1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngành báo chí vai trò của báo ảnh đối với đồng bào dân tộc khmer (khảo sát báo ảnh đất mũi, báo ảnh việt nam từ năm 2017 2019)​

98 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các tác phẩm sau: Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông đại chúng - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2001; Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÂM PHÚ HỮU

VAI TRÒ CỦA BÁO ẢNH ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER (Khảo sát Báo Ảnh Đất Mũi, Báo Ảnh Việt Nam từ năm 2017 - 2019)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Cà Mau - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÂM PHÚ HỮU

VAI TRÒ CỦA BÁO ẢNH ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER (Khảo sát Báo Ảnh Đất Mũi, Báo Ảnh Việt Nam từ năm 2017 - 2019)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này, là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu

Các số liệu dùng để chứng minh các luận điểm là số liệu trong quá trình khảo sát bằng bảng hỏi với nhà báo, lãnh đạo cơ quan báo chí tổng hợp được Chưa sử dụng, công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thông tin mang tính lý thuyết khung trong luận văn này hoàn toàn trung thực, được trích dẫn trên cơ sở khoa học và có dẫn nguồn

Cà Mau, tháng 10/2020

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn, hoàn thành là nhờ vào sự giúp đỡ của các thầy, cô Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN; Ban Biên tập Báo ảnh Việt Nam, Ban Biên tập Báo ảnh Đất Mũi…

Cùng sự giúp đỡ chân thành của các anh /chị đồng nghiệp ở các cơ quan báo chí trong và ngoài tỉnh

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan báo chí và các anh/chị đồng nghiệp và

cá nhân các nhà báo, lãnh đạo báo chí đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu - người trực tiếp hướng dẫn khoa học

Mặc dù đã rất cố gắn nhưng dẫu sao luận văn vẫn còn nhiều khiếm khuyết cần phải bổ sung để hoàn thiện Rất mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của quý thầy

cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả luận văn

LÂM PHÚ HỮU

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO ẢNH VÀ VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC 9

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 9

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và truyền thông cho đồng bào dân tộc 10

1.3 Vai trò của báo chí, đặc biệt là báo ảnh đối với đồng bào dân tộc 13

1.4 Đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long 15

1.5 Giới thiệu về 2 tờ báo trong diện khảo sát 17

Tiểu kết Chương 1 24

Chương 2 KHẢO SÁT NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CHUYỂN TẢI THÔNG TIN CỦA CÁC TỜ BÁO ẢNH TRONG DIỆN KHẢO SÁT 25

2.1 Các nội dung chính được đề cập 25

2.1.1 Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho đồng bào 25 2.1.2 Hướng dẫn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo 29

2.1.3 Tuyên truyền về các vấn đề giáo dục – chăm sóc sức khỏe, y tế 32

2.1.4 Tuyên truyền về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào 36 2.2 Các hình thức thể hiện 41

2.2.1 Báo ảnh đơn ngữ và báo ảnh song ngữ 42

Trang 6

2.2.2 Các thể loại chính được sử dụng 43

Chương 3 ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TỜ BÁO ẢNH PHỤC VỤ ĐỒNG BÀO KHMER 60

3.1 Thành công và hạn chế của 2 tờ báo ảnh trong diện khảo sát 60

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng 64

3.3 Kiến nghị 69

3.3.1 Đổi mới kết cấu các chuyên trang, chuyên mục 69

3.3.2 Đổi mới chất lượng, nội dung ấn phẩm song ngữ 69

3.3.3 Đổi mới hình thức tuyên truyền 71

3.3.4 Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 71

3.3.5 Một số kiến nghị 72

Tiểu kết chương 3 74

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 83

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tại nhiều diễn đàn mới đây cho thấy, phát triển toàn diện, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại nhiều địa phương đã và đang đặt ra những yêu cầu bức thiết Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở nhiều vùng đồng bào DTTS chưa đi vào cuộc sống, tỷ lệ hộ nghèo cao, cải thiện chậm Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do vai trò của cấp ủy, chính quyền các cấp chưa được phát huy đầy đủ

Để tạo ra những chuyển biến tích cực, mang tính đột phá trong hoạt động hỗ trợ và nâng cao mức sống của người dân tại các địa phương có đông đồng bào DTTS, trước hết cấp ủy, chính quyền cần có quyết tâm chính trị, giải pháp đồng bộ bảo đảm triển khai, thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách an sinh xã hội, dự án hỗ trợ, đầu tư đối với vùng và hộ đồng bào DTTS Củng

cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trên địa bàn, trước hết là cấp ủy, chính quyền; quá trình này phải gắn liền với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS tại chỗ, bảo đảm đủ năng lực, tham gia các chức vụ chủ chốt ở cấp ủy, chính quyền các cấp

Các địa phương cần tích cực vận động đồng bào DTTS phát huy nội lực để chuyển đổi sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi phù hợp với thực tế địa phương Đấu tranh, phê phán với những biểu hiện,

tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tư tưởng cổ hủ, lạc hậu ở từng hộ gia đình đến từng tổ chức, từng cấp, từng ngành cần được đặt đúng vị trí trong hệ giải pháp, từng bước

đi của quá trình triển khai, thực hiện lĩnh vực công tác này

Đồng bào Khmer Nam Bộ hiện có khoảng 1,3 triệu người (chiếm gần 7% dân

số trong vùng), sống tập trung ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, một bộ phận sống ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh Người Khmer sống phần lớn dựa vào việc sản xuất nông nghiệp và một số ít đồng bào sống bằng nghề khác như: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ Đa số đồng bào Khmer có trình độ văn hóa thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn hơn đồng bào Kinh Vì

Trang 8

cuộc sống nghèo khó, không có công việc ổn định nên bà con ít quan tâm đến việc học hành của con em Nghèo khổ thất học còn khiến nhiều người bị kẻ xấu lợi dụng Không chỉ nghèo về vật chất, đa phần bà con đồng bào Khmer còn nghèo về kiến thức, về sự hiểu biết (do không được học hành) Nói cách khác, đói nghèo dẫn đến thất nghiệp và thất học là một trong những căn nguyên chính của mọi tiêu cực trong xã hội Vì vậy mọi sự vận động thực hiện các phong trào chung của địa phương trong đó có phong trào xóa đói giảm nghèo còn bị hạn chế Bà con không tiếp thu được các mô hình tiên tiến về phát triển kinh tế để mà học tập và làm theo.Việc tuyên truyền các Chỉ thị, Nghị quyết của chính phủ về công tác vùng đồng bào Khmer, về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc ; các Nghị quyết của các Tỉnh

ở Tây Nam bộ về hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế, xã hội trong vùng đồng bào Khmer chưa đến được với bà Trong thời gian qua các ấn phẩm báo Khmer ở các tỉnh miền Tây Nam bộ có cố gắng trong việc tuyên truyền về công tác xóa đói giảm nghèo, nhưng do chỉ tuyên truyền theo hình thức phong trào, khi phát động thì tuyên truyền, hết giai đoạn phát động thì hầu như bỏ qua Các nội dung tuyên truyền còn nghèo nàn, chưa đi sâu vào vấn đề, chưa làm hết vai trò chức năng của mình trong việc giáo dục và định hướng cho bà con Khmer tự vươn lên thoát nghèo cho bản thân và gia đình

