1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá

72 117 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, thời điểm chuyển rủi ro là vấn đề tác động trực tiếp đến mục tiêu lợi nhuận của các bên khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, các bên tham gia phải nắm bắt được quy định ph

Trang 1

NGUYỄN THỊ TUYẾT LAN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

Trang 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

“Tôi cam đoan: Luận văn Thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Trí Hùng, đảm bảo tính trung

thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết Lan

Trang 5

MỤC LỤC

Phần mở đầu 1

Chương 1 Những vấn đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1 Khái quát về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1 Khái niệm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1.2 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro 9

1.1.1.3 Bản chất pháp lý của chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 13

1.1.1.4 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa 14

1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa 18

1.2 Các rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa 22

1.2.1 Các rủi ro và phân loại rủi ro 22

1.2.2 Sự cần thiết của quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 30

Kết luận Chương 1 33

Chương 2 Thực trạng quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa và đề xuất hoàn thiện pháp luật 34

2.1 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định 35

2.2 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định 46

2.3 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển 50

2.4 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển 54

2.5 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong các trường hợp khác 58

Kết luận Chương 2 63

KẾT LUẬN CHUNG 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập và phát triển kinh tế đã và đang là xu thế chung nổi bật của các nước trên thế giới Việt Nam cũng là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập với

là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Theo đó, có thể đánh giá kết quả, thành tựu hội nhập quốc tế của nước ta trên một số mặt chủ yếu như sau: Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế: WTO, ASEAN, APEC, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) để thiết lập các Khu vực thương mại tự do Phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến trình đàm phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực Việc gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980) đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia các điều ước quốc tế đa phương

về thương mại và tăng cường mức độ hội nhập, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệp Việt Nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng, an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của mình Hội nhập giúp Việt Nam có nhiều cơ hội trong hợp tác, đầu tư nhưng cũng đồng thời đem lại cho chúng ta nhiều thách thức Nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, quá trình này mang lại cho chúng ta nhiều tích cực như tạo điều kiện thuận lợi trong thị trường xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tận dụng được kỹ thuật khoa học và công nghệ tiên tiến để vận dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Bên cạnh những mặt tích cực

do quá trình hội nhập mang lại còn có những khó khăn cho nền kinh tế nước ta, đặc

1 Lâm Quỳnh Anh, “Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”,

Trang 7

biệt là trong việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa Cụ thể, hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình sản xuất hàng hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội, đồng thời hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổ sung và hoàn thiện thể chế Những thách thức này đòi hỏi chúng ta phải có sự am hiểu thấu đáo về kinh tế thế giới, nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật có liên quan đến kinh tế và thương mại Do đó, yêu cầu đặt ra cho pháp luật của mỗi quốc gia cần có những thay đổi phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, hướng tới góp phần thực thi pháp luật quốc tế cả về nội dung lẫn hình thức Theo đó, phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất cả các thành phần kinh tế, không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập Đặc biệt, ngày 18/12/2018, Việt Nam trúng cử thành viên Ủy ban Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) cũng tạo cơ hội cho Việt Nam trong việc tăng cường tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế để hoàn hiện khuôn khổ pháp luật trong nước theo hướng phù hợp với chuẩn mực chung, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, vì mục tiêu phát triển bền vữngViệt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng Vì vậy, Việt Nam phải tiến hành những sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho các quan hệ kinh tế hình thành và phát triển

Cùng với quá trình hội nhập thì hoạt động mua bán hàng hóa cũng diễn ra ngày càng rộng rãi, có sự phát triển mạnh mẽ Khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, một trong những vấn đề mà các bên hết sức quan tâm là khi nào rủi ro được chuyển giao, trách nhiệm của các bên đối với rủi ro được xác định như thế nào Luật Thương mại

2005 đã có nhiều quy định mới và khác so với Luật Thương mại cũ về thời điểm chuyển rủi ro, vì vậy việc tìm hiểu các nội dung này là điều rất cần thiết

Hoạt động thương mại thường gặp rất nhiều rủi ro, đặc biệt là trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Do đó, một trong những vấn đề quan trọng của các doanh nghiệp trong hợp tác làm ăn với đối tác, đặc biệt là với đối tác nước ngoài là phải có sự hiểu biết và nắm bắt được các quy định của pháp luật thương mại cũng như các tập quán thương mại quốc tế Cụ thể, trong hoạt động mua bán hàng hóa, thời điểm chuyển rủi

ro đối với hàng hóa là nội dung cơ bản hết sức quan trọng mà các thương nhân phải nắm bắt được trong quá trình làm ăn, hợp tác Rủi ro là điều mà các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hóa không mong muốn, đó là sự mất mát, hư hỏng của hàng hóa xảy ra bất kỳ lúc nào, ngoài ý chí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng

Trang 8

Vì vậy, việc làm rõ nội dung của thời điểm chuyển rủi ro là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý và thực tiễn

Như vậy, hội nhập kinh tế dẫn đến hoạt động mua bán tiềm ẩn nhiều rủi ro; hội nhập kinh tế phát sinh yêu cầu bổ sung, hoàn thiện pháp luật, tạo khung pháp lý cho các quan hệ kinh tế hình thành, phát triển Đồng thời, thời điểm chuyển rủi ro là vấn đề tác động trực tiếp đến mục tiêu lợi nhuận của các bên khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, các bên tham gia phải nắm bắt được quy định pháp luật về chuyển rủi ro để hạn chế rủi ro trong kinh doanh Hơn thế nữa, Luật Thương mại 2005 sau thời gian dài áp dụng cần được nhìn nhận lại xem có bất cập gì cần phải giải quyết trong mối quan hệ với các văn bản khác cũng như trong sự phù hợp với thực tiễn

Với những lý do trên, đề tài “Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong

hoạt động mua bán hàng hóa” là cần thiết và cấp bách.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa đã được các luật gia, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu thể hiện qua các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng như được thể hiện qua các sách chuyên khảo, các luận văn Thạc

sĩ, có thể kể đến như:

Bài viết “Các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005” đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11(260)/2013 của tác giả Bùi Huyền Bài viết xem xét các trường hợp chuyển rủi ro phát sinh khi chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa có thỏa thuận, bao gồm: Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng có địa điểm giao hàng xác định và không có địa điểm giao hàng xác định; chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng

để giao mà không phải là người vận chuyển và chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa trên đường vận chuyển Tác giả bài viết chỉ mới phân tích nội dung cơ bản quy định pháp luật của một số trường hợp chuyển rủi ro, có liên hệ Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Incoterms 2010 nhưng chưa đầy đủ Theo đó, tác giả sẽ kế thừa những nội dung mà bài viết đã đề cập, đồng thời phân tích sâu, bao quát các trường hợp chuyển rủi ro để đưa ra được giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật

Sách chuyên khảo “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” của các tác giả Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ, Nguyễn Văn Luyện của nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2016; “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức

Trang 9

năm 2014 Các tác giả đã phân tích, làm rõ quy định pháp luật về các trường hợp chuyển rủi ro; đồng thời cũng đã chỉ ra được một số điểm bất hợp lý trong các quy định này Trên cơ sở đó, bằng luận văn này tác giả sẽ làm rõ hơn các vấn đề pháp lý đặt ra và đề xuất giải pháp hợp lý đối với quy định hiện hành về các trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Sách chuyên khảo “Luật Kinh tế” của tác giả Nguyễn Thị Dung và tập thể giảng viên bộ môn Luật Thương mại Đại học Luật Hà Nội của nhà xuất bản Lao Động năm 2017 Các tác giả đã khái quát một cách ngắn gọn về các trường hợp chuyển rủi

ro đối với hàng hóa, đồng thời cũng có so sánh quy định chuyển rủi ro đối với hàng hóa/tài sản giữa Luật Thương mại 2005 với Bộ luật Dân sự Trên cơ sở đó, luận văn

sẽ đi sâu phân tích nhằm làm rõ hơn những vấn đề này

Luận văn Thạc sĩ Luật “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa” của tác giả Phan Văn Mạnh thực hiện tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Luận văn đề cập vấn đề khái quát về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa, đồng thời cũng chỉ ra một số bất cập, giải pháp trong thực trạng và định hướng hoàn thiện pháp luật về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa Tuy nhiên, với đề tài này thì tác giải tập trung làm rõ những vấn đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa, chỉ ra được chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa khác gì với chuyển rủi ro trong mua bán tài sản Đồng thời, phát triển một cách đầy đủ hơn những vấn đề bất hợp lý cũng như giải pháp đặt ra đối với quy định về vấn đề này

Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam” của tác giả Đinh Ngọc Tuấn thực hiện tại Trường Đại học ngoại thương năm 2004 Luận văn đã làm rõ vấn đề lý luận chung

về rủi ro, tác giả sẽ kế thừa những điều này để làm sáng tỏ những vấn đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Từ những nghiên cứu trên, tác giả chưa tìm thấy có công trình nghiên cứu nào

đề cập một cách toàn diện và đầy đủ về nội dung “Quy định pháp luật về chuyển rủi

ro trong hoạt động mua bán hàng hóa” Đồng thời, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm thì vấn đề này được nhìn nhận dưới những góc độ, khía cạnh khác nhau phù hợp với bối cảnh xã hội nên việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 10

Luận văn nhằm mục đích đưa ra đề xuất đóng góp hoàn thiện quy định của pháp luật thương mại về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Bên cạnh đó, luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra các giải pháp thống nhất phù hợp với thông lệ quốc tế và tổ chức thực hiện pháp luật về chuyển rủi

ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:

Làm rõ những vấn đề cơ bản về rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý về thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005, qua đó có so sánh về thời điểm chuyển rủi ro giữa Luật Thương mại 2005 với Công ước Viên năm

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tập quán thương mại quốc tế Incoterms

2010 Từ đó, đánh giá nội dung những quy định của Luật Thương mại 2005 cũng như khả năng áp dụng của các điều khoản này vào thực tiễn; tìm ra những điểm hạn chế của Luật Thương mại 2005 để đề xuất bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định này

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề khái quát về rủi ro, thời điểm chuyển rủi

ro Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa chứ không phải với tất cả tài sản theo quy định của Luật Thương mại 2005

Tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa thông thường chứ không đề cập đến các vấn đề hoạt động mua bán hàng hóa qua

Sở giao dịch hàng hóa, bởi lẽ sẽ có những quy chế khác so với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường để phù hợp với những đặc trưng riêng của nó

Nội dung về thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa được nghiên cứu chủ yếu theo Luật Thương mại 2005, tuy nhiên ở một số nội dung cần thiết, các quy định của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Incorterms

2010 về cùng vấn đề cũng được đề cập

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:

Trang 11

Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Đây là hai phương pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong đề tài Thông qua hai phương pháp này, tác giả làm rõ các vấn đề mang tính chất lý luận, các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa Ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng cho mục đích tổng kết, khái quát các kết quả của quá trình nghiên cứu đề tài

Phương pháp so sánh luật được sử dụng ở các tiểu mục của Chương 2 để so sánh và đối chiếu các quy định của Luật Thương mại 2005 với Công ước Viên năm

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Incoterms cũng như liên hệ pháp luật nước ngoài Qua đó, tác giả đánh giá những quy định tương đồng và có sự tham khảo, học hỏi những quy định tiến bộ nhằm gợi mở và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Phương pháp phân tích luật sử dụng ở các tiểu mục của Chương 2 nhằm đánh giá quy định thực định của Luật Thương mại 2005 về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT

ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái quát về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt đông mua bán hàng hóa

Rủi ro, theo nghĩa chung nhất được hiểu là điều không tốt, không may bất ngờ xảy đến Đây là cách hiểu thông thường nhất Những gì được coi là rủi ro luôn mang lại những điều mà con người không mong muốn

Rủi ro là một thuộc tính bất ổn định của môi trường kinh doanh bao gồm tất

cả những sự kiện có thể dẫn đến thua lỗ hoặc thiệt hại Trong vô vàng nguy cơ dẫn đến thua lỗ, rủi ro thường là những nguy cơ có thể ngăn chặn, né tránh hoặc giảm

một lần xe lăn bánh đều tiềm ẩn đủ loại nguy cơ thua lỗ: từ hỏng hóc dọc đường, mưa bão, lũ lụt, hỏa hoạn, vi phạm luật lệ, cho tới tai nạn va đập Trong vô số những nguy

cơ thua lỗ đó, những nguy cơ nào có thể phòng hoặc hạn chế, khắc phục được hậu quả thì được gọi là rủi ro, ví dụ hỏng hóc kĩ thuật và va đập là rủi ro vì chủ xe có thể mang theo phụ tùng thay thế hoặc mua bảo hiểm để hạn chế thiệt hại từ các tình huống

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung các nghiên cứu về rủi ro

có thể chia thành hai trường phái: trường phái truyền thống và trường phái hiện đại

Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là tổn thất, mất mát, cụ thể là

sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút về lợi nhuận thực tế thu được so với lợi nhuận

đã dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển

Theo đó, khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với việc chủ thể tiếp nhận nó phải chịu một thiệt hại nhất định Rủi ro gắn với khả năng xảy ra một biến cố không thể lường

Trang 13

trước, biến cố mà ta không mong muốn và hoàn toàn không biết chắc Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế hay rủi ro là sự không thể lường trước được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với kết quả dự đoán

Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro là

sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi, rủi ro

là một tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên có thể đo lường được xác suất Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết

Theo đó, rủi ro có tính hai mặt, nó vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu

những lợi ích, những cơ hội cho con người Vì vậy, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro thì ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro

Như vậy, rủi ro là một sự kiện xảy ra bất ngờ, gây nên những tổn thất cho con người và tồn tại khách quan Trong hoạt động mua bán hàng hóa rủi ro rất đa dạng và phức tạp Đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế, những rủi ro có tính đa dạng, phức tạp hơn với mức độ nghiêm trọng hơn so với những rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh

đầy đủ những đặc điểm cơ bản như bất kỳ một loại rủi ro nào Rủi ro đối với hàng hóa chính là những mất mát hay tổn thất đối với hàng hóa Sự mất mát của hàng hóa bao gồm các trường hợp hàng hóa không thể được tìm thấy, đã bị đánh cắp hoặc đã được chuyển giao cho người khác Sự tổn thất của hàng hóa bao gồm hàng hóa bị phá hủy toàn bộ, sự hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và sự thiếu hụt số lượng của

số trường hợp rủi ro khác ngoài sự mất mát hay tổn thất hàng hóa như sự chậm trễ của nhà chuyên chở sau khi người bán chuyển hàng hóa cho người chuyên chở, hay các quy định của chính phủ cấm kinh doanh các mặt hàng mà hai bên mua bán vẫn

5 Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (4), tr 30

6 “Rủi ro”, https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%A7i_ro , truy cập ngày 10/5/2019

7 Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018), Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế, tr 8

8 Điều 66 Công ước Viên 1980

9 Trường Đại học ngoại thương – Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2016), 101 câu hỏi – đáp về Công

ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Nhà xuất bản thanh niên, tr 176

Trang 14

Hoạt động mua bán hàng hóa là hình thức quan trọng và phổ biến nhất trong hoạt động thương mại Hoạt động mua bán hàng hóa có vai trò lớn đối với nền kinh

tế của mỗi quốc gia Rủi ro trong mua bán hàng hóa thường dễ nhận thấy và được con người quan tâm nhiều nhất Bởi vì, trước hết kinh doanh là một hoạt động mang lại lợi nhuận cho các chủ thể và lợi nhuận chính là động lực thúc đẩy các chủ thể không ngừng phát triển hoạt động của mình Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng thường có nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng và làm gia tăng bất trắc Những bất trắc thường xuyên xảy ra trong môi trường kinh doanh dẫn đến những sai lệch bất lợi so với kết quả dự tính hay mong chờ Khác với một số rủi ro thông thường khác, rủi ro trong mua bán hàng hóa thường rất cụ thể

và có thể đo lường được Sở dĩ như vậy là vì, khái niệm rủi ro trong mua bán hàng hóa gắn với lợi nhuận và nhiều khi các chủ thể chấp nhận sự mạo hiểm cùng với khả năng xảy ra rủi ro cao để có lợi nhuận kỳ vọng lớn Rủi ro trong mua bán hàng hóa đồng thời cũng rất đa dạng và phức tạp bởi nó chịu nhiều tác động, không những từ nhân tố khách quan bên ngoài mà còn chính từ nội bộ các chủ thể tham gia, từ chính nền kinh tế trong nước

Tóm lại, rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là một vấn đề hết sức quan trọng cần phải quan tâm tìm hiểu Từ cách hiểu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm

rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau: Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa là sự mất mát, hư hỏng ảnh hưởng tới giá trị hàng hóa Đây là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng và có thể lường trước được

Trong quá trình mua bán hàng hóa, các chủ thể có thể gặp phải rất nhiều rủi ro

và một trong những cách thức để các chủ thể giảm nhẹ tổn thất là chuyển dịch rủi ro

1.1.1.2 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro

Rủi ro là gì và bên nào sẽ phải chịu trách nhiệm về nó là một vấn đề rất phức tạp mà cả hai bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều quan tâm Lý do là vì tính chất đặc thù của vấn đề này có thể dẫn đến những hệ quả khó khăn, thậm chí không công bằng và dẫn đến việc người mua vẫn bị buộc phải trả tiền cho hàng hóa ngay cả khi họ không đánh mất hay gây thiệt hại cho hàng hóa bởi một sự kiện hay nghĩa vụ liên quan đến mình Bởi vậy, để tránh những hệ lụy đó, các bên thường đưa ra những thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng Mối bận tâm chính của các bên là sự chuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua và liệu có trường hợp nào có thể loại trừ hậu quả của việc chuyển dịch rủi ro

Trang 15

Chuyển dịch rủi ro là một trong những cách thức để các chủ thể giảm nhẹ tổn thất Nếu các bên tham gia hợp đồng tự định liệu cách thức ngăn chặn và phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro thì người ta thường nói đến phân chia rủi ro Luật pháp can dự vào quá trình này bằng các quy tắc bắt buộc hoặc quy tắc mặc định (khi các bên không có thỏa thuận mới áp dụng các quy tắc này) – sự can thiệp này thường được gọi là phân bổ rủi ro bởi pháp luật Công ước Viên 1980 và luật pháp một số nước, trong đó có nước ta, dùng khái niệm “chuyển giao rủi ro”, nhấn mạnh sự chuyển

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán và người mua là hai chủ thể của hợp đồng, đồng thời là hai chủ thể gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa Do đó, sự chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển dịch trách nhiệm về việc gánh chịu tổn thất của hàng hóa từ người bán sang người mua Khi đó, người mua vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho số hàng hóa bị mất mát hoặc bị hư hỏng Tuy nhiên, cũng có thể buộc người bán chịu trách nhiệm đối với những tổn thất của hàng hóa nếu chứng minh được sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa do hành vi thiếu trách nhiệm của người bán gây ra

