1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA C.MÁCTÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

11 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tác phẩm:Phê phán cương lĩnh GôtaMác viết tác phẩm này vào năm 1875. Đây là một sự phân tích có tính chất phê phán cương lĩnh của Đảng xã hội dân chủ Đức tại Đại hội tổ chức ở Gôta. Đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Tây Âu và của phong trào công nhân thì Công xã Pari năm 1871 là một bước ngoặt. Thời kỳ này đã xuất hiện các chính đảng của giai cấp công nhân có tính chất quần chúng.Lúc này, học thuyết mácxít được truyền bá rộng rãi và giúp cho chính đảng của giai cấp công nhân ở các nước giành được thắng lợi, đồng thời học thuyết Mác đã đập tan mọi học thuyết xã hội chủ nghĩa của giai cấp tiểu tư sản. Biện chứng của lịch sử là: sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực lý luận, buộc kẻ thù phải thay đổi bộ mặt tự hóa trang làm người mácxít để chống chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức đã xuất hiện từ trong nội bộ của Đảng xã hội dân chủ.Bất chấp sự phê phán của Mác Ăngghen về bản cương lĩnh, Đại hội đại biểu liên hiệp Gôta vẫn thông qua bản cương lĩnh đó. Chính sự thỏa hiệp này đã trở thành một trong những nguyên nhân của sự thoái hóa, biến chất của Đảng xã hội dân chủ Đức và sau này đẻ ra chủ nghĩa cơ hội.Phái Látxan trở thành tiền thân của chủ nghĩa cơ hội ở trong Đảng xã hội dân chủ Đức. Tư tưởng của phái Látxan trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa cơ hội bất chấp sự phản đối của bọn cơ hội trong Quốc tế II năm 1891, Ăngghen cho xuất bản lần đầu tiên tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta của MácĂngghen công bố rằng, với tinh thần cách mạng mácxít, “Phê phán Cương lĩnh Gôta” đã giáng một đòn nặng nề vào bọn cơ hội chủ nghĩa. “Phê phán Cương lĩnh Gôta là một trong những văn kiện có tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác cách mạngNôi dụng tác phẩm:

Trang 1

Nhóm 5:

CÁC TÁC PHẨM CỦA C.MÁC-TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

1 Tác phẩm:Phê phán cương lĩnh Gô-ta

Mác viết tác phẩm này vào năm 1875 Đây là một sự phân tích có tính chất phê phán cương lĩnh của Đảng xã hội dân chủ Đức tại Đại hội tổ chức ở Gôta Đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Tây Âu và của phong trào công nhân thì Công xã Pari năm 1871 là một bước ngoặt Thời kỳ này đã xuất hiện các chính đảng của giai cấp công nhân có tính chất quần chúng

Lúc này, học thuyết mácxít được truyền bá rộng rãi và giúp cho chính đảng của giai cấp công nhân ở các nước giành được thắng lợi, đồng thời học thuyết Mác đã đập tan mọi học thuyết xã hội chủ nghĩa của giai cấp tiểu tư sản Biện chứng của lịch sử là: sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực lý luận, buộc kẻ thù phải thay đổi bộ mặt tự hóa trang làm người mácxít để chống chủ nghĩa Mác Chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức đã xuất hiện từ trong nội bộ của Đảng xã hội dân chủ

Bất chấp sự phê phán của Mác - Ăngghen về bản cương lĩnh, Đại hội đại biểu liên hiệp Gôta vẫn thông qua bản cương lĩnh đó Chính sự thỏa hiệp này đã trở thành một trong những nguyên nhân của sự thoái hóa, biến chất của Đảng xã hội dân chủ Đức và sau này

đẻ ra chủ nghĩa cơ hội

Phái Látxan trở thành tiền thân của chủ nghĩa cơ hội ở trong Đảng xã hội dân chủ Đức

