Các nhà quản lý trong các tập đoàn kinh tế còn chưa nhận thức rõ ràng vai trò và tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ.Ngoài ra, bản thân những người thực hiện kiểm toán nội bộ cũng chưa h
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại ngày càng sâu rộng của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển lớn về số lượng, quy mô và đa dạng hóa phương thức hoạt động.Kiểm toán nội bộ là một trong những công cụ quản lý hiệu quả nhất giúp nhà quản lý đạt được các mục tiêu trong quản trị
Tại Việt Nam, kiểm toán nội bộ đã được tổ chức ở nhiều doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có qui mô lớn, tuy nhiên vẫn chưa được thiết lập đầy đủ và vận hành hữu hiệu Các nhà quản lý trong các tập đoàn kinh tế còn chưa nhận thức rõ ràng vai trò và tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ.Ngoài ra, bản thân những người thực hiện kiểm toán nội bộ cũng chưa hiểu đúng về chứng năng, nhiệm vụ và vai trò của kiểm toán nội bộ.Hơn nữa, hệ thống các văn bản pháp lý hướng dẫn về kiểm toán nội bộ còn chưa đầy đủ, thiếu tính thống nhất dẫn tới những khó khăn trong tổ chức kiểm toán nội bộ
Tập đoàn Viễn thông quân đội là một trong những tập đoàn kinh tế hàng đầu, đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế cũng như văn hóa xã hội ở Việt Nam Với tính “rộng lớn” cả về địa lý của các đơn vị thuộc tập đoàn, số lượng đơn vị thành viên cũng như lĩnh vực kinh doanh, việc thiết lập KTNB nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý là điều tất yếu Tại đây, kiểm toán nội bộ cũng đã được thành lập tuy chưa lâu nhưng cũng đã đem lại những thành quả nhất định trong công tác quản lý của Tập đoàn đặc biệt là trong quản lý tài chính.Do đó, để góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả KTNB tại Tập đoàn tác giả muốn tập trung vào kiểm toán báo cáo tài chính-một trong những nội dung của KTNB và lựa chọn đề
tài: “Tổ chức công tác kiểm toán tài chính do Kiểm toán nội bộ Tập đoàn Viettel
thực hiện”làm đề tài cho Luận văn Thạc sỹ
Luận văn được kết cấu thành 04 chương:
Trang 2Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chứccông tác kiểm toán tài chính do
kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp thực hiện
Chương 3: Thực trạng tổ chức công tác kiểm toán tài chính do Kiểm toán nội bộ
Tập đoàn Viettel thực hiện
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán tài
chínhdo Kiểm toán nội bộ Tập đoàn Viettel thực hiện
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN
Bản chất của kiểm toán nội bộ
Theo IIA: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập và khách quan, được thiết kế để gia tăng giá trị và cải tiến hoạt động của một tổ chức Kiểm toán nội bộ hỗ trợ cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và có nguyên tắc nhằm đánh giá và tăng cường tính hiệu quả của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro” [81,tr.13]
Theo IFAC: “Kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” [73, tr.20]
Theo các tác giả trong giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế quốc dân: "KTNB là một bộ phận của doanh nghiệp hay tổ chức thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi của đơn vị và phục vụ cho yêu cầu quản lý nội
bộ của đơn vị” [28, tr62]
Trang 3Từ một số khái niệm trên, có thể tóm tắt khái quát về bản chất kiểm toán nội
bộ như sau:
Thứ nhất: Kiểm toán nội bộ trước hết là một bộ phận của kiểm toán nên nó cũng
hình thành từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu này
Thứ hai: Chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư vấn Thứ ba: Kiểm toán nội bộ là hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong một tổ chức Thứ tư: Người thực hiện kiểm toán nội bộ phải có trình độ nghiệp vụ tương xứng và
không những am hiểu về kiểm toán mà còn các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của đơn vị được kiểm toán
Thứ năm: Cách thức tiếp cận của KTNB là cách thức tiếp cận có hệ thống
Nội dung kiểm toán nội bộ
Nội dung của kiểm toán nội bộ gồm :
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán tuân thủ
- Kiểm toán báo cáo tài chính
Tuỳ theo yêu cầu của Ban giám đốc, các bộ phận được kiểm toán và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, kiểm toán nội bộ có thể thực hiện kiểm toán một trong 3 nội dung trên hoặc kết hợp cả 3 nội dung cùng lúc hay còn được gọi là kiểm toán liên kết
Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính do kiểm toán nội bộ thực hiện
Lập kế hoạch kiểm toán: bao gồm tất cả các công việc nhằm tạo được sơ sở
pháp lý, lập kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công tác kiểm toán
Thực hiện kiểm toán: Việc thực hiện các công việc trong kế hoạch kiểm toán
và chương trình kiểm toán nhằm thực hiện các chức năng của kiểm toán
Kết thúc kiểm toán: Lập báo cáo hay biên bản kiểm toán nhằm đưa ra kết
luận của kiểm toán nội bộ về đối tượng được kiểm toán
Trang 4Kiểm tra thực hiện kết luận kiểm toán: Là một bước công việc mang đặc
trưng riêng của kiểm toán nội bộ đó là theo dõi sau kiểm toán và giám sát việc thực hiện các kết luận của kiểm toán nội bộ
Phương pháp kiểm toán báo cáo tài chính trong kiểm toán nội bộ
Phương pháp kiểm toán: Trong hoạt động kiểm toán tài chính, kiểm toán viên nội
bộ thường sử dụng hai phương pháp kiểm toán chủ yếu sau:
- Phương pháp kiểm tra, kiểm soát (phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ hay còn gọi là phương pháp tuân thủ)
- Phương pháp kiểm tra chi tiết (phương pháp tiếp cận kiểm toán chi tiết số liệu hay còn gọi là phương pháp kiểm toán cơ bản)
Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán: Để thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV
thường sử dụng những kỹ thuật chủ yếu là: quan sát, kiểm tra, điều tra, xác nhận, tính toán và phân tích
Đánh giá hiệu quả tổ chức công tác kiểm toán nội bộ
Khung đánh giá chất lượng KTNB được thiết lập nhằm mục tiêu giúp cho các bằng chứng kiểm toán KTNB phù hợp với các chuẩn mực KTNB Khung đánh giá chất lượng KTNB có bốn phần phản ánh bằng (04) bốn câu hỏi mà việc đánh giá nên hướng đến:
- Mục đích và định vị - Liệu KTNB có địa vị thích hợp, có vai trò rõ ràng và
độc lập để thực hiện công việc của mình không?
- Cấu trúc và nguồn lực - Liệu các KTNB có cấu trúc và nguồn lực thích hợp
để thực hiện các công việc theo dự kiến không?
- Thực hiện kiểm toán - KTNB có các quy trình để thực hiện công việc KTNB
có hiệu quả và hiệu lực không?
- Tác động - KTNB đã có một tác động tích cực đối với môi trường quản trị,
rủi ro và kiểm soát trong tổ chức không?
Trang 5Đối với mỗi tiểu mục sẽ có các tiêu chuẩn đánh giá để thực hiện việc xác định hiệu quả KTNB Mỗi một đánh giá nên được đánh giá với các mức độ tuân thủ bằng cách sử dụng thang sau, phù hợp với các chuẩn mực KTNB:
- Hoàn toàn tuân thủ
- Nói chung tuân thủ
- Một phần tuân thủ
- Không tuân thủ
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNHDO KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẬP ĐOÀN VIETTEL THỰC HIỆN
Thực trạng tổ chức công tác kiểm toán báo cáo tài chính do kiểm toán nội bộ tại Tập đoàn Viettel thực hiện
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do kiểm toán nội bộ thực hiện tại Tập đoàn Viettel
Lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính
Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ năm: Kế hoạch kiểm toán nội bộ năm không nằm trong quy trình kiểm toán BCTC nhưng đây là cơ sở để tiến hành lập kế hoạch kiểm toán chi tiết
Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ chi tiết:Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán năm
và tình hình thực tế thực hiện các cuộc kiểm toán tại Phòng Kiểm toán nội bộ Tập đoàn, kế hoạch kiểm toán nội bộ chi tiết cho từng cuộc kiểm toán sẽ được gộp lại thành từng đợt kiểm toán để triển khai
Sau khi kế hoạch kiểm toán chi tiết được phê duyệt, Trưởng phòng KTNB Tập đoàn Viettel sẽ triển khai công việc đến các đoàn kiểm toán Các bước như thu thập thông tin đơn vị được kiểm toán, đánh giá hệ thống KSNB và rủi ro kiểm toán,
Trang 6xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể sẽ được các đoàn kiểm toán triển khai tương ứng với đơn vị mình thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính
Căn cứ vào kế hoạch kiểm toán nội bộ đã được duyệt Đoàn kiểm toán tiến hành gửi thông báo Kế hoạch kiểm toán cho các đơn vị được kiểm toán Căn cứ vào chương trình kiểm toán BCTC đã được đưa ra KTV tiến hành kiểm toán những phần hành mà mình được giao nhiệm vụ KTV căn cứ vào chương trình kiểm toán chi tiết thực hiện các công việc của mình.Về cơ bản, KTV sẽ tiến hành những công việc chủ yếu như sau khi thực hiện kiểm toán các phần hành:
- Xác định mục tiêu kiểm toán
- Xác định nguồn tài liệu làm căn cứ kiểm toán
- Khảo sát HTKSNB đối với từng phần hành, quy trình và tiến hành thử nghiệm kiểm soát bổ sung
- Thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với từng chu trình gồm: tiến hành kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ sau đó kiểm tra chi tiết về số dư tài khoản có liên quan đến các chu trình đó để thu thập bằng chứng kiểm toán theo từng cơ sở dẫn liệu
- Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết
- Tổng hợp kết quả kiểm toán
Các bước thực hiện công việc kiểm toán thì đều như nhau đối với các chu trình của BCTC chỉ khác nhau ở tài liệu kiểm toán, quy mô chọn mẫu, kỳ lấy mẫu
Khi tiến hành kiểm toán các phần hành, KTV sử dụng phương pháp kiểm toán chủ yếu là phương pháp kiểm toán cơ bản kết hợp với thực hiện các thử nghiệm kiểm soát mặc dù vậy thủ tục phân tích trong phương pháp kiểm toán cơ bản lại thường không được sử dụng mà KTV nội bộ áp dụng ngay thủ tục kiểm tra nghiệp vụ và kiểm tra chi tiết số dư
Sau khi thực hiện xong các thủ tục kiểm toán cụ thể đối với từng quy trình thì KTV lập Bảng tổng hợp kết quả kiểm toán gửi cho trưởng đoàn kiểm toán làm
cơ sở lập Báo cáo kiểm toán nội bộ BCTC
Trang 7Kết thúc kiểm toán
Ttrưởng đoàn KTNB sẽ lập báo cáo những vấn đề được phát hiện trong qúa trình kiểm toán và họp với bộ phận được kiểm toán để trình bày các sai phạm còn tồn tại mà KTV phát hiện ra trong quá trình kiểm toán, đưa ra những kiến nghị của đoàn KTNB và thống nhất ý kiến về những sai phạm này đối với bộ phận được kiểm toán Sau đó yêu cầu bộ phận được kiểm toán đưa ra kế hoạch khắc phục cụ thể như thời gian thực hiện, người thực hiện, phương pháp tiến hành Sau khi hai bên đã thống nhất các vấn đề, trưởng đoàn KTNB sẽ tiến hành lập BCKT nội bộ BCTC BCKT trình bày tổng hợp kết quả của cuộc kiểm toán và đưa ra những kiến nghị đối với bộ phận được kiểm toán
Kiểm tra việc thực hiện kiến nghị của kiểm toán nội bộ
Sau khi kết thúc kiểm toán và biên bản kiểm toán được ký kết giữa đoàn kiểm toán và đơn vị được kiểm toán, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký, đơn vị được kiểm toán phải báo cáo khắc phục những tồn tại, kiến nghị đã nêu trong Biên bản kiểm toán về Tập đoàn thông qua Phòng KTNB, những kiến nghị nào đã thực hiện, những kiến nghị nào chưa được thực hiện phải nêu rõ nguyên nhân chưa thực hiện Đối với các nội dung cần thời gian khắc phục dài thì đơn vị được kiểm toán phải xây dựng lộ trình và cam kết thực hiện đúng tiến độ
Đánh giá hiệu quả tổ chức công tác kiểm toán tài chính do kiểm toán nội bộ tại Tập đoàn Viettel thực hiện
Về lập kế hoạch kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán mang tính một chiều: Kế hoạch kiểm toán chưa thực hiện việc lấy ý kiến của các đơn vị thành viên trong quá trình thực hiện lập kế hoạch kiểm toán
KTV nội bộ chưa xác định mức độ trọng yếu và rủi ro khi lập kế hoạch kiểm toán: Tuy nhiên, hoạt động này ở KTNB của Tập đoàn Viettel đang quá yếu và không được chú trọng đúng mức
Trang 8Chương trình kiểm toán chưa được xây dựng đầy đủ và phù hợp với tình hình thực tế
Về thực hiện kiểm toán
Một số thủ tục kiểm toán cơ bản không được áp dụng khi tiến hành thử nghiệm
cơ bản: Khi tiến hành kiểm toán thì KTV nội bộ không tiến hành phân tích đánh giá những thông tin tài chính chủ yếu có liên quan đến từng chu trình để có thể phát hiện ra những khu vực cần khoanh vùng trọng tâm kiểm toán Việc phân tích giúp cho KTV có thể có những nhìn nhận ban đầu về vùng có thể xảy ra khả năng sai phạm của chu trình đó từ đó sẽ có định hướng rõ ràng cho những bước kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư sau này Chính vì không có hoạt động phân tích nên việc tiến hành kiểm toán của KTV còn mang tính chủ quan, không tập trung được vào những khu vực dễ xảy ra sai sót từ đó rất khó để tìm ra những sai lệch dẫn đến rủi ro kiểm toán cao
Về kết thúc kiểm toán
Việc lập và lưu trữ hồ sơ kiểm toán vẫn chưa được coi trọng đúng mực
Một số đánh giá khác về kiểm toán nội bộ tại Viettel
Về Quản lý KTNB:
Các thủ tục đảm bảo chất lượng kiểm toán nội bộ chưa được thực hiện và cũng không áp dụng khung đánh giá chất lượng KTNB
Tập đoàn chưa có bộ phận độc lập có trình độ chuyên môn để đánh giá hoạt động KTNB
Mục đích và định vị:
- Quy chế KTNB: KTNB tại Tập đoàn Viettel tuân thủ các tiêu thức đánh giá về
quy chế KTNB tại doanh nghiệp
- Tính độc lập: Bộ phận KTNB được thiết lập rõ ràng, trực thuộc Ban TGĐ Tập
đoàn.KTNB không thực hiện công tác điều hành, không bị xung đột lợi ích Như
Trang 9vậy, hệ thống KTNB tại nói chung là tuân thủ các tiêu thức đánh giá về tính độc lập của KTNB trong Tập đoàn
Cấu trúc và nguồn lực:
Với các tiêu thức về cấu trúc và nguồn lực ta xem xét về các mặt: năng lực; đào tạo và phát triển; nguồn lực, hiệu quả quản lý; kiến thức quản lý Hệ thống KTNB tại Tập đoàn Viettel mới chỉ tuân thủ một phần các tiêu thức đánh giá về cấu trúc và nguồn lực để thực hiện
Tác động của kiểm toán nội bộ:
- Về địa vị và uy tín của KTNB: Ban lãnh đạo Tập đoàn về cơ bản nhận thức được
một phần nào đó giá trị của KTNB, mức độ coi trọng KTNB trong tổ chức tuy không quá cao nhưng cơ bản đã tin tưởng và coi trọng lời khuyên của KTNB
- Tác động của KTNB đến tổ chức: KTNB phản ứng nhanh chóng với những thay
đổi trong tổ chức Nói chung KTNB đã có các nguồn lực và tiếp cận thông tin
cần thiết cho phép nó hoàn thành nhiệm vụ của mình
- KTNB đã có một tác động tích cực về Quản trị, rủi ro, và kiểm soát
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẬP ĐOÀN VIETTEL THỰC HIỆN
Ưu điểm:
Việc thực hiện kiểm toán nội bộ BCTC đã phát hiện ra những gian lận và sai sót trong khâu hạch toán kế toán tại đơn vị từ đó ảnh hưởng đến những thông tin tài chính trình bày trên BCTC Từ đó phòng kiểm toán yêu cầu các đơn vị khắc phục
và hướng dẫn các biện pháp kiểm soát nhằm tránh các sai sót tương tự xảy ra
Kiểm toán nội bộ cũng đã theo dõi sát và đánh giá tình hình thực hiện kiến nghị của kiểm toán nội bộ đầy đủ và kịp thời
Trang 10KTNB tồn tại ngoài nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra, kiểm toán thuần túy, nó còn như một bộ phận có chức năng giám sát “vô hình”, giúp ngăn ngừa các gian lận
và sai sót trước khi nó kịp xảy ra
Nhược điểm:
- Chưa thực hiện việc xác định mức độ trọng yếu và rủi ro khi lập kế hoạch kiểm toán
- Chương trình kiểm toán chưa được xây dựng đầy đủ và phù hợp với tình hình thực tế
- Việc lập và lưu trữ hồ sơ kiểm toán chưa được coi trọng đúng mức
- Hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán nội bộ cũng chưa được thực hiện
Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán tài chínhdo Kiểm toán nội bộ Tập đoàn Viettel thực hiện
Hoàn thiện công tác xác định mức độ trọng yếu và rủi ro khi lập kế hoạch kiểm toán:
Trước tiên, quy trình đánh giá rủi ro bắt đầu từ việc xác định đối tượng kiểm toán và các mục tiêu kinh doanh, các quy trình và hoạt động nghiệp vụ
Tiếp theo là xây dựng và áp dụng mô hình đánh giá rủi ro với các đối tượng được kiểm toán Kết quả đánh giá rủi ro sẽ được sử dụng làm cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán
Dựa trên kết quả phân loại đánh giá rủi ro, KTNB quyết định tần suất thực hiện kiểm toán Việc đánh giá phân loại rủi ro như vậy sẽ giúp KTNB hoạt động hiệu quả hơn và có thể tập trung nhiều thời gian và nguồn lực hơn vào các cuộc kiểm toán đối với các đơn vị có khả năng xảy ra nhiều sai phạm
Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro, Kiểm toán viên nội bộ tiến hành xây dựng
kế hoạch kiểm toán năm
Việc xét đến tính trọng yếu giúp cho KTV có thể xác định thời gian, phạm vi
và nội dung của các phương pháp kiểm toán cho phù hợp tránh việc lãng phí thời