L ỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và đô thị hóa đến khả năng tiêu thoát nước của vùng Tây Nam Cửu
T ổ ng quan v ề BĐKH và tác động đế n h ệ th ống tiêu nướ c
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Nguyên nhân của sự BĐKH hiện nay tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của con người Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái đất Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người Theo đó, nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 1°C trong vòng 85 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ
1980 đến 2005) Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành từđầu thập kỷ 90 thế kỷ XX
Biến đổi khí hậu hiện đang là vấn đề nóng rất được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới nhằm xây dựng những Chương trình ứng phó nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi tới môi trường sống, tác động bất lợi tới kinh tế và nhằm bảo vệ tài nguyên đất, nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển của con người
Việt Nam không may mắn nằm trong diện 5 quốc gia được đánh giá là bị tác động nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu, là hậu quảtăng nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng lên do phát thải khí nhà kính
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề mang tính toàn cầu, được các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960.Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ thực sự bắt đầu được nghiên cứu vào những năm 1990 Do sự biến đổi của khí hậu toàn cầu dẫn đến diễn biến thời tiết ngày càng bất lợi, vụ mùa mưa úng diễn biến bất thường, không theo quy luật chung gây úng ngập trên diện rộng Mặc dù đã có một số nghiên
2 cứu vềBĐKH và tác động của BĐKH đến lĩnh vực thủy lợi, tuy nhiên vấn đề nghiên cứu tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu nước của hệ thống có công trình đầu mối là trạm bơm chưa nhiều.
Gi ớ i thi ệ u h ệ th ố ng tiêu vùng Tây Nam C ử u An
Hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An là một trong những hệ thống tiêu chính của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải có diện tích tiêu là 25.116 ha, thuộc địa phận tất cả xã, thị trấn của huyện Tiên Lữ, TP Hưng Yên, huyện Phù Cừ, 14 xã của huyện Kim Động, 2 xã của huyện Khoái Châu, 2 xã của huyện Ân Thi Hệ thống kênh tiêu trong vùng chủ yếu đổ vào kênh trục chính là kênh Hòa Bình qua các sông nhánh như: sông Điện Biên, kênh Bác Hồ, sông Nghĩa Lý, kênh Bản Lễ - Phượng Tường sau đó thoát ra sông Cửu An qua các cống và một số trạm bơm tiêu tại các vùng trũng trực tiếp ra sông
Trong những năm trước đây, hệ thống tiêu này chủ yếu được tính toán, thiết kế phục vụ yêu cầu tiêu cho diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên trong thực tế, do quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa và công nghiệp hóa của thành phố Hưng
Yên và các xã lân cận, nhu cầu tiêu đã mở rộng cho diện tích trong khu vực dân cư và nước thải công nghiệp Sự thay đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang cây màu, cây công nghiệp đồng thời với sự phát triển các khu dân cư, đô thịđã làm tăng hệ số tiêu thiết kế trong vùng Các khu công nghiệp và dân cư mới hình thành làm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, san lấp nhiều ao hồ, đồng ruộng, làm giảm khảnăng trữnước, chôn nước cũng dẫn đến làm tăng hệ số tiêu nước Với tổng diện tích tự nhiên của Hưng Yên là 92.603ha, trong đó qua 5 năm từ 2011-2015 diện tích đất nông nghiệp giảm từ
58.663ha xuống còn 53.446ha, trong khi đó đất công nghiệp tăng lên tương ứng các năm trên từ 8.053ha lên 10.489ha
Mặt khác, do sau một thời gian dài hoạt động, đến nay nhiều công trình tiêu trong hệ thống đã xuống cấp, kênh bị bồi lắng, mặt cắt ngang bị thu hẹp, công trình trên kênh xuống cấp, các công trình trạm bơm đầu mối thì máy móc bị hư hỏng, do đó không thểđáp ứng được yêu cầu tiêu nước hiện tại cũng như tương lai.
Vì vậy việc nghiên cứu mô phỏng, đánh giá hệ thống dưới tác động của BĐKH và đô thị hóa, nhằm tạo các cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
M ục đích nghiên cứ u
- Mô phỏng và đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH và đô thị hóa đến nhu cầu tiêu nước của hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An, từđó đưa ra các giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu trong tương lai.
- Đề xuất giải pháp cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An.
Ph ạ m vi nghiên c ứ u
Giới hạn nghiên cứu trên vùng tiêu của hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An, thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải gồm: tất cả các xã và thị trấn của huyện Tiên Lữ, TP Hưng Yên, huyện Phù Cừ, 14 xã của huyện Kim Động, 2 xã của huyện Khoái Châu và
2 xã của huyên Ân Thi nằm trên địa bàn hành chính tỉnh Hưng Yên.
Cách ti ế p c ậ n
- Tiếp cận thực tế: Đi khảo sát, nghiên cứu, thu thập các số liệu quy hoạch, thiết kế của hệ thống tiêu;
- Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận, tìm hiểu, phân tích hệ thống từ tổng thểđến chi tiết, đầy đủ và hệ thống;
- Tiếp cận các phương pháp nghiên cứu mới vềtiêu nước trên thế giới.
Phương pháp nghiên cứ u
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Thu thập các kết quả thực đo các yếu tố đặc trưng khí tượng thủy văn và hệ thống công trình để đánh giá xu thế, diễn biến thay đổi của các yếu tố đó dưới tác động của BĐKH và đô thị hóa theo thời gian và không gian
- Phương pháp kế thừa: Chọn lọc các đề tài nghiên cứu khác đã có về các mặt liên quan tới mục tiêu của đềtài này để nghiên cứu thêm chính xác tránh trùng lặp
- Phương pháp phân tích, thống kê: Đểtính toán xác định mô hình mưa thiết kế
- Phương pháp mô hình mô phỏng: Ứng dụng mô hình Mike 11 của Đan Mạch để mô phỏng hệ thống tiêu nước hiện tại và kiểm tra các phương án cải tạo thiết kế.
K ế t qu ả d ự ki ến đạt đượ c
- Xác định được mô hình mưa thiết kếứng với các thời kỳtrong tương lai.
- Đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH và đô thị hóa đến nhu cầu tiêu của hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An
- Đề xuất được giải pháp cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu
C ấ u trúc c ủ a lu ận văn
- Chương 1: Tổng quan về BĐKH và tác động của BĐKH đến hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An
- Chương 2: Mô phỏng và đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến nhu cầu tiêu của hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An
- Chương 3: Đề xuất giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu
- Kết luận và kiến nghị
T Ổ NG QUAN V Ề BĐKH VÀ TÁC ĐỘ NG C ỦA BĐKH ĐẾ N H Ệ
BĐKH ở Vi ệ t nam
1.1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thếlà thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu Biến đổi khí hậu trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới
Biến đổi khí hậu đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, khu vực và ở Việt Nam do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức khí nhà kính vào bầu khí quyển
Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như lương thực, nước, năng lượng, các vấn đề về an toàn xã hội, văn hóa ngoại giao và thương mại BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới: đến
2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%, giá sẽ tăng 13 - 45%, tỷ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36-50%; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống KT-XH trong tương lai Các công trình hạ tầng được thiết kế theo các tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó an toàn và cung cấp đầy đủ các dịch vụtrong tương lai.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biển
6 dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bịảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25% Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu là: tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khoẻ; các vùng đồng bằng và dải ven biển Ở Việt Nam xu thế biến đổi nhiệt độ và lượng mưa là khác nhau so với các vùng trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5º C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Nhiệt độ mùa Đông thì tăng nhanh hơn so với mùa Hè và nhiệt độ vùng sâu trong đât liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Lượng mưa ngày một tăng cao
Nhận thức rõ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống còn Nhiều bộ, ngành, địa phương đã triển khai các chương trình, dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của BĐKH đến tài nguyên, môi trường, sự phát triển KT-XH, đề xuất và bước đầu thực hiện các giải pháp ứng phó Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng là cần thiết làm cơ sởđể đánh giá mức độ và tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực các ngành và các địa phương từ đó đề ra các giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu Các phương pháp và nguồn số liệu để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng cho Việt Nam được kế thừa từ các nghiên cứu trước đây và được cập nhật đến năm 2010 Thời kỳ 1980 - 1999 được chọn là thời kỳcơ sở để so sánh sựthay đổi của khí hậu và nước biển dâng
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài Nguyên và Môi trường công bố, có nhiều kịch bản nhưng kịch bản B2 được khuyến nghị sử dụng trong thời điểm hiện nay Nội dung của kịch bản B2 đối với khu vực
Hưng Yên so với giai đoạn 1980 - 1999 như sau: a) Nhiệt độ (B2): Nhiệt độtrung bình năm có thểtăng lên so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 như sau: Giai đoạn 2030 khoảng 0,5 o C; giai đoạn 2030 từ 1,2-1,4 o C
7 b) Về lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm tăng 1,4% giai đoạn đến năm
1.1.2 Sự thay đổi của nhiệt độ
Trong 50 năm qua, nhiệt độtrung bình năm tăng khoảng 0,5 o C trên phạm vi cả nước Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độtháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo
Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2 o C trong vòng 50 năm Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3-0,5 o C trong vòn 50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5-0,6 o C trong vòng 50 năm năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3 o C trong vòng 50 năm ( B ảng 1-1 ) Xu thế chung của nhiệt độ là tăng trên hầu hết các khu vực, tuy nhiên, có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ
Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng từ1,6 đến 2,2ºC trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổvà dưới 1,6ºC ởđại bộ phận diện tích phía Nam (từĐà Nẵng trở vào)
Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độtrung bình tăng từ2 đến 3ºC trên phần lớn diện tích cảnước, riêng khu vực từHà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độtrung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ2,2 đến 3,0ºC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2ºC Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35ºC tăng từ15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cảnước
Theo kịch bản phát thải cao: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng phổ biến từ2,5 đến trên 3,7ºC trên hầu hết diện tích nước ta
1.1.3 Sự thay đổi của lượng mưa
Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam nước ta Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc thay đổi không đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa
Nh ậ n d ạng tác độ ng c ủ a B ĐKH đến tiêu nướ c
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể bị thay đổi ở một sốvùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụ đông; vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực Đối với hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao, mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, kéo theo mực nước các con sông dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ làm cho đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam Các công trình tiêu nước vùng ven biển hiện nay hầu hết đều là các hệ thống tiêu tự chảy; khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn, diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực
Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạlưu ven sông sẽ không có khảnăng lấy nước ngọt vào đồng ruộng Các thành phố ven biển bị ngập úng do triều Khu vực thấp ven biển bị ngập triều gây mặn nặng Chế độ dòng chảy sông suối thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thuỷ lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm
Cùng với sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, dòng chảy lũ đến các công trình sẽ tăng lên đột biến, nhiều khi vượt quá thông số thiết kế làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới an toàn của các hồđập, sẽ ảnh hưởng lớn đến tài nguyên nước, dòng chảy năm biến động từ+4% đến -19%; lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng, lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trầm trọng hơn Lũ quét và sạt lở đất sẽ xảy ra nhiều hơn và bất thường hơn.
Do chếđộ mưa thay đổi cùng với quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá dẫn đến nhu cầu tiêu nước gia tăng đột biến, nhiều hệ thống thuỷ lợi không đáp ứng được yêu cầu tiêu nước.
Nước biển dâng cản trở trực tiếp lũ thoát ra biển làm cho mực nước trên các sông chính nâng cao gây ngập trên diện rộng hơn và nguy hiểm còn ở chỗ nó làm kéo
12 dài thời gian ngập Lũ sớm trong tương lai sẽ cao hơn và thời gian thoát lũ về cuối vụ cho toàn đồng bằng sẽ dài hơn ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch canh tác vụ Đông-
Xuân trên diện rộng Mực nước các sông, rạch dâng cao cũng dẫn đến việc tiêu thoát nước mưa trong các khu vực, đặc biệt các đô thị, khu dân cư khó khăn hơn.