Tư tưởng của phái Látxan trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa cơ hội bất chấp sự phản đối của bọn cơ hội trong Quốc tế II năm 1891, Ăngghen cho xuất bản lần đầu tiên tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta của Mác

Ăngghen công bố rằng, với tinh thần cách mạng mácxít, “Phê phán Cương lĩnh Gôta” đã giáng một đòn nặng nề vào bọn cơ hội chủ nghĩa “Phê phán Cương lĩnh Gôta là một trong những văn kiện có tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác cách mạng

Nôi dụng tác phẩm:

Tác phẩm gồm những lời nhận xét của Mác đối với bản cương lĩnh của Đảng xã hội dân chủ Đức và bức thư của Mác gửi Brắcơ ngày 5-5-1875 với hai nội dung:

Trang 2

+ Mác phê phán về nguyên lý lý luận và kinh tế trong Cương lĩnh Gôta là chịu ảnh hưởng của phái Látxan

+ Phát triển thêm về lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học các tác phẩm trước đó chưa đề cập đến

- Phê phán của Mác về những nguyên lý lý luận và chính trị của phái Látxan

a) Phê phán lý luận gọi là “quy luật sắt về tiền công”

Látxan đưa vào thuyết nhân khẩu của Mantuýt cho rằng dân số trong xã hội bao giờ cũng thừa, và tư liệu sinh hoạt tăng lên chậm hơn mức tăng của nhân khẩu, do đó công nhân chỉ có thể thu được tiền công với mức thấp nhất và tự gọi đây là “quy luật sắt về tiền công” Theo Mác điều đó là hoàn toàn do Látxan bịa ra chứ không phải có quy luật của kinh tế tư bản chủ nghĩa như vậy Cương lĩnh Gôta nêu rõ rằng, chính đảng của công nhân phải xoá bỏ hệ thống tiền công theo “quy luật sắt của tiền công”, như vậy có nghĩa là Cương lĩnh của Đảng đã tiếp thu quan điểm của Látxan và đồng thời lại công nhận luôn cả thuyết Mantuýt Theo Mác, nếu quy luật ấy là có thực thì người ta cũng không thể xóa bỏ nó được, vì vậy quy luật này có tồn tại hay không thì việc đề ra yêu sách trong cương lĩnh đòi xóa quy luật cũng vẫn là sai, vả chăng, trong thực tế làm gì có thứ “quy luật sắt của tiền công” như thế Trong bộ Tư bản, Mác đã vạch ra rằng: tiền công là hình thức biểu hiện giá trị hay giá cả của sức lao động, và cái quyết định con số thực tế của tiền công là do ở mỗi tình hình cụ thể, do ở nhiều điều kiện, chứ không phải là do ở “quy luật sắt” nào cả Học thuyết về giá trị thặng dư của Mác đã bóc trần nguồn gốc và thực chất của sự bần cùng hóa giai cấp công nhân trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, do đó đã đập tan cả thuyết Mantuýt

Theo học thuyết giá trị thặng dư của Mác, muốn xóa bỏ hệ thống tiền công cần xóa bỏ lao động làm thuê và như thế có nghĩa là phải xóa bỏ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Vì vậy, việc xóa bỏ tiền công được đề ra như một điều chủ yếu và độc lập là không đúng Cho nên, đưa ra cái gọi là “quy luật sắt” vào trong Cương lĩnh của Đảng tức là đã phản ngược lại lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học

b) Phê phán yêu sách kinh tế của chủ nghĩa Látxan ghi trong Cương lĩnh là thực hiện phân phối công bằng, là đòi sản phẩm của lao động phải thuộc về mọi thành viên trong xã hội

Mác vạch rõ, cái gọi là “sản phẩm toàn vẹn của lao động” phải thuộc về mọi thành viên của xã hội, lập luận đó, yêu sách đó là bông lông, rỗng tuếch, đó là câu nói của những người dốt đặc về khoa kinh tế học Giả thuyết theo cách nói của họ, mọi thành viên trong xã hội đều chiếu theo quyền lợi bình đẳng nhận được sự thu nhập “toàn

