1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Mỹ học Mác Lênin Nghệ thuật và chân lý khách quan

43 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 63,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mĩ học mácxít là một hệ thống gồm những ý kiến (chỉ là ý kiến) của MarxEngelLenin về văn học nghệ thuật và các tác phẩm mĩ học của các nhà mĩ học. Vì thế việc chúng ta viện dẫn ý kiến của MarxEngelLenin mỗi khi bàn đến một vấn về nào đó của văn học nghệ thuật là cần thiết, nhưng chưa đủ. Không thể có một nền mĩ học nếu không có các tác phẩm mĩ học Lukács György là một trong những người đã có công sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu các quan điểm của MarxEngelLenin, và chứng minh các quan điểm đó tạo thành hệthống, nhưng chính ông mới là nhà mĩ học lớn của thế kỉ, người đã phát triển một cách có hiệu quả các quan điểm của MarxEngelLenin về văn học nghệ thuật, làm giàu thêm cho hệ thống mĩ học mácxít bằng những công trình mĩ học của mình.Về những giai đoạn phát triển quan trọng của mĩ học Lukács, chúng tôi đã có dịp giới thiệu(). Có thể nói Lukács là triết gia duy nhất của thế hệ ông đã kịp thời nêu những vấn đề của thời đại bằng ngôn ngữ triết học và mĩ học. Những năm ba mươi của thế kỉ này là thời kì phát triển quan trọng của mĩ học Lukács, khi ông bắt đầu xây dựng hệ thống các quan điểm mĩ học của mình về phản ánh nghệ thuật, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Xuất phát từ phản ánh luận của Lenin, Lukács nhấn mạnh quan điểm văn học phản ánh hiện thực “bằng các hình thức của đối tượng”. Ông khẳng định văn học nghệ thuật như là ý thức của sự phát triển nhân loại, và luôn luôn trung thành với quan điểm nghệ thuật không tách rời đời sống xã hội. Lukács đã đưa vấn đề phản ánh hiện thực và chủ nghĩa hiện thực vào trung tâm mĩ học mácxít, trên bình diệntriết học. Những bài viết của Lukács về chủ nghĩa hiện thựcđã ra đời trong các năm từ 1934 đến 1939.

Trang 1

Nghệ thuật và chân lý khách quan

Lukács György (Trương Đăng Dung dịch)

Mĩ học mácxít là một hệ thống gồm những ý kiến (chỉ là ý kiến) của Engel-Lenin về văn học nghệ thuật và các tác phẩm mĩ học của các nhà mĩ học Vì thế việc chúng ta viện dẫn ý kiến của Marx-Engel-Lenin mỗi khi bàn đến một vấn

Marx-về nào đó của văn học nghệ thuật là cần thiết, nhưng chưa đủ Không thể có một nền mĩ học nếu không có các tác phẩm mĩ học! Lukács György là một

trong những người đã có công sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu các quan điểm của Marx-Engel-Lenin, và chứng minh các quan điểm đó tạo thành hệthống, nhưng chính ông mới là nhà mĩ học lớn của thế kỉ, người đã phát triển một cách có hiệu quả các quan điểm của Marx-Engel-Lenin về văn học nghệ thuật, làm giàu

thêm cho hệ thống mĩ học mácxít bằng những công trình mĩ học của mình.

Về những giai đoạn phát triển quan trọng của mĩ học Lukács, chúng tôi đã

có dịp giới thiệu(*) Có thể nói Lukács là triết gia duy nhất của thế hệ ông đã kịp thời nêu những vấn đề của thời đại bằng ngôn ngữ triết học và mĩ học Những năm

ba mươi của thế kỉ này là thời kì phát triển quan trọng của mĩ học Lukács, khi ông bắt đầu xây dựng hệ thống các quan điểm mĩ học của mình về phản ánh nghệ thuật, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Xuất phát từ phản ánh luận của Lenin, Lukács nhấn mạnh quan điểm văn học phản ánh hiện thực “bằng các hình thức của đối tượng” Ông khẳng định văn học nghệ thuật như là ý thức của sự phát triển nhân loại, và luôn luôn trung thành với quan điểm nghệ thuật không tách rời đời sống xã hội Lukács đã đưa vấn đề phản ánh hiện thực và chủ nghĩa hiện thực vào trung tâm mĩ học mácxít, trên bình diệntriết học Những bài viết của Lukács về chủ nghĩa hiện thựcđã ra đời trong các năm từ 1934 đến 1939.

Trang 2

Nghệ thuật và chân lí khách quan là tác phẩm mĩ học có vị trí đặc biệt trong

sự nghiệp của Lukács, vì cũng như công trình Tiểu thuyết lịch sử, tác phẩm này là một trong những thành quả đầu tiên của ông trên con đường đến với chủ nghĩa Marx Lukács quan tâm nhiều đến đặc trưng của phản ánh nghệ thuật, ông cho rằng mọi tác phẩm nghệ thuật có giá trị đều tạo ra ”thế giới riêng”, các nhân vật, tình huống đều hoàn toàn khác với thực tế hàng ngày, thậm chí không giống với bất kì nhân vật, tình huống nào của tác phẩm khác Và sự say mê của người tiếp nhận trong ảnh hưởng của tác phẩm là sự say mê hoàn toàn vào đặc trưng của cái ”thế giới riêng” của tác phẩm, do tác phẩm đã phản ánh hiện thực trung thực hơn, hoàn thiện hơn, sinh động hơn cái mà người tiếp nhận cóđược về hiện

thực Thế giới riêng của tác phẩm chỉ là cái tưởng như, như thể tác phẩm nghệ thuật không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, như thể người tiếp nhận không hình dung ra cái “thế giới riêng” đó của tác phẩm chỉ là sự phản ánh hiện thực Lukács viết: ”Nghịch lí ảnh hưởng của tác phẩm là ở chỗ chúng ta trao mình cho một hiệnthực dâng sẵn bên ta, ta coi nó là hiện thực và tiếp nhận nó, mặc

dù ta vẫn biết chính xác rằng nó không phải là hiện thực mà chỉ là hình thức đặc biệt của sự phản ánh hiện thực” (Đây chính là sự thỏa thuận giữa văn bản văn học

và sự tái tạo bản sắc riêng của người đọc mà khoa tường giải học thường nói đến) Lukács còn nhấn mạnh một luận điểm có ý nghĩa khoa học, đó làchân lí nghệ

thuật tồn tại không phụ thuộc vào sự tương xứng hay không với chân lí khách

quan, theo tinh thần nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm nghệ thuật là hiện thực Sự đúng đắn của phản ánh nghệ thuật về một chi tiết nào đó không có gì liên quan đến việc chi tiết phản ánh đó có khớp với chi tiết có trong hiện thực hay không Lukács thừa nhận vai trò của ảo ảnh nghệ

thuật đối với hiệu quả thẩm mĩ của tác phẩm nghệthuật, và lưu ý nguy cơ làm tan biến ảo ảnh nghệ thuật chính là sự so sánh máy móc hiện thực phản ánh với

nguyên mẫu của hiện thực khách quan (Về điểm này, sẽ được nhà mĩ học mácxít

Trang 3

người Anh Ch Caudwell nghiên cứu trong tác phẩm nổi tiếng Ảo ảnh và hiện thực, một cuốn sách được viết từ 1935-1937 màsau này Lukács thường nhắc đến với thái độ cao hơn sự trân trọng bình thường) Có thể xem mĩ học Lukács và Caudwell trong những năm ba mươi là cái mốc quan trọng trong cuộc hành trình của tư duy mĩ học mácxít trước khi Đại chiến thế giới lần thứ II bùng nổ.