Do ở Tây Nam bộ việc xuất bản báo in chữ Khmer còn nhiều hạn chế, chỉ có một vài tỉnh có báo chữ Khmer như báo chữ Khmer Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng và Cà Mau và phát hành một tuần chỉ ra một số hoặc 2 số/tháng Mặc dù

có báo in bằng chữ khmer, hay như Báo ảnh Đất Mũi có hai ngữ; nhưng độc giả chủ yếu chỉ là các vị sư còn bà con Khmer thì chỉ có một số ít biết chữ (là người xuất tu) nên bà con không chú ý đến; còn đối với Báo ảnh Việt Nam thì việc phát hành rộng rãi cũng như số lượng bản in lớn đã có nhiều đóng góp trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đến người dân ngày càng thuận tiện hơn và đây cũng là một kênh để chúng ta đẩy mạnh công tác ngoại giao rất tốt Vì vậy, xuất phát từ ý nghĩa,

tầm quan trọng và sự cần thiết tác giả chọn vấn đề “ Vai trò của Báo ảnh đối với

đồng bào dân tộc Khmer (Khảo sát Báo Ảnh Đất Mũi, Báo Ảnh Việt Nam từ năm

2017 - 2019)” để làm đề tài nghiên cứu

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Theo tìm hiểu của tác giả, ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều nhà khoa học và giới tri thức viết nhiều tác phẩm nghiên cứu khoa học về cơ sở lý luận và những vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực báo chí, về vai trò của loại hình báo ảnh Có thể kể đến các tác phẩm sau: Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông đại chúng - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2001; Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2004; Dương Xuân Sơn - Đinh Văn Hường - Trần Quang, Cơ sở lý luận báo chí truyền thông - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004; Dương Xuân Sơn, Giáo trình lý luận báo chí truyền thông - Nxb Giáo dục Việt Nam; Nguyễn Thị Trường Giang,

“Báo mạng điện tử những vấn đề cơ bản” - Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội năm 2011; Nguyễn Văn Hà, Giáo trình cơ sở lý luận báo chí - Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2012; Nguyễn Thành Lợi, Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại - Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội năm 2014; Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu trong và ngoài giới báo chí cũng có nhiều Luận văn, Luận án nghiên cứu về vai trò và sự ảnh hưởng của báo chí đối với giới trẻ ở Việt Nam như: Lê Tuấn Anh, Báo chí với vấn đề phòng chống ma túy trong thanh thiếu niên, Luận văn thạc sĩ khoa học Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2003; Lại Thị Hải Bình, “Báo chí với quá trình hình thành nhân cách của học sinh - sinh viên”, Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2006; Trương Thị Tuyên, Báo chí với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên, Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2008; Vũ Thị Sáng, Báo chí với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ khoa học Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2010; Hoàng Thị Thu Hà, Công chúng thế hệ Net với các phương tiện truyền thông đại chúng, Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2011…

Từ việc kế thừa, phát huy công trình nghiên cứu, đặc biệt là loại hình báo ảnh; tác giả muốn tạo nên sự khác biệt trong quá trình nghiên cứu và mang đến những hiệu quả nhất định và đặc trưng đối với đề tài được chọn nghiên cứu

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát, đánh giá về vai trò của các tờ báo ảnh, đặc biệt là Báo ảnh Việt Nam và Báo ảnh Đất Mũi đối với đồng bào Khmer; từ đó, chỉ ra những thành công, hạn chế của các tờ báo ảnh, và đề xuất giải pháp, khuyến nghị giúp hai tờ báo ảnh thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát hai tờ Báo ảnh của Việt Nam có liên quan đến đề tài; đánh giá nguyên nhân đạt được và chưa được để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của 2 tờ báo

Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tờ báo cả nội dung lẫn hình thức:

Cụ thể: chất lượng tin, bài phóng sự cho phù hợp Kiến nghị xây dựng các chuyên mục, chuyên trang đa dạng, mang tính quần chúng như dễ hiểu dễ nhớ… để làm thay đổi nhận thức, giúp đồng bào Khmer nâng cao sự hiểu biết và ý chí thoát nghèo, tự biết cách làm giàu, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương cũng như cách để tiếp cận các phong tục, tập quán, lễ hội của đồng bào mình

Đặc biệt là nâng cao kiến thức, ý thức trong công tác giữ gìn an ninh trật tự; sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật trong đồng bào dân tộc

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Vai trò của Báo ảnh Đất Mũi và Báo ảnh Việt Nam với đồng bào dân

tộc Khmer (Khảo sát Báo Ảnh Đất Mũi, Báo Ảnh Việt Nam từ năm 2017 - 2019)”

- Phạm vi nghiên cứu: Các chuyên trang, chuyên mục của hai ấn phẩm báo từ năm 2017 đến năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta Luận văn cũng kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan đến chủ đề luận văn

- Cơ sở lý luận báo chí

Trang 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Luận văn tập hợp, hệ thống hóa các nguồn tư liệu, sách giáo khoa, sách chuyên khảo; các luận văn, luận án, công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học có liên quan để làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp phân tích nội dung văn bản: Luận văn xem xét có hệ thống các tài liệu dưới dạng văn bản viết như các Quy định, Nghị định, Thông tư, kế hoạch, báo cáo có liên quan để lấy thông tin và số liệu trong quá trình viết luận văn Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích nội dung tin, bài, phóng sự, tạp chí trên các cơ quan hai tờ báo ảnh trong diện khảo sát Dựa vào kết quả thu được, tác giả đã tiến hành phân tích, đánh giá, tổng kết những kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra những luận cứ, luận điểm giúp hoàn thiện vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung: để nghiên cứu về nội dung và hình thức của Báo ảnh Đất Mũi và Báo ảnh Việt Nam tác giả đã lựa chọn những chuyên trang, chuyên mục của hai tờ báo trong diện khảo sát; từ đó phân tích về hình thức cũng như nội dung của hai tờ báo; qua sự so sánh tác giả đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của cả hai tờ báo, đây là cơ sở để tác giả có những kiến nghị trong phần cuối của luận văn

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo của hai tờ báo ảnh, phóng viên phụ trách các chuyên trang, chuyên mục để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân ưu điểm, hạn chế của vấn đề nghiên cứu Từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy hơn vai trò của hai tờ báo ảnh đối với đồng bào dân tộc khmer

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 12

- Luận văn còn góp thêm nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

và giảng dạy các chuyên đề liên quan đến vai trò của Báo ảnh đối với đồng bào dân tộc Khmer ở các trường Đại học và Cao đẳng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Luận văn đem đến cái nhìn tổng quan về thực trạng, những ưu điểm, hạn chế của hai tờ báo ảnh đối với đồng bào dân tộc Khmer Từ đó, đề ra những giải pháp, kiến nghị góp phần phát huy vai trò, ảnh hưởng hai tờ báo ảnh đối với đồng bào dân tộc Khmer

- Ngoài ra, những kiến nghị, đề xuất của tác giả trong luận văn còn góp phần nhỏ vào việc làm cơ sở, căn cứ lý luận trong việc hoạch định chiến lược, chính sách

cụ thể nhằm chăm lo tốt hơn đời sống của đồng bào dân tộc Khmer cũng như kế hoạch nhằm phát triển hai tờ báo ảnh trong thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về báo ảnh và vấn đề truyền thông cho đồng

bào dân tộc

Chương 2: Khảo sát về nội dung và hình thức chuyển tải thông tin của các tờ

báo ảnh trong diện khảo sát

Chương 3: Đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng các tờ báo ảnh phục vụ đồng bào Khmer

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO ẢNH VÀ VẤN ĐỀ TRUYỀN

THÔNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

- Báo chí:

Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử

- Báo in:

Báo in là một loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ viết, hình ảnh tĩnh (ảnh đồ hình đồ hoạ) để chuyển tải các sự kiện vấn đề xãy ra trong đời sống xã hội, mang tính thời sự, chân thực khách quan, thông qua kỹ thuật in ấn có phương thức phát hành trao tay và được xuất bản định kỳ

- Báo ảnh:

Theo Nhà báo, Nhà nghiên cứu lý luận và phê bình nhiếp ảnh Nguyễn Huy Hoàng thì: “ Những biến động lịch sử to lớn trong thế kỷ XX trên dải đất hình chữ S của chúng ta thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một ngành nghệ thuật mới – nghệ thuật nhiếp ảnh Nhiếp ảnh – một nghệ thuật tạo hình có khả năng phục vụ kịp thời,