Trang 3

vẹn” thế thì kẻ không lao động cũng vẫn được hưởng thu nhập, chỉ riêng điều đó cũng

đã làm cho thu nhập của người lao động bị khấu trừ rồi Nếu bảo chỉ có những người làm việc mới được hưởng thu nhập, thế thì làm sao có thể nói được mọi thành viên trong xã hội đều có “quyền lợi bình đẳng” Cho nên, trong bản Cương lĩnh đã tự mâu thuẫn lôgic Hơn nữa, Mác nêu rõ là phương thức phân phối bao giờ cũng do phương thức sản xuất, do trình độ sản xuất quyết định

Mác cho rằng, ngay trong xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai cũng không thể nào có cái thu nhập gọi là “toàn vẹn của lao động”; không bị cắt xén Mà trước khi phân phối

số sản phẩm cần thiết thỏa mãn nhu cầu cá nhân cho mọi người, thì xã hội cũng cần phải có khấu trừ một bộ phận để bù đắp các khoản: hao mòn tư liệu sản xuất, dùng cho tái sản xuất, dùng quỹ bảo hiểm đề phòng tai nạn, dùng chi tiêu cho trường học, cho công cuộc bảo đảm sức khỏe, dùng làm quỹ nuôi những người không có khả năng lao động chi tiêu, xây dựng quê hương Chỉ sau khi khấu trừ những khoản đó, phần còn lại mới có thể đem phân phối cho mọi cá nhân

Như vậy, trong tác phẩm này, Mác đã phê phán yêu sách kinh tế của chủ nghĩa Látxan

mà Cương lĩnh Gôta đã đưa vào, đã vạch ra rằng, yêu sách này là dựa trên cơ sở của kinh tế học tư sản, nó cắt rời giữa phân phối với sản xuất

c) Phê phán Cương lĩnh Gô ta phản bội, chủ nghĩa quốc tế vô sản

Cương lĩnh Gôta không hề nói đến nghĩa vụ quốc tế của giai cấp vô sản Đức

Chủ nghĩa Mác không phủ định yếu tố dân tộc trong chủ nghĩa xã hội, nhưng Mác phê phán “Cương lĩnh Gôta” là đã quá sa vào chủ nghĩa xã hội dân tộc Theo Mác, quan điểm này là rất quan trọng, bởi bọn địa chủ quý tộc, tư sản Đức đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để bắt giai cấp công nhân phục tùng quyền lợi và yêu cầu của giai cấp

tư sản là không lợi dụng quan điểm chủ nghĩa dân chủ Látxan đưa ra

d) Phê phán quan điểm của Látxan cho rằng, ngoài giai cấp vô sản ra, hết thảy mọi giai cấp khác chỉ là một khối phản động

Lập luận này của Látxan đã phủ định khả năng tham gia cách mạng của giai cấp nông dân và tiểu tư sản, như vậy đã đẩy giai cấp vô sản bị cô lập Điều đó chỉ có lợi cho giai cấp bóc lột Yêu sách của “Cương lĩnh Gôta” nêu lên không phải là đấu tranh giai cấp mà là yêu sách của chủ nghĩa Latxan: tổ chức những “hợp tác xã sản xuất” của công nhân do nhà nước giúp đỡ Đề ra yêu sách này có nghĩa là thụt lùi một bước, là làm cho phong trào công nhân quay về hoạt động bè phái Mác cho rằng: nói rằng những người lao động muốn xây dựng những điều kiện sản xuất tập thể theo quy mô

Trang 4

xã hội và trước hết theo qui mô dân tộc điều đó chỉ có nghĩa là họ cố gắng tìm cách lật

