1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân các cấp về đăng ký khai sinh (từ thực tiễn một số tỉnh đồng bằng sông cửu long)

144 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân các cấp về đăng ký khai sinh (từ thực tiễn một số tỉnh đồng bằng sông cửu long)
Tác giả Nguyễn Thị Mai Chi
Người hướng dẫn Pgs.Ts. Phan Nhật Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 16,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quy định của pháp luật hiện hành về quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa .... Trong bối cảnh Luật trẻ em 2016 mới được ban hành thì chưa có công trình nghiên

Trang 1

NGUYỄN THỊ MAI CHI

QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG CỦA TRẺ EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG CỦA TRẺ EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Định hướng nghiên cứu

Trang 3

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 10 năm 2020

HỌC VIÊN

NGUYỄN THỊ MAI CHI

Trang 4

cảm ơn sự hậu thuẫn và động viên của gia đình nội ngoại Tác giả đã gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện đề tài này, nhưng nhờ sự giúp đỡ của thầy, của gia đình, tác giả cũng đã hoàn thành nghiên cứu của mình Cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Luật TP.HCM đã truyền dạy kiến thức và tâm huyết của mình trong suốt quá trình tác giả theo học tại trường từ lúc học đại học cho tới tận bây giờ

Trang 5

Công ước Quốc tế về quyền trẻ em CUQTE

Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

em 2004 LBVCSGD 2004

Lao động thương binh xã hội LĐTBXH

Ủy ban nhân dân UBND

Trang 6

Bảng 1 Nhóm các trường hợp trẻ em không nơi nương tựa 11

Bảng 2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ <5 tuổi tại Việt Nam theo khu vực năm 2017 23

Bảng 3 Trách nhiệm tạo điều kiện vui chơi cho trẻ 30

Bảng 4 Trách nhiệm giáo dục trẻ 32

Bảng 5 Bảng so sánh chính sách trợ cấp xã hội đối với nhóm “trẻ em” và nhóm từ 16 tuổi trở lên 55

Bảng 6 So sánh quyền được bảo vệ trong pháp luật hình sự giữa “trẻ em” và “người chưa thành niên nhưng không phải là trẻ em” 60

Bảng 7 Chương trình trợ giúp thường xuyên tại Việt Nam 74

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG CỦA TRẺ EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về trẻ em 7

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của trẻ em không nơi nương tựa 9

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 13

1.2 Nội dung về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 18

1.2.1 Quyền được sống chung với cha, mẹ 18

1.2.2 Quyền được chăm sóc thay thế 20

1.2.3 Quyền được đáp ứng các điều kiện sinh hoạt cần thiết 22

1.2.4 Quyền được chăm sóc sức khỏe 25

1.2.5 Quyền được bảo vệ không bị người chăm sóc xâm hại 27

1.2.6 Quyền được vui chơi 29

1.2.7 Quyền được giáo dục 32

1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 35

1.3.1 Bảo đảm bằng tư tưởng 35

1.3.2 Bảo đảm bằng chính trị 36

1.3.3 Bảo đảm bằng pháp luật 38

1.3.4 Bảo đảm bằng kinh tế 39

1.3.5 Bảo đảm xã hội 40

1.4 Các quy định của pháp luật hiện hành về quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 40

1.4.1 Quy định về hỗ trợ và can thiệp đối với trẻ em không nơi nương tựa 41

Trang 8

1.4.3 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em không nơi

nương tựa 48

1.5 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 49

Kết luận chương 1 51

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA VÀ KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 52

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 52

2.1.1 Về xác định độ tuổi của trẻ em 53

2.1.2 Về định nghĩa trẻ em không nơi nương tựa 62

2.1.3 Về điều kiện để xác định trẻ em không nơi nương tựa 64

2.1.4 Về xác định điều kiện của người chăm sóc thay thế 65

2.1.5 Trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực trợ giúp xã hội 68

2.2 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 69

2.2.1 Thực trạng thực hiện quyền được chăm sóc thay thế 69

2.2.2 Thực trạng thực hiện quyền được đáp ứng các điều kiện sinh hoạt thiết yếu 74

2.3 Một số kiến nghị nhằm thực hiện hiệu quả quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa 78

2.3.1 Những biện pháp xã hội 78

2.3.2 Những biện pháp pháp lý 79

Kết luận chương 2 83

KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ trái tim một người mẹ, tôi có nguyện vọng nghiên cứu về đề tài này vì trước hết hi vọng những nghiên cứu của mình có thể góp phần giúp trẻ em không nơi nương tựa được chăm sóc nuôi dưỡng tốt hơn Hai nữa là đề tài này có nhiều vấn đề cần bàn luận phù hợp với định hướng nghiên cứu luận văn luật học của tôi