Lukács György là một trong những nhà mĩ học mácxít đầu tiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, xem hình thức cũng là một thành phần của sự phản ánh hiện thực Trong Nghệ thuật và chân lí khách quan, ông đã

dành nhiều trang viết về sự khách thể hóa hình thức, một vấn đề khó và ít được nghiên cứu của mĩ học mácxít Ông cho rằng nhiệm vụ của mĩ học mácxít là phảí chỉ ra một cách cụ thể khách thể hóa hình thức có hiệu lực như thế nào trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Hình thức mà Lukács quan niệm ở đây là hình

thức thẩm mĩ của nội dung, làchính cái nội dung mang nghĩa của tác phẩm văn học, có nguồn gốc từ đời sống xã hội, nó khác với khái niệm hình thức mà các nhà hình thức Nga và các nhà cấu trúc quan niệm.

Nói đến tính hệ thống của mĩ học mácxít không có nghĩa là chỉ thừa nhận sự thống nhất tuyệt đối của mọi quan điểm tạo nên hệ thống đó Bên trong mỗi hệ thống triết học hay mĩ học đều có những khác biệt nhất định, do mỗi nhà triết học hay mĩ học lớn đều có hệ thống riêng của mình Mỗi hệ thống riêng này đều có những hạn chế không thể tránh khỏi Mĩ học Lukács cũng không phải là ngoại lệ Thậm chí so sánh với các nhà mĩ học mácxít khácở giai đoạn sau này, ta

thấy trong thời kì đầu đến với chủ nghĩa Marx, Lukács đã có không ít những quan điểm giáo điều Không phải ngẫu nhiên mà khi bàn về chủ nghĩa hiện thực, hoặc

về các sáng tác của Franz Kafka, R Garaudi đã không cùng chung quan điểm với Lukacs, còn Ernst Fischer thì mặc dù rất kính trọng Lukács vẫn xem ông là

người bảo thủ! Thực ra sau này Lukács đã đánh giá lại về Franz Kafka, và xem đó

là hành động tự chỉnh đốn về học thuật Đương nhiên bên trong hệthống mĩ học

Trang 4

của Lukács vẫn có sự điều chỉnh qua các giai đoạn, chẳng hạn liên quan đến mô hình phản ánh, từ Nghệ thuật và chân lí khách quan (1934) đến Đặc trưng mĩ học (1965), Lukács đã có những bước tiến dài trong quan điểm về vật tự nó và vật cho ta nghệ thuật Những mô hình lí luận văn học mácxít nửa sau thế kỉ XX, nói chung, đều thể hiện nỗ lực đổi mới Nếu so sánh mô hình phản ánh của

Lukács György trong Nghệ thuật và chân lí khách quan vớimô hình sản xuất của

P Macherey trong cuốn Đến với lí luận sản xuất văn học, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt cơ bản giữa hai nhà lí luận văn học mácxít này P Macherey muốn bổ sung những điểm nhìn mới về quá trình hình thành và biến đổi của tư tưởng trong văn bản, tức là quá trình biến đổi của các yếu tố hiện thực bên ngoài trong cấu trúc văn bản văn học Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là mĩ học và lí luận văn học mácxít vẫn chưa nghiên cứu đúng mức vấn đề chủ thể đối tượng và chủ thể tiếp nhận trên bình diện lí luận nghệ thuật và ngôn ngữ học hiện đại Về mặt này, khách quan mà nói, ngay từ nửa đầu thế kỉ các nhà lí luận văn học tư sản đã làm được rất nhiều.

Ở thời điểm này nhìn lại, những hạn chế của mĩ học Lukács György cũng là điều dễ hiểu đối với chúng ta Dịch Nghệ thuật và chân lí khách quan của Lukács viết từ năm 1934,chúng tôi muốn góp phần giới thiệu thêm một tác phẩm mĩhọc quan trọng đã cùng với các tác phẩm mĩ học khác tạo nên hệ thống mĩ học mácxít, một hệ thống mĩ học có nhiều vấn đềcần được tiếp tục nghiên cứu.

Trương Đăng Dung

Sự khách thể hóa chân lí trong lí luận nhận thức của chủ nghĩa Lenin

Marx-Cơ sở của mọi sự nhận thức đầy đủ về hiện thực, cho dù về tự nhiên hay xă hội, là việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới bên ngoài độc lập với ý thức của con người Mọi quan niệm về thế giới bên ngoài chỉ là sự phản ánh trong

ý thức của con người cái thế giới tồn tại độc lập với ý thức Yếu tố cơ bản này của mối quan hệ giữa ý thức và tồn tại cũng có hiệu lực đối với sự phản ánh hiện thực

Trang 5

của nghệ thuật Lí thuyết phản ánh là cơ sở chung của mọi hình thức mà nhờ nó, ý thức con người vật lộn với hiện thực về mặt lí luận và hoạt động thực tiễn Đây cũng là cơ sở của lí luận liên quan đến nghệ thuật phản ánh hiện thực, còn việc nêulên những đặc điểm riêng của phản ánh nghệ thuật bên trong khuôn khổ của lí luận chung về phản ánh sẽ là đối tượng tiếp tục bàn luận của chúng tôi.

Lí luận bao quát thật sự về phản ánh hình thành lần đầu tiên trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, qua các tác phẩm của Marx, Engels và Stalin Đối với ý thức

tư sản thì không thể có được lí 1uận đúng liên quan đến sự phản ánh cái thế giới tồn tại độc lập với ý thức con người, đến sự khách thể hóa, đó là lí luận duy vật – biện chứng của sự phản ánh Tất nhiên trong thực tiễn khoa học và nghệ thuật tư sản; chúng ta cũng gặp vô số trường hợp phản ánh đúng đắn hiện thực Cũng không phải mới một lần lí luận của họ đã đến gần với việc đặt vấn đề hoặc giải quyết vấn đề một cách đúng đắn Nhưng hễ vấn đề được nâng lên bình diện lí luận nhận thức, thì tất cả các nhà tư tưởng tư sản hoặc là bị kẹt trong chủ nghĩa duy vật máy móc, hoặc lún sâu vào chủ nghĩa duy tâm triết học Lenin đã phân tích và phê phán rất rõ hạn chế đó của tư duy tư sản ở cả hai hướng Theo ông ”điều tệ hại cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật máy móc là sự bất lực của nó trong việc vận dụng phép biện chứng đối với lí luận phản ánh, đối với quá trình và sự phát triển của nhận thức” Liên quan tới điều này, Lenin còn chỉ ra: ”Ngược lại, từ điểm nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một chiều, là sự lí giải quá đáng, quá mức…”

Sự không thỏa đáng, mang tính chất hai mặt của nhận thức luận tư sản thể hiệntrên mọi lĩnh vực và trong mọi vấn đề của sự phản ánh thực tại của ý thức con người Chúng tôi không thể đề cập đến ở đây toàn bộ lĩnh vực của nhận thức luận cũng như lịch sử nhận thức của con người Chúng tôi buộc phải lẩy ra một vài điểm quan trọng từ nhận thức luận của chủ nghĩa Marx – Lenin mà xét từ quan

Trang 6

điểm khách thể hóa của sự phản ánh hiện thực nơi nghệ thuật là đặc biệt quan trọng.

