo chất lượng cho công trình còn gọi là quản lý chất lượng Theo pháp luật Việt Nam, có hai tầng quản lý chất lượng công trình xây dựng (QLCLCTXD) là: quản lý nhà nước (gián tiếp) và quản lý của các chủ thể (trực tiếp) Tầng quản lý trực tiếp có ba nhóm chủ thể, gồm: Chủ đầu tư, Chủ sử dụng - Nhà thầu tư vấn - Nhà thầu xây dựng và cung cấp, lắp đặt thiết bị Trong đó, Chủ đầu tư (CĐT) là nhân vật trọng tâm, thống nhất chỉ
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT huy và kiểm soát chất lượng từ khâu khảo sát, thiết kế đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng
Trước hết, có thể nói rằng chất lượng công trình được định hình ngay từ nhiệm vụ thiết kế Đây là những yêu cầu đầu bài về tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng tương ứng với giá trị kinh tế của công trình Rồi các bước tiếp theo, thiết kế, dự toán được duyệt, hợp đồng với nhà thầu xây dựng được ký kết, CĐT (với vai trò đại diện cho người quyết định đầu tư) đã đặt mua công trình với chất lượng và giá cả, giá trị tương ứng
Chúng ta đều biết rằng, hai nhân vật chủ yếu nhất tạo ra công trình là nhà thầu thiết kế và nhà thầu xây dựng Nếu như công trình do họ tự làm rồi mang bán cho
CĐT thì có thể nói ngay rằng chất lượng CTXD là hoàn toàn do họ, họ là người quyết định chất lượng đó Nhưng thực tế thì lại khác Có rất nhiều nhà thầu thiết kế và xây dựng, đương nhiên họ có những năng lực và phẩm chất khác nhau Việc CĐT chọn ai có ý nghĩa rất quan trọng để tạo lên sản phẩm tốt hay xấu Hợp đồng được ký kết với một nhà thầu kém năng lực thì cũng có nghĩa là đặt mua trước một công trình chất lượng kém Lại càng tồi tệ hơn, nếu đơn đặt hàng được đưa vào tay nhà thầu thiếu lương tâm nghề nghiệp, thiếu đạo đức Trong thực tế diễn ra rất nhiều chuyện chọn nhầm nhà thầu và cuối cùng thì CĐT, người sử dụng và cộng đồng xã hội phải chịu một công trình không đáp ứng yêu cầu chất lượng, thậm chí "bệnh tật" và "đoản thọ"
Công trình là do CĐT đặt hàng trước rồi mới thiết kế và thi công, quá trình tạo ra công trình có sự tham gia của rất nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau trong thời gian dài Quá trình đó, các nhà thầu chịu rất nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết, sự trượt giá vật tư, vật liệu Đối với công trình vốn ngân sách nhà nước lại thường chậm và thiếu vốn tạo nguy cơ "lỗ" cho nhà thầu Mặt khác, ham lợi nhuận luôn là thuộc tính của người kinh doanh, cũng là một yếu tố liên quan đến chất lượng: Chỉ cần giảm chút ít chất lượng thôi thì lợi nhuận có thể tăng lên vài phần trăm Cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để nhà thầu thực hiện ý định đó như: công trình có nhiều bộ phận cấu kiện bị che khuất sau khi hoàn thiện, đa dạng hoá của các loại vật tư, vật liệu Điều đó đòi hỏi quá trình tạo ra công trình, nhất là giai đoạn thi công xây dựng cần phải được
CĐT kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục và nghiệm thu hết sức chặt chẽ trong từng bước, từng giai đoạn thì công trình mới đảm bảo chất lượng CĐT hoàn toàn có quyền từ chối nghiệm thu nếu không được đáp ứng các cam kết về chất lượng
Học viên: Đ ỗ Văn Chính Lớp 17KT
Một công trình không được CĐT kiểm soát chặt chẽ, về mặt lý thuyết sẽ dẫn đến ba khả năng:
Thứ nhất:Công trình vẫn được nghiệm thu và đưa vào sử dụng, vẫn được trả đúng với giá trị đã ký kết
Thứ hai: Công trình được sửa chữa, gia cố và giám định chất lượng, định giá lại sản phẩm và được trả với giá trị giảm trừ tương ứng với chất lượng của nó
Thứ ba:Công trình không được chấp nhận
Trong thực tế, khả năng thứ hai ít xảy ra vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có cả lý do tình hình thực thi pháp luật không nghiêm, chế tài xử lý chưa đầy đủ và đồng bộ, mặt khác việc đánh giá chính xác chất lượng trong trường hợp này rất khó khăn Khả năng thứ ba gần như không xảy ra vì đặc thù của công trình xây dựng là gắn liền với đất và giá trị tài chính lớn, tính xã hội hoá cao nên xử lý như vậy ảnh hưởng lớn đến rất nhiều mặt về kinh tế, xã hội Như vậy, thường vẫn xảy ra khả năng thứ nhất và đây chính là điểm thất thoát từ hữu hình biến thành vô hình, công trình cứ thế mà lặng lẽ giảm tuổi thọ
Như vậy thì CĐT chứ không phải ai khác là người quan trọng nhất trong quá trình quản lý chất lượng công trình:"CĐT các dự án đầu tư xây dựng (không phân biệt nguồn vốn và hình thức sở hữu) chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp, toàn diện
CLCTXD và hiệu quả dự án của mình"