đã được huy động vào mật trận thông tin tuyên truyền như một vũ khí chính trị tư tưởng sắc bén vì thắng lợi của cách mạng Từ đó nước ta hình thành một ngành ảnh đặc thù là ảnh báo chí”

Sự ra đời của ảnh báo chí đã mở đường cách mạng cho sự phát triển nhanh của ảnh báo chí nước ta Ảnh báo chí trở thành rường cột của lâu đài nghệ thuật Nhiếp ảnh Việt Nam Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, máy ảnh trở thành vũ khí góp phần chiến thắng quân xâm lược, trong thời bình máy ảnh lại làm nên những bông hoa nghệ thuật cắm vào lẵng hoa dâng tặng tổ quốc và nhân dân bước vào thời kỳ mới phát triển toàn diện

Trang 14

Sự phát triển nhảy vọt của ảnh báo chí nước ta giữa thế kỷ XX trở lại đây chứng tỏa ngành báo chí đã triển khai chính xác khả năng ghi thực trực tiếp của nhiếp ảnh vào lĩnh vực hoạt động của mình, sử dụng nghệ thuật tạo hình nhiếp ảnh làm thỏa mãn cùng một lúc hai nhu cầu thưởng thức cái đẹp

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc và truyền thông cho đồng bào dân tộc

Để làm rỏ vấn đề này, tác giả tham khảo và dựa vào quyển Truyền thông phát triển – truyền thông dân tộc – Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn1; đây là cơ sở quan trọng để tác giả làm rỏ vấn đề trong quá trình nghiên cứu

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII khóa IX, nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng trong thời kỳ đổi mới, đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Bởi lẽ, đối với nước ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia

Bình đẳng giữa các dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ

1 Nghiên cứu trường hợp vùng Tây Bắc Việt Nam do PGS.TS Đặng Thị Thu Hương (Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ biên

Trang 15

Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta Hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Các Hiến pháp tiếp theo đều thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này

Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển: Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Ngày 3/12/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg

“Về việc đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, trong đó yêu cầu: “Các cơ quan thông tin đại chúng cần cải tiến nội dung, hình thức tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sao cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện của từng vùng; chú trọng tuyên truyền vốn văn hóa, nghệ thuật các dân tộc, các điển hình làm ăn giỏi, vận động giữ gìn, bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, bài trừ tệ nạn xã hội Tổ chức tốt các cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài miền núi, dân tộc thiểu số và có kế hoạch xuất bản, giới thiệu những tác phẩm này nhằm phản ánh kịp thời những tiến bộ, những tâm tư nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong quá trình đổi mới Có kế hoạch giúp đỡ văn nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn phục

vụ miền núi, vùng các dân tộc thiểu số về tinh thần và vật chất…”

Nghị định số 51/2002/NĐ - CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí có ghi: “Ngoài các

Trang 16

chế độ ưu đãi về thuế, ưu đãi về phí đối với hoạt động xuất bản, phát hành báo chí, các cơ quan báo chí của các tổ chức chính trị, báo chí phục vụ thiếu nhi, phục vụ đồng bào miền núi, hải đảo, đồng bào các dân tộc thiểu số, báo chí đối ngoại và khoa học kỹ thuật được Nhà nước xem xét để tài trợ hàng năm”

Thực hiện Nghị quyết Trung ương V về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 về “Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa” Theo Quyết định này, các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa gồm nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, người thuộc diện chính sách xã hội Những đối tượng này được hưởng các ưu đãi về văn hóa như được tổ chức xem các chương trình biểu diễn văn hóa nghệ thuật miễn phí, hoặc mức giá ưu đãi có trợ cấp của Nhà nước Bên cạnh đó, còn nhiều đề án, dự án, chương trình theo Quyết định số 1212/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012-2015”; Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012-2015”, trong đó có dự án “Tăng cường nội dung thông tin và truyền thông về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”

Bắt đầu từ năm 2015, việc “Cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS và MN), vùng đặc biệt khó khăn” được Thủ tướng Chính phủ quyết định theo từng năm, để đảm bảo việc rà soát, nâng cao chất lượng các ấn phẩm thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, và theo từng năm danh sách các tờ báo được lựa chọn có thể khác nhau, tùy thuộc vào chất lượng phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Các chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực này đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giúp

bà con nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách của nhà nước, thay đổi nhận thức, nâng cao dân trí và trình độ sản xuất của bà con Đáng chú ý, việc cấp không thu

Trang 17

tiền một số loại sản phẩm thông tin báo, tạp chí cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số

và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn đã giúp cho bà con nắm vững các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách của

Chính phủ và các cơ quan chức năng; tiếp cận với nhiều cách làm hay trong phát triển kinh tế; giúp bà con biết cách bảo vệ, giữ gìn sức khỏe, từ bỏ các hủ tục lạc hậu, thực hiện nếp sống văn minh; từng bước áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào cuộc sống, đưa các giống lúa, ngô mới, giống cây ăn quả có năng suất cao vào sản xuất, góp phần nâng cao đời sống gia đình

1.3 Vai trò của báo chí, đặc biệt là báo ảnh đối với đồng bào dân tộc:

Các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là báo chí, đóng vai trò quan trọng đối với truyền thông phát triển và truyền thông dân tộc thông qua sự truyền tải tri thức, tạo lập diễn đàn để trao đổi thảo luận các vấn đề, truyền đạt ý tưởng, kỹ năng để công chúng có cuộc sống tốt đẹp hơn, và tạo dựng nền tảng đồng thuận cho

sự ổn định xã hội

Đối tượng tác động của báo chí là đông đảo công chúng trong xã hội, đa dạng

về tuổi tác, giới tính, ngành nghề, sở thích,…Mỗi loại hình báo chí có một ưu thế riêng trong hoạt động truyền thông phát triển và truyền thông dân tộc

Báo in (bao gồm cả báo và tạp chí) là loại ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Báo in là loại hình truyền thông ra đời sớm nhất trong các loại hình báo chí truyền thông, gắn liền với công nghệ in ấn nên hình thức thể hiện của loại hình báo chí này là in trên giấy

Căn cứ vào các tiêu chí định kỳ và tính chất nội dung thông tin, người ta chia báo in thành các loại:

Nhật báo (báo hàng ngày) là những tờ báo phát hành mỗi ngày một lần vào buổi sáng hay buổi chiều

Báo thưa kỳ bao gồm báo ra 2,3,4,5 ngày một kỳ, tuần báo

Ngoài ra còn có báo nửa tháng hay hàng tháng, thường là những ấn phẩm đặc san, chuyên san của các tờ nhật báo hay báo thưa kỳ Nội dung thông tin của báo thưa kỳ không cập nhật tính thời sự bằng báo hàng ngày, mà tập trung vào những thông tin có chiều sâu, phục vụ các đối tượng chuyên biệt, cụ thể hơn

Trang 18

Tạp chí là ấn phẩm định kỳ, có nội dung chuyên sâu về một hoặc một số vấn

đề, lĩnh vực của đời sống xã hội, khoa học, kỹ thuật Đối tượng đọc của tạp chí chọn lọc hơn nhiều, do đó, cũng nhỏ hẹp hơn so với nhật báo và báo thưa kỳ

Báo in chuyển tải nội dung thông tin qua văn bản in, bao gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,… Việc tiếp nhận thông tin của công chúng thông qua thị giác - giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Do phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc điểm ưu việt sau: Thứ nhất, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo

in Sự chủ động bao gồm việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc, đến chủ động về tốc độ, cách thức đọc

Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não Nhờ đó, khả năng ghi nhớ thông tin tăng, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị của các vấn đề, sự kiện Báo in có thể cung cấp cho bạn đọc những thông tin chuyên sâu, bình luận chi tiết và có hệ thống về vấn đề, sự kiện Đồng thời, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói quen của nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài…

Trong lĩnh vực truyền thông phục vụ phát triển bền vững và truyền thông dân tộc thì đặc trưng này giúp báo in có lợi thế đặc biệt so với phát thanh và truyền hình Công chúng có thể lưu giữ bài báo để xem đi xem lại Trong khi đó, với đặc trưng nổi bật là thông tin nhanh chóng, cập nhật liên tục, các thông tin trên truyền hình khó lưu giữ để trở thành tài liệu có tính hồ sơ sự kiện

Tuy nhiên, báo in cũng có một số hạn chế như chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo và có những vấn đề, chỉ có những người có một trình độ học vấn nhất định mới có thể hiểu được Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo ở đó Bên cạnh

đó, khả năng tương tác giữa nhà báo và công chúng báo in không cao, khả năng truyền tải tin tức không nhanh nhạy như các phương tiện truyền thông điện tử vì

Trang 19

còn phụ thuộc vào việc in ấn, nên báo in ngày càng khó thu hút sự quan tâm của độc giả trẻ tuổi

1.4 Đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long

Là cư dân bản địa có mặt lâu đời sống trên vùng đất Nam bộ; đồng bào Khmer

có truyền thống đòan kết, có tinh thần nhân đạo và tấm lòng nhân ái cao cả Ðồng bào Khmer sinh sống chủ yếu bằng nghề nông (đặc biệt là trồng lúa và nuôi bò); có truyền thống lao động cần cù, chịu cực, chịu khó Phần lớn các hộ Khmer sản xuất theo truyền thống; một bộ phận đồng bào biết tiếp thu và sử dụng có hiệu quả thành tựu khoa học trong nông nghiệp

Ðồng bào Khmer có ngôn ngữ, chữ viết và nền văn hóa phát triển lâu đời; có

phong tục tập quán, lễ hội phong phú và rất trân trọng giá trị tinh thần.Tính cộng đồng của đồng bào Khmer và sự gắn kết cộng đồng dân tộc thông qua nhà chùa và

lễ hội truyền thống thể hiện rất đậm nét

Ðồng bào Khmer sống thật thà, chất phác, khiêm tốn, dễ tin, nhưng cũng có

lòng tự trọng và ý thức dân tộc cao Có tính phóng khoáng nhưng cũng dễ tự ty mặc cảm Có tinh thần đòan kết, tính tập thể gắn bó với cộng đồng nhưng cũng dễ cách

ly, biệt lập với cộng đồng

Phật giáo Nam tông, sư sãi và ngôi chùa Khmer có một vai trò, vị trí hết sức

đặc thù trong cộng đồng dân tộc Khmer Tăng cường phát triển kinh tế, nỗ lực xoá đói giảm nghèo trong vùng đồng bào Khmer cũng là để thực hiện quyền bình đẳng đối với các dân tộc, góp phần quan trọng trong việc giải toả những nguyên nhân sâu

xa có thể dẫn đến những xung đột mang tính chất sắc tộc tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long Cần tập trung nghiên cứu những giải pháp, điều kiện để giúp đồng bào Khmer thoát nghèo một cách thiết thực Chẳng hạn, cần sớm đưa ra chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, chính sách về vay vốn, chính sách giải quyết việc làm, chính sách đào tạo nghề… một cách hợp lý và căn bản

Bên cạnh đó các “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội

Trang 20

cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản”2 Trong đó, “phương pháp đo lường nghèo đa chiều” là một khái niệm hoàn toàn mới

Trước đây, chúng ta chỉ đơn thuần đánh giá mức độ nghèo trên phương diện kinh tế, thu nhập Theo đó, một người có thu nhập dưới mức trung bình là người nghèo Nhưng nay, việc đánh giá người nghèo, hộ nghèo được nhìn nhận theo “đa chiều”, cả vật chất và tinh thần, ngoài thu nhập, còn có các tiêu chí như: được khám chữa bệnh, được đi học, được nghe đài, xem ti vi, có phương tiện đi lại gắn động

cơ, ăn ở hợp vệ sinh Việc xác định như vậy sẽ giúp mở rộng biên độ về cơ chế, chính sách, chương trình, dự án, phương thức tiếp cận, đối tượng đích cho công tác xóa đói giảm nghèo một cách bền vững

Từ những thay đổi trong quan điểm, nhận thức về công tác xóa đói giảm nghèo, nhất là quan điểm về phương pháp đo lường nghèo đa chiều, đã dẫn tới hình thành nhiều phương pháp và cách thức hành động mới trong công tác xóa đói giảm nghèo trên tinh thần phát huy nội lực của cả quốc gia và từng người dân nhằm mục đích làm cho công tác xóa đói giảm nghèo bền vững hơn

Ngày 19/11/2015, một thay đổi có tính đột phá là Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Theo đó xác định chuẩn nghèo mới thay thế cho chuẩn nghèo cũ: quy định chuẩn nghèo mới ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng (chuẩn cũ là 400.000 đồng/người/tháng); ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng (chuẩn cũ là 500.000 đồng/người/tháng); đồng thời quy định thêm chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000 đồng/người/tháng

Điều quan trọng không kém là đã xác định rõ 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà

ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Từ 10 chỉ số này để xác định mức độ thiếu hụt tiếp cập đối với 5 dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin

2

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016)

Trang 21

Việc ban hành mức chuẩn nghèo mới và xác định những căn cứ để đo lường; giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân chính là cơ sở để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững, cũng như hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn

2016 – 2020

Trong việc hoạch định các chính sách về xóa đói giảm nghèo, chúng ta cũng

đã có những thay đổi rất căn bản Trước đây có nhiều chương trình, dự án về xóa đói giảm nghèo cùng song song tồn tại; hoặc có nhiều chương trình, dự án ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng có sự chồng chéo trên cùng một địa bàn, cùng một đối tượng Điều này dẫn đến tình trạng khó kiểm tra, kiểm soát, dàn trải, lãng phí nguồn lực, chạy theo phong trào, thành tích… Nhưng nay, Chính phủ đã gộp tất cả lại trong một chương trình là “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”3, với một đầu mối quản lý chung nhất là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

1.5 Giới thiệu về 2 tờ báo trong diện khảo sát

Tờ Báo ảnh Việt Nam

3

Quyết định 1722-QĐ/TTg, ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 22

Tờ Báo ảnh Đất Mũi - Ấn phẩm Phụ song ngữ Việt – Khmer

Báo ảnh Việt Nam 66 năm giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới: Cách đây 66 năm, chỉ 5 tháng sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và 5 ngày sau khi Thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chỉ thị xuất bản tờ Hình ảnh Việt Nam (tiền thân của Báo ảnh Việt Nam hiện nay) Ấn phẩm giới thiệu bằng hình ảnh với bạn bè thế giới về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và sự nghiệp của nhân dân ta trong giai đoạn mới là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày 15/10/1954, tờ Hình ảnh Việt Nam số đầu tiên chính thức ra mắt bạn đọc trong nước và thế giới, đánh dấu sự ra đời của một tờ báo đối ngoại bằng hình ảnh đầu tiên của nền báo chí cách mạng Việt Nam, tờ báo được mang tên đất nước

“Báo ảnh Việt Nam” Kể từ đó đến nay, Báo ảnh Việt Nam (Thông tấn xã Việt Nam

- TTXVN) đã xuất bản được 730 số với hơn 50 triệu bản gửi tới bạn đọc hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Trang 23