Vấn đề quan trọng đầu tiên mà chúng tôi nghiên cứu là vấn đề hình ảnh phản ánh trực tiếp thế giới bên ngoài Mọi sự nhận thức đều dựa vào chúng, những hình ảnh này tạo cơ sở và xuất phát điểm cho mọi sự nhận biết Nhưng chúng chỉ tạo nên xuất phát điểm và không đồng nhất với sự nhận thức trọn vẹn Marx đã nói về vấn đề này một cách rõ ràng rằng: ”Tất cả mọi khoa học đều thừa nếu hình thức xuất hiện và bản chất của các sự vật trực tiếp nhập làm một” Và Lenin khi phân tích vấn đề này trong mối liên hệ với lôgíc học của Hegel cũng đã viết: ”Chân lí không có ở sự khởi đầu mà ở cuối, nói đúng hơn ở trong sự tiếp tục Chân lí không phải là ấn tượng khởi đầu” Điều này được Lenin xem xét bằng chính trị kinh tế học, hoàn toàn trong ý nghĩa mà Marx quan niệm…

Từ xuất phát điểm đó, Lenin tiếp tục đi đến chỗ xác định chức năng của các phạm trù trừu tượng, các khái niệm và các qui luật trên toàn bộ sự nhận thức của con người về hiện thực, trên lí luận phản ánh chi tiết, qua việc xác định vị trí của chúng bên trong nhận thức khách quan của con người về hiện thực Lenin viết:

”Vật chất, tính chất trừu tượng của qui luật tự nhiên, của giá trị, v.v…, nói tóm lại toàn bộ các ý niệm trừu tượng của khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không vô nghĩa) đều phản ánh tự nhiên sâu sắc, xác thực, trọn vẹn hơn Từ quan sát trực tiếp đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực hành, đó là con đường biệnchứng của nhận thức hiện thực, của thực tiễn khách quan” Sau những lập luận đó Lenin phân tích vị trí của các ý niệm trừu tượng khác nhau có trong lí luận nhận thức, và nêu bật tính chất hai mặt biện chứng của chúng Ông nói: “Nghĩa phổ quát

ẩn chứa trong nó sự mâu thuẫn: nghe thấy, không rõ ràng, không trọn vẹn, v.v…, nhưng đó là nấc thang dẫn đến sự nhận thức hiện thực cụ thể, bởi vì chúng ta không bao giờ nhận thức được trọn vẹn cái cụ thể Tính toàn vẹn của hiện thực cụ

Trang 7

thể và tổng số bất tận của những khái niệm phổ quát, của các qui luật, v.v…” Chỉ

có tính chất hai mặt này soi sáng được tính biện chứng đích thực của hiện tượng vàbản chất Lenin nói: “Hiện tượng phong phú hơn qui luậtt” Và trên cơ sở một quanniệm của Hegel, Người cho đó là một định nghĩa có tính duy vật cao

Sự thừa nhận sâu sắc cái phiên bản của tư duy về hiện thực không trọn vẹn trong sự phản ánh trực tiếp cái hiện tượng, cũng như trong các khái niệm và trong các qui luật (nếu chúng ta nhìn nhận chúng một chiều, không biện chứng, và khôngtrong quá trình bất tận có tính chất tương hỗ biện chứng), đã đưa Lenin tới giải pháp duy vật cho toàn bộ các cách đặt vấn đề của nhận thức luận tư sản Bởi vì tất

cả nhận thức luận tư sản đều nhấn mạnh quan niệm một chiều về hiện thực Lenin

đã mô tả một cách cụ thể toàn bộ tác động biện chứng trong quá trình nhận thức:

”Trí tưởng tượng gần với hiện thực hơn tư duy? Đúng và không đúng Trí tưởng tượng không thể nắm bắt được sự chuyển động trong tổng thể của nó, ví dụ trí

tưởng tượng không thể nắm bắt được tốc độ 300.000 km/giây, nhưng tư duy thì lại

nắm bắt được, và nó cần phải nắm bắt Tư duy có từ trí tưởng tượng cũng phản ánhhiện thực” Với quan điểm này, với xu hướng duy vật một cách nghiêm túc và sự gắn bó không gì lay chuyển nổi với nguyên lí khách thể hóa đã làm cho Lenin có khả năng nắm bắt được mối liên hệ biện chứng đúng đắn của các phương thức nhận thức hiện thực của con người Người nói về vai trò của trí tưởng tượng trong nhận thức của con người như sau: ”Việc nhận biết từng sự vật và có được khái niệm về nó, không tác động một cách đơn giản, trực tiếp như một tấm gương đối với đầu óc con người, mà đó là hoạt động phức tạp, phân tán, không thẳng đường,

nó mang trong mình cái khả năng để cho trí tưởng tượng bay lên từ cuộc sống…”

Sự không hoàn thiện và tính cứng nhắc thâm căn cố đế của mọi quan niệm mộtchiều về hiện thực chỉ có thể khắc phục được bằng quan điểm biện chứng Chỉ với

sự vận dụng một cách đúng đắn và có ý thức quan điểm biện chứng thì chúng ta

Trang 8

mới có thể chiến thắng những gì chưa hoàn thiện trong tiến trình bất tận của nhận thức, để tư duy của chúng ta tiến gần đến cái bất tận luôn vận động của hiện thực khách quan Lenin nói: ”Chúng ta không thể hình dung, không thể biểu hiện, không thể đo và không thể mô tả được sự vận động mà không cắt đứt, làm đơn giản hóa, thô thiển hóa và tách rời tính chất liên tục của nó, giết chết sự trọn vẹn của đời sống Việc mô tả sự vận động thông qua tư duy luôn luôn thô thiển, nó cướp đi sự sinh động; và không chỉ mô tả suy nghĩ, mà cả sự mô tả tình cảm, không chỉ mô tả sự vận động mà cả sự mô tả bất kỳ khái niệm nào cũng thế Và chính bản chất của phép biện chứng nằm ở đây Bản chất này được thể hiện bởi công thức: sự thống nhất là sự tương đồng của các mâu thuẫn” Lí luận của Lenin

về thực tiễn dựa trên sự thừa nhận rằng hiện thực luôn luôn phong phú hơn, nhiều mặt hơn cả lí luận tốt nhất và hoàn thiện nhất nói về nó Nó cũng dựa vào ý thức cho rằng với tinh thần biện chứng, con người có thể học ở hiện thực, nắm bắt về mặt tư duy những khả năng mới và đưa chúng vào thực tiễn

”Lịch sử – Lenin nói -, nhất là lịch sử của những cuộc cách mạng, luôn luôn cónội dung phong phú hơn, nhiều dạng, nhiều mặt hơn, sinh động hơn, ”tinh ranh hơn” là những người đứng đầu có ý thức nhất của các giai cấp tiến bộ nhất nghĩ”