Chỉ cần là trẻ em thì đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia bảo vệ chặt chẽ, chưa cần xét đến điều kiện hoàn cảnh của từng em Trong quyền con người thì trẻ em cũng là một đối tượng đặc biệt, được xếp vào nhóm dễ bị tổn thương vì những đặc trưng về thể chất và tinh thần, cần sự quan tâm, chăm sóc và bảo vệ một cách hữu hiệu

Như vậy, đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt lại càng cần nhà nước và xã hội chú ý và trợ giúp nhiều hơn nữa vì các em “không đủ điều kiện thực hiện quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn hòa nhập gia đình, cộng đồng” (theo định nghĩa trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Luật trẻ em 2016)

Trẻ em không nơi nương tựa là một trong mười bốn đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được liệt kê trong Luật trẻ em 2016 Vì “hoàn cảnh đặc biệt” của mình

mà các em trước hết cần tiếp cận quyền chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo được phát triển bình thường, khỏe mạnh

Từ sau khi phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (Convention on the Rights of the Child-CRC) năm 1990, Việt Nam đã nhanh chóng nội luật hóa các quy định của công ước vào các văn bản quy phạm pháp luật, không chỉ nằm trong Hiến pháp và văn bản có nội dung chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, quyền trẻ em còn được tính tới và nằm trong nội dung của pháp luật về hộ tịch, dân

sự, hình sự, y tế, giáo dục…Cùng với sự kiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em năm 1991 được ban hành thay thế cho Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1979, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được tiếp cận và thụ hưởng các quyền của mình một cách tốt hơn Sau mười ba năm thi hành, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991 được thay thế bằng Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

2004, và ngày nay là Luật trẻ em 2016, có hiệu lực từ ngày 01/6/2017 Kế thừa

Trang 10

thành tựu của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Luật trẻ em 2016 đã sửa đổi và bổ sung các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm từng bước bảo vệ và chăm sóc các em hữu hiệu hơn nữa

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một số quy định pháp luật cản trở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em không nơi nương tựa nói riêng tiếp cận quyền của mình Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự nghiên cứu toàn diện, rõ ràng

và đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật trong đảm bảo quyền của trẻ em không nơi nương tựa

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền trẻ em là một nội dung quan trọng trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Ở nước ta, quyền trẻ em cũng được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên, các tác giả tập trung nghiên cứu quyền trẻ em nói chung hoặc ở những nội dung tư pháp cho trẻ em mà chưa có nghiên cứu nào chuyên về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa, có thể kể đến:

1 Tăng Thị Thu Trang, Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ 2016

Nhận xét: luận án đã tiếp cận quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khá toàn diện, tuy nhiên cơ sở tiếp cận chính của luận án là Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004, luật này hiện nay đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Luật trẻ em 2016

2 Nguyễn Thị Xuân, Trợ giúp pháp lý đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Luận văn thạc sĩ 2014

Nhận xét: luận văn đề cập đến quá trình hình hình và phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý, thực tiễn trợ giúp pháp lý cho nhóm xã hội dễ bị tổn thương bao gồm: phụ nữ, trẻ em và người lao động di cư có hoàn cảnh khó khăn đến từ những vùng nông thôn ở Việt Nam tại Bình Dương Luận văn đặt trọng tâm vào hoạt động trợ giúp pháp lý và chỉ lướt qua đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như một bộ phận của nhóm xã hội dễ bị tổn thương mà thôi

3 Nguyễn Quốc Song Toàn, Quyền trẻ em – những vấn đề lý luận và thực tiễn , khóa luận tốt nghiệp 2010

Nhận xét: Khóa luận đã khái quát một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em như: lược sử hình thành quyền trẻ em, quy định quốc tế và Việt Nam về quyền trẻ em, thực tiễn thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam thông qua các lĩnh vực: hình sự, chăm sóc y

tế, giáo dục, chính trị xã hội khác và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Từ đó tác