Tiêu thoát nước cho nông nghiệp là một vấn đề rất quan trọng Thiếu nước thì cây trồng sẽ không phát triển được, ngược lại thừa nước thì cây trồng sẽ suy yếu và có thể chết Điều này gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Trong một hệ thống thủy lợi thường bao gồm nhiều đối tượng cần tiêu như đất cây lúa, đất cây trồng cạn, đất ao hồ, đất thổcư…
Các vùng trong khu vực thành phố Hưng Yên còn bị ngập úng, nguyên nhân chính là do lượng mưa phân phối không theo quy luật, diễn biến cũng rất thất thường Mưa nội đồng lớn làm mực nước sông dâng cao vì vậy việc tiêu tự chảy bị ngăn chặn do kẹp giữa đê sông Hồng và sông Luộc xung quanh, lúc này chỉ tiêu bằng động lực là chính, song năng lực tiêu lại hạn chế
Các tác động đến các hệ thống tiêu có thể nhận thấy như sau:
- Lượng mưa lớn do biến đổi khí hậu làm cho lưu lượng cần tiêu lớn;
- Thủy triều dâng cao do ảnh hưởng của nước biển dâng khiến khảnăng tiêu tự chảy gặp khó khăn;
- Biến đổi khí hậu làm cho nhiệt độvà lượng mưa tăng cao cũng như nhiều trận bão và những đợt gió lớn xảy ra khiến các hồ chứa nước phải xảlũ gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiêu nước;
- Tác động đến mô hình quản lý đối với hệ thống tiêu;
- Tác động đến cơ chế, chính sách đối với hệ thống tiêu.
T ổ ng quan các nghiên c ứ u v ề tác độ ng c ủa BĐKH đế n nhu c ầu tiêu nướ c
Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện đang là vấn đề nóng, thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nghiên cứu BĐKH là vấn đề mang tính toàn cầu, được các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960.Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ thực sự bắt đầu được nghiên cứu vào những năm 1990 Đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về tác động của BĐKH đến lĩnh vực Tài nguyên nước, trong đó vấn đề đánh giá ảnh hưởng BĐKH tới nhu cầu tiêu nước đã và đang được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Bên cạnh với ảnh hưởng của BĐKH đến nhu cầu tiêu nước, yếu tố về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất cũng có mức độ ảnh hưởng tương đối lớn Vấn đề này đã được chứng minh ở vùng đô thị, vùng có tốc độ đô thị hóa cao Một sốđề tài, dự án nghiên cứu vềảnh hưởng của BĐKH đến hệ thống tiêu nước có thể kểđến bao gồm:
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Đánh giá tác động, xác định các giải pháp ứng phó, xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong các lĩnh vực Diêm nghiệp, Thủy lợi” do TS Nguyễn Tuấn Anh - Trường Đại học Thủy lợi
Hà Nội thực hiện năm 2013.Đề tài khoa học này có ý nghĩa to lớn với tác giả khi tìm cách tiếp cận với vấn đề và giải quyết vấn đề trong vùng nghiên cứu trong khi vấn đề về biến đổi khí hậu còn khá phức tạp và chưa được nghiên cứu từ lâu ởnước ta
- Dự án “Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước ở Việt Nam và các biện pháp thích ứng” (2008-2009) do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA Đan Mạch Mục tiêu lâu dài của dự án là tăng cường năng lực của các ban ngành, tổ chức và của người dân Việt Nam trong việc thích nghi với tác động của BĐKH đến tài nguyên nước, giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động xấu cũng như thiệt hại do BĐKH gây ra; khôi phục có hiệu quảcác tác động này hoặc tận dụng các tác động tích cực của BĐKH Mục tiêu cụ thể của dựán là: (1) Đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước mặt tại một số lưu vực sông của Việt Nam; (2) Đề xuất các giải pháp thích ứng với sự thay đổi tài nguyên nước do BĐKH gây ra Từđây tác giả cũng rút ra cái nhìn hoàn thiện hơn về cách tiếp cận vấn đề của luận văn để giải quyết được tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống tiêu Cùng với đó, tác giảcũng nắm bắt được các giải pháp thích ứng cụ thể áp dụng cho vùng nghiên cứu dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đang phát triển và hậu quả của nó ngày càng nghiêm trọng
- Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu sự biến đổi của nhu cầu tiêu và biện pháp tiêu nước cho hệ thống thủy nông Nam Thái Bình có xét đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu” do TS Bùi Nam Sách thực hiện năm 2010 Trong nghiên cứu này, tác giả đã xem xét ảnh hưởng của cường độ mưa tăng và nước biển dâng đến khả năng làm việc của hệ thống tiêu Nam Thái Bình và đã đề xuất một số giải pháp ứng phó Qua đó tác giả luận văn cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm trong cách tiếp cận vấn đề, cách tìm xử lý các số liệu cần thiết để phục vụ tính toán cho đề tài của mình trên
14 vùng Tây Nam Cửu An Đây là một trong số ít các đề tài nghiên cứu tới tác động của biến đổi khí hậu gắn liền với tiêu nước trên một hệ thống sông Bên cạnh đó hai vùng nghiên cứu đều trong đồng bằng sông Hồng nên cũng có những điểm khá tương đồng với lưu vực luận văn đang xét Thêm vào đó tác giả cũng rút ra nhiều kinh nghiệm với việc đề ra các giải pháp ứng phó với diễn biến xấu trên vùng nghiên cứu dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Điề u ki ệ n t ự nhiên và kinh t ế xã h ộ i c ủ a vùng nghiên c ứ u
Vùng Tây Nam Cửu An có tổng diện tích tự nhiên là 25.116ha, gồm có 1 thành phố Hưng Yên và các xã của huyện Tiên Lữ, 14 xã của huyện Kim Động, 2 xã của huyện Khoái Châu, huyện Phù Cừ, 2 xã của huyện Ân Thi