Ngoài ra, sự chuyển dịch rủi ro còn có thể diễn ra giữa người bán hoặc người mua cho người vận chuyển hàng hóa, vì trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc biệt

là mua bán hàng hóa quốc tế, phần lớn việc giao hàng thông qua người vận chuyển,

nhiên, do hợp đồng vận chuyển được ký kết độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa

và người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm nếu họ có lỗi trong quá trình chuyên chở cho nên trong hợp đồng mua bán hàng hóa không đề cập đến sự chuyển dịch rủi ro từ người bán hoặc người mua sang người vận chuyển mà chỉ đề cập đến sự chuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua

Từ lúc thiết lập hợp đồng mua bán cho đến khi có sự chuyển giao thực tế cho người mua, hàng hóa có thể phải chịu mất mát hoặc hư hại tại rất nhiều thời điểm, bởi vì hai hoạt động này có thể diễn ra cùng thời điểm nhưng cũng có thể có một khoảng thời gian rất dài giữa hai sự kiện này Trong suốt quá trình đó, luôn luôn tồn tại khả năng hàng hóa bị mất mát hoặc hư hại do những lý do đột ngột mà không ai mong muốn Kết quả là hàng hóa có thể bị hao hụt, hư hại (khi chúng được đóng gói

10 Phạm Duy Nghĩa, tlđd (2), tr 400

11 Nguyễn Thị Tuyết Lan (2017), Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại

2005, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 17

Trang 16

tại kho hàng của người bán, trên đường tới cảng nơi chúng được xuất đi hoặc trong suốt chuyến vận tải đường biển hoặc từ cảng nhập khẩu đến kho của người mua) Câu hỏi đặt ra là khi nào rủi ro được chuyển dịch sang cho người mua Việc xác định được câu trả lời cho câu hỏi đó có ý nghĩa quyết định rằng bên nào sẽ phải trả tiền cho những thiệt hại đó ngay cả khi bên đó chưa nhận được hàng hoặc nhận được hàng hóa trong tình trạng bị hỏng

Như vậy, khi nói đến chuyển rủi ro, điều các bên hết sức quan tâm là thời điểm

mà trách nhiệm gánh chịu tổn thất của hàng hóa được chuyển giao, đó là thời điểm chuyển rủi ro Thời điểm chuyển rủi ro là một điểm mốc mà sau đó rủi ro đối với hàng hóa được chuyển giao từ người này sang người khác Có thể rút ra khái niệm

“thời điểm chuyển dịch rủi ro trong mua bán hàng hóa là một mốc thời gian cụ thể, nhằm xác định được rủi ro đã được chuyển dịch từ bên bán sang bên mua, theo đó các bên sẽ dựa vào cột mốc này để phân định quyền và nghĩa vụ của mình khi có rủi

Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa luôn được quan tâm vì trên thực tế,

có những rủi ro có thể lường trước nhưng không thể nào lường trước hết mọi rủi ro

và khi đó rủi ro xảy ra thì tất yếu dẫn đến thiệt hại cho hàng hóa cũng như các bên liên quan Lúc này việc xem xét trách nhiệm chịu rủi ro thuộc về bên nào có ý nghĩa hết sức quan trọng Vì vậy, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia Nhìn chung, pháp luật của các nước đều quy định thời điểm này do các bên thỏa thuận và các quốc gia quy định về

Quan điểm thứ nhất: quan điểm của các quốc gia áp dụng nguyên tắc của luật

La Mã cổ đại – Perculum est emptoris như Thụy Sỹ, Hà Lan, Nhật Bản và một số nước ở châu Mỹ La Tinh Theo nguyên tắc này, rủi ro được chuyển từ người bán sang người mua từ thời điểm ký kết hợp đồng mà không phụ thuộc vào việc quyền sở hữu đối với hàng hóa đã chuyển giao cho người mua vào thời điểm đó hay chưa Việc quy định như vậy không phù hợp với thực tiễn, có thể dẫn đến trường hợp người mua chưa nhận được hàng, chưa sở hữu hàng hóa đã phải gánh chịu rủi ro Bởi lẽ, đối với phần lớn các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vào thời điểm hợp đồng được ký kết, hàng hóa vẫn nằm trong tay người bán, nằm trong tầm kiểm soát của họ Nếu

12 Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tlđd (7), tr 8

13 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (11), tr 18

Trang 17

người mua phải chịu rủi ro từ thời điểm giao kết hợp đồng thì điều này là khó chấp nhận, bởi vì người mua có thể lập luận rằng người bán đã không thực hiện nghĩa vụ một cách cần thiết, từ đó sẽ dẫn đến những tranh chấp nghiêm trọng và tranh tụng

Quan điểm thứ hai: quan điểm của các nước áp dụng nguyên tắc rủi ro do chủ

sở hữu chịu - Res perit domino (như nước Anh) Nguyên tắc này quy định rủi ro đối với hàng hóa được chuyển sang người mua đồng thời với việc chuyển quyền sở hữu Nhưng thời điểm chuyển quyền sở hữu theo pháp luật của các quốc gia đó lại được xác định khác nhau Việc quy định như vậy có phần không phù hợp vì quyền sở hữu không phải lúc nào cũng gắn với hoặc liên quan đến khái niệm rủi ro Hơn nữa, quan điểm này không lý giải được những thông lệ mới nhất trong mua bán hàng hóa với việc giữ lại quyền sở hữu, đó là những trường hợp mà người bán vẫn giữ quyền sở hữu trong khi người mua nắm giữ hàng hóa trên thực tế Điều này có nghĩa rằng, người bán sẽ chịu rủi ro đối với hàng hóa đã nằm dưới sự quản lý của người mua (cho đến khi quyền sở hữu được chuyển giao cho người mua) Hệ quả này khó mà chấp nhận được đối với người bán, do vậy dễ dàng nảy sinh việc kiện tụng

Quan điểm thứ ba: quan điểm của một số nước khác như Nga, Đức, … xác định thời điểm chuyển dịch rủi ro trùng với thời điểm giao hàng, điều này có nghĩa là bên nào quản lý hàng hóa trên thực tế sẽ phải chịu rủi ro Quan điểm này tỏ ra hợp lý

và công bằng hơn cả bởi lẽ bên nào chiếm hữu thực tế hàng hóa sẽ ở một vị thế tốt hơn để bảo vệ chúng, thực hiện những biện pháp phòng ngừa cần thiết để đảm bảo cho sự an toàn của hàng hóa, hoặc tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo vệ chúng sau khi sự kiện gây thiệt hại đã xảy ra, thu gom những hàng hóa còn nguyên vẹn, đánh giá thiệt hại và yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm nếu hàng hóa đã được mua bảo hiểm

Xét thấy rằng, hai vấn đề chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong khoa học pháp lý thuộc hai phạm trù khác nhau, đó là phạm trù vật quyền và phạm trù trái

điểm chuyển rủi ro cũng là hai vấn đề quan trọng của hợp đồng Trong đó thời điểm chuyển quyền sở hữu là vấn đề thuộc phạm vi vật quyền nhằm xác định quyền sở hữu của ai, còn thời điểm chuyển rủi ro thuộc phạm vi trái quyền được sử dụng để phân định trách nhiệm gánh chịu thiệt hại, mất mát đối với hàng hóa của các bên Xác định

rõ được thời điểm này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng

14 Nguyễn Ngọc Lâm (2007), Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Phương Đông, tr 22

Trang 18

Đối với Việt Nam, trước đây, Luật Thương mại 1997 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu trùng với thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa, theo đó người mua phải chịu rủi ro đối với hàng hóa trên đường vận chuyển kể từ thời điểm quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua nếu không phải

phù hợp, bỡi lẽ trên thực tế quyền sở hữu không phải lúc nào cũng gắn với hoặc liên quan đến khái niệm rủi ro, không phải lúc nào quyền sở hữu đối với hàng hóa cũng được chuyển từ người bán sang người mua khi người bán thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng của mình Hơn nữa, trong một chừng mực nhất định, điều khoản này vi phạm nguyên tắc “tự do hợp đồng” của các bên trong việc xây dựng các quy định về

dụ, theo hợp đồng bán CIF, Incoterms 2000 thì người mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hàng hóa được giao cho người vận chuyển còn quyền sở hữu đối với hàng hóa chỉ được chuyển từ người bán sang người mua tại thời điểm người bán giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho người mua, bởi lẽ khi nào người bán còn giữ vận đơn chứng

từ thì khi đó họ còn có quyền định đoạt số phận của hàng hóa Vì vậy, đến Luật Thương mại 2005 quy định thời điểm chuyển rủi ro do các bên thỏa thuận, pháp luật chỉ can thiệp khi các bên không có sự thỏa thuận Đây là điều vô cùng quan trọng trong hoạt động mua bán hàng hóa, trong nền kinh tế thị trường khi mà việc mua bán ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích kinh doanh của chính các bên trong hợp đồng Theo đó, khi các bên không có thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro thì Luật Thương mại

2005 quy định thời điểm chuyển rủi ro trong các trường hợp cụ thể chứ không đưa ra một căn cứ cụ thể Tùy vào từng trường hợp sẽ có thời điểm chuyển rủi ro khác nhau nhưng các quy định về thời điểm chuyển rủi ro đều có điểm chung là không gắn thời điểm chuyển quyền sở hữu với thời điểm chuyển rủi ro