đổ những điều kiện sản xuất hiện nay và việc đó không liên quan gì tới việc thành lập những hợp tác xã do nhà nước giúp đỡ Thay đấu tranh giai cấp bằng những hoạt động

bè phái đã làm cho phong trào công nhân đi vào thế cô lập trước mặt kẻ thù giai cấp Lập luận trên đây của Látxan và quan điểm phủ định liên minh công – nông của bọn

cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế II có mối liên hệ tư tưởng rất rõ ràng, cho nên phê phán của Mác đối với chủ nghĩa Latxan trên vấn đề này đã vạch ra đường lối cơ bản cho việc phê phán chủ nghĩa cơ hội sau này trong phong trào cộng sản quốc tế

đ) Phê phán quan điểm về nhà nước trong Cương lĩnh Gôta

Đây là một quan điểm rất tai hại và phản động Tính chất nguy hại của nó ở chỗ nó phủ định nguyên lý của Mác về sự cần thiết phải thiết lập chuyên chính vô sản Đối lập với học thuyết mácxít, nó nêu lên cái gọi là “Nhà nước tự do” Đem thuyết “Nhà nước tự do” thay cho học thuyết về chuyên chính vô sản của Mác là đem thay thế yêu sách xã hội chủ nghĩa bằng yêu sách dân chủ tư sản và mang dấu ấn màu sắc của chủ nghĩa Látxan Mác - Ăngghen đã phê phán thuyết “Nhà nước tự do” cho rằng mục đích của chủ nghĩa cộng sản không phải là cái gì chung chung gọi là “nhà nước tự do”

mà là tiêu diệt mọi nhà nước Nói “Nhà nước tự do” nghĩa là muốn nhà nước tồn tại mãi mãi và trong thực tế là sùng bái nhà nước đương thời

óm lại, qua các vấn đề trên, ta thấy “Cương lĩnh Gôta” phản ngược lại lý luận mácxít khoa học Ngoài chủ nghĩa Látxan, “Cương lĩnh Gôta” còn thu nhặt rất nhiều thứ khác nữa ở trong một đảng theo chủ nghĩa tự do tư bản, vì vậy, Mác đã phê phán kiên quyết Mác đã đánh giá thực chất Cương lĩnh Gôta như sau: “Mặc dầu tất cả những lời

lẽ dân chủ rất kêu của nó, toàn bộ Cương lĩnh từ đầu chí cuối đều nhiễm phải cái bệnh của phái Látxan là lòng tin của thần dân vào nhà nước, hoặc là - điều này cũng chẳng

có gì tốt hơn - tin vào phép màu dân chủ, hay nói cho đúng hơn, đó là sự thỏa hiệp giữa hai lòng tin ấy vào phép màu, cả hai loại đều xa lạ như nhau với chủ nghĩa xã hội”

- Phát triển của Mác về lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học

Trong “Phê phán Cương lĩnh Gôta” khi phê phán chủ nghĩa Látxan, Mác đã phát triển

lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học Mác đã đề ra nguyên lý về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đã nêu nguyên lý về hai giai đoạn phát triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa và sự khác nhau giữa hai giai đoạn đó

a) Lý luận về thời kỳ quá độ

Trang 5

Trước khi viết “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, Mác đã chứng minh sự cần thiết phải thiết lập chuyên chính vô sản, sự cần thiết phải đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản Trong “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, Mác nêu vấn đề này bằng một phương thức khác Mác nói, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể không có một thời kỳ quá độ

về chính trị Nhà nước của thời kỳ quá độ này là nền chuyên chính của giai cấp vô sản Mác khẳng định rằng: giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản có một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội trước đến xã hội sau Tương ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị trong đó nhà nước không thể làm khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản Trong Phê phán Cương lĩnh Gôta, Mác phê phán chủ nghĩa Látxan không phải là vì nó đề ra yêu sách có tính chất dân chủ tư sản, mà vì nó chỉ thỏa mãn với yêu sách đó, không đưa ra một chút gì về yêu sách xã hội chủ nghĩa mà chỉ đem yêu sách có tính chất dân chủ tư sản thay cho yêu sách dân chủ xã hội chủ nghĩa Tư tưởng về chuyên chính vô sản của Mác được Lênin phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Trong tác phẩm đó, Lênin khẳng định rõ thái độ vô sản chuyên chính đối với dân chủ và