Trang 11

giả đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn quyền trẻ em Tuy nhiên, tác giả chỉ phân tích quyền trẻ em nói chung chứ chưa đi sâu vào đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cũng như trong thực tiễn thực hiện quyền, tác giả không phân tích theo hướng thực hiện từng quyền cụ thể của trẻ em được quy định trong Hiến pháp cũng như luật pháp quốc tế như: quyền được chăm sóc y tế, quyền được có họ tên và quốc tịch, quyền được tránh khỏi mọi hình thức bạo lực, ngược đãi, sao nhãng, lạm dụng, quyền được bảo đảm chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ khi trẻ mất môi trường gia đình…

4 Nguyễn Hoàng Thế Anh, Bạo lực gia đình thực trạng và giải pháp, khóa luận tốt nghiệp 2010

Nhận xét: Tác giả đã phân các khái niệm liên quan đến bạo lực gia đình và tác động của nó tới các chủ thể của gia đình, trong đó có trẻ em Cùng với những phân tích của mình, tác giả đã chỉ ra sự ảnh hưởng của bạo lực gia đình tới sự phát triển của trẻ em

5 Ôn Tú Trân, Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em, khóa luận tốt nghiệp 2011

Nhận xét: Khóa luận đã khái quát quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em nói chung trên cả khía cạnh pháp luật thực định và thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe của trẻ em, chỉ ra những thiếu sót và phương hướng hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên khóa luận được hoàn thành vào năm 2011, khi chưa có Luật trẻ em 2016, đồng thời khóa luận cũng chưa đi sâu vào việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trong bối cảnh Luật trẻ em 2016 mới được ban hành thì chưa có công trình nghiên cứu nào về quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa - thực trạng pháp luật hiện hành, cả trong quy định lẫn thực tiễn để có thể đánh giá và tìm ra giải pháp hoàn thiện

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến quyền trẻ em nói chung và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa nói riêng Trên cơ sở đó, đề tài đi vào tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật ở nước ta trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa Từ đó, đánh giá về quá trình thể chế hóa các cam kết quốc tế trong pháp luật của nước nhà, tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại và đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật tại Việt Nam

Trang 12

Giả thiết đặt ra khi nghiên cứu đề tài: Trẻ em không nơi nương tựa được định

vị như thế nào? Thực trạng chăm sóc, nuôi dưỡng các em như thế nào? Chúng ta đã làm tốt hay chưa? Nếu tốt rồi có thể tốt hơn nữa được hay không?

Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm sáng tỏ những giả thiết trên, cung cấp thông tin khoa học cho những người làm công tác liên quan đến trẻ em, cho sinh viên tìm hiểu về chính sách và thực hiện chính sách thực hiện quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cụ thể là trẻ em không nơi nương tựa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của nhóm trẻ em không nơi nương tựa thể hiện trong các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản pháp lý của Quốc tế, của Nhà nước Việt Nam, các báo cáo của các tổ chức

có liên quan đến lĩnh vực chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa

Tác giả lựa chọn đối tượng này vì:

Một là, trẻ em không nơi nương tựa là một đối tượng hết sức đặc biệt vừa được pháp luật về trẻ em nhận diện Các em dù còn cha hoặc mẹ, hoặc còn cả hai nhưng đều không có khả năng chăm sóc và nuôi dưỡng con của mình Khác với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, cha mẹ của các em thường không xác định được, do đó ngay từ khi sinh ra các em đã không có môi trường gia đình, còn trẻ em không nơi nương tựa, từng được cảm nhận sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nhưng lại bị mất đi môi trường này Không phải ngẫu nhiên mà Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã nhắc đi nhắc lại rằng: “để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông” Hơn thế nữa, trẻ em không nơi nương tựa tuy có chung một đặc điểm là không được hoặc không có điều kiện sống chung với cha mẹ, nhưng mỗi một nhóm lại có những điểm khác nhau riêng rẽ Ví dụ như, trẻ em đang sinh sống bình thường cũng có thể rơi vào trường hợp trẻ em không nơi nương tựa nếu như cha mẹ các em đột nhiên mất đi khả năng chăm sóc; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng… (quy định tại Điều 5 Nghị định 56/2017/NĐ-CP) Chính vì vậy, trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh này nhiều nhất