Từ địa đầu Móng Cái đến Mũi Cà Mau, từ nơi biên cương xa xôi đến những vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc… nơi đâu cũng in dấu chân của phóng viên Báo ảnh Việt Nam Ống kính của lớp lớp thế hệ phóng viên Báo ảnh Việt Nam đã ghi lại hàng triệu bức ảnh để làm nên hàng trăm ngàn trang báo sinh động, hấp dẫn

và chân thực về mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới với uy tín, vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, Báo ảnh Việt Nam lại có bước chuyển mới trong công tác thông tin đối ngoại, tích cực giới thiệu một Việt Nam thân thiện, mến khách, phát triển năng động, mạnh mẽ với chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng và là bạn, đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới

Bắt nhịp với sự phát triển của đời sống xã hội hiện nay, ngoài các chuyên trang, chuyên mục thế mạnh về phong cảnh, đất nước, văn hóa và con người Việt Nam, Báo ảnh Việt Nam đã tổ chức nhiều chuyên trang, chuyên mục mới mang tính cập nhật và chuyên sâu về các vấn đề quan trọng, nổi bật của đất nước, cũng như vấn đề tôn giáo, nhân quyền, biển đảo, biên giới… luôn được cập nhật, đăng tải kịp thời, đầy đủ, hấp dẫn và sinh động bằng 10 ngôn ngữ trên cả báo in và báo điện tử Báo ảnh Việt Nam cùng với báo Việt Nam News, báo điện tử VietnamPlus được giao nhiệm vụ phát triển trở thành báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia mang tầm khu vực và thế giới4 Quyết định đó một lần nữa khẳng định nhiệm vụ thông tin đối ngoại mà Báo ảnh Việt Nam đã và đang được giao thực hiện trong 65 năm qua

Ngay sau khi nhận được Quyết định phê duyệt Đề án của Thủ tướng Chính phủ, tòa soạn đã nhanh chóng bắt tay vào triển khai thực hiện nhiều công việc, giải pháp nhằm từng bước đưa Báo ảnh Việt Nam phát triển theo đúng định hướng của

Đề án Trong đó, có việc tinh chỉnh lại bộ máy làm việc; đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, biên dịch viên; từng bước cải thiện, nâng cấp phương tiện kỹ thuật tác nghiệp; đổi mới hình thức, nội dung, tăng số lượng cũng như địa chỉ phát hành bản báo in; chú trọng thông tin về khu vực miền Trung -

4 Ngày 31/10/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt “Đề án phát triển một số báo in và báo điện tử đối ngoại quốc gia của TTXVN” đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030

Trang 24

Tây Nguyên, địa bàn chiến lược, nơi tập trung nhiều vùng trọng yếu về biên giới và biển đảo của Tổ quốc; tăng cường và mở rộng hợp tác với các đối tác truyền thông Ghi nhận những đóng góp to lớn trong công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại, Báo ảnh Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1994), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2004), Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2009) và Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2014)

Nhiều tác phẩm của phóng viên, biên tập viên Báo ảnh Việt Nam đã giành được các Giải báo chí quốc gia, Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại… Nhiều phóng viên Báo ảnh Việt Nam cũng giành những giải thưởng cao tại các cuộc thi ảnh quốc gia và khu vực

Cách nay 40 năm, ngày 27/11/1979, UBND tỉnh Minh Hải (nay là hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu) có Quyết định số 281/QĐ.UB cho phép xuất bản tạp chí Báo ảnh Đất Mũi - đánh dấu sự ra đời của Báo ảnh Đất Mũi, một cơ quan ngôn luận của tỉnh Trong suốt hành trình phát triển ấy, nhiều thế hệ lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, nhân viên Báo ảnh Đất Mũi đã nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách, cống hiến tâm sức trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng Để đến hôm nay, Báo ảnh Đất Mũi tự hào đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp sức xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương

Cà Mau qua từng chặng đường cách mạng nơi vùng đất cuối trời Tổ quốc

Báo ảnh Đất Mũi, tiền thân là tờ tin ảnh ra đời từ trước ngày giải phóng, nhằm tuyên truyền, cổ động nhân dân đấu tranh chống giặc, phục vụ cách mạng và sau đó tiếp tục góp phần trong công cuộc tái thiết quê hương trong thời bình sau ngày đất nước thống nhất

Để tìm hiểu sâu về cách thức thể hiện của Báo ảnh Việt Nam tác giả đi vào phân tích một số chuyên trang cụ thể để thấy được cách thức triển khai cũng như cách mà phóng viên ảnh khai thác thể hiện đề tài Đa phần các chuyên trang của báo ảnh đều triển khai theo dạng phóng sự ảnh; điều đặc biệt là rất ít ảnh và ảnh rất chất lượng Nội dung của vấn đề đã thể hiện qua ngôn ngữ hình ảnh; chính vì thế họ không cần lời bình nhiều và cũng không cần nhiều hình ảnh

Trang 25

Còn về phần nội dung thì vô cùng phong phú từ: chính trị, an ninh – quốc phòng, du lịch, kinh tế đến ẩm thực… nội dung rất đa dạng và phong phú nhưng cách trình bày các chuyên trang, chuyên mục không làm độc giả rối

Còn đối với Báo ảnh Đất Mũi, thì vào ngày 27/11/1979, UBND tỉnh Minh Hải

có Quyết định cho phép xuất bản tạp chí Báo ảnh Đất Mũi - là tiếng nói của UBND tỉnh Minh Hải Từ đó đến nay, Báo ảnh Đất Mũi hoàn thành tốt vai trò một cơ quan báo chí của tỉnh Các ấn phẩm luôn đi đúng tôn chỉ, mục đích của tờ báo, đúng chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, phục vụ đắc lực công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần quảng bá hình ảnh Cà Mau Làm kinh tế chính đáng, Báo ảnh Đất Mũi tạo được nguồn thu, tự cân đối được một phần kinh phí hoạt động, giảm gánh nặng cho ngân sách địa phương Từ động lực này, Báo ảnh Đất Mũi ngày càng cải tiến mạnh mẽ, đa dạng các ấn phẩm báo chí hiện đại; cùng với tờ Đất Mũi thứ Hai, Đất Mũi Cuối tuần, còn có thêm các

ấn phẩm: Đất Mũi Nguyệt san, Cơ hội Vàng, Đất Mũi điện tử, được sự đón nhận của độc giả khắp nơi trong cả nước Đặc biệt, từ năm 2008, được lãnh đạo tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ, Báo ảnh Đất Mũi tổ chức thực hiện thêm ấn phẩm Báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt - Khmer, phục vụ riêng cho đồng bào dân tộc Đến nay đã hơn 10 năm, Báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt - Khmer đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào dân tộc trong tỉnh

Như tên gọi, trong suốt quá trình phát triển, Báo ảnh Đất Mũi luôn bám sát và

đi lên từ thế mạnh của riêng mình, đó là phát huy loại hình báo ảnh, chú trọng vai trò của ảnh báo chí trong các tác phẩm được đăng tải Nhờ đó, không chỉ nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, tạo được sức hấp dẫn của các ấn phẩm đối với bạn đọc qua bản sắc của riêng mình; mà từ “truyền thống” thế mạnh được tiếp nối qua nhiều thế hệ ấy, Báo ảnh Đất Mũi còn khẳng định được “thương hiệu” trong đời sống nhiếp ảnh của tỉnh và cả nước Mái nhà Báo ảnh Đất Mũi là nơi hội tụ một đội ngũ hùng hậu những nghệ sĩ nhiếp ảnh tài năng, có tiếng trong tỉnh cũng như khẳng định tầm cỡ trên sân chơi lớn của nhiếp ảnh quốc gia và quốc tế; là nơi truyền lửa đam mê làm nghề và cống hiến, để rồi có rất nhiều phóng viên, tay máy trẻ trưởng thành trong nghề báo, tiếp bước đàn anh, khẳng định sức sáng tạo qua những tác