so với dân chủ tư sản thì vô sản chuyên chính còn dân chủ gấp nhiều lần

b) Lý luận về phân phối

Trong khi phê phán sản phẩm, “toàn vẹn của lao động” của chủ nghĩa Látxan, Mác đồng thời cũng chỉ rõ cách đặt vấn đề phân phối như thế nào sau khi chủ nghĩa tư bản

bị tiêu diệt và chủ nghĩa cộng sản giành được thắng lợi Mác đã vứt bỏ những câu rỗng tuyếch trong Cương lĩnh về “phân phối công bằng và đặt vấn đề này trên một cơ

sở khoa học” Mác đặt vấn đề phân phối trong sự liên hệ với trình độ phát triển của bước sản xuất xã hội Mác cho rằng, trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản cũng không thể bỏ được nhà nước và pháp luật, và với sự phát triển của sức sản xuất đòi hỏi xã hội phải thực hiện phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo lao động

Nguyên lý của Mác về hai giai đoạn của xã hội cộng sản chủ nghĩa là một bằng chứng thể hiện sức mạnh vĩ đại của lý luận khoa học Nó dự kiến tương lai của con đường đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Tất nhiên, trong nguyên lý này không thể dự kiến hết mọi cái của tương lai

2 Tác phẩm Tư Bản luận

Tư Bản (tiếng Đức: Das Kapital) là một tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng

của Karl Marx được viết bằng tiếng Đức Cuốn sách là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản,

Trang 6

về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Đề cập đến nhiều vấn đề trong kinh tế chính trị như tư bản, hàng hoá, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích lũy tư bản, tiền lương

Quyển I của Tư bản nghiên cứu về:

• Sự sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

• Sản xuất giá trị thặng dư tương đối

• Giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư tuyệt đối

• Quá trình tích lũy tư bản

Quyển II của Tư Bản

• Biến đổi hình thái tư bản và tuần hoàn của nó

• Chu chuyển lưu thông của tư bản

Quyển III của Tư Bản

• Toàn bộ quá trìnhsản xuất tư bản chủ nghĩa

Tác phấm Bản thảo kinh tế và triết học

Do C.Mác viết vào tháng Tư - tháng Tám 1844

Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C Mác đã phân tích và vạch rõ, chính chế

độ tư hữu đã làm cho con người bị tha hóa, biểu hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, sự

tha hóa của người công nhân trong sản phẩm lao động làm ra, nhưng lại không thuộc về họ; “Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng

rẻ mạt Thế giới vật phẩm càngtăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”.

Trang 7

Như vậy, người công nhân làm ra càng nhiều vật phẩm thì số vật phẩm mà họ có thể chiếm hữu được càng ít và họ bị chính sản phẩm do mình làm ra (tức tư bản) thống trị

càng mạnh mẽ Thứ hai, sự tha hóa của người công nhân biểu hiện trong hành vi sản xuất

và trong bản thân hoạt động sản xuất Người công nhân lẽ ra “phát huy một cách tự do nghị lực thể chất và tinh thần” của mình thì họ lại cảm thấy mình đang “làm kiệt quệ thân thể của mình và phá hoại tinh thần của mình” Những sản phẩm do người công nhân làm

ra thuộc về những người nắm giữ tư liệu sản xuất là địa chủ và nhà tư bản C Mác cho rằng, đó là những người có đặc quyền và ăn không ngồi rồi, “ở đâu cũng đều ở trên công nhân và định pháp luật cho công nhân” Ông còn gọi đó là “những người sở hữu” Còn người công nhân, do không có sở hữu về tư liệu sản xuất và tư liệu sinhhoạt xãhội nên phải làm thuê để nhận một khoản tiền công ít ỏi, không tương xứng với lao động đã làm cho những người sở hữu Lao động của người công nhân chịu sự chi phối của sự tích tụ, tích lũy tư bản Vì vậy, lao động của họ không thuộc về mình, mà thuộc về những người

sở hữu

Trong quan điểm của C Mác về tư hữu và xóa bỏ chế độ tư hữu, có thể thấy không chỉ

“những công nhânkhông có sở hữu” mới bị tha hóa, mà ngay cả những người sở hữu

-“người không phải công nhân” cũng bị tha hóa Song, khác vớihoạt động tha hóaở người công nhân, sự tha hóa của những người sở hữu biểu hiện ra ở “trạng thái tha hóa” Trạng thái tha hóa này được C Mác phân tích sâu sắc trong những phần viết về sự tích lũy tư bản chủ nghĩa và về lợi nhuận của tư bản ởtác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” và nhất là ởtác phẩm“Tưbản”

Như vậy, nghiên cứu của C Mác về chế độ tư hữu đã chỉ ra rằng, người lao động làm thuê bị hạ thấp ngang với máy móc, họ cảm thấy mình chỉ còn là “con vật” Người sở hữu thì không lao động, còn người lao động thì không được quyền sở hữu, và xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy Vì vậy, chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu mới giải quyết được sựđối lập trong xã hội, đồng thời mới thực hiện được giải phóng con người, và đó chính

là “hình thứcchính trịcủasự giải phóng công nhân” C Mác cũng chỉ rõ: Chủ nghĩa cộng sản không xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà chỉ xóa bỏ “chế độ sở hữu tư sản” - biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia Điều đó

có nghĩa là, xóa bỏ tư hữu ở đây không phải là xóa bỏ sở hữu mang tính chất cá nhân, mà

là xóa bỏ tư hữu về tư bản, vì tư hữu tư bản là cơ sở để bóc lột sức lao động của người khác

C Mác còn khẳng định, việc xóa bỏ chế độ tư hữu sẽ phải “kinh qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài trong hiện thực” Không thể xóa bỏ chế độ tư hữu ở bất kỳ trình độ phát triển nào của nền sản xuất xã hội bằng mệnh lệnh hành chính, hay theo ý muốn chủ quan của con người Những người cộng sản chỉ đặt ra cho mình nhiệm vụ xóa bỏ chế độ

tư hữu bằng cách xóa bỏ sở hữu tư sản mà thôi Ngay cả khi nhiệm vụ đó được đặt ra thì

việc xóa bỏ chế độ tư hữu cũng không thể thực hiện đượcngay lập tức, như Ph Ăng-ghen

Trang 8

đã viết trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” Trả lời câu hỏi: Liệu

có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Ph Ăng-ghen nêu rõ: “Không,

không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu”(3) Việc xóa bỏ chế độ

tư hữu phải tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội và được thực hiện triệt để khi sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa Khi đó, cái vỏ ấy sẽ vỡ tung ra và “những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt” C Mác gọi đó là “sự phủ định cái phủ định”

Chương cuối cùng là sự phân tích có tính chất phê phán phép biện chứng của Hê-ghen và triết học Hê-ghen nói chung - theo tôi là hoàn toàn cần thiết để đối lập với nhà thần học phê phán hiện đại, vì một công tác như thế cho đến nay vẫn chưa hoàn thành Tính chất thiếu căn cứ là số phận không tránh khỏi của họ: vì ngay cả nhà thần học phê phán cũng vẫn là nhà thần học, có nghĩa hoặc là anh ta buộc phải xuất phát từ những tiền đề nhất