Sự uyển chuyển chưa từng thấy trong chiến thuật của Lenin là khả năng thích ứng hết sức nhanh chóng đối với những bước ngoặt đột ngột của lịch sử, để rút ra từ đó cái tối đa có thể trên cơ sở hiểu biết sâu sắc chủ nghĩa duy vật biện chứng

Mối liên hệ này giữa sự khách thể hóa(**) nghiêm túc của lí luận nhận thức và quan hệ gần gũi nhất của nó với thực tiễn là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một trong những bộ phận cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin Sự khách thể hóa cái thế giới bên ngoài không phải là cái gì chết cứng, độc lập với hoạt động thực tiễn của con người, mà nằm chính trong sự độc lập với ý thức con người, trong mối tác động tương hỗ, bên trong, không thể tách rời với hoạt động thực tiễn của con

Trang 9

người Từ thời trẻ Lenin đã bác bỏ mọi quan niệm định mệnh cứng nhắc, không cụ thể và không biện chứng về sự khách thể hóa, vì nó giả dối và chỉ dẫn đến sự biện

hộ mà thôi Cùng với việc chống lại quan niệm chủ thể hóa của Mikhajlovski, Lenin cũng đã phê phán “Chủ nghĩa khách quan” cứng nhắc và biện hộ của Struve.Ông quan niệm một cách đúng đắn và sâu sắc tính chất khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng, xem đó là chủ nghĩa khách quan của hoạt động thực tiễn và

của tính đảng.Chủ nghĩa duy vật – Lenin nói khi tóm tắt những lập luận phản bác

lại Struve – ”mang trong nó yếu tố tính đảng, bởi vì nó buộc mình phải nói lên mộtcách thẳng thắn, rõ ràng cái lập trường quan điểm của một nhóm xã hội nhất định khi đánh giá một sự kiện”

Lí luận phản ánh trong mĩ học tư sản

Mâu thuẫn nội tại này, nền tảng mâu thuẫn của quan niệm về thế giới bên ngoài, thể hiện trong các quan niệm lí luận liên quan đến sự tái hiện nghệ thuật trong cấu trúc phản ánh cái thế giới bên ngoài, thông qua ý thức con người Nếu chúng ta xem xét lịch sử mĩ học trên cơ sở chủ nghĩa Marx-Lenin, thì khắp nơi chúng ta đều thấy sự nhấn mạnh một chiều của hai xu hướng mà Lenin đã phân tích mộc cách sắc sảo Một đằng là sự bất lực của chủ nghĩa duy vật máy móc trong việc vận dụng tính biện chứng, một đằng là ”chủ nghĩa duy tâm nguyên thủy” Tất nhiên, cả hai nỗ lực này trong lịch sử mĩ học ít khi xuất hiện một cách rõràng Chủ nghĩa duy vật máy móc mà sức mạnh của nó thể hiện trong khát vọng phản ánh hiện thực khách quan, từ sự bất lực tất yếu trong việc hiểu những vấn đề của vận động và lịch sử, v.v…, đã chuyển hóa vào chủ nghĩa duy tâm, như Engels

đã nói một cách thuyết phục Trong lịch sử mĩ học cũng như trong nhận thức luận chung, chúng ta đều gặp những thể nghiệm lớn của những nhà duy tâm khách quan(Aristote, Hegel) nhằm chiến thắng sự không hoàn thiện, tính chất một chiều và cứng nhắc của chủ nghĩa duy tâm Những thể nghiệm này, do xảy ra trên nền của chủ nghĩa duy tâm, tất nhiên là chúng có thể mang đến cho sự khách thể hóa những

Trang 10

cách nói đúng, có ý nghĩa trong các chi tiết, nhưng các hệ thống hoàn chỉnh lại cũng mang tính chất một chiều của chủ nghĩa duy tâm.

Trong mối liên quan này, qua từng ví dụ cổ điển đặc trưng, chúng ta có thể chỉ

ra những quan điểm mâu thuẫn, một chiều và không hoàn thiện của chủ nghĩa duy vật máy móc và chủ nghĩa duy tâm Những ví dụ này chúng tôi lấy từ các nhà cổ điển, bởi vì những người này thường bộc lộ mọi quan điểm một cách công khai, chân thành, không quanh co trái với các nhà mĩ học sống trong thời kì tàn suy của

tư tưởng tư sản, với sự lạc lõng chiết trung, biện hộ và sự không thành thực của họ.Diderot, một trong những đại điện chính của lí thuyết tuyên bố trực tiếp bắt

chước tự nhiên một cách máy móc, trong tiểu thuyết Les bijoux indiscret của mình

đã nói rất rõ lí thuyết này Nhân vật nữ mà cũng là người phát ngôn cho các quan điểm của ông, đã nhận xét về chủ nghĩa cổ điển Pháp như sau: ”Nhưng tôi biết, chỉ

có sự thật làm tôi thích, và tôi cũng biết rằng sự hoàn thiện của một vở kịch nào đó

là do có sự bắt chước một cách chính xác một hành động làm cho người xem, trongtrạng thái liên tục thất vọng, cảm thấy dường như mình cũng tham dự vào hoạt động đó” Và không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây tác giả nghĩ đến cái vẻ ngoài trùng khớp, đến sự bắt chước hiện thực hoàn toàn theo kiểu nhiếp ảnh Với nhân vật nữ của mình, Diderot nghĩ ra việc kể lại cho ai đó nội dung một vở bi kịch nói về âm mưu thật sự của triều đình, và người này sau đó vào nhà hát để xem sự kiện này tiếp tục phát triển ra sao: “Tôi đưa anh ta đến lô có chấn song để từ nơi đó anh ta nhìn thấy sân khấu mà anh ta cho là Cung điện nhà vua Ông có tin rằng con người này, nếu có thái độ nghiêm túc thế nào chăng nữa thì vẫn có thể nhầm lẫn trong phút chốc? Không phải vậy đâu…” Nhân vật nữ nói như thể với điều đó vở kịch

đã được giải quyết Rõ ràng cái lí luận đại diện ở mức độ hời hợt sự khách thể hóa nghệ thuật này không thích hợp đối với việc giải quyết một vấn đề nào của sự khách thể hóa nghệ thuật (Trong lí luận của Diderot, nhất là trong hoạt động nghệ

Trang 11

thuật thực tiễn của mình, ông đã nêu lên và giải quyết hàng loạt vấn đề một cách đúng đắn Nhưng việc đó không liên quan gì ở đây, bởi vì ông chỉ giải quyết được các vấn đề đó không có ngoại lệ qua việc ông sẽ không trung thành với thứ lí luận cứng nhắc của mình).

Chúng ta có thể xem mĩ học Schil1er và thái cực ngược lại với điều đó

Trong lời nói đầu rất hấp dẫn viết cho cuốn Cô dâu Messinai, ông đã phê phán rất đúng lí thuyết mĩ học về sự bắt chước Ông ấn định cho nghệ thuật cái nhiệm vụ đúng đắn là ”Đừng đến bằng ảo ảnh của chân lí” mà “phải xây trên nền sự thật” Nhưng như là nhà duy tâm chủ nghĩa sâu sắc, Schiller không xem chân lí là sự phản ánh sâu sắc hơn và hoàn hiện hơn cái hiện thực khách quan so với ảo ảnh, ông tách rời chân lí khỏi hiện thực vật chất, cho nó sự tồn tại độc lập và đối đầu chân lí với hiện thực một cách cứng nhắc! Ông nói: ”Tự nhiên chỉ là một ý tưởng của tinh thần mà không bao giờ có thể cảm nhận được nó” Chính vì thế, trong con mắt của Schiller cái sản phẩm hư cấu của người nghệ sĩ ”thực hơn mọi hiện thực,

và thật hơn mọi kinh nghiệm” Quan điểm cứng nhắc này của Schiller đã làm hỏng những quan sát đúng đắn và sâu sắc của ông Xét về mặt xu hướng, ông nói rất đúng rằng ”người nghệ sĩ không sử dụng một yếu tố nào của hiện thực như anh ta

đã tìm thấy”, nhưng trong cách nói này ông đã làm hỏng suy nghĩ của mình bằng việc quan niệm cái đã có một cách trực tiếp là có thật mà không nhìn nhận nguyên tắc siêu nhiên của chân lí cũng là sự phản ánh sâu sắc và bao quát hơn về hiện thựckhách quan Với sự cứng nhắc duy tâm, ông đã đem đối đầu chân lí và hiện thực

Vì vậy, từ những quan sát đúng đắn ông đã rút ra những kết luận không đúng, và chính điều đó đã triệt tiêu sự khách thể hóa của nghệ thuật

Trong sự tiếp tục phát triển của mĩ học, chúng ta lại bắt gặp hai thái cực này: một đằng là sự sa lầy vào hiện thực trực tiếp, một đằng là sự tách biệt các yếu tố vượt quá sự trực tiếp ra khỏi cái hiện thực vật chất Nhưng nói chung cũng như tư tưởng tư sản suy tàn đang trở lại với một thứ chủ nghĩa duy tâm đạo đức giả, dối

Trang 12

trá, cả hai xu hướng trên đều trải qua những biến đổi đáng kể Lí luận về sự phản ánh trực tiếp hiện thực đánh mất tính chất duy vật máy móc, tính chất phản ánh thế giới bên ngoài Tính chất trực tiếp ngày càng được người ta quan niệm một cách chủ quan hơn như là chức năng độc lập và tự trị của chủ thể (là cái ấn tượng, dư

âm, v.v… có trong ý nghĩ, được tách biệt khỏi hiện thực khách quan) Tất nhiên hoạt động thực tiễn của các nhà hiện thực lớn của thời đại này vẫn dừng lại ở sự

mô tả hiện thực Nhưng phần lớn những nghệ sĩ này không có được lòng can đảm

và sự nhất quán của các nhà nghệ sĩ hiện thực ở thời kì giai cấp tư sản đang lên Trong lí luận của họ, sự lẫn lộn chiết trung giữa chủ nghĩa khách quan giả và chủ nghĩa chủ quan giả đang ngày càng chiếm vị trí lớn hơn Người ta tách biệt sự khách thể hóa ra khỏi hoạt động thực tiễn của con người, tước bỏ tính uyển chuyển

và sinh động của nó, đem đối đầu một cách cứng nhắc sự chủ thể hóa đã bị cô lập tương tự với tính lãng mạn tiền định Ví dụ phổ biến nhất của chủ nghĩa chiết trungnày là định nghĩa nổi tiếng của Zola về nghệ thuật: ”Un coin de le nature vu à travels d’un tempérament” Đó là lấy việc trả lại một cách máy móc, khách quan giả hiệu một mẩu tự nhiên làm mục đích, qua đó nhà thơ là người xuất hiện trong ánh sáng của sự chủ thể hóa đã tách khỏi hoạt động thực tiễn và tác động tương hỗ của hoạt động thực tiễn, chỉ như một người quan sát mà thôi Ở đây, sự chủ thể hóacủa người nghệ sĩ không phải là công cụ để phản ánh trọn vẹn sự vận động của mộttổng thể như ở các nhà hiện thực trước đây, mà là để tái hiện một cách máy móc một mẩu hiện thực được nắm bắt tình cờ

Quá trình chủ thể hóa một cách nhất quán của sự phản ánh trực tiếp hiện thực,

về mặt thực tiễn, được thực hiện trong sự phát triển của chủ nghĩa tự nhiên và đã nhận được những thuật ngữ lí luận khác nhau Phổ biến nhất và có ảnh hưởng nhất

là ”thuyết đồng cảm” Đây là sự phủ nhận mọi sự mô tả cái hiện thực độc lập với ý thức con người Người đại diện hiện đại gần gũi nhất của lí thuyết đó là Lipps Ông

Trang 13

nói: ”Hình thức của một sự vật luôn luôn qua tôi, thông qua hoạt động bên trong của tôi mà có được” Và Lipps rút ra kết luận: ”Thưởng thức thẩm mĩ là sự thưởng thức tự thân đã được khách quan hóa” Như vậy bản chất của nghệ thuật là sự gửi gắm những suy nghĩ và cảm xúc của con người vào cái thế giới bên ngoài, được cho là không thể nắm bắt Lí luận này phản ánh trung thực sự chủ thể hóa đang gia tăng trong thực tiễn hoạt động nghệ thuật, trong bước quá độ từ chủ nghĩa tự nhiên đến chủ nghĩa ấn tượng; nó lên tiếng trong sự chủ thể hoá đang gia tăng ở việc lựa chọn đề tài và phương pháp sáng tác, trong việc nghệ thuật quay lưng lại trước những vấn đề lớn của xã hội.

Như vậy lí luận chủ nghĩa hiện thực của thời đại đế quốc chủ nghĩa cho thấy sựtan rã từng bước của những điều kiện tiên quyết thuộc về thế giới quan của chủ nghĩa hiện thực Và rõ ràng những tác động trở lại, phản hiện thực của lí luận này càng thổi phồng hơn các yếu tố duy tâm – chủ quan so với chủ nghĩa duy tâm xa xưa Sự cứng nhắc cố hữu của chủ nghĩa duy tâm càng được tăng cường bởi chủ nghĩa duy tâm của thời đại đế quốc là chủ nghĩa duy tâm kí sinh đế quốc Trong khi những đại diện của chủ nghĩa duy tâm cổ điển cố gắng, về mặt tư duy, vật lộn với những vấn đề lớn của thời đại họ, kể cả khi họ diễn đạt những vấn đề đó một cách méo mó phù hợp với chủ nghĩa duy tâm của mình, thì chủ nghĩa duy tâm mới này là chủ nghĩa duy tâm của sự chạy trốn trước những vấn đề lớn của thời đại, là

nỗ lực xa rời hiện thực mà thôi Worringer, nhà mĩ học quen biết và rất có uy tín,

người xác lập cái gọi là “thuyết trừu tượng”, đã diễn giải nhu cầu xa rời hiện thực

đó từ sự ”choáng váng tinh thần”, ”nỗi khát khao sự bình yên” của con người Vì thế ông cũng bác bỏ chủ nghĩa hiện thực hiện đại vì nó vẫn còn quá đề cao nguyên tắc mô tả, và rất gần với hiện thực Ông xây dựng lí thuyết của mình ”trên ý

nguyện tuyệt đối của người nghệ sĩ “mà ông hiểu là sự đòi hỏi bên trong ẩn dấu”,

là cái “xuất hiện trong bản thân nó và trong hình ảnh của ý nguyện vươn tới hình

Trang 14

thức độc lập hoàn toàn với sự vật” Lí thuyết này muốn tạo lập cho chính nó sự khách thể hóa cao nhất của nghệ thuật, nên rất đặc trưng cho các lí thuyết của thời đại chủ nghĩa đế quốc Các lí thuyết này không bao giờ xuất hiện công khai, mà luôn luôn tìm cách che đậy những nỗ lực của mình (Phân tích cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa duy tâm, Lenin hoàn toàn lột mặt nạ của chủ nghĩa duy tâm thời đại đế quốc chủ nghĩa về mưu toan đó) Thuyết trừu tượng sau này trở thành nền tảng lí luận của chủ nghĩa biểu hiện, thành đỉnh cao của lí luận nghệ thuật chủ quan, thứ lí luận tàn suy và xơ cứng về các hình thức nghệ thuật trong thời kì của chủ nghĩa tư bản độc quyền thối nát.

Nghệ thuật phản ánh hiện thực

Nghệ thuật phản ánh hiện thực cũng xuất phát từ các mâu thuẫn giống như mọi

sự phản ánh hiện thực khác Đặc trưng của phản ánh nghệ thuật thể hiện ở chỗ nó tìm kiếm con đường khác để giải tỏa các mâu thuẫn so với phản ánh khoa học Chúng ta có thể thấy rõ hơn tính chất đặc trưng này của phản ánh nghệ thuật với việc chúng ta xuất phát từ mục đích đã có trong ý nghĩ và từ đó cố gắng soi sáng những điều kiện tiên quyết để đạt mục đích Mục đích của mọi loại nghệ thuật lớn

là trao cho hiện thực cái hình ảnh của nó trong đó mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, từng trường hợp và quy luật, yếu tố trực tiếp và khái niệm, v.v… được hòa tan để trong ấn tượng trực tiếp của tác phẩm nghệ thuật cả hai đều tự phát trở thành một khối thống nhất đối với người tiếp nhận, tạo nên cái chỉnh thể không thể tách rời Cái phổ quát xuất hiện như là cái riêng, bản chất có thể thấy và cảm nhận trong hiện tượng, còn quy luật thì như là nguyên nhân vận động đặc trưng của từngtrường hợp Engels đã nói rất rõ tính chất cơ bản này của tác phẩm nghệ thuật khi ông bàn đến đặc điểm bên trong tiểu thuyết của các hình tượng: ”Mỗi loại người

đồng thời là từng con người đã được xác định, một “người này” như Hegel nói, và

nó cần phải như vậy”

Trang 15

Do vậy mọi tác phẩm nghệ thuật cần phải mang đến mối liên hệ khép kín, trọn vẹn, và đã xong xuôi ở chính nó Mối liên hệ mà sự vận động và cấu trúc của nó phải công khai một cách trực tiếp Tính tất yếu của sự công khai trực tiếp này đượcthể hiện rõ ràng nhất trong văn học Những mối liên hệ đích thực và sâu sắc nhất của một cuốn tiểu thuyết hay vở kịch chỉ lộ rõ khi kết thúc Việc đoạn kết thật sự soi sáng một cách đầy đủ về phần đầu đều liên quan đến bản chất kết cấu và tác động của tác phẩm Tuy vậy, kết cấu tác phẩm sẽ hoàn toàn không có tác dụng, nếutrên mọi đoạn đường dẫn đến chỗ kết thúc đều không có sự bộc lộ trực tiếp Như vậy, những quy định cơ bản của cái thế giới mô tả trong tác phẩm văn học được thểhiện trong sự tiếp nối lẫn nhau về mặt nghệ thuật, nhưng điều này phải diễn ra bên trong khối thống nhất không thể tách rời ngay từ đầu giữa hiện tượng và bản chất,

và ngày càng phải làm cho khối thống nhất đó đáng tin cậy và rõ ràng hơn bằng sự

cụ thể hóa gia tăng của cả hai

Do tính chất trực tiếp khép kín của tác phẩm nghệ thuật mà tất cả các tác phẩm đều phải tự nó làm phát triển toàn bộ những điều kiện tiên quyết của các nhân vật, tình huống, câu chuyện xảy ra trong nó Sự thống nhất giữa hiện tượng và bản chất chỉ có thể trở thành ấn tượng trực tiếp nếu người tiếp nhận trực tiếp trải nghiệm mọi động thái cơ bản của sự tăng lên hoặc thay đổi, nếu người tiếp nhận không baogiờ nhận những kết quả có sẵn, mà chỉ dồn nỗ lực để sống cái quá trình dẫn tới các kết quả Chủ nghĩa duy vật ”bản năng” của những nghệ sĩ lớn thực thụ (mà về mặt

lí luận, thế giới quan của họ có thể phần nào hoặc hoàn toàn duy tâm) thể hiện ở chỗ họ luôn luôn mô tả một cách rõ ràng những điều kiện của tồn tại mà từ đó ý thức của các nhân vật xuất hiện và tiếp tục phát triển

Bằng phương thức như thế, mọi tác phẩm có giá trị đều tạo nên ”thế giới

riêng” Các nhân vật, tình huống, sự dẫn dắt hành động, v.v… đều có phẩm chất đặc trưng không trùng khớp với bất kì tác phẩm nào khác, và hoàn toàn khác biệt

Trang 16

với hiện thực thông thường Nghệ sĩ càng lớn, sức mạnh mô tả của anh ta càng tác động tốt hơn tới mọi yếu tố của tác phẩm thì “cái thế giới riêng” của tác phẩm càng

nổi lên rõ hơn: Balzac từng nói về Comédie humaine rằng: “Tác phẩm của tôi có

địa danh của nó, cũng như nó có bảng phả hệ và các gia đình, các địa điểm và sự việc, các cá nhân và sự kiện; nó có khoa nghiên cứu gia huy, các nhà quý tộc và tư sản, các thợ thủ công và nông dân, các chính trị gia và công tử bột, quân đội, nói tóm lại là nó có thế giới của nó”