(Nguồn: Công ty KTCTTL Bắc Hưng Hải, 2014) Hình 1- 3: Bản đồ vị trí hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An
Hệ thống tiêu vùng Tây Nam Cửu An thuộc tỉnh Hưng Yên có vịtrí như sau: + Phía Bắc giáp sông Cửu An
+ Phía Tây giáp sông Hồng
+ Phía Đông giáp sông Nam Kẻ Sặt
+ Phía Nam giáp với Sông Luộc
Với tổng diện tích tự nhiên là 25.116 ha
1.4.2 Địa hình, địa mạo Địa hình trong khu vực là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên tương đối bằng phẳng Địa hình của tỉnh tương đối đồng nhất và có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, độ dốc 14 cm/km, độ cao đất đai không đồng đều với các dải, khu, vùng đất cao thấp xen kẽ nhau Địa hình cao chủ yếu ở phía tây bắc gồm các huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Văn Lâm; địa hình thấp tập trung ở các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi. Điểm cao nhất có cốt +9 m đến +10 m tại khu đất bãi thuộc xã Xuân Quan, huyện Văn Giang; điểm thấp nhất có cốt + 0,9 m tại xã Tiên Tiến, huyện Phù Cừ Đặc điểm địa mạo có thể chia thành 5 tiểu vùng như sau:
+ Tiểu khu ngoài đê sông Hồng và sông Luộc, hàng năm được bồi đắp thêm phù sa mới nên phía ngoài đê thường cao hơn phía trong đê, cốt đất cao từ+ 7 m đến +
+ Tiểu khu Khoái Châu, Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ và Văn Lâm có cốt đất cao + 6m đến + 7 m
+ Tiểu khu thị xã Hưng Yên, huyện Phù Cừ, huyện Tiên Lữ giáp sông Hồng, sông Luộc có tầng đất phù sa dày 1,0 – 1,5 m, cốt đất cao +3,0 m đến 3,5 m
+ Tiểu khu BắcVăn Lâm có cốt đất cao từ+4 m đến +5 m
+ Tiểu khu Ân Thi, Bắc Phù Cừ, Kim Động có cốt đất cao + 2 m
Tỉnh Hưng Yên nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng, được cấu tạo bằng các trầm tích thuộc kỷĐệ Tứ, với chiều dài 150m - 160m
1.4.4 Đất đai thổ nhưỡng Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp Thành phần cơ giới của đất, từđất thịt nhẹđến đất thịt pha nhiễm chua Có thể chia làm ba loại:
- Loại đất phù sa sông Hồng được bồi: Màu nâu thẫm, đất trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt
- Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi lắng: Loại này có tầng phù sa dày, thành phần cơ giới từđất thịt trung bình đến đất thịt nặng, đất trung tính, ít chua
- Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ, không được bồi lắng: Đất màu nâu nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hóa mạnh, chất hữu cơ phân hủy chậm, thường bị chua.
Điề u ki ện khí tượ ng th ủy văn
Hưng Yên mang đầy đủ đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ - khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa chính và hai mùa chuyển tiếp Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lạnh, ít mưa.
1.5.2 Mạng lưới trạm khí tượng và đo mưa
Tài liệu khí tượng thuỷ văn được lấy theo số liệu đo của trạm Hưng Yên (từ năm 1961-2014)
Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,2 0 C, nhiệt độ trung bình mùa hè 25 0 C, mùa đông dưới 20 0 C Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1.500 - 1.600 mm, trong đó tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 mưa (chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm) Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.400 giờ (116,7 giờ/tháng), trong đó từ tháng 5 đến tháng 10 trung bình 187 giờ nắng/tháng, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trung bình 86 giờ nắng/tháng Khí hậu Hưng Yên có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau), gió mùaĐông Nam (tháng 3 đến tháng 5).
B ảng 1-2 Mạng lưới trạm khí tượng và đo mưa
TT Tên trạm Vị trí Yếu tố quan trắc
1 Hưng Yên 106 0 03’ 20 0 40’ Khí tượng 1955 đến nay
2 Ân Thi 106 0 05’ 20 0 49’ Mưa 1960 đến nay
3 Văn Giang 105 0 55’ 20 0 57’ Mưa 1960 đến nay
4 Khoái Châu 105 0 58’ 20 0 50’ Mưa 1960 đến nay
B ảng 1-3: Các đặc trưng khí hậu trung bình tháng trạm Hưng Yên (giai đoạn 1993-2009) Đặc trưng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
B ảng 1-4 Lượng mưa trung bình tháng tại trạm Hưng Yên và các trạm phụ cận (giai đoạn 1993-2009) Đơn vị: mm
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Hưng Yên 18,3 23,0 52,2 67,9 199,9 183,3 215,9 260,9 232,0 122,6 84,5 26,8 1484,0 Văn Giang 8,7 9,6 37,6 47,4 175,6 208,2 246,9 247,1 177,5 117,3 80,8 14,4 1371,0 Khoái Châu 9,3 11,7 43,9 55,2 169,9 187,1 226,4 239,4 165,0 105,5 78,2 15,9 1307,5 Ân Thi 16,6 21,2 59,1 58,4 188,9 183,0 213,2 239,6 199,3 121,2 73,2 17,9 1391,5 Thái Bình 18,0 23,9 47,6 61,5 188,9 137,5 238,3 305,2 314,0 122,3 61,7 27,2 1546,0
(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia, 2010)
Nằm trong vùng nhiệt đới, Hưng Yên quanh năm được tiếp nhận một lượng bức xạ rất dồi dào trên nền nhiệt độ cao Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,6 0 C Tháng I có nhiệt độ trung bình thấp nhất 16,6 0 C, tháng VII có nhiệt độ trung bình lớn nhất 29,2 0 C (xem B ảng 1-3 )
Chịu ảnh hưởng của các hoàn lưu biển, Hưng Yên có độẩm không khí khá lớn Độ ẩm tương đối trung bình năm 85,1% Tháng IV có độ ẩm tương đối cao nhất 89,2% Tháng XII có độẩm tương đối thấp nhất 80,9% (xem B ảng 1-3 )
Lượng bốc hơi phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nắng và gió trên địa bàn Hưng
Yên Tổng lượng bốc hơi theo trung bình nhiều năm là 8730mm, lớn nhất tuyệt đối 144,9 mm (tháng 7 năm 1961), nhỏ nhất tuyệt đối 20,8 mm (tháng 2 năm 1988).