1.1.1.3 Bản chất pháp lý của chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Chuyển rủi ro là sự chuyển dịch trách nhiệm về việc gánh chịu tổn thất do rủi

ro gây ra từ người bán sang người mua Để xác định rủi ro đã được chuyển dịch từ bên bán sang bên mua căn cứ vào mốc thời gian cụ thể là thời điểm chuyển rủi ro, theo đó các bên sẽ dựa vào cột mốc này để phân định quyền và nghĩa vụ của mình khi có rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Từ thời điểm rủi ro được

15 Điều 76 Luật Thương mại 1997

16 Lê Hoàng Oanh (2007), Bình luận các vấn đề mới của Luật Thương mại trong điều kiện hội nhập, Nhà xuất

bản Tư pháp, tr 84

Trang 19

chuyển sang người mua, người mua phải chịu mọi hậu quả của việc hàng hóa bị mất mát, hư hỏng trong quá trình vận chuyển do những tình huống bất thường Mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa xảy ra sau thời điểm rủi ro được chuyển cho bên mua không giải phóng cho bên mua khỏi nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng, trừ trường hợp việc

thời điểm này nếu muốn buộc người bán phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của hàng hóa hay hàng hóa bị thiếu, người mua phải chứng minh được rằng, hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng trước thời điểm rủi ro được chuyển sang người mua

Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro được chuyển cho người mua càng sớm càng có lợi cho người bán Việc người mua không thực hiện nghĩa vụ thông báo cho người bán; dẫn đến người mua trì hoãn nhận hàng, kéo dài thời điểm chuyển rủi

ro so với quy định của hợp đồng mua bán hàng hóa là điều không thể chấp nhận được

Do đó, trong một vài trường hợp rủi ro đối với hàng hóa có thể được chuyển sớm từ người bán sang người mua Đó là khi người mua không thông báo cho người bán về người nhận hàng, về địa điểm nhận hàng khi người mua có quyền này thì sẽ dẫn đến việc di chuyển sớm rủi ro và rủi ro sẽ được di chuyển sang cho người mua kể từ ngày

trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, việc di chuyển rủi ro có thể diễn ra sớm hơn dự định thậm chí trước khi giao hàng Đây là một ngoại lệ nhằm buộc người mua phải có hành động tích cực cũng như tinh thần trách nhiệm cao trong việc thực hiện hợp đồng, tránh trường hợp người mua không chịu tiếp nhận hàng đã được giao đúng quy định hoặc không thực hiện nghiêm túc các thủ tục đã thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người bán giao hàng cho mình như không đưa ra các chỉ dẫn về thời gian, địa điểm giao hàng Lúc này, rủi ro được chuyển từ người bán sang người mua theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng chứ không phụ thuộc vào việc người mua đã nhận hàng trên thực tế hay chưa

1.1.1.4 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa

Trong hoạt động mua bán hàng hóa, lợi nhuận luôn là mục đích hàng đầu mà các bên hướng tới, cho nên một khi có sự mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra thì mục đích đó khó có thể đạt được Rủi ro là điều mà không ai mong muốn và chuyển rủi ro

17 Điều 66 Công ước Viên 1980

18 Đặng Văn Được (2006), Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại, Nhà xuất bản Lao động, tr 71

Trang 20

là một vấn đề mà cả người bán hàng và người mua hàng đều quan tâm bởi lẽ nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến việc mua bán và kết quả của giao dịch Các nguyên tắc về chuyển dịch rủi ro trả lời câu hỏi liệu người mua có buộc phải trả tiền cho hàng hóa ngay cả khi chúng vô tình bị thiếu hụt hay thiệt hại hoặc liệu người bán có quyền đòi

đủ tiền trong trường hợp đó không? Vì vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên cố gắng đưa ra những điều khoản rõ ràng để tránh những sự hiểu nhầm và

cho các bên có thể tính toán được rủi ro khi nó xảy ra và tìm biện pháp hạn chế thiệt hại do nó gây ra đến mức thấp nhất

Vì vậy, việc xác định thời điểm mà tại đó người bán không còn phải chịu trách nhiệm về rủi ro và người mua bắt đầu phải chịu rủi ro đối với hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa vừa có ý nghĩa pháp lý, vừa có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng Cụ thể, khi xác định thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng như sau:

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro giúp xác định được ranh giới trong việc phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa giữa người mua và người bán Theo đó, kể từ thời điểm rủi ro được chuyển giao, người mua phải

tự chịu trách nhiệm trong việc xem xét và áp dụng những biện pháp để hạn chế đến mức thấp nhất những mất mát hay hư hỏng có thể xảy ra đối với hàng hóa của mình

Và cũng từ thời điểm đó mọi hậu quả của việc hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản do những tình huống bất thường sẽ do người mua gánh chịu Tuy nhiên, nếu người mua chứng minh được những mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trước thời điểm chuyển rủi ro thì người mua có thể buộc người bán gánh chịu những tổn thất ấy

Ví dụ 1: Tranh chấp trong hợp đồng mua bán cà phê hạt

Công ty TNHH A (công ty A) ký hợp đồng mua của Công ty TNHH B (công

ty B) 210 tấn cà phê hạt với giá 10.000.000 đồng/tấn vào ngày 01/01/2010 Hợp đồng

có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết và công ty B sẽ giao hàng tại kho của công ty A làm 3 đợt, mỗi đợt 70 tấn trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, công ty A

sẽ thanh toán bằng chuyển khoản, ngay sau mỗi đợt nhận hàng

19 “Chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”,

Trang 21

Vào ngày 05/01/2010, sau khi đã gọi điện báo trước, công ty B giao đợt hàng đầu tiên 70 tấn Sau khi nhận hàng công ty A thanh toán cho công ty B theo giá đã thỏa thuận trong hợp đồng Ngày 07/01/2010 công ty B tiếp tục giao 70 tấn của đợt

2 Công ty A từ chối không nhận 70 tấn của đợt 2 với lý do công ty B giao hàng không báo trước nên công ty không có kho chứa hàng Ngay đêm đó mưa rất to, do không lường trước được tình huống trên, nên công ty B không có phương tiện che chắn, hậu quả 50 tấn cà phê bị ướt và hư hỏng hoàn toàn Trước sự kiện trên, công ty B cho rằng công ty A đã cố ý gây thiệt hại cho mình, nên không tiếp tục giao hàng đợt 3 Vào ngày 15/01/2010 công ty B gửi công văn cho công ty A với yêu cầu công ty A phải bồi thường thiệt hại đối với lô hàng 70 tấn của đợt 2 theo giá trị hợp đồng đã ký kết, do lỗi không nhận hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến cà phê bị mưa ướt và hư hỏng hoàn toàn

Có thể thấy rằng, một trong những vấn đề đặt ra trong tình huống này là vấn

đề xác định thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa Theo đó, ai

là chủ thể có trách nhiệm gánh chịu tổn thất, thiệt hại đối với hàng hóa bị hư hỏng?

Xét vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa để xác định trách nhiệm gánh chịu thiệt hại đối với hàng hóa trong vụ việc trên, thấy rằng:

Về thời hạn giao hàng thì theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Thương mại

2005, “trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua”

Căn cứ theo nội dung thỏa thuận trong vụ việc trên, công ty A và công ty B có thỏa thuận thời hạn giao hàng là 10 ngày chia làm 3 đợt nhưng không xác định thời điểm giao hàng cụ thể cho từng đợt giao hàng thì công ty B có quyền giao hàng bất

cứ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho công ty A Tuy nhiên, trường hợp này công ty B đã vi phạm nghĩa vụ thông báo, nên rủi ro sẽ do công ty B chịu

Cụ thể, vấn đề xác định thời điểm chuyển rủi ro từ bên bán sang bên mua trong vụ việc này thuộc trường hợp chuyển rủi ro trong các trường hợp khác theo quy định tại Điều 61 Luật Thương mại 2005 Khi các bên không có thoả thuận, mặc dù hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng nhưng rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên

20 Khoản 2 Điều 61 Luật Thương mại 2005

Trang 22

báo trước khi giao hàng của công ty B dẫn đến vấn đề rủi ro đối với hàng hóa chưa được chuyển sang cho công ty A Đồng thời, đối với trường hợp này, bên có lỗi là công ty B và việc số cà phê trên bị ướt vì nước mưa do không có chỗ để không thuộc trường hợp bất khả kháng được pháp luật quy định để có thể miễn trách nhiệm đối với hành vi Vì vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật Thương mại 2005 thì công ty B phải gánh chịu thiệt hại của rủi ro đối với lô hàng 70 tấn của đợt 2

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro giúp các bên trong hợp đồng thực hiện việc mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình Khi rủi ro xảy ra thì thiệt hại đối với hàng hóa là không nhỏ, vì vậy một khi rủi ro được chuyển giao cho bên nào thì bên đó có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa để bù đắp thiệt hại cho mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa của mình

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro cho biết địa điểm chuyển rủi ro, mà địa điểm chuyển rủi ro có vai trò trong việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng trong trường hợp hai bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng khi ký kết hợp đồng Như vậy, xác định thời điểm chuyển rủi ro góp phần xác định nguồn luật áp dụng trong một số trường hợp nhất định

Bên mua ký ba hợp đồng với bên bán mua cùng một loại sản phẩm theo những quy cách phẩm chất đã quy định trong hợp đồng Theo hợp đồng, bên mua đã thanh toán 90% giá trị mỗi hợp đồng khi nhận được bộ chứng từ gửi hàng Hàng được giao theo hợp đồng thứ nhất và thứ ba đạt đúng với quy cách phẩm chất quy định, tuy nhiên các bên đã có tranh cãi về phẩm chất hàng giao theo hợp đồng thứ hai trước khi hàng được giao lên tàu Khi tiến hành giám định lô hàng thứ hai tại cảng đến người

ta phát hiện rằng hàng không đạt quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng Cuối cùng sau khi đã gia công lại để hàng dễ bán hơn, bên mua đã phải bán lại lô hàng trên cho bên thứ ba với một khoản lỗ khá lớn Theo đó, bên mua từ chối thanh toán 10% giá trị còn lại của các hợp đồng Bên bán đã khởi kiện trước trọng tài đòi được thanh toán số tiền 10% trên Trong trường hợp này, trọng tài giải quyết vấn đề về luật áp dụng như sau: Hợp đồng được ký giữa các bên không có điều khoản về luật áp dụng Tuy nhiên, theo hợp đồng này thì luật áp dụng sẽ được xác định theo quyết định của các trọng tài viên phù hợp với Điều 13(3) của Quy tắc trọng tài của Phòng Thương

21 Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC (2002), 50 Phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia, tr 55 – 57

Trang 23

mại Quốc tế (ICC) Theo Điều này, các trọng tài viên sẽ áp dụng hệ thống luật thực chất được xác định theo quy phạm luật xung đột mà họ cho là phù hợp để giải quyết tranh chấp Trong trường hợp này, hợp đồng được ký kết giữa các bên thuộc các quốc tịch khác nhau dưới dạng FOB, theo đó thời điểm chuyển rủi ro là khi hàng hóa đã được chuyển qua lan can tàu tại cảng bốc hàng Điều này cho thấy rủi ro được chuyển cho bên mua trên lãnh thổ của bên bán Do đó, nước của bên bán được coi là nước có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng Từ đó, Ủy ban trọng tài xác định luật của bên bán là luật điều chỉnh hợp đồng giữa các bên

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro có tác động rất lớn đối với quá trình thực hiện hợp đồng giữa các bên Hợp đồng được giao kết dựa vào sự thỏa thuận bình đẳng, tự nguyện Do đó, khi thời điểm chuyển rủi ro được thỏa thuận một cách rõ ràng trong giao kết hợp đồng thì nếu có rủi ro xảy ra, việc xác định thời điểm này và chủ thể gánh chịu tổn thất sẽ dễ dàng, nhanh chóng Từ đó, quá trình thực hiện hợp đồng sẽ diễn ra suôn sẻ, tránh được những cách hiểu khác nhau dẫn đến tranh chấp làm lãng phí thời gian, tiền bạc và ảnh hưởng đến sự hợp tác giữa các bên

Việc xác định thời điểm, địa điểm giao hàng và qua đó xác định thời điểm chuyển rủi ro là cơ sở để các bên xác định giá hàng hóa Trong quan hệ giữa người bán và người mua khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, rủi ro được chuyển giao càng sớm càng có lợi cho người bán và ngược lại Theo đó, khi thời điểm chuyển dịch rủi ro diễn ra muộn, phạm vi chịu rủi ro của người bán càng lớn, người bán phải mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro đối với hàng hóa thì lúc này giá hàng hóa sẽ cao Còn trong trường hợp thời điểm chuyển dịch rủi ro xảy ra sớm, phạm vi chịu rủi ro của người bán thu hẹp, trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về người mua thì giá hàng hóa

tự nhiên như thiên tai, bão lụt, động đất, sóng thần, từ những biến cố xã hội như chiến tranh, biểu tình, bãi công hay từ những biến cố về mặt pháp lý như sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước dẫn đến hàng hóa hiện tại theo quy định của pháp luật

Trang 24

trở thành hàng hóa cấm lưu thông hoặc tàng trữ Các biến cố rủi ro là tất yếu và tồn tại khách quan, phổ biến, bởi lẽ:

Thứ nhất, rủi ro có thể xuất hiện bất cứ với ai, bất kỳ tổ chức nào và ở bất cứ đâu, trong mọi hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp

Thứ hai, do con người không đủ khả năng kiểm soát và/hoặc đo lường một cách chính xác một yếu tố là nguyên nhân của các biến cố Trong thế giới tự nhiên và trong xã hội con người có nhiều sự vật, hiện tượng mà con người chưa khám phá ra, chưa nhận biết hoặc chưa giải thích được Muốn biết được, con người phải trả lời các câu hỏi: nó là gì?, tại sao có nó?, nó xảy ra khi nào và ở đâu?, khi nó xảy ra thì có tác động đến con người như thế nào? Để trả lời những câu hỏi như vậy con người cần

có nhiều kiến thức, có sự hiểu biết đa dạng, phong phú và sâu sắc, cần phải có các nghiên cứu nghiêm túc, công phu và lâu dài về cả lý luận và thực tiễn Song thực tế cho thấy rằng ở trong một thời kỳ nhất định tri thức chung của loài người là có giới hạn không ai có thể dự đoán đầy đủ và đúng những gì sẽ xảy ra và cũng không ai có kiến thức và kinh nghiệm để giải quyết mọi công việc, mọi tình huống xảy ra

Thứ ba, do con người bị hạn chế trong việc thu thập và xử lý thông tin Thông tin có hằng ngày, thường xuyên, liên tục với mức độ đa dạng và phức tạp Mặc dù có nhiều phương tiện hiện đại và phương pháp thu thập thông tin, nhưng con người không thể nắm bắt hết tất cả các thông tin khác nhau theo đúng như mong muốn Mặt khác, việc thu thập thông tin và xử lý thông tin phụ thuộc khá nhiều vào năng lực, trình độ của người nhận tin nên với cùng dung lượng và chất lượng thông tin có người đạt được kết quả mong muốn và cũng có người không đạt được kết quả mong muốn Thậm chí, trong nhiều tình huống có những thông tin sai, gây nhiễu cho việc xử lý thông tin làm cho con người ra quyết định không phù hợp và kết cục là phải gánh chịu những tổn thất khó lường

- Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là một biến cố không mong đợi, mang tính bất ngờ vì chẳng có chủ thể nào khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa

mà mong muốn rủi ro xảy ra đối với mình, đồng thời rủi ro xảy đến một cách ngẫu nhiên và chúng ta không biết trước chính xác, rõ ràng về thời gian, địa điểm xảy ra rủi ro

- Thiệt hại mà rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa mang lại luôn là thiệt hại vật chất, đó là sự hư hỏng, mất mát đối với hàng hóa Tất

cả các điều khoản quy định thời điểm chuyển rủi ro trong Luật Thương mại 2005 đều

đề cập đến rủi ro là mất mát, hư hỏng hàng hóa, trong đó hàng hóa là tài sản bao gồm

Trang 25

tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn

- Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có tính bất

cách chính xác về mức độ của rủi ro và khi nào rủi ro xảy ra Hay nói cách khác tính

có thể lường trước được đối với rủi ro về hàng hóa trong hợp đồng mua bán không phải ở chỗ xác định chính xác các yếu tố của rủi ro về loại sự cố, mức thiệt hại, thời gian và địa điểm xảy ra rủi ro mà lường trước ở đây là sự dự trù đối với hàng hóa như vậy, chặng đường vận chuyển, đối tác như thế thì có thể xảy ra những vấn đề gì làm mất mát, hư hỏng hàng hóa và xảy ra ở mức độ nào mà thôi Như vậy, các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hóa có thể đo lường được rủi ro thông qua việc đánh giá

về mức độ tần suất và hậu quả của rủi ro Tần suất xảy ra có nghĩa là rủi ro có xảy ra hay không, nó được thể hiện bằng xác suất hoặc khả năng xuất hiện của biến cố Hậu quả của rủi ro là mỗi lần rủi ro xảy ra có lớn hay không, lớn bao nhiêu, tính chất nguy hiểm và mức độ thiệt hại như thế nào Theo đó, khi xem xét rủi ro người ta thường xem xét đến khả năng chắc chắn hay không chắc chắn xảy ra của rủi ro và mức độ

ra biện pháp để giảm thiểu rủi ro, đặc biệt đối với trường hợp rủi ro tần suất lớn và biên độ lớn Tuy nhiên, sự lường trước đó cũng chỉ mang tính ước lượng, dự đoán chứ không chính xác, rõ ràng đối với những biến cố có thể xảy đến Do vậy, rủi ro là một sự không chắc chắn về những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai

- Rủi ro trong mua bán hàng hóa có tính tương lai vì khi bàn đến rủi ro nghĩa

là nó chưa xảy ra, con người chỉ dự đoán, đo lường trước trong tương lai, ở thời điểm

ta dự báo rủi ro chưa xảy ra

- Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa là nguy cơ tiềm

đến rủi ro, người ta phải đề cập đến tính khả năng của rủi ro nghĩa là nó có thể trở thành hiện thực hoặc không, khả năng rủi ro có thể biến thành thế này hay thế khác, chỉ có thể dự đoán nó xảy ra hay không trong giới hạn thời gian và không gian, nó có

22 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005

23 Đinh Ngọc Tuấn (2004), Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập

khẩu Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học ngoại thương, tr 20

24 “Khái niệm chung về rủi ro”, https://luanvanaz.com/khai-niem-chung-ve-rui-ro.html , truy cập ngày