định của triết học như một quyền uy không bác bỏ được nào đó, hoặc là nếu trong quá trình phê phán và nhờ có những phát hiện của những người khác mà nẩy ra sự hoài nghi

về tính chất đúng đắn của những tiền đề triết học ấy, thì anh ta vứt bỏ và trừu tượng hoá những tiền đề triết học ấy đi một cách hèn nhát và không có lý do, đồng thời sự nô lệ

của anh ta trước những tiền đề ấy và nỗi bực tức của anh ta đối với sự nô lệ ấy giờ đây chỉ biểu hiện ra dưới một hình thức tiêu cực, vô ý thức và ngụy biện mà thôi

Tác phẩm gồm các mục:

1 Lời tựa

2 Tiền công

3 Lợi nhuận tư bản

4 Địa tô

6 Quan hệ sở hữu tư nhân

7 Bản chất của chế độ tư hữu trong sự phản ánh của kinh tế chính trị học

8 Chủ nghĩa cộng sản

9 Nhu cầu, sản xuất và phân công lao động

10 Tiền

Trang 9

3 Tác phẩm Pháp Đức biên niên- “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen Lời nói đầu”

Tháng 11 năm 1843, Mác đến Pari Ở đây ông xuát bản tập đầu “Pháp Đức biên niên vào tháng hai năm 1844 là một sự kiện nổi bật cảu tinh thần xã hội ztowf tạp chí mở đầu bằng những bức thư giữa Mác, Ru-giơ, Phơ-bách và Ba-cu-nin vè mục đích lần xuất bản sắp tới Trong những bức thư đó Mác chống lại quan niệm giáo điều, nói suông về lysluaanj xã hội

Trong khi bóc trần triết học duy tâm và chủ nghĩa xã hội không tưởng là thứ chủ nghĩa đem gán những phương thuốc bịa dặt cho cuộc vạn động lịch sử xã hội hiện thực, trong thư gửi A Ru-giơ viết tháng 9 năm 1843 Mác nói một cách châm biếm như sau: “Từ trước tới nay các nhà triết học có sẵn trên bàn giấy cảu họ cách giải quyết mọ câu đố, và thế giới ngu xuẩn không được truyền thụ bí quyết chỉ việc há mồm ra đớp lấy con chim nướng cảu khoa học tuyệt đối”, có tham vọng “giải quyết mọi câu đố”, nó không phải là khoa học giản đơn, quan tâm đến sự kiện một cách thận trọng

Trong “Pháp Đức niên biên”, Mác đã cho in hai tác phẩm của ông: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen Lời nói đầu” Ngay trong tác phẩm đàu Mác đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm và chống lại lãnh tự vảu phái Hê-ghen trẻ là Bơ-ru-nô Bau-ơ,ông này quả quyết rằng giải phóng nhân dân Châu Âu và bất cứ nhân dân nào khác trước hết có nghĩa là thủ tiêu tôn giáo của nhân dân đó Bóc trần luận điệu duy tâm đó, Mác chứng minh rằng việc tách rời nahf thờ khỏi Nhà nước không thủ tiêu sự thống trị cảu tôn giáo, rằng nguồn gốc của mọi áp bức xã hội không phải là tôn giáo hay những lực lượng tinh thần nào khác mà là những điều kiện vật chất nhất định.,

Mác đem đối lập cách mạng vô sản và cách mạng tư sản, cách mạng vô sản xóa bỏ tình trạng tồn tại trong xã hội tư sản, tức là tình trạng những người sản xuất ra của cải, những người vô sản không phải là kẻ sở hữu, mà kẻ sở hữu thì lại không phải là người sản xuất Những tư tưởng ấy được phát triển thêm trong bài thứ hai của Mác- bài “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen Lời nói đầu” Ở đây Mác chứng minh rằng thái

độ phê phán có tính chất cách mạng đối với chế độ xã hội hoàn toàn không phải chỉ biểu hiện trong sự phê phán ton giáo; sự phê phán tôn giáo chỉ nhằm chống lại một cách không trực tiếp cái hiện thực mà tôn giáo phản ánh tinh thần Mác viết: “Sự nghèo nàn cảu tôn giáo là biểu hiện sự nghèo nàn hiện thực và đồng thời cũng là sự phản đối chống

Trang 10

lại sự nghèo nàn ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới khoogn có trái tim, là tinh thần của trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” Việc bóc trần tôn giáo rứt bỏ những đóa hoa tưởng tượng khỏi những xiềng xích trói buộc nhân dân; cần phải làm cho nhân dân vứt nỏ xiềng xích và thật sự trở thành tự do Cho nên sự phe phán đối với trời, tôn giáo, thần học phải chuyển thành sự phê phán đối với đất, pháp quyền, chính trị Nhưng cả ngay đến sự phê phán này

tự nó cũng chưa phải là một công việc cách mạng vì ó chỉ bác bỏ vè mặt lý luận cái phải được xóa bỏ về mặt thực tiễn Trái với phái Hê-ghen trẻ, Mác nhấn mạnh rằng sự phê phán phải là thủ đoạn chứ không phải là mục đích tự nó Những luận điểm ấy củaMác đặt

cơ sở cho việc giải quyết mọt cách khoa học vấn đề quan hệ của tư duy đối với tồn tại, tinh thần đối với vật chất, vấn đề mà trước kia trong bản luận án ông còn đặt ra dưới hình thức duy tâm Giờ đây, đầu anwm 1844, Mác đã giải đáp theo quan điểm duy vật không những vấn đề chuyển từ cái tinh thần sang cái vật chất mà cả về vấn đề cơ sở vật chất của

ý thức

4 Tác phẩm Sự khốn cùng của triết học

Năm 1840 một người xã hội tiêu tư sản Pháp là pru-đông cho xuất bản quyển sách “Sở hữu là gì?” mà Mác gọi là “ác phẩm hay nhất của ông ta Quyển sách này mở ra một thời đại mới, nếu không phải bằng cái mới trong nội dung của nó thì ít ra cũng là bằng việc nói lại cái cũ theo lối mới một cách táo bạo” Tấn coogn vào sở hữu tư bản chủ nghĩa, gọi nó là sự ăn cắp, nhưng Pru-đông lại lý tưởng hóa tiểu tư sản

Hooifm còn ở Pari vào những năm 1844-1845, Mác đã giao thiệp với Pru-đông và tìm cách hướng ông ta theo con đường cách mạng chống chủ nghã tư bản Nhưng Pru-đông ngày càng chuyển sang phía hữu, tuyền truyền cho biện pháp hòa bình cải cách xã hội tieur tư sản bằng cách trực tiếp trao đổi (không phải bằng tiền) sản phẩm giữa những người sản xuất Năm 1846 trong quyển “Hệ thống mâu thuẫn kinh tế hay triết học cảu sự khốn cùng”, Pru-đông tuyen truyền chủ nghĩa vô chính phủ, tự coi mình là kẻ đối địch với chủ nghĩa cộng sản, phong trào công nhân, đấu tranh chính trị, nhà nước Việc bóc trần những quan niệm vô chính phủ phản động của Poru-đông trở nên cần thiết để giáo dục giai cấp công nhân theo tinh thần cách mạng và giải phóng hojk khỏi ảnh hưởng cảu

hệ tư tưởng tư sản Mác đã hoàn thành nhiệm vụ đó trong quyển “Sự cùng khốn của triết học Trả lời “Triết học của sự cùng khốn’ của ngài Pru-đông

Trong “Sự cùng khốn của triết học”, Mác đã phê phán những quan điểm kinh tế tiểu tư sản cảu Pru-đông về sản xuất tư bản chủ nghĩa, việc Pru-đông giải thích một cách duy tâm và không tưởng về quy luật giá trị của chủ nghĩa tư bản Pru-đông khẳng định rằng sản phẩm do con người sản xuất ra trở thành hàng hóa và trao đổi lẫn nhau do sự thỏa

Ngày đăng: 22/04/2021, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w