Sự khẳng định này về đặc trưng của tác phẩm có làm mất đi tính chất phản ánhhiện thực của nó? Không Nó chỉ làm tôn lên một cách sâu sắc đặc trưng phản ánh hiện thực của tác phẩm nghệ thuật mà thôi Cái vẻ ngoài khép kín và không thể so sánh được với hiện thực của tác phẩm có thể tìm thấy trên cơ sở phản ánh hiện thực Bởi vì cái không thể so sánh này chỉ là vẻ ngoài, mặc dù đó là vẻ ngoài tất yếu, liên quan đến bản chất của nghệ thuật Tác động của nghệ thuật, sự mê say hoàn toàn của người tiếp nhận vào tác phẩm, sự cuốn hút vào đặc trưng của ”cái thế giới riêng” của tác phẩm trong thực chất đã có sự phản ánh hiện thực trung thựchơn, toàn điện hơn, sinh động hơn, uyển chuyển hơn sự phản ánh mà người tiếp nhận có được để trên cơ sở các kinh nghiệm, sự tái hiện và hình dung của mình về hiện thực, vượt lên giới hạn của các kinh nghiệm, người tiếp nhận có thể nhìn cụ thể hơn vào hiện thực Chính vì thế mà nó chỉ là vẻ bề ngoài, là cái tưởng như, cứ như thể tác phẩm nghệ thuật không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, và người tiếp nhận không quan niệm ”cái thế giới riêng” của tác phẩm là sự phản ánh hiện thực, không thể so sánh nó với những kinh nghiệm riêng của mình Thậm chí anh ta luôn luôn làm như vậy, và ảnh hưởng của tác phẩm bị triệt tiêu ở giây phút người tiếp nhận ý thức được sự mâu thuẫn nào đó, khi anh ta cảm thấy tác phẩm phản ánh sai về hiện thực Nhưng cái vẻ bề ngoài, cái tưởng như này vẫn cần thiết Bởi vì không phải cái ấn tượng riêng lẻ, đơn độc, đối sánh một cách có ý thức với từng đặc điểm riêng biệt của tác phẩm, mà là người tiếp nhận – trên cơ sở những

Trang 17

kinh nghiệm được tích luỹ nào đó – đã trao mình cho sự tác động của tác phẩm Và

sự so sánh vô ý thức ở giữa hai sự phản ánh hiện thực (của tác phẩm và của bạn đọc) cho tới khi người tiếp nhận bị tác phẩm cuốn hút, khi mà những kinh nghiệm của anh ta về hiện thực được sự mô tả của tác phẩm làm cho sâu sắc và mở rộng hơn Vì thế Balzac không nói điều gì mâu thuẫn với những nhận xét của mình về

”thế giới riêng” của tác phẩm, khi ông nói: “Để ai đó làm việc có năng suất thì người đó cần phải học, xã hội Pháp là nhà sử học đích thực, tôi chỉ là người thư kí

mà thôi”

Như vậy, tính chất khép kín của tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh quá trình đời sống trong sự vận động và trong mối liên kết vận động của nó Tất nhiên khoa học cũng đề ra mục đích này cho mình Và khoa học đạt tới sự cụ thể biện chứng khi nó ngày càng tiếp cận được một cách sâu sắc hơn những quy luật vận động Engels nói: ”Quy luật chung của sự thay đổi các hình thức cụ thể hơn nhiều so với từng ví dụ ”cụ thể” của nó” Sự vận động này của nhận thức khoa học về hiện thực

là vô tận Tất cả mọi nhận thức khoa học đúng đắn đều phản ánh một cách đúng đắn hiện thực khách quan, một sự nhận thức tuyệt đối đến mức đó Nhưng bản thânhiện thực luôn luôn phong phú hơn, nhiều vẻ hơn mọi quy luật nên trong bản chất của nhận thức ẩn chứa việc cần phải tiếp tục phát triển và làm cho phong phú để cái tuyệt đối luôn luôn hiện diện trong hình thức của cái tương đối Tính cụ thể củanghệ thuật cũng là sự thống nhất của cái tuyệt đối và cái tương đối, nhưng là sự

thống nhất không thể vượt quá khuôn khổ của tác phẩm Sự phát triển khách quan

của quá trình lịch sử, và sự phát triển tiếp tục của nhận thức về quá trình này khônglàm mất đi giá trị nghệ thuật và ảnh hưởng của những tác phẩm nghệ thuật lớn đã

mô tả thời đại của chúng một cách đúng đắn và sâu sắc

Giữa phản ánh hiện thực của khoa học và phản ánh hiện thực của nghệ thuật còn có một sự khác biệt thứ hai, quan trọng, đó là những nhận thức khoa học (các

Trang 18

quy luật, v.v…) không độc lập với nhau mà đều cùng tạo nên hệ thống liên kết Và

sự liên kết này càng chặt chẽ thì khoa học càng phát triển Ngược lại, tất cả mọi tácphẩm nghệ thuật cần phải dừng lại ở chính nó Tất nhiên nghệ thuật cũng có sự phát triển, tất nhiên sự phát triển này cũng có mối liên kết khách quan, và có thể nhận thấy tính quy luật của nó Nhưng mối liên kết khách quan này của sự phát triển nghệ thuật như là một phần phát triển của xã hội nói chung không làm mất đi cái sự thật là lao động nghệ thuật sẽ tạo thành tác phẩm nghệ thuật nhờ có trong nó

sự khép kín này, cái khả năng tác động tự thân

Như vậy tác phẩm nghệ thuật cần phải phản ánh một cách đúng đắn trong một

tỉ lệ phù hợp những yếu tố cơ bản, khách quan đã xác định, những yếu tố đó tạo ra nội dung khách quan và các mối liên kết của lĩnh vực đời sống mô tả Cần phải phản ánh chúng sao cho cái lĩnh vực đời sống này tự nó và từ nó có thể hiểu, cảm nhận được; chúng phải như là toàn bộ đời sống vậy Điều này không có nghĩa là dường như mục đích của mọi tác phẩm nghệ thuật đều nhằm phản ánh cái toàn cục khách quan, rộng lớn của đời sống Ngược lại Cái toàn cục rộng lớn của đời sống, một cách tất yếu, vượt quá khuôn khổ có thể có của mọi sự mô tả nghệ thuật: chỉ

có quá trình vô tận của toàn bộ khoa học mới có thể tái hiện được cái toàn cục của đời sống trong quá trình vô tận, với sự tiếp cận gia tăng liên tục Cái toàn vẹn của tác phẩm nghệ thuật cũng gia tăng: nó là sự liên kết tự thân khép kín của những yếu tố xác định mà nhìn từ góc độ của đời sống được mô tả, chúng có ý nghĩa quyết định Chúng tạo nên sự tồn tại và vận động, phẩm chất và vị thế riêng của đời sống đó trong toàn bộ tiến trình của đời sống Trong ý nghĩa này thì một bài hátnhỏ nhất cũng có phẩm chất toàn vẹn mạnh mẽ như một bản anh hùng ca Tính chất khách quan của lĩnh vực đời sống mô tả quyết định số lượng, chất lượng và tỉ

lệ, v.v… của những yếu tố đã xác định trong tác động tương hỗ với quy luật riêng của thể loại phù hợp với sự mô tả