Hai là, tác giả chọn quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng mà không phải các quyền khác vì quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng nằm trong nhóm “quyền sống còn” Các em trước hết phải được sống, được ăn uống, chăm sóc y tế trước khi được

Trang 13

giáo dục hay vui chơi hay thụ hưởng các quyền khác Đồng thời, chăm sóc và nuôi dưỡng là một quá trình dài cần được duy trì và thực hiện mỗi ngày trong suốt thời gian các em còn được xác định là trẻ em, thậm chí ngay cả khi các em vượt qua ngưỡng tuổi trẻ em (pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi, trong khi người chưa thành niên-dưới 18 tuổi vẫn là đối tượng cần cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên – khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân và giai đình 2014) Vì lý do hoàn cảnh đặc biệt của mình nên quyền chăm sóc và nuôi dưỡng của các em càng cần quan tâm hơn so với các quyền khác

Trong luận văn này, nhằm tiếp cận một cách thực tế và có hệ thống, tác giả sẽ

sử dụng mười hai trường hợp trẻ em không nơi nương tựa được Nghị định 56/2017/NĐ-CP liệt kê để phân tích đặc điểm của nhóm đối tượng này và các vấn

đề liên quan khác

Về phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em nói chung và quyền của trẻ em không nơi nương tựa nói riêng, cũng như thực trạng thực hiện các quy định pháp luật này

Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài không đề cập đến kinh nghiệm bảo vệ

và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở các nước trên thế giới, cũng như không

so sánh việc thực hiện quyền được bảo vệ và chăm sóc của trẻ em ở nước ta với các quốc gia khác

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt các vấn đề về bảo vệ quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh với các quy định đã hết hiệu lực cũng như sắp được áp dụng

Trang 14

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn dải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của Nhà nước về chăm sóc

và nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa, tác giả đã vận dụng hai phương pháp này để chỉ rõ những lĩnh vực cụ thể, đồng thời phân tích rõ lý do vì sao lại như vậy

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác

6 Những điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận

Tác giả hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ đóng góp thêm các ý tưởng mới để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện quyền nuôi dưỡng, chăm sóc của trẻ em không nơi nương tựa

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC,

NUÔI DƯỠNG CỦA TRẺ EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA

1.1 Khái niệm và đặc điểm về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ

em không nơi nương tựa

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về trẻ em

1.1.1.1 Khái niệm “trẻ em”

Trẻ em là đối tượng được quan tâm và nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Với mỗi ngành lại đưa ra những khái niệm khác nhau về trẻ em Theo từ điển tiếng Việt, trẻ em được hiểu là: trẻ là ở vào thời kỳ còn ít tuổi, đang phát triển mạnh, đang sung sức; “trẻ em” là những đứa trẻ (với hàm ý thân mật)1 Nếu như với ngành y tế, sinh học, coi trẻ em là những người sở hữu “một cơ thể đang phát triển”,

“lớn lên về khối lượng và sự trưởng thành về chất lượng (sự hoàn thiện về chức năng các cơ quan)” và chia thành 6 giai đoạn: 1 Phát triển trong tử cung 2 Thời kỳ

sơ sinh 3 Thời kỳ bú mẹ 4 Thời kỳ răng sữa 5 Thời kỳ thiếu niên 6 Thời kỳ dậy thì, tính từ khi còn thai nhi tới tầm 18-20 tuổi.2 Với ngành xã hội học, trẻ em chính

là tương lai của xã hội và nhân loại Về mặt pháp luật, “trẻ em” là đối tượng được pháp luật bảo vệ, có độ tuổi xác định, không chỉ được hưởng trọn vẹn quyền con người mà còn được hưởng một số quyền đặc thù khác Trẻ em là khái niệm được sử dụng cả trong pháp luật quốc tế và pháp luật tại Việt Nam Điều 1 Luật trẻ em 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi Đây cũng là điểm mới của Luật trẻ em 2016

so với Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 (LBVCSGD 2004) Trước đây LBVCSGD 2004 quy định “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Như vậy, Luật trẻ em 2016 đã mở rộng hơn đối tượng được bảo vệ, không chỉ là công dân, mà bất kỳ người nào hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam, dưới