Tổng số giờ nắng trung bình năm 1423 giờ, tháng VII có nhiều giờ nắng nhất trong năm 173 h, tháng III có ít giờ nắng nhất 42 giờ (xem B ảng 1-3 )
Hưng Yên có 2 mùa gió chính: Mùa đông có gió mùa đông bắc, thường từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Mùa hè gió đông nam thường từtháng 3 đến tháng 7:
- Gió đông nam chiếm ưu thế trong năm, sau đó là gió đông bắc Các hướng khác chỉ xuất hiện đan xen nhau với tần xuất thấp không thành hệ thống
- Tốc độ gió cực đại ghi lại tại Hưng Yên là 40 m/s, hướng thổi tây nam (ngày 22/5/1978)
- Hàng năm bão và áp thấp nhiệt đới không đổ bộ trực tiếp vào Hưng Yên như các tỉnh ven biển, nhưng ảnh hưởng về mưa do bão gây ra là rất lớn Lượng mưa do bão gây nên tại Hưng Yên chiếm tời 15- 20% tổng lượng mưa năm. Mùa bão bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc tháng 11, nhưng ảnh hưởng với tần xuất lớn nhất trong các tháng 7, 8 và 9
Lượng mưa hàng năm trung bình đạt khoảng 1307,5÷1484,0 mm/năm Trạm Hưng Yên có lượng mưa lớn nhất so với các trạm đo mưa khác trong tỉnh
Lượng mưa nhiều vào tháng VII, tháng VIII và tháng IX từ 165,0 ÷ 260,9 mm, cá biệt tháng VII năm 2009, trạm Hưng Yên có lượng mưa 451,7 mm Tháng có lượng mưa ít thông thường là từtháng XII, tháng I và tháng II, trong đó tháng I thường rất ít mưa: lượng mưa nhiều năm dao động từ 8,7÷ 18,3 mm ( B ảng 1.4 )
Hưng Yên là tỉnh có mạng lưới sông ngòi khá dày Bao quanh tỉnh có hai con sông lớn: phía tây có sông Hồng; phía nam có sông Luộc Các sông nội đồng đều thuộc hệ thống Bắc-Hưng-Hải như sông Kim Sơn, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt, sông Cửu
An … là trục tưới tiêu quan trọng của tỉnh
- Sông Hồng phát nguyên từ Trung Quốc, có tổng chiều dài 1.183 km Phần thuộc lãnh thổ Việt Nam là 493 km Chỗ rộng nhất là 1300 m, chỗ hẹp nhất là 400 m Sông Hồng chảy qua Hưng Yên bắt đầu từ Xuân Quan – Văn Giang đến Tân Hưng – Tiên Lữ với chiều dài khoảng 58 km, tạo thành giới hạn tự nhiên về phía tây của tỉnh
- Sông Luộc là phân lưu của sông Hồng ở huyện Tân Hưng – Tiên Lữ chuyển nước từ sông Hồng sang sông Thái Bình trước khi đổ ra biển Toàn bộ sông dài 70 km, đoạn chảy qua Hưng Yên có chiều dài 26 km, tạo thành giới hạn địa giới phía nam của tỉnh Sông Luộc ít dốc và chảy quanh co uốn khúc, lòng sông hẹp nhưng có bãi khá rộng, độ rộng lòng sông trung bình từ 300-400m
- Sông Kim Sơn lấy nước từ sông Hồng bắt đầu từ cống Xuân Quan đổ vào sông Thái Bình tại Cầu Cất – Hải Dương, đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hưng Yên có chiều dài khoảng 40 km Đây là trục tưới chính của hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải Trên trục sông này có các nhánh sông Cầu Bây, Đình Dù, Bần Vũ Xá, Lương Tài tạo thành một mạng lưới tưới tiêu nước quan trọng trong khu vực
- Sông Cửu An vốn là phân lưu của sông Hồng chảy vềphía đông, về sau bị vùi lấp phần cửa sông Sông Cửu An chảy từ Nghi Xuyên đến ngã ba Tòng Hoá - Phù Cừ, tổng chiều dài khoảng 23 km Sông Cửu An là trục tưới tiêu chính của hệ thống thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, tiêu nước và cung cấp nước cho tỉnh, đặc biệt là vùng Khoái Châu, Kim Động
- Sông Điện Biên: Lấy nước từ sông Kim Sơn qua cống Lực Điền chảy qua Đồng Tiến, Hồng Tiến (Khoái Châu), sang địa phận huyện Kim Động, nối vào sông
Cửu An, sau đó chảy xuống Cửa Càn (Hưng Yên) Toàn bộ sông dài trên 20 km Sông có tác dụng tiêu và cung cấp nước cho một phần huyện Khoái Châu và huyện Kim Động
- Sông Tây Kẻ Sặt: Lấy nước từ sông Kim Sơn qua cống Tranh đổ vào sông
Cửa An tại Tòng Hóa (Phủ Cừ) với chiều dài khoảng 21 km
Ngoài các sông trục chính nêu trên, trong hệ thống còn có mạng lưới kênh dẫn phục vụtưới tiêu trong khu vực
Nhìn chung, tài nguyên nước mặt trên đại bàn tỉnh khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho các nhu cầu kinh tế khác Tuy nhiên, do nằm ở vùng hạlưu của hệ thống sông chính, nguồn nước phát sinh tại chỗ ít hơn nhiều so với lượng nước chảy qua nên việc khai thác sử dụng cũng gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, nguồn nước sông
Hồng chứa nhiều bùn cát, ít phù hợp cho sử dụng sinh hoạt và công nghiệp
1.5.10 Mạng lưới trạm thuỷ văn
Hiện toàn tỉnh có 2 trạm quan trắc thuỷvăn cơ bản là trạm Hưng Yên trên sông
Hồng, trạm Triều Dương trên sông Luộc và một số trạm quan trắc mực nước chuyên ngành như Xuân Quan, Tranh, Lực Điền…
B ảng 1-5: Mạng lưới trạm quan trắc thủy văn trong tỉnh và vùng phụ cận
TT Tên trạm Sông Vị trí
Yếu tố quan trắc Thời gian quan trắc Kinh độ Vĩ độ
1 Hà Nội Hồng 105 0 51’ 21 0 01’ Mực nước, lưu lượng, phù sa 1902 đến nay
2 Hưng Yên Hồng 106 0 03’ 20 0 39’ Mực nước 1955 đến nay
3 Triều Dương Luộc 106 0 07’ 20 0 39’ Mực nước, lưu lượng
Hồng Mực nước 1960 đến nay
Sặt Mực nước 1963 đến nay
6 Cống Lực Điền Điện Biên
(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia, 2010)
Điề u ki ệ n kinh t ế xã h ộ i
Toàn vùng Tây Nam Cửu An gồm: các xã phường, thị trấn của huyện Tiên Lữ, thành phốHưng Yên, 14 xã của huyện Kim Động, 2 xã của huyện Khoái Châu, huyện Phù Cừ và 2 xã của huyện Ân Thi
Theo số liệu niên giám thống kê tính đến 31/12/2009, dân số của tỉnh Hưng Yên là 1.131.185 người, mật độ dân sốtrung bình 1.225 người/km 2
Thành phốHưng Yên có mật độ dân sốđông nhất 1.779 người/km 2 , huyện Phù
Cừ có mật độ dân số thấp nhất: 826 người/km 2
Dân số vùng nông thôn chiếm 87,74%
B ảng 1-6: Dân số và mật độ dân số trung bình phân theo đơn vị hành chính
TT Tên đơn vị Dân số
Mật độ dân số (người/km 2 )
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2010)
B ảng 1-7: Dân số phân theo giới tính và khu vực
Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo khu vực
Nam Nữ Thành thị Nông thôn
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2010)
1.6 3 Quá trình phát triển kinh tế
1.6.3.1 Hiện trạng phát triển nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp hiện vẫn đang là một trong những ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Hưng Yên Năm 2009, giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế là 9.068.385 triệu đồng Trong đó: Trồng trọt 4.803.161 triệu đồng, chiếm 52,96%; Chăn nuôi 4.123.924 triệu đồng chiếm 45,48%; Dịch vụ 141.300 triệu đồng, chiếm 1,56%
- Trồng trọt: Cây lương thực chủ yếu là lúa, ngô Theo thống kê đến năm 2009, diện tích đất trồng lúa cảnăm là 81.499 ha, trong đó diện tích trồng lúa mùa: 41.181 ha, lúa đông xuân 40.318 ha
Năng suất lúa mùa bình quân đạt 61,20 tạ/ha; Lúa đông xuân đạt 64,23 tạ/ha
Diện tích trồng ngô 6.874 ha, năng suất 5,1 tấn/ha Sản lượng lương thực 546.265 tấn/năm
Diện tích trồng cây công nghiệp năm 2009 là 4.328 ha Trong đó, chủ yếu là đậu tương 3.153 ha, chiếm 72,85% và lạc 1.096 ha, chiếm 25,32% Còn lại 1,83% là vừng, đay, mía.
- Chăn nuôi: Năm 2009, cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi như sau: Gia súc 65,88% (Trâu, bò, lợn, Ngựa, Dê); Gia cầm 23,85% (gà, vịt, ngan, ngỗng); chăn nuôi khác 10,27% Cơ cấu chăn nuôi đang chuyển dần sang kinh tếhàng hóa, đàn trâu năm 2009 chỉ bằng 68,2% so với năm 2005, trong khi đàn bò tăng 8,7%, đàn lợn tăng 1,5% Chăn nuôi gia cầm cũng được khuyến kích phát triển đã tăng 8,2%.
1.6.3.2 Hiện trạng ngành thủy sản
Từnăm 2005 đến nay vị trí của ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trọng, giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản năm 2009 là 557.728 triệu đồng, trong đó: Nuôi trồng 484.280 triệu đồng (chiếm 86,8%); Khai thác 28.428 triệu đồng (chiếm 5,1%); dịch vụ thuỷ sản 45.020 triệu đồng (chiếm 8,1%)
B ảng 1-8: Diện tích, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản Đơn vị: ha
3 Ươm, nuôi giống thuỷ sản 64 97 95
II Sản lượng nuôi trồng 11.236 13.754 15.549 18.385 21.225
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên, 2010)
1.6.3.3 Kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Tính đến năm 2009 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã có 20.322 cơ sở sản xuất công nghiệp Những ngành công nghiệp chủ yếu là công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống, công nghiệp dệt may, công nghiệp chế biến gỗ
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế năm 2009 đạt 41.514.837 triệu đồng Trong đó doanh nghiệp nhà nước 2.468.130 triệu đồng (chiếm 5,94%); doanh nghiệp ngoài quốc doanh 23.990.400 triệu đồng(chiếm 57,79%); cá thể 3.103.967 triệu đồng (chiếm 7,48%); đầu tư nước ngoài 11.952.340 triệu đồng (28,79%)
B ảng 1-9: Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế
Công nghi ệp khai thác 46 55 52 60 61
Khai thác đá và khai thác mỏ 46 55 52 60 61
Công nghi ệp chế biến 16.593 17.766 18.610 19.681 20.173
1 Sản xuất thực phẩm và đồ uống 6.365 6.872 7.316 7.729 7.692
4 Sản phẩm bằng da và giả da 234 252 634 637 611
5 Sản phẩm từ gỗ và lâm sản 3.007 3.186 3.946 4.158 4.327
6 Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 30 34 301 318 323
7 Xuất bản, in và sao bản ghi 10 13 17 16 23
8 SX hoá chất và SP từ hóa chất 53 57 130 126 192
9 SX các SP từ cao su, plastic 43 52 232 245 440
10 SX thủy tinh, các SP từ thủy tinh, 847 863 796 812 849
12 Sản xuất sản phẩm từ kim loại 1.297 1.377 1.509 1.622 1.565
13 Sản xuất máy móc và thiết bịđiện 25 26 25 30 17
14 SX radio, tivi và thiết bị truyền 10 10 14 16 18
15 SX xe có động cơ rơ móc 26 43 23 29 51
16 Sản xuất phương tiện vận tải khác 26 27 31 30 42
17 SX giường tủ, bàn ghế 2.394 2.560 1.061 1.142 1.125
SX và phân ph ối điện, khí đốt, 9 9 72 85 88
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên, 2010)
Hưng Yên là tỉnh có khá nhiều làng nghềvà được phân theo nhóm như sau:
Nhóm làng nghề sản xuất nhựa, tái chế kim loại:
Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai thuộc thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm và xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào Sản phẩm của làng nghề gồm: Tấm nhựa, hạt nhựa, túi bao gói hàng các loại
Làng nghề tái chế chì thuộc thôn Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm Sản phẩm của làng nghề gồm: chì thỏi, con suốt chì cho lưới đánh cá.
Làng nghềđúc nhôm đồng xã Hồng Tiến và Đồng Tiến, huyện Khoái Châu
Nhóm làng nghề sản xuất đồ gốm và vật liệu xây dựng:
Sản xuất vôi tại thôn Duyệt Lễ, xã Minh Tân, huyện Phù Cừ;
Gạch đất nung tại xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu;
Gốm sứ xã Xuân Quan, huyện Văn Giang.
Nhóm làng nghề chế biến nông sản thực phẩm:
Chế biến mứt táo khô thuộc xã Phương Chiểu, huyện Tiên Lữ và xã Bình Minh, huyện Khoái Châu
Sản xuất bia: Toàn tỉnh có 13 cơ sở sản xuất bia tư nhân.
Sản xuất bột dong riềng và miến thuộc xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu và Yên Phú, huyện Yên Mỹ
Nghề thuộc da bưng trống tại Thôn Hảo và thôn Lưu Thượng xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ
Ngoài ra còn có các làng nghề khác:
Làng nghềTương Bần Yên Nhân
Làng nghề sản xuất đồ mỹ nghệ, chế tác vàng bạc
Làng nghềMây tre đan Văn Phúc, Văn Giang.
Chế biến dược liệu, thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm; xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, Hương xã Bảo Khê, Thị xã Hưng Yên.
Phương hướ ng phát tri ể n kinh t ế , xã h ộ i trong vùng
1.7.1 Mục tiêu về kinh tế
- Phát triển kinh tế xã hội của vùng bám sát đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn nền sản xuất hàng hoá của vùng với thị
26 trường trong nước, đồng thời tranh thủ mở rộng thị trường quốc tế nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn nhân lực của vùng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tốc độnhanh nhưng đảm bảo tính ổn định và bền vững
- Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, nhanh chóng tạo ra các yếu tố bên trong vững mạnh, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế và các mục tiêu thuộc lĩnh vực văn hoá - xã hội
- Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội nhằm tạo ra sự ổn định vững chắc cho quá trình tăng trưởng và đảm bảo phát triển bền vững
- Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệmôi trường sinh thái
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong thế trận toàn dân, giữ vững an ninh, chính trịtrong giai đoạn phát triển
Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 86.437 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2030 đạt 16 - 17%/năm, giai đoạn 2021 – 2030 đạt 11 - 12%/năm.
Thu nhập bình quân đầu người: Năm 2030 đạt 4.400 – 4.500 USD Rút ngắn khoảng cách về thu nhập với mức bình quân chung của Thành phố, đến năm 2030 đạt 11.000 – 12.000 USD (tương đương 71 – 72% mức trung bình của Thành phố).
B ảng 1-10 Cơ cấu giá trị sản xuất
Công nghi ệp, xây dựng 29% 40%
(Theo 268/QĐ-UBND – “Quyết định phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hưng Yên đến năm 2020, định hướng đến 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, Hưng Yên ngày
1.7.2 Mục tiêu về nông nghiệp
Theo 2111/QĐ-TTg “Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm 2020” và Theo 268/QĐ-UBND – “Quyết định phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hưng Yên đến năm 2020, định hướng đến 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”,Hưng Yên, ngày 17 tháng 02 năm 2012
- Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiệu quả, bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với xây dựng nông thôn mới; tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, áp dụng kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến, tiêu thụ tạo ra những sản phẩm sạch, có năng suất cao và giá trị gia tăng lớn; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn trên cơ sở quy hoạch nông thôn mới; quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và đáp ứng cho nhu cầu phát triển của tỉnh
- Tốc độtăng giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng năm đạt bình quân 4% trong giai đoạn 2011 - 2015 và đạt 2,5 - 3% giai đoạn 2016 - 2030; tốc độtăng giá trị gia tăng ngành nông nghiệp, thủy sản bình quân hàng năm đạt khoảng 2,2% trong giai đoạn 2011 - 2015 và đạt khoảng 1,6% giai đoạn 2016 - 2030
- Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng phát triển các nông sản chủ lực, có giá trị kinh tếcao đểhình thành cơ cấu nông nghiệp với tỷ lệ giữa các ngành trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụvào năm 2015 là: 45%, 50%, 5% và vào năm
- Đến năm 2015 có 25% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đạt 75% vào năm 2030
1.7.3 Xây dựng nông thôn mới
Theo 28/KH-UBND “Xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 -
- Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trực tiếp tham gia thực hiện thắng lợi chủtrương xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước
- Tập trung mọi nguồn lực thực hiện tốt Kế hoạch xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp và nông thôn để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong tỉnh Phấn đấu tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015 là 25%; đến năm 2030 đạt 60%.
Hi ệ n tr ạ ng h ệ th ống tiêu nướ c trong vùng
Theo quy hoạch thủy lợi tỉnh Hưng Yên, diện tích tưới tiêu trên địa bàn tỉnh được phân thành 4 khu như sau:
Khu Bắc Kim Sơn: Được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp huyện Thuận Thành tỉnh
Bắc Ninh và Gia Lâm – Hà Nội; Phía Tây đến Nam là sông Kim Sơn; Phía Đông giáp huyện Cẩm Giàng – Hải Dương Tổng diện tích đất tự nhiên 20.505 ha, diện tích đất canh tác 12.166,5 ha bao gồm các huyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, một phần Yên Mỹ, một phần nằm phía Bắc sông Kim Sơn của các xã Vĩnh Khúc – huyện Văn Giang (150 ha); xã Đào Dương, Bắc Sơn – huyện Ân Thi (185 ha)
Khu Ân Thi – đường 39: Được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp bờ Nam sông Kim Sơn; Phía Đông là sông Tây Kẻ Sặt; phía Tây là sông Điện Biên; Phía Nam là sông
Cửu An Tổng diện tích đất tự nhiên 15.494 ha, diện tích đất canh tác 11.416,4 ha bao gồm một phần đất đai của các huyện Ân Thi; Yên Mỹ, Phù Cừ, Kim Động, Khoái Châu
Khu Tây Nam Cửu An: được giới hạn bởi: Phía Bắc là sông Cửu An; Phía Nam giáp sông Luộc; Phía Đông là sông Nam Kẻ Sặt; Phía Tây giáp sông Hồng Tổng diện tích đất tự nhiên 31.892 ha (diện tích trong đê 26.054 ha), diện tích đất canh tác 17.317,7 ha bao gồm một phần đất đai của các huyện: Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ,
Khoái Châu và toàn bộ thành phốHưng Yên, huyện Tiên Lữ
Khu Châu Giang: Được giới hạn bởi: Phía Bắc đến Đông là sông Kim Sơn; Phía Đông đến Đông Nam là sông Điện Biên; Phía Nam là sông Cửu An; Phía Tây là sông Hồng Tổng diện tích đất tự nhiên 24.418 ha (diện tích trong đê 20.751 ha), diện tích đất canh tác 11.625 ha bao gồm một phần đất đai của các huyện: Kim Động, Khoái Châu, Yên Mỹ và gần như toàn bộ huyện Văn Giang
Những tồn tại, hạn chế của các hệ thống tiêu là:
- Thiếu năng lực và thiếu công trình đầu mối tiêu: Một số khu tiêu thiếu lưu lượng bơm hoặc chưa có trạm bơm như khu tiêu vùng trũng
- Hệ thống sông, trục tiêu bị bồi lấp, sạt lở, bờ kênh thấp:
+ Các trục tiêu chính như sông Bác Hồ, kênh Hòa Bình, cũng như các kênh tiêu chính vào bể hút các trạm bơm tiêu lâu ngày không được nạo vét nên bị bùn bồi lắng; mặt khác tình trạng vi phạm lấn chiếm lòng kênh gây ách tắc đường tiêu, hạn chế khả năng tiêu thoát khi có mưa lớn Đặc biệt tuyến kênh chính Hòa Bình, sông An Tảo nhiều đoạn bị sạt lở, bờ kênh thấp không đảm bảo dẫn nước
- Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu diện tích sử dụng đất thì diện tích các thị trấn, các khu dân cư trong vùng tăng mạnh, diện tích mặt nước ao hồ, lòng dẫn thu hẹp, dung tích trữ nước giảm Tình trạng vi phạm pháp lệnh khai thác các công trình thủy lợi như lấn chiếm thu hẹp lòng kênh, xả thải vào kênh tưới, tiêu gây ách tắc và ô nhiễm nguồn nước gây khó khăn lớn cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất
- Công tác tu bổ tôn cao bờ vùng, phân khu tiêu chưa được đầu tư kịp thời, khiến cho lưu vực tiêu không khép kín ảnh hưởng đến khả năng chống úng của nhiều khu.
Các nguyên nhân gây úng ng ậ p
Cho đến nay, do nhiều nguyên nhân trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của vùng, hệ thống công trình tiêu nước trên địa bàn huyện đã và đang bộc lộ những tồn tại:
- Do yếu tố địa hình: Ruộng đất khu vực có nơi trũng cục bộ hơn so với khu vực khác
- Thay đổi chế độ thủy văn, sông ngòi: Tại thời điểm mực nước trong kênh tải với lưu lượng lớn thì mực nước sông Luộc dâng cao làm chậm khảnăng tiêu nước
- Nhu cầu tiêu thay đổi: Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển đổi mới trong cơ cấu kinh tếđất nước từ kinh tế bao cấp sang kinh tếhàng hoá Trong lĩnh vực nông nghiệp, sự thay đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang cây màu, cây công nghiệp đồng thời với sự phát triển các khu dân cư, đô thị đã làm tăng hệ số tiêu thiết kế và mức tưới thiết kế trong vùng Điều này đã làm thay đổi khả năng phục vụ của các hệ thống tiêu đã xây dựng theo các quy hoạch trước đây.
- Do sự biến đổi của khí hậu toàn cầu: Hệ số tiêu quá bé do có những biến động lớn về thời tiết ngày càng bất lợi, cường độmưa ngày một lớn Vụ mùa mưa úng diễn biến bất thường, không theo quy luật chung Lượng mưa trong những năm gần đây lớn hơn nhiều so với thống kê Trong khi năng lực tiêu của các trạm bơm tiêu có hạn gây úng ngập trên diện rộng
- Công trình thủy lợi xuống cấp: Qua một thời gian dài hoạt động, hệ thống kênh trong vùng đã bị xuống cấp nghiêm trọng vẫn chưa được tu sửa, nạo vét kịp thời Các trạm bơm bị xuống cấp nhiều, nhiều trục kênh bị bồi lắng, sạt lở, tràn nước, lòng kênh nhiều bèo rác, tình trạng dân đổ phế thải và xây dựng công trình lấn chiếm lòng
30 kênh xảy ra khá phổ biến trên hầu hết các tuyến kênh Các cầu cống trên hệ thống đã xuống cấp và khẩu độ không đồng bộ với yêu cầu tiêu hiện tại Do đó khả năng dẫn nước tiêu thoát chưa đảm bảo theo thiết kếban đầu.
K ế t lu ận chương 1
Chương 1 đã đưa ra bức tranh tổng quát về những đặc điểm tự nhiên, thực trạng và các vấn đề cấp bách cần giải quyết của vùng nghiên cứu là vùng tiêu Tây Nam Cửu
An thuộc tỉnh Hưng Yên Đây là những yếu tố cần được xem xét kỹ trong việc thiết kế và lựa chọn hình thức, kết cấu hợp lý cho các phương án Một đặc điểm đáng chú ý khi nghiên cứu vùng tiêu này đó là từ trước tới nay phương thức tiêu của toàn vùng hệ thống đều dựa trên tiêu tự chảy Trong khi đó thì mực nước sông Luộc đang có xu hướng ngày càng dâng cao do sự thay đổi dần của thời tiết, khí hậu và các yếu tố khí tượng thủy văn Do vùng được bao quanh bằng đê sông Hồng nên sông Luộc được coi là nơi tiêu nước chính của cả khu vực Mực nước sông Luộc dâng cao là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng úng ngập cục bộ, tràn nước bờ kênh gây hư hại cho công trình đặc biệt là trong mùa mưa bão Hiện tại chưa giải quyết được vấn đề tiêu một cách triệt để, nạn úng ngập xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng khi mưa lớn, ảnh hưởng thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp và môi trường sống Vì vậy, việc lập quy hoạch thuỷ lợi, đề xuất các giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống công trình thuỷ lợi, tăng cường các giải pháp tiêu thoát nước cho toàn vùng Tây Nam Cửu An đặc biệt là thành phốHưng Yênđến năm 2030, định hướng đến năm 2050 là việc làm hết sức cần thiết Các biện pháp đưa ra ởđây là tiến hành xây dựng một số trạm bơm tiêu có công suất đủ lớn, đảm nhận tiêu nước của khu vực ra nguồn tiêu Ngoài ra cần cải tạo, sửa chữa, nâng cấp hệ thống kênh mương nội đồng nhằm đảm bảo dẫn nước, tiêu thoát nước được tốt phù hợp với lưu lượng của công trình đầu mối