Trang 19

Tính chất khép kín, trước hết có nghĩa là tác phẩm nghệ thuật lấy việc mô tả vàminh họa sự ”ranh mãnh”, tính chất phong phú không thể nào vơi cạn của đời sốnglàm mục đích như chúng tôi đã trích lời Lenin ở phần trên Cho dù ý định của tác phẩm là mô tả cái toàn thể của xã hội hay chỉ một trường hợp đã được tách biệt một cách giả tạo, thì trong cả hai trường hợp nó đều cố gắng mở ra tính chất bất tậncủa đối tượng mô tả Nghĩa là nó cố gắng, bằng phương thức sáng tạo, mô tả toàn

bộ những yếu tố cơ bản đã xác định, những yếu tố này tạo nên cơ sở của một hay nhiều trường hợp trong hiện thực khách quan Có nghĩa là những yếu tố đã xác định này phải là những tính cách riêng của các nhân vật, và những phẩm chất riêngcủa các tình huống mô tả, tức là về mặt cảm xúc, cái riêng và cái chung đều phải xuất hiện trong sự thống nhất trực tiếp Rất ít người có khả năng trải nghiệm hiện thực như vậy Con người chỉ nhận thức được những yếu tố quyết định của đời sốngbằng sự lược bỏ cái trực tiếp, với sự giúp đỡ của cái trừu tượng, và sự so sánh trừu tượng những kinh nghiệm mà thôi (Đương nhiên là trong phương diện này người nghệ sĩ cũng không phải là ngoại lệ cứng nhắc Thậm chí công việc của anh ta là nâng những kinh nghiệm có được bằng con đường thông thường thành hình thức nghệ thuật, trong sự thống nhất của cái trực tiếp và quy luật được tạo nên về mặt nghệ thuật Khi người nghệ sĩ mô tả từng con người và tình huống anh ta tạo ra cái

vẻ bề ngoài của cuộc sống Khi anh ta làm cho những con người và tình huống đó trở thành những con người và tình huống tiêu biểu, khi anh ta làm cho sự phong phú, khách quan vốn có của đời sống trở nên có thể cảm nhận được một cách trực tiếp như là đặc điểm của những con người cá nhân và những tình huống lúc đó xuất hiện “cái thế giới riêng” phản ánh đời sống trong một tổng thể đang vận động;cái đời sống như là quá trình, trọn vẹn, bởi vì trong tổng thể và trong các chi tiết của đời sống đó, cái ”thế giới riêng” này biết vượt lên trên sự phản ánh thông thường mà con người vẫn thực hiện

Trang 20

Nhưng việc mô tả sự “ranh mãnh” và sự phong phú vượt quá những kinh nghiệm thông thường của đời sống này cũng chỉ là một trong những mặt của cái hình thức riêng của sự phản ánh hiện thực Nếu tác phẩm nghệ thuật chỉ mô tả sự phong phú của những đường nét mới mẻ vượt quá trí tưởng tượng đã quen liên quan đến đời sống, thì tác phẩm nghệ thuật làm cho người tiếp nhận lúng túng, – thay vì lôi cuốn anh ta – giống như khi những yếu tố khác thường xuất hiện trong đời sống cũng làm cho người ta lúng túng, mất phương hướng Vậy nên, trong sự phong phú và ”ranh mãnh” đó cần thiết phải có quy tắc mới làm triệt tiêu hoặc điềuchỉnh những cái trừu tượng cũ Đây cũng là một trong những kiểu phản ánh hiện thực khách quan Bởi vì chúng ta không bao giờ đưa thể thức mới vào đời sống, màchúng ta chỉ gạn lọc nó từ những hiện tượng mới mẻ của đời sống bằng tư duy, bằng đối sánh, v.v… Nhưng trong đời sống tự nó luôn luôn có hai hoạt động: Đầu tiên là các dữ kiện mới làm chúng ta bị bất ngờ chỉ sau đó chúng ta mới thử nhận biết chúng về mặt tư duy, với sự vận dụng phương pháp biện chứng Cả hai hoạt động này đều nhập làm một trong tác phẩm nghệ thuật Nhưng không phải với ý thức là sự thống nhất máy móc (vì việc đó làm mất đi cái mới mẻ của những hiện tượng nào đó) mà là sự thống nhất theo phương thức mà ở đó, trong các hiện tượngmới mẻ bộc lộ sự “ranh mãnh” của đời sống, và trong quá trình phát triển tăng dần

về mặt nghệ thuật, nó xuất hiện ngày càng rõ hơn, trong sáng hơn

Sự mô tả đời sống vừa phong phú, lại vừa rành mạch và chặt chẽ hơn so với những kinh nghiệm cuộc sống của con người nói chung, càng liên quan chặt chẽ hơn với tác dụng tuyên truyền tích cực của tác phẩm nghệ thuật đích thực Người nghệ sĩ là “kĩ sư của tâm hồn” (Stalin) vì anh ta có khả năng mô tả đời sống trong

sự thống nhất và sự vận động của nó Sự mô tả như thế không thể là sự khách thể hóa vô hồn và giả dối, không có “tính đảng”, thiếu phương hướng! Nhưng chúng ta

đã biết từ Lenin rằng không phải chủ thể đưa lập trường có tính đảng này vào cái

Trang 21

thế giới bên ngoài một cách tùy tiện mà nó là động lực có trong hiện thực, được sự phản ánh biện chứng đúng đắn hiện thực làm thành ý thức, và đưa vào hoạt động thực tiễn Chúng ta cần phải từng bước tìm thấy tính đảng này của sự khách thể hóa trong tác phẩm nghệ thuật Phải tìm thấy từng bước, bởi vì người nghệ sĩ sắp xếp và phân nhóm chất liệu của tác phẩm theo mục đích này một cách có ý thức, trong ý nghĩa của tính đảng Phải từng bước tìm thấy tính đảng trong ý nghĩa của

sự khách thể hóa, bởi vì sự mô tả của một tác phẩm nghệ thuật đích thực thể hiện ởchỗ nó tạo nên tính đảng như là đặc trưng của chất liệu mô tả, như là động lực xuấthiện từ nó Nếu Engels có lập trường rõ ràng và kiên định ủng hộ tính khuynh

hướng trong văn học, thì ông cũng luôn luôn quan niệm tính đảng của sự khách thể hóatrong ý nghĩa mà sau này Lenin nói đến, và ông bác bỏ mọi xu hướng chủ

quan áp đặt ”Tôi tin rằng, tính khuynh hướng tự nó cần phải xuất hiện từ tình huống và hành động mà không cần nhà văn phải nói thẳng ra”

Toàn bộ các lí luận mĩ học đều nói đến tính biện chứng của việc nghệ thuật phản ánh hiện thực, chúng nghiên cứu vấn đề ảo ảnh thẩm mĩ Nghịch lí ảnh hưởngcủa tác phẩm nghệ thuật thể hiện ở chỗ chúng ta trao mình cho tác phẩm nghệ thuậtnhư trao cho một hiện thực dâng sẵn bên ta, ta chấp nhận nó là hiện thực và tiếp nhận nó, mặc dù chúng ta luôn luôn biết chính xác rằng đó không phải là hiện thực

mà chỉ là hình thức đặc biệt của sự phản ánh hiện thực mà thôi Lenin nói rất đúng rằng: ”Nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm nghệ thuật

là hiện thực” Về mặt nghệ thuật, ảo ảnh thẩm mĩ một mặt dựa vào sự khép kín của

tác phẩm mà chúng tôi đã phân tích, tức là nó phản ánh toàn bộ quá trình đời sống trong tổng thể tác phẩm, và không phải nó phản ánh các hiện tượng của đời sống trong những chi tiết có thể so sánh được với cuộc sống, với nguyên mẫu thật của chúng

Về phương diện này, sự không thể so sánh với nguyên mẫu chính là điều kiện tiên quyết của ảo ảnh nghệ thuật Tất cả mọi sự so sánh như thế đều làm tan biến

Ngày đăng: 22/04/2021, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w