Trang 26

phẩm báo chí và cả ảnh nghệ thuật có giá trị Đội ngũ những người làm báo Báo ảnh Đất Mũi đã đoạt nhiều giải thưởng tại các cuộc thi báo chí, cuộc thi nhiếp ảnh trong tỉnh, trong nước và quốc tế

Từ thế mạnh nhiếp ảnh, Báo ảnh Đất Mũi xây dựng được kho hình ảnh tư liệu quý giá về quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quê hương Minh Hải - Cà Mau; được lãnh đạo tỉnh tin tưởng, phân giao và đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đột xuất, quan trọng như phục vụ các kỳ đại hội Đảng, các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội

và HĐND các cấp, thực hiện các quyển sách ảnh truyền thống của tỉnh…

Hành trình 40 năm, vượt qua nhiều khúc quanh, lắm lúc thăng trầm, những thách thức từ sức cạnh tranh trên thị trường báo chí, Báo ảnh Đất Mũi đã vinh dự đảm nhận và góp mặt cùng báo chí tỉnh nhà làm tròn sứ mệnh vẻ vang của những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng; góp sức cho sự trưởng thành của báo chí Cà Mau qua từng chặng đường phát triển Đây sẽ mãi là niềm tự hào và là hành trang cho những người làm báo Báo ảnh Đất Mũi tiếp tục giữ vững “bút sắc - lòng trong - tâm sáng”, xứng đáng với nghề làm báo vinh quang và truyền thống quý báu được gầy dựng dưới mái nhà chung: Báo ảnh Đất Mũi

12 năm qua, tờ Báo ảnh Đất Mũi bảng song ngữ Việt - Khmer đã trở thành một kênh thông tin quan trọng của Đảng bộ chính quyền tỉnh nhà, để đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương, vùng đồng bào dân tộc Khmer, đảm bảo an ninh quốc phòng Định hướng những hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt văn hóa-xã hội Nâng sự hiểu biết về chính sách, pháp luật và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất từng bước phát triển kinh tế Từng bước phục vụ nhu cầu văn hóa, nghệ thuật của đồng bào Báo song ngữ tiếng Khmer đã và đang góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức của đồng bào; giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, những giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng dân tộc Khmer Nam bộ; phòng chống tệ nạn xã hội, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan

Tuy nhiên, nội dung ấn phẩm vẫn còn nhiều hạn chế như số lượng phát hành còn ít; nội dung, hình thức chưa phong phú; chậm đổi mới; chưa hấp dẫn đối với công chúng truyền hình Vẫn còn tình trạng đưa tin hội nghị, sử dụng tin bài của bảng báo tiếng Việt rồi dịch sang tiếng Khmer; cách sắp xếp tin bài còn mang tính

Trang 27

gập khuôn chưa có nhiều cải tiến; đội ngũ cán bộ phụ trách tờ báo tiếng Khmer chưa có nhiều kinh nghiệm khai thác tin bài, cách thức tiếp cận nhân vật…

Nhưng vấn đề quản trị quá trình tổ chức xuất bản ấn phẩm báo chưa được quan tâm, mà chủ yếu làm theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và kinh nghiệm Với những lý do và tính cấp thiết nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của báo ảnh Đất Mũi đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Cà Mau hiện nay” là có tính cấp thiết cao, nhằm khẳng định vai trò và tìm ra những giải pháp kịp thời để xuất bảng báo song ngữ ngày càng hấp dẫn người xem đáp ứng nhu cầu trong điều kiện hiện nay Đánh giá đúng thực trạng của ấn phẩm báo song ngữ và đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng ấn phẩm ngày càng hấp dẫn người xem Như giới thiệu những hoạt động: văn hoá văn nghệ; giới thiệu ẩm thực những món ăn đặc sắc của đồng bào Khmer; trò chuyện cùng nhà nông Nâng cao chất lượng tin, bài; hạn chế đưa những tin hội nghị ưu tiên đưa những tin bài gần gũi với đời sống, văn hoá của đồng bào Khmer, giới thiệu những mô hình làm ăn có hiệu quả trong tiết mục “ Nhà nông làm giàu” Giới thiệu chính sách pháp luật; y học sức khỏe, nhà nông làm giàu; chính sách pháp luật; y học sức khoẻ; văn hoá văn nghệ

Còn đối với Báo ảnh Việt Nam, chúng ta thấy rõ một “đẳng cấp” khác trong việc thể hiện các tin bài; ngôn ngữ hình ảnh đã thể hiện hết những gì tác giả muốn thể hiện; dưới đây là một số minh họa mà tác giả thu thập được qua quá trình khảo sát

Trang 28

Tiểu kết Chương 1

Ở Chương I, tác giả chủ yếu làm rõ một số khái niệm về loại hình báo chí nói chung cũng như báo in, báo ảnh; cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước về dân tộc và truyền thông cho đồng bào dân tộc

Chương I đã làm rõ vai trò của Báo ảnh đối với đồng bào dân tộc Khmer; tác giả khẳng định Báo ảnh vừa là kênh thông tin quan trọng chuyển tải đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước tới đồng bào các dân tộc nói chung, đồng bào Khmer nói riêng; giúp đồng bào nắm bắt kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vừa chuyển tải tâm tư nguyện vọng của đồng bào tới Đảng và Nhà nước

Chương I cũng đã làm rõ vai trò của báo chí, đặc biệt là báo ảnh đối với đồng bào dân tộc

Những vấn đề được làm rõ ở chương I là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả đi vào khảo sát sâu ở Chương II về Khảo sát nội dung và hình thức chuyển tải thông tin của các

tờ báo ảnh trong diện khảo sát là Báo ảnh Đất Mũi và Báo ảnh Việt Nam./

Trang 29

Chương 2 KHẢO SÁT NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CHUYỂN TẢI THÔNG TIN

CỦA CÁC TỜ BÁO ẢNH TRONG DIỆN KHẢO SÁT

2.1 Các nội dung chính được đề cập

2.1.1 Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho đồng bào

- Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo nhằm giúp đồng bào dân tộc khmer ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thoát khỏi sự nghèo đói và được các địa phương tích cực triển khai thực hiện, bao gồm các chủ trương chính sách dưới đây:

- Chính sách trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu, trong đó có hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, góp phần cải thiện đời sống trước mắt cho hộ nghèo, đồng thời giúp hộ nghèo phát triển sản xuất

- Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn… góp phần cải thiện đời sống của hộ nghèo

Minh chứng như số báo song ngữ 260 phát hành ngày 25/10/2020 của Báo ảnh Đất Mũi ở trang 3 có bài viết “ Gửi nguyện vọng của đồng bào đến Đại hội” Theo

đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã diễn ra từ

26 – 28/10/2020 Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số, gửi trọn niềm tin và kỳ vọng vào sự thành công của Đại hội mở ra một giai đoạn mới phát triển nhanh và bền vững cho tỉnh nhà Trước thềm đại hội, báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt – Khmer ghi nhận tâm tư, nguyện vọng của Đại biểu tham dự Đại hội là người Dân tộc thiểu số Bài báo đã phỏng vấn Đại biểu

Lê Thị Nhung ( dân tộc Tày), Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Trần Văn Thời với nội dung chính là “ Cần quan tâm hơn nữa các chính sách và chương trình mục tiêu Quốc gia đối với đồng bào dân tộc” Đại biểu thứ 2 này được phỏng vấn là Đại biểu Triệu Quang Lợi ( dân tộc Khmer), Tỉnh ủy viên – Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau với nội dung “ Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng tốt hơn”…Đây là kênh để đồng bào dân tộc gửi gấm tâm tư tình cảm của đại biểu, người dân gửi đến đại hội

Trang 30

Còn ở trang 24, Báo ảnh Việt Nam số 0866 phát hành tháng 12/2020 có bài viết: “ ASEAN – JAPAN COOPPERRATION FOR PROSPERITY” tạm dịch là Hợp đồng ASEAN – NHẬT BẢN vì sự thịnh vượng Bài viết ghi nhận những tiềm năng, lợi thế của Nhật Bản – đây là tiềm năng cho sự phát triển cho các nước trong khối ASEAN trong đó có Việt Nam; bài viết cũng có những hình ảnh ghi nhận, đặc biệt là hình ảnh Thủ tướng Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tiếp Người đồng cấp Nhật Bản Suga YOshihide trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau hội đàm

Từ hai ví dụ này, dễ dàng để thấy, quy mô và sức lan tỏa của hai tờ báo ảnh trong diện khảo sát có sự chênh lệch nhất định Đối với tờ Báo ảnh Đất Mũi do có 2 ngữ nên người đọc dễ dàng tiếp nhận hơn, đối tượng độc giả phổ biến hơn còn đối với

Trang 31

Báo ảnh Việt Nam thì “ kén” độc giả hơn do có 1 ngữ mà lại là tiếng anh, đồng bào dân tộc thiểu số khó tiếp cận hơn

Trong các bài viết mà tác giả của hai tờ báo đã thể hiện đi sâu vào phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cụ thể như: chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất; phát triển cơ sở hạ tầng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở và cộng đồng; hỗ trợ học sinh là con của hộ nghèo; hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi trường; hỗ trợ hoạt động văn hóa thông tin và trợ giúp pháp lý Chương trình

135 là chương trình hợp lòng dân, phát huy hiệu quả tích cực, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn đặc biệt khó khăn; Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt ;

Trang 32

chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long; Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo (theo Quyết định số 167/2008/ QĐTTg, ngày 12-12-

2008 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc diện hộ nghèo ở vùng khó khăn…

Ở khía cảnh này, do là tờ báo địa phương nên Báo ảnh Đất Mũi truyền tải mạnh hơn, số lượng bài nhiều hơn và dày đặt hơn trong các chuyên trang, chuyên mục trên các chuyên trang của mình

Xác định đối tượng tiếp cận của tờ Báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt Khmer là đồng bào dân tộc thiểu số nên tiêu chí đặt ra là ngắn, gọn, dễ hiểu; lấy tiêu chí hình ảnh làm chủ đạo nên đa phần các bài viết rất ngắn và hình ảnh phải đặc trưng nhất, ngay

cả tít, tựa cũng phải đơn giản, dễ hiểu Thông qua đó, người đồng bào dân tộc Khmer dễ tiếp cần, dễ học hỏi và dễ làm theo đối với những mô hình, những cách làm mà mình cho là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gian đình mình

Trang 33

2.1.2 Hướng dẫn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo

Đặc biệt, động lực kinh tế của chúng ta là con tôm cũng đã được mở ra nhiều hướng

đi mới, đi sâu vào các thị trường tiềm năng ngoài nước như Trung Quốc, UE…các bài viết đăng tài trên Báo ảnh Việt Nam mang tầm lớn lớn hơn

Đối với tỉnh Cà Mau đã, đang và sẽ vận dụng các chủ trương này vào đời sống, nhằm mang đến cho đồng bào dân tộc Khmer một cuộc sống ổn định nhất, với phương châm “ không để đồng bào dân tộc Khmer nghèo bị bỏ lại phía sau” Hiện

Cà Mau có 14 dân tộc anh em sinh sống trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm đa

số với hơn 40 ngàn khẩu tập trung nhiều ở các huyện Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình, Đầm Dơi và thành phố Cà Mau Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh, Cà Mau luôn quan tâm, ưu tiên chăm lo cho đồng bào dân tộc

Trang 34

Khmer Dưới sự lãnh đạo sâu sát của Đảng bộ tỉnh, đồng bào Khmer ở các phum sóc luôn nêu cao tinh thần đại đoàn kết dân tộc, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, chung tay xây dựng quê hương Nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đồng bào dân tộc thiểu số đã được triển khai Đặc biệt, mặt trận giảm nghèo được các cấp, các ngành thực hiện quyết liệt và hiệu quả Nhiều giải pháp thoát nghèo mang tính bền vững như: phân công đảng viên Khmer nhận đỡ đầu hộ nghèo, tặng phương tiện sản xuất, cất nhà tình thương, đào tạo nghề, tập huấn khoa học - kỹ thuật, giới thiệu những mô hình làm ăn có hiệu quả, gương người tốt việc tốt trên Báo ảnh Đất Mũi song ngữ tiếng Việt - Khmer để

bà con dễ dàng tiếp thu

Từ khi phát số đầu tiên và tháng 11 năm 2008 , phát hành 1 số/tháng, 12 trang/số báo Từ tháng 7/2010, Báo ảnh Đất Mũi đã tăng kỳ phát hành báo song ngữ Việt - Khmer lên 2 số/tháng, góp phần đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào dân tộc trong tỉnh, nâng cao nhận thức và kiến thức khoa học - kỹ thuật, giúp bà con áp dụng vào sản xuất, tuyên truyền và nhân rộng điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực Làm tốt vai trò cung cấp cấp thông tin cho bà con, là cầu nối để truyền tải những chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước đến với đồng bào

Trong bối cảnh môi trường truyền thông thay đổi, yêu cầu nâng cao chất lượng báo song ngữ để thu hút công chúng bà con Khmer là hết sức cần thiết Qua đó, góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới hiện nay là điều rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc

Ngôn ngữ bất đồng cũng là một nguyên nhân, do khó khăn trong việc học hỏi những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, mặc dù các địa phương đã mở nhiều lớp đào tạo tập huấn nhưng khả năng tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn sản xuất còn rất hạn chế Bên cạnh đó một bộ phận hộ dân tộc nghèo thiếu ý chí vươn lên thoát nghèo, đổ cho tại số phận, định mệnh; còn trông chờ ỷ lại vào sự đầu tư hỗ trợ của nhà nước …

Đồng bào Khmer trước đây cũng như hiện nay sống chủ yếu bằng nghề nông, trong đó trồng lúa nước là chủ yếu, chăn nuôi và trồng trọt hoa màu lúc nông nhàn

Trang 35

là công việc làm thêm, chưa phải là sản xuất hàng hóa, trong khi sản xuất nông, ngư nghiệp là ngành chịu nhiều rủi ro cả về thời tiết lẫn thị trường

Trình độ dân trí của đồng bào Khmer còn thấp Đa số đồng bào sản xuất nông nghiệp theo tập quán từ bao đời nay, nên việc học tập chưa được đồng bào chú trọng đúng mức Hơn nữa, nghèo cũng là nguyên nhân khiến đồng bào ít có điều kiện đầu tư cho con em mình ăn học

Một bài viết tuyên truyền về xây dựng Nông thôn mới trên Báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt Khmer

Một phóng sự ảnh về mô hình kinh tế hiệu quả trên Báo ảnh Việt Nam

Trang 36

Nhìn chung, các mô hình kinh tế, các dự án kinh doanh hiệu quả, các cách làm hay được giới thiệu đều có tính ứng dụng cao Người nông dân dễ đọc, dễ nhìn,

dễ tiếp cận và dễ áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của mình; phát triển kinh tế gia đình mình bằng chính những mô hình kinh tế học tập được Từ việc áp dụng được

sẽ tuyên truyền, phố biến rộng rãi trong cộng đồng dân cư; nhân rộng các cách làm hay có hiệu quả

2.1.3 Tuyên truyền về các vấn đề giáo dục – chăm sóc sức khỏe, y tế

Qua khảo sát, các số phát hành của báo ảnh Đất Mũi hầu như đến từng ấp, khóm có đồng bào dân tộc sinh sống còn tờ Báo ảnh Việt Nam thi ít được đưa về cơ

sở do việc hạn chế trong đối tượng độc giả tiếp cận

Theo đó ở các chuyên trang, chuyên mục của Báo ảnh Đất Mũi song ngữ đã đi sâu vào tuyên truyền về giáo dục – chăm sóc sức khỏe, y tế; nhưng đa phần là lĩnh vực văn hóa xã hội, mà cụ thể là các phong tục, lễ hội của đồng bào dân tộc Các bài viết về lĩnh vực sức khỏe, y tế còn nhiều hạn chế; chính vì thế trong những phần tiếp sau tác giả sẽ có phần kiến nghị để tác động nhằm hoàn thiện các chuyên trang, chuyên mục của hai tờ báo trong thời gian tới

Tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến đời sống trong đồng bào dân tộc Khmer: Bám sát đường lối, chủ trương chính

Trang 37

sách của Đảng, Nhà nước, phối hợp các hoạt động tuyên truyền của các ngành hữu quan, nhằm nâng cao nhận thức cho bà con đồng bào Khmer về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đặc biệt là các chủ trương chính sách về công tác dân tộc và phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số như: Nghị quyết Trung ương 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghi quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “về công tác dân tộc”, Chương trình 135, Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ gắn với các Nghị quyết, chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc của các địa phương

Nhà báo Lê Chí Bắc, Thư kí Tòa soạn Báo ảnh Đất Mũi cho biết: Các ấn phẩm song ngữ Việt – Khmer của Báo ảnh Đất Mũi đã đáp ứng được nhu cầu của độc giả trong và ngoài tỉnh trong 11 năm qua, đặc biệt là đối tượng người dân tộc Khmer, giới sư sãi, cán bộ Khmer trong và các tỉnh lân cận Hiện nay, tờ song ngữ ngày càng có chất lượng, phản ánh sâu, chân thực cuộc sống lao động, sinh hoạt của người dân Các bài viết về cơ bản được sản xuất độc lập, phóng viên đã trực tiếp xuống cơ sở lấy thông tin, chụp ảnh; bảng tiếng Việt sẽ được dịch thuật lại bảng tiếng Khmer và trình bày hai ngữ trên cùng một trang báo; đây là điểm khác biệt với các tờ báo có bảng song ngữ khác trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long cũng như cả nước Ngoài truyền tải chủ trương, đường lối, chính sách, các tờ báo của Báo ảnh Đất Mũi song ngữ còn góp phần quan trọng phổ biến kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, giúp người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đặc biệt, tờ báo song ngữ đã đưa những tin rất quan trọng như phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai, diễn biến của các đợt dịch bệnh gia súc, gia cầm, hướng dẫn bà con dân tộc Khmer trong tỉnh biết cách phòng và tránh Đặc biết là tuyên truyền hướng tới chào mứng Đại hội Đảng các cấp, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gương người tốt việc tốt

“Có thể nói những thành tựu kinh tế, văn hoá xã hội mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở tỉnh Cà Mau đạt được trong những năm qua, tờ báo ảnh Đất Mũi bảng tiếng Khmer đã góp phần không nhỏ cho thành tựu ấy, nhất là công tác xoá đói giảm nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer Tờ song ngữ đã được các tầng lớp nhân

Trang 38

dân, đặc biệt là đồng bào, sư sãi và cán bộ Khmer đồng tình hưởng ứng và khen ngợi” Nhà báo Lê Chí Bắc nhấn mạnh thêm

Các tờ báo của các địa phương phát hành các ấn phẩm báo để phổ biến, tuyên truyền thông qua các bài báo được đầu tư xây dựng, những mô hình sản xuất kinh doanh giỏi, những gương “người tốt, việc tốt” của nông dân Khmer và các dân tộc anh em khác trên địa bàn Tuyên truyền các buổi sinh hoạt chi hội, câu lạc bộ nông dân, các phum, sróc, các cụm dân cư, các hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, sinh hoạt văn hóa cộng đồng Giáo dục truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc anh

em chung sống trên địa bàn, cùng nhau thực hiện tốt qui ước trong phum sóc, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Phân tích cho đồng bào hiểu rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc, nhất là các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa từ đó làm rõ âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước ta và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Đặc biệt là các nội dung tuyên truyền về bình đẳng giới, truyền thông sức khỏe sinh sản cho phụ nữ và trẻ em đã được quan tâm, chú trọng

Một phóng sự ảnh, phác họa ký chân dung trên Báo ảnh Việt Nam

Trang 39

Từ những tấm gương, những điểm hình tiên tiến được nêu gương trong cộng đồng

sẽ là những bài học, những động lực để nhiều người phấn đấu; đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái đồng bào dân tộc Khmer; bởi vì không có cách tuyên truyền nào nhanh, thiết phục và hiệu quả hơn bằng những gương người tốt việc tốt; những câu chuyện

kể của nhân vật sẽ là một bài học quý cho người cảm nhận

Một phóng sự ảnh tuyên truyền về an toàn giao thông tại một trường Dân tộc

Nội trú trên Báo ảnh Đất Mũi song ngữ Việt Khmer

Qua các hoạt động tuyên truyền như thế này, từ những cái gần gũi nhất, người nghe

dễ tiếp nhận hơn, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái; các đoàn trường còn linh động, lồng ghép vào đó tuyên truyến kiến thức về sức khỏe sinh sản, bạo lực học đường… góp phần vào công tác đảm bảo an sinh xã hội

Trang 40

2.1.4 Tuyên truyền về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào

Một số phong tục, tập quán của đồng bào Khmer cũng gây cản trở cho hoạt động sản xuất Đồng bào Khmer có hệ thống lễ hội rất phong phú, đặc sắc, nhưng những lễ hội này số lượng ngày tổ chức lớn cũng làm cho hoạt động sản xuất gián đoạn Hơn nữa, do ảnh hưởng của Phật giao Nam tông, đồng bào Khmer thường có tâm lý thiên về đời sống tinh thần hơn đời sống vật chất, điều này cũng có những mặt tích cực nhưng mặt tiêu cực chính là vì xem đời sống thực là cõi tạm và luôn hướng về tương lai là cõi niết bàn nên cũng phần nào ảnh hưởng đến ý chí, nỗ lực vươn lên làm giàu của đồng bào Khmer

Các tờ báo địa phương căn cứ vào đặc điểm truyền thống văn hoá của đồng bào dân tộc Khmer để có các hình thức tuyên truyền phù hợp Cụ thể như: Báo ảnh Đất ảnh Đất Mũi song ngữ Việt – Khmer thường xuyên xây thực hiện các nội dung tuyên truyền về các chính sách, pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các cuộc thi hội diễn văn nghệ, thể thao, tết cổ truyền Chol chnăm Thmây, lễ hội Đôlta; Đặc biệt tuyên truyền phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Nhìn chung công tác tuyên truyền của các tờ báo đều mang tính định hướng thông tin cao, đã góp phần nâng cao nhận thức của dồng bào dân tộc Khmer về sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, động viên cổ vũ tinh thần tự lực, tự cường dân tộc, vượt qua khó khăn, thử thách, phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, vùng dân tộc Khmer ngày càng khởi sắc

Truyên truyền chủ trương chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc: Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất Đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc nhất quán xuyên suốt quá trình hoạch định chính sách dân tộc của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, phát huy sức mạnh truyền thống và hiện đại ; sức mạnh tinh thần và vật chất ; tài nguyên, tiền vốn và đặc biệt là sức mạnh của con người Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm đoàn kết trong Đảng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân và đoàn kết quốc tế Đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại ngày nay không chỉ dựa trên cơ sở thống nhất lợi ích chung là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà còn phải biết

Ngày đăng: 22/04/2021, 13:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w