20/04/2019

25 Đinh Ngọc Tuấn, tlđd (23), tr 21

Trang 26

khả năng xảy ra nhưng cũng có thể không xảy ra Cụ thể, rủi ro là một sự việc, một hành động hoặc một hiện tượng có thể xảy ra và có thể gây ra những thiệt hại, điều này phụ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó Theo đó, rủi ro đối với hàng hóa phụ thuộc vào ngữ cảnh, chỉ tác động đến những chủ thể có liên quan trong hoạt động mua bán hàng hóa còn đối với chủ thể không có liên quan đến các sự kiện xảy ra thì họ không gặp rủi ro Ví dụ: sự kiện trời mưa chỉ gây rủi ro đối với các bên đang thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài trời chứ việc trời mưa này không ảnh hưởng đến những người đang ở trong nhà Nếu rủi ro không có tính khả năng thì bảo hiểm không ra đời và không ai phải lo sợ trước rủi ro

- Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, điều kiện để rủi ro đối với hàng hóa được chuyển giao từ người bán sang người mua là loại hàng hóa không đặc định phải được cá biệt hóa cho mục đích của hợp đồng Hành vi cá biệt hóa hàng hóa được quy định trong hợp đồng là việc xếp hàng hóa vào nơi riêng biệt, đóng gói, đánh dấu bằng

ký hiệu, mã hiệu hay những hành vi khác có mục đích đưa hàng hóa vào tình trạng

có thể giao cho người mua như là hàng đặc định

Tóm lại, rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có những đặc tính khách quan, bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các chủ thể, có thể lường trước được và thiệt hại nó mang lại luôn là thiệt hại vật chất Với những đặc tính như vậy cùng với sự phức tạp của hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên trong hợp đồng rất quan tâm xác định rủi ro là gì cũng như

trách nhiệm của họ đối với rủi ro Việc nghiên cứu về các đặc trưng này giúp cho các

chủ thể có cở sở rõ ràng để thống kê những rủi ro và mức độ thiệt hại của rủi ro đó cho mình, từ đó có thể đưa ra phương án để phòng tránh, giảm thiểu tổn thất của rủi

để giải phóng một hay các bên ra khỏi các trách nhiệm pháp lý hay các nghĩa vụ khi

có sự kiện, tình huống bất thường ngoài tầm kiểm soát của các bên xảy ra và sự việc

26 Sylvain Bollée, “The Theory of risks in the 1980 Vienna Sale of Goods Convention”,

Trang 27

đó ngăn cản một hay các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bất khả kháng nhằm mục tiêu bào chữa cho các

sơ suất hay hành vi phi pháp của các bên, chẳng hạn như việc không thực hiện nghĩa

vụ là do các hậu quả thông thường (ví dụ ngừng một sự kiện diễn ra ngoài trời do một trận mưa đã được dự báo) hoặc khi các hoàn cảnh can thiệp vào việc thực hiện hợp đồng đã được dự tính một cách rõ ràng Mà về mặt nguyên tắc chung, sự kiện bất khả kháng là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng, không do lỗi của các bên trong hợp đồng và là sự kiện mà các bên trong hợp đồng không thể dự đoán và khống chế được

Như vậy, bất khả kháng là sự kiện khách quan không thể lường trước, không thể khắc phục được và hậu quả pháp lý là bên gặp sự kiện bất khả kháng có thể được miễn trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc phát sinh từ hợp đồng Trong khi đó rủi ro là sự kiện có thể lường trước hoặc không, gây hậu quả cho bên gặp sự kiện rủi ro nhưng bên gặp sự kiện rủi ro không được miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà hoàn toàn gánh chịu những hậu quả bất lợi do rủi ro gây ra

1.2 Các rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.2.1 Các rủi ro và phân loại rủi ro

Mua bán hàng hoá là một trong những hoạt động thương mại, theo đó bên bán

có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu

bán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế có các bên tham gia thường là những chủ thể có quốc tịch khác nhau, có sự xa cách về mặt địa lý, sự khác biệt về truyền thống pháp luật, tập quán thương mại và chính sách kinh tế đối ngoại, có sự khác biệt về ngôn ngữ, đồng thời lại thiếu hiểu biết và sự tin cậy lẫn nhau hơn so với

định pháp luật là khó khăn, trở ngại lớn nhất của hoạt động mua bán hàng hóa, bởi lẽ pháp luật của các nước khác nhau có quy định rất khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia, khác nhau trong các quy định về hợp đồng, về thuế quan, thủ tục xuất, nhập khẩu, thậm chí thẩm quyền xét xử cũng khác nhau

27 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005

28Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng

đường biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 9

Trang 28

Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động phức tạp, nó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là vấn đề luôn được quan tâm Rủi

ro đó có thể là những sự cố như thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ, chẳng hạn trong chuyến hải trình, tàu vận chuyển có thể gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng liên quan đến tai nạn biển như tàu bị mắc cạn, cháy, chìm hoặc gặp thời tiết khắc nghiệt (bão, gió xoáy, biển động, … gây lật tàu hoặc làm vỡ thân tàu, hư hại máy móc… từ đó gây ra những tổn thất cho hàng hóa…); rủi ro do tính chất của hàng hóa (bông gòn, đay, thuốc nổ… gặp thời tiết nóng bức có khả năng tự phát cháy); rủi ro do lỗi lầm của con nguời (đóng hàng không chắc chắn, tạo ra vật cản làm rách bao hàng, bốc xếp hàng làm va đập) …

Trong quá trình mua bán hàng hóa, các doanh nghiệp có thể gặp phải rất nhiều rủi ro, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh thì những rủi ro này có thể chia thành hai nhóm

- Rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh

- Rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng hóa Nói cách khác, nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan và chủ quan:

Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người

và không thể lường trước hay kiểm soát được Đây thường là những nguyên nhân xảy

ra từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán…, rủi

ro do khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ

mô của chính phủ

Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con người

Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính trị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng hay trực tiếp nhất là hành vi của con người trong quá trình đóng gói, vận chuyển, bảo quản hàng hóa không đảm bảo gây tác động dẫn đến rủi ro trong mua bán hàng hóa

Ngoài ra, có những thiệt hại do chính hàng hóa đó tạo ra Đó là trường hợp rủi

ro xảy ra do bản chất của hàng hóa như: bột hay bị lên men, ngũ cốc hay bị mốc mọt, sắt thép hay bị rỉ sét Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra khi hàng hóa tiếp xúc với môi

29 Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tlđd (7), tr 8

Trang 29

trường bên ngoài, những hư hại này không cần có nguyên nhân bên ngoài tác động

Bên mua ký hợp đồng mua của bên bán 1000 MT ammonium sulphate Khi hàng được dỡ lên cảng chặng 2 chuyển đi thì rất nhiều bao hàng bị bục, rách trong điều kiện hết sức rồi tệ Thuyền trưởng được trao thư bảo đảm miễn mọi trách nhiệm

và xếp hàng lên tàu Bên mua nhận được hàng hóa trong tình trạng giao thiếu và bao

bì không đảm bảo làm hàng hóa bị đổ vãi Bên bán và người bảo hiểm đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nên bên mua đã kiện ra trọng tài

Giám định viên kết luận do tác động ăn mòn của ammonium sulphate nên bao

bì bị rách vỡ trong quá trình chất xếp, làm hàng Như vậy, bao bì bị hư hại do tính chất ăn mòn của hàng hóa đóng trong bao bì đó, nghĩa là tổn thất tự xảy ra do nội tì của hàng hóa Do vậy, người bảo hiểm từ chối bảo hiểm Đồng thời, Hội đồng trọng tài kết luận bên bán đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo điều kiện CIF quy định trong hợp đồng Theo đó, bên bán chỉ đảm bảo hàng hóa vào lúc xếp hàng lên tại cảng xếp hàng Ngoài ra, không chứng minh được lỗi của bên bán nên Hội đồng trọng tài bác đơn kiện của bên mua và bên bán không phải chịu thiệt hại này

Như vậy, xuất phát từ tính chất phức tạp của hoạt động mua bán hàng hóa nên các chủ thể tham gia vào hoạt động này thường gặp nhiều rủi ro khi có vô số các yếu

tố có thể nảy sinh làm cho các bên gặp phải những sự kiện ngoài dự tính và gánh chịu những thiệt hại Vì vậy, việc phân loại, phân tích các rủi ro thường gặp khi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa là rất cần thiết Điều này là nguyên tắc cơ bản giúp chúng ta vượt qua những rủi ro mà mình gặp phải, có những hành động cần thiết để giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi đến kế hoạch kinh doanh Đồng thời cũng giúp

đi đến quyết định rằng liệu những chiến lược được sử dụng để kiểm soát rủi ro có cân đối giữa chi phí và hiệu quả mang lại hay không

Như đã trình bày, có rất nhiều loại rủi ro và ngày càng xuất hiện thêm nhiều loại rủi ro mới, phức tạp hơn trước Để phân loại rủi ro người ta sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ trình bày một số cách phân loại rủi ro truyền thống

Căn cứ vào nguồn gốc rủi ro

Căn cứ vào nguồn gốc rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro động và rủi ro tĩnh

30 Trần Hữu Huỳnh (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Tư pháp, Quyết định số

32, tr 75

Trang 30

- Rủi ro động là những rủi ro luôn bắt nguồn từ sự thay đổi một yếu tố, đặc biệt là thay đổi trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hệ quả của nó có thể mang đến sự tổn thất nhưng cũng có thể có lợi Ví dụ: sự thay đổi của pháp luật dẫn đến thủ tục xuất, nhập khẩu hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán có thể dễ dàng hơn hoặc hàng hóa trở thành đối tượng cấm lưu thông

- Rủi ro tĩnh là loại rủi ro không chịu sự ảnh hưởng của những sự thay đổi trong nền kinh tế hay nói cách khác rủi ro tĩnh không bắt nguồn từ sự thay đổi của một yếu tố nào và hậu quả của nó là sự xuất hiện tổn thất hoặc ít nhất là không bị tổn thất chứ không mang lại lợi ích cho các chủ thể Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng về tài sản, con người Trong đó, rủi ro về mặt hàng hóa là một dạng rủi ro tĩnh mà các bên thường xuyên gặp phải khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa

Tóm lại, rủi ro động khi xảy ra luôn gắn liền với sự thay đổi và có thể mang lại lợi ích nên khi sự kiện rủi ro xuất hiện thì có thể không xuất hiện tổn thất, thiệt hại cho bên gặp phải sự kiện này Trong khi đó, khi gặp sự kiện nhất định có ảnh hưởng tiêu cực thì rủi ro tĩnh sẽ xảy ra nhưng không bao giờ mang lại lợi ích cho bên gặp sự kiện rủi ro Như vậy, khả năng xảy ra thiệt hại, tổn thất đối với rủi ro tĩnh cao hơn rủi

ro động Đồng thời, nguồn gốc của hai loại rủi ro này rất khác nhau, một cái là kết quả của sự thay đổi còn cái còn lại xuất phát từ những yếu tố tác động trực tiếp Do

đó, khi sử dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa các bên cần loại bỏ nguyên nhân dẫn đến rủi ro tĩnh, có biện pháp hạn chế rủi ro tĩnh còn đối với rủi ro động thì phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu kỹ các yếu tố làm phát sinh rủi ro để có quyết định mang lại hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro cơ bản và rủi

ro riêng biệt

- Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của mọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, nó tác động trên một vùng rộng lớn hay tất cả dân số, có ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn

xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, động đất

- Rủi ro riêng biệt là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách quan của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này phát sinh từ một số các hiện tượng cá biệt nên nó chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng cá nhân hoặc tổ chức Nếu xét về hậu

Trang 31

quả đối với một chủ thể thì có thể rất nghiêm trọng nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội Ví dụ: cháy nổ, bị cướp, rủi ro thanh toán, đắm tàu

Như vậy, rủi ro cơ bản có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với rủi ro riêng biệt Hơn nữa, rủi ro cơ bản lại xuất phát từ những nguyên nhân khách quan con người không thể kiểm soát, lường trước được nên đối với rủi ro cơ bản thì các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa cần tăng cường công tác dự báo rủi ro và có những biện pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu tổn thất sau khi rủi ro đã xảy ra Ngược lại, rủi

ro cá biệt thì con người có thể dự báo, lường trước được và rủi ro này tác động đến từng chủ thể nên trong trường hợp này các bên có thể phòng ngừa rủi ro bằng cách mua bảo hiểm hàng hóa trong hợp đồng

Căn cứ vào tính chất của rủi ro

Căn cứ vào tính chất của rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán

- Rủi ro suy đoán là loại rủi ro vừa có thể mang lại tổn thất nhưng cũng có thể mang lại lợi ích Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động kinh doanh Rủi ro suy đoán bao gồm rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng, rủi ro do lạm phát, rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế, rủi ro do thiếu thông

ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa

- Rủi ro thuần túy là loại rủi ro chỉ gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm

và nó làm phát sinh một khoản chi phí để bù đắp thiệt hại Ví dụ: lụt bão, sóng thần, hỏa hoạn, động đất, khủng hoảng kinh tế Rủi ro thuần túy bao gồm rủi ro cá nhân,

Như vậy, tùy vào loại rủi ro có tính chất như thế nào mà các chủ thể sẽ có những chiến lược quản lý rủi ro khác nhau Đối với rủi ro suy đoán thì rủi ro và cơ hội là hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong một sự kiện, một thực thể Trong kinh doanh, con người đều mong muốn được thụ hưởng cơ hội và tránh được sự rủi ro của thực thể thống nhất đó Nhưng không có cơ hội và rủi ro cho tất cả, thường một biến

cố nào đó nếu là cơ hội cho người này thì sẽ trở thành rủi ro đối với một người khác

31 Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”,

13/5/2019

32 Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”,

13/5/2019.

Trang 32

Do đó, khi gặp rủi ro suy đoán thì các bên chủ động lựa chọn việc có tham gia hoạt động mua bán hàng hóa hay không Tuy nhiên, đối với rủi ro thuần túy thì cần phải

có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế vì rủi ro này mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của các bên và bao giờ cũng gây ra tổn thất Nếu có thể thì loại

bỏ rủi ro thuần túy trước khi xảy ra bằng cách không ký kết hợp đồng mà đi tìm một đối tác khác để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa

Tóm lại, mỗi loại rủi ro có khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng khác nhau nên tương ứng với từng loại rủi ro sẽ phải có biện pháp phòng ngừa phù hợp Trong hoạt động mua bán hàng hóa, để thực hiện một thương vụ cần qua nhiều giai đoạn bao gồm nghiên cứu thị trường để lựa chọn khách hàng, đàm phán, ký kết hợp đồng

và tổ chức thực hiện hợp đồng Trong đó quan trọng nhất là giai đoạn thực hiện hợp đồng bởi vì quá trình này của hoạt động mua bán hàng hóa rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro Đặc biệt, đối với một số rủi ro mà các chủ thể thường xuyên gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa thì khi tham gia vào hoạt động này các bên nên có

sự xem xét, nghiên cứu để nhận dạng rủi ro, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra cũng như giải quyết trách nhiệm gánh chịu thiệt hại do rủi ro xảy ra giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng nhằm ngăn ngừa các thiệt hại phát sinh từ hợp đồng, tối đa hóa lợi ích cho các bên trong kinh doanh Dưới đây, tác giả đề cập một

số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau:

Rủi ro về mặt pháp lý: Yếu tố pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của

doanh nghiệp, gây ra những rủi ro cho doanh nghiệp Đặc biệt, trong kinh doanh quốc

tế môi trường luật pháp rất phức tạp, bởi vì chuẩn mực luật pháp của các nước khác nhau là khác nhau Theo đó, quy định pháp luật của các quốc gia liên quan đến các vấn đề trong hoạt động mua bán hàng hóa như quyền sở hữu tài sản, mức thuế xuất, nhập khẩu, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tất yếu sẽ khác nhau Mặt khác, môi trường pháp lý luôn có sự biến động, nếu các doanh nghiệp không có sự

am hiểu và nắm bắt kịp thời những thay đổi của pháp luật thì những biến động này

có thể gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp Rủi ro pháp lý là những rủi ro phát sinh

từ việc tuân thủ pháp luật, thay đổi pháp luật, áp dụng pháp luật của doanh nghiệp Rủi ro này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về môi trường pháp lý hoặc do biến động của môi trường pháp lý Những rủi ro pháp lý có thể gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế đó là: rủi ro liên quan đến các quy định về xác lập quyền và chuyển dịch quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hóa theo pháp luật; rủi ro liên quan đến việc doanh nghiệp bị kiện chống bán phá giá và

Trang 33

mức thuế chống bán phá giá bị áp dụng khi thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hóa; rủi

ro về các rào cản thương mại và rủi ro liên quan đến các vấn đề sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa Để tránh rủi ro về mặt pháp lý, các chủ thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa phải thông hiểu chế độ luật pháp không chỉ của quốc gia họ mà còn của quốc gia nơi họ sẽ tiến hành hoạt động mua bán Điều này sẽ giúp các bên có những quyết định cụ thể, linh hoạt, mềm dẻo trong hoạt động mua bán hàng hóa để tuân thủ pháp luật trong kinh doanh đồng thời hạn chế được tranh chấp xảy ra

Rủi ro về mặt hàng hóa: Với tính đặc thù của hoạt động mua bán hàng hóa là

hàng hóa phải được vận chuyển với khoảng cách từ nơi bán đến nơi mua nên chủ thể kinh doanh rất dễ gặp dạng rủi ro này Rủi ro về mặt hàng hóa là sự mất mát, hư hỏng hàng hóa, đây là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng và có thể lường trước được Rủi ro đối với hàng hóa có thể do những sự kiện thiên nhiên gây ra hoặc do quá trình vận chuyển hàng hóa gây nên mà khi thực hiện việc giao hàng người bán đã hoàn thành nghĩa vụ của mình Ngoài ra, những thiệt hại

do chính hàng hóa đó tự gây ra – những hư hại thuộc về bản chất hàng hóa như bột hay lên men, ngũ cốc hay bị sâu mọt, sắt thép hay rỉ sét cũng được coi là rủi ro đối với hàng hóa Trên cơ sở hiểu biết về nguồn gốc của rủi ro đối với hàng hóa, các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hóa có thể dự báo được rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Từ đó, khi tiến hành giao kết hợp đồng mua bán các bên sẽ có những thỏa thuận phù hợp liên quan đến việc xác định thời điểm chuyển rủi ro hàng hóa nhằm tránh phát sinh tranh chấp khi có thiệt hại xảy ra

Rủi ro về mặt chính trị: Chính phủ ở các quốc gia khác nhau sẽ có mô hình tổ

chức khác nhau, đồng thời mỗi Chính phủ khi lên cầm quyền sẽ có những chính sách mới với rất nhiều thay đổi Nếu các nhà kinh doanh không hiểu biết, không nắm vững

và thích nghi được với những thay đổi đó thì sẽ gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại khi thực hiện hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và tất yếu là sẽ phải chịu rủi ro Rủi ro

về chính trị có thể xuất hiện ở mọi quốc gia nhưng mức độ xảy ra rủi ro thì ở mỗi nơi

sẽ khác nhau Ở những nước có chế độ chính trị ổn định thì mức độ rủi ro chính trị thấp, ngược lại ở những nước thường xảy ra bạo loạn, đảo chính hay chính sách thường xuyên thay đổi thì rủi ro chính trị sẽ ở mức cao Các loại rủi ro chính trị thường gặp, đó là:

Rủi ro liên quan đến quyền sở hữu tài sản, bao gồm: sung công tài sản diễn ra dưới hình thức quốc hữu hóa và chuyển tài sản cho nhà nước; nhà nước tịch thu tài

Trang 34

sản và chính sách nội địa hóa của nhà nước yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài dần từng bước chuyển giao tài sản và quyền quản lý cho người trong nước

Rủi ro do nhà nước can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động của tổ chức, chẳng hạn như nhà nước thay đổi về hạn ngạch dẫn đến hàng hóa vượt quá số lượng cho phép xuất hoặc nhập khẩu, thay đổi quy định cấp giấy phép xuất nhập khẩu phức tạp hơn làm hàng hóa được giao không đúng thời hạn nếu các bên không nắm bắt được sự thay đổi này kịp thời

Tuy nhiên cần phân biệt rủi ro trong trường hợp này với sự kiện bất khả kháng – vấn đề không liên quan đến vấn đề phân bổ rủi ro (như đã phân tích tại mục 1.1.2)

Rủi ro về giá cả, phương thức thanh toán: Trong hoạt động mua bán hàng hóa

bên bán thường chỉ quy định đơn giản là đưa ra giá, phương thức thanh toán là chuyển khoản hay tiền mặt chứ không thỏa thuận rõ giá của từng loại hàng hóa (giá có bao gồm thuế, phí hay chưa) cũng như các yếu tố của phương thức thanh toán (đồng tiền thanh toán, phí ngân hàng chuyển khoản) Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá và phương thức thanh toán thì biến động về giá sẽ theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và phương thức thanh toán được xác định theo

mua bán hàng hóa xảy ra một số rủi ro về giá khi giá thị trường biến động, mệnh giá đồng tiền thanh toán thay đổi

Tóm lại, mua bán hàng hóa là hoạt động luôn tìm ẩn những rủi ro khác nhau Trong đó, rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa là các rủi ro mà các chủ thể thường xuyên gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa, là vấn đề doanh nghiệp nào cũng sẽ gặp phải Hầu hết những dạng rủi ro này, doanh nghiệp rất thường gặp phải và buộc phải xử lý chuyện đã rồi Doanh nghiệp cần nhận thức trước, từ đó

có kế hoạch để giảm thiểu rủi ro Nếu không được dự liệu trước thì thiệt hại của các rủi ro này gây ra sẽ trở thành gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp Nếu biết cách quản lý rủi ro, doanh nghiệp có nhiều khả năng tránh khỏi, vô hiệu hóa, giảm thiểu tác động tiêu cực, hoặc chí ít cũng chủ động đón nhận và ứng phó theo cách thức hợp

lý nhất

Khi phân loại rủi ro thì các rủi ro được phân chia, sắp xếp theo một trật tự nhất định ở những cấp độ nhất định dựa vào những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng tùy thuộc vào mục đích phân loại Theo đó, các rủi ro được đánh giá để quy về

33 Khoản 2 Điều 433 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015)

Trang 35

mức độ rủi ro tương ứng nhằm có hướng phòng ngừa hiệu quả cho từng loại rủi ro Khi nhận dạng, phân loại được rủi ro, hiểu được những rủi ro có thể xảy ra, nhận thấy được rủi ro nào có thể phòng ngừa sẽ giúp tránh được những thiệt hại không đáng có,

có thêm thời gian lên kế hoạch ngăn chặn trước khi rủi ro xảy ra để từ đó đưa ra biện pháp phòng ngừa được Đồng thời, việc phân loại rủi ro từ hoạt động mua bán hàng hóa của các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhận diện được các tác động lẫn nhau của các rủi ro cùng loại, giúp xác định được các ảnh hưởng có thể tác động đến hoạt động mua bán hàng hóa Vì vậy, việc phân loại rủi ro có ý nghĩa trong việc nghiên cứu các loại hình rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá các loại hình rủi ro từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhằm hạn chế rủi ro, qua đó đảm bảo lợi ích khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa của các chủ thể Cụ thể, để phòng ngừa, hạn chế rủi ro đối với hàng hóa thì các bên cần nhận dạng rủi ro có thể xảy ra với mình bằng việc xem xét, nghiên cứu các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và các loại tổn thất Sau đó căn cứ vào sự phân loại rủi ro

để biết được loại rủi ro nào xuất hiện nhiều, xuất hiện ít; loại nào gây ra hậu quả nghiêm trọng còn loại nào gây ra hậu quả ít nghiêm trọng hơn từ đó có biện pháp phù hợp để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi đến với mình Như vậy, trên cơ sở nhận dạng được loại rủi ro có thể xảy ra cùng với nguyên tắc chấp nhận rủi ro khi lợi ích nhiều hơn chi phí trong kinh doanh thì các bên khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa có thể lựa chọn sử dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro sao cho phù hợp Các biện pháp này bao gồm:

né tránh rủi ro, loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro bằng cách không ký hợp đồng nữa mà đi tìm đối tác khác; biện pháp ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại (ví dụ mua bảo hiểm cho hàng hóa, khi vận chuyển hàng hóa qua vùng có chiến sự hoặc có nguy cơ chiến tranh thì mua bảo hiểm rủi ro chiến tranh) hoặc giảm thiểu tổn thất (ví dụ khi hàng bị cháy hoặc chìm thì cố gắng giữ lại hàng hóa chưa bị hỏng)

1.2.2 Sự cần thiết của quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Cùng với sự phát triển của xã hội, của nền kinh tế, hoạt động mua bán hàng hóa ngày càng diễn ra đa dạng, phong phú hơn và mở rộng không chỉ về số lượng, chất lượng hàng hóa mà còn về phạm vi, đối tác của hợp đồng Bên cạnh đó, rủi ro xảy ra đối với hàng hóa cũng xuất hiện nhiều hơn, phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau và thiệt hại mà nó gây ra cũng ngày càng lớn Vì thế, khi ký kết hợp đồng mua

Trang 36

bán hàng hóa các bên cần thoả thuận chính xác thời điểm chuyển rủi ro Nhưng không phải lúc nào các chủ thể cũng nhận thức được tầm quan trọng của thỏa thuận thời điểm chuyển rủi ro để đưa điều khoản này vào hợp đồng, hoặc tuy có thỏa thuận nhưng sự thỏa thuận này chưa rõ ràng và chính xác Vì vậy, vẫn có những bất đồng xảy ra giữa các bên trong việc xác định thời điểm chuyển rủi ro và vấn đề được đặt

ra là cần có sự điều chỉnh pháp lý đối với thời điểm chuyển dịch rủi ro Quả thật sự điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề này là rất cần thiết nhằm bảo đảm cho quyền lợi của các bên cũng như của nhà nước

Để thực hiện quản lý kinh tế - xã hội, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là hiệu quả nhất Bởi vì, những quy định pháp luật có tính quy phạm phổ biến sẽ có tính bắt buộc chung đối với các chủ thể mà nó hướng tới điều chỉnh Bên cạnh đó, pháp luật đảm bảo tính chặt chẽ, nội dung pháp luật được biểu hiện bằng ngôn ngữ rõ ràng chính xác trong những hình thức nhất định

và pháp luật còn được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Tùy mức độ áp dụng mà các chủ thể được khuyến khích hoặc cưỡng chế nếu không thực hiện sẽ chịu các chế tài xử lý nghiêm khắc Sự cần thiết của những quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, đối với các bên ký kết hợp đồng:

Các quy định về thời điểm chuyển dịch rủi ro với hàng hóa sẽ loại bỏ được trường hợp một bên lợi dụng vị thế của mình trong quá trình đàm phán mà chèn ép, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên đối tác còn lại Sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này cũng là cơ sở đảm bảo về mặt pháp lý, tạo niềm tin cho doanh nghiệp khi tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Điều khoản về thời điểm chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng vẫn được soạn thảo dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên nhưng khó đi đến thống nhất và xuất hiện những mâu thuẫn về quyền lợi Do đó, sự điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề đó như một chuẩn mực, một cơ sở chung để các đối tác lựa chọn áp dụng hoặc thỏa thuận thêm, đảm bảo được quyền và lợi ích của mình Điều này cũng giúp cho quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng diễn ra nhanh chóng, tránh được những tranh chấp không cần thiết xảy ra khi thực hiện hợp đồng, làm lãng phí công sức và tiền bạc

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng những quy định pháp luật hiện nay về chuyển rủi ro Mặc dù theo thời gian phát triển của hoạt động thương mại, pháp luật đã đưa

ra những quy định liên quan đến chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa, nhưng thực sự chưa trọn vẹn Bên cạnh những thành tựu đạt được từ hiệu quả áp dụng

Ngày đăng: 22/04/2021, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w