16 tuổi sẽ được pháp luật trẻ em bảo vệ theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013

Tóm lại, trẻ em là người đang trong quá trình trưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, và vì vậy là đối tượng có độ tuổi xác định được quy định trong pháp luật của một quốc gia, được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục theo quy định của pháp luật quốc tế

và pháp luật quốc gia

1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.1031

2 “Các thời kỳ phát triển của trẻ em”, phat-trien-cua-tre-em.htm], truy cập ngày 19/9/2020

Trang 16

[http://www.dieutri.vn/benhhocnhin/3-11-2014/S5530/Cac-thoi-ky-1.1.1.2 Đặc điểm về “trẻ em”

Như đã trình bày ở phần trên, trẻ em có đặc điểm nhận dạng phổ biến là theo

độ tuổi Nhìn chung mỗi nước có quy định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ

em Độ tuổi bao nhiêu phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ

em và vào điều kiện kinh tế, chính sách an sinh của quốc gia đó Do đó, có những quốc gia quy định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em

Tuy có những khác biệt như vậy nhưng trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có đặc điểm: về mặt thể chất đang phát triển, về mặt trí tuệ, tâm lý đang trưởng thành, về mặt xã hội đang thích ứng, về mặt kinh tế không thuộc đối tượng lao động kiếm thu nhập nuôi sống bản thân, cần được sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường,

xã hội và bảo vệ cả về mặt pháp lý Điều này được nêu rõ trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (CUQTE): “Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo

vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” Cùng với tuyên bố này, CUQTE cũng liệt kê một số quyền cơ bản cần được đáp ứng của trẻ em và tạo thành bốn nguyên tắc cơ bản xuyên suốt: 1 Không phân biệt đối xử (Điều 2); 2 Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3) 3 Sự sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em (Điều 6); 4 Sự tham gia của trẻ em (Điều 12)

Có thể phân loại trẻ em ra thành nhiều đối tượng tùy theo tiêu chí và mục đích khác nhau như: theo độ tuổi, theo cấp học hoặc theo quy định của Luật trẻ em 2016, phân trẻ em ra thành trẻ em bình thường và “trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” Theo đó, tại khoản 10 Điều 4 Luật trẻ em 2016 định nghĩa: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.” Đồng thời luật cũng liệt kê mười bốn nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm: 1 Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ 2 Trẻ em bị bỏ rơi 3 Trẻ em không nơi nương tựa 4 Trẻ em khuyết tật 5 Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS 6 Trẻ em vi phạm pháp luật 7 Trẻ em nghiện ma túy 8 Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 9 Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thầnh

do bị bạo lực; 10 Trẻ em bị bóc lột; 11 Trẻ em bị xâm hại tình dục; 12 Trẻ em bị mua bán; 13 Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; 14 Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định

Trang 17

được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc Theo thời gian và tình hình kinh tế-xã hội, đối tượng được đánh giá và được xếp vào trường hợp “trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” cũng thay đổi Cụ thể, Luật trẻ em 2016 đã bỏ các trường hợp: trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang được quy định trong LBVCSGD 2004 và bổ sung thêm các trường hợp: trẻ em không nơi nương tựa, trẻ

em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; trẻ em

bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ

em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc

hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc

Cùng với việc phân loại trẻ em thành trẻ em bình thường và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Luật trẻ em 2016 cũng chú trọng tới nhóm đối tượng trẻ em này hơn

và trong những điều khoản về thực hiện quyền của trẻ em luôn có quy định riêng dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Không chỉ có những quy định về chăm sóc, bảo vệ, tái hòa nhập, Luật trẻ em còn có những quy định phòng tránh, can thiệp và

an sinh xã hội nhằm tránh trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của trẻ em không nơi nương tựa

1.1.2.1 Khái niệm trẻ em không nơi nương tựa

Theo từ điển tiếng Việt, “nương tựa” có nghĩa là dựa vào để sống, để tồn tại3 Theo định nghĩa này, những chủ thể phải tìm nơi nương tựa không thể tự sống độc lập, mà cần phải dựa vào, tìm kiếm sự giúp đỡ từ chủ thể khác

“Không nơi nương tựa” là một cụm từ đã xuất hiện từ lâu trong các văn bản quy phạm pháp luật nước ta, đặc biệt trong pháp luật về trợ cấp xã hội hay cứu trợ xã hội Tuy nhiên, trước đây, vào những năm 2000, “không nơi nương tựa” xuất hiện nhiều hơn trong các quy định về người già hoặc người tàn tật Cụ thể, tại Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội, quy định: “Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân Người gia còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập Trường hợp là phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập, từ

đủ 55 tuổi trở lên, hiện đang được hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội vẫn tiếp tục được hưởng;” và “Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa;

3 Hoàng Phê (Chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, tr.748

Trang 18

người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng họ già yếu hoặc gia đình nghèo không

đủ khả năng kinh tế để chăm sóc;” Mặc dù không nêu rõ định nghĩa không nơi nương tựa là gì, hoặc như thế nào là không nơi nương tựa, nhưng có thể nhìn thấy điểm chung trong hai quy định trên là: “không có người thân thích”, “không có nguồn nuôi dưỡng”,

“không có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc” LBVCSGD 2004 quy định trẻ em mồ côi

không nơi nương tựa là một trong những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần các cơ quan chức năng quan tâm nhưng với ý nghĩa phân biệt giữa trẻ em mồ côi nhưng có nơi nương tựa với trẻ em mồ côi không có nơi nương tựa Đồng thời tại Nghị

định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội quy định về liệt kê các đối tượng được hưởng trợ cấp thường xuyên của Nhà nước liệt kê các trường hợp trẻ em được hưởng chế độ như: trẻ

em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có cha mẹ bị mất tích… nhưng không liệt kê trẻ em không nơi nương tựa Kế thừa và ráp nối những thiếu sót và chênh lệch trên, Luật trẻ

em 2016 đã chính thức quy định trẻ em không nơi nương tựa là một trong mười bốn trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và Nghị định 56/2017/NĐ-CP đã liệt kê các trường hợp trẻ em không nơi nương tựa như sau:

“Điều 5 Trẻ em không nơi nương tựa

1 Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật

2 Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng

3 Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

4 Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật

5 Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội

6 Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào

cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

7 Trẻ em có cả cha và mẹ không còn khả năng chăm sóc trẻ em

8 Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội

Trang 19

9 Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

10 Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại

cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

11 Trẻ em sống trong gia đình có cả cha và mẹ trong độ tuổi trẻ em

12 Trẻ em có cả cha và mẹ bị hạn chế quyền làm cha mẹ hoặc tạm thời cách

ly khỏi cha hoặc mẹ theo quy định của pháp luật

Với cách liệt kê như trên, Nghị định 56/2017/NĐ-CP đã kết nối và lấp kẽ hở giữa pháp luật về trẻ em với pháp luật về trợ cấp xã hội

Trong luận văn này, nhằm tiếp cận một cách thực tế và có hệ thống, tác giả sẽ

sử dụng mười hai trường hợp trẻ em không nơi nương tựa được Nghị định 56/2017/NĐ-CP liệt kê để phân tích đặc điểm của nhóm đối tượng này và các vấn

đề liên quan khác

1.1.2.2 Đặc điểm trẻ em không nơi nương tựa

Như đã đề cập ở trên, có mười hai trường hợp trẻ em được xác định là trẻ em không nơi nương tựa Tựu chung mười hai trường hợp này được chia làm hai nhóm tại Bảng 1:

Bảng 1 Nhóm các trường hợp trẻ em không nơi nương tựa

Nhóm 1

(Không có điều kiện sống chung với

cha mẹ và cha mẹ không có khả năng

nuôi dưỡng con)

Nhóm 2 (Có điều kiện sống chung với cha mẹ nhưng cha mẹ không có khả năng nuôi dưỡng con)

- Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và

người còn lại mất tích theo quy định của

pháp luật

- Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và

người còn lại đang hưởng chế độ chăm

sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã

hội hoặc không còn khả năng chăm sóc,

nuôi dưỡng

- Trẻ em có cả cha và mẹ không còn khả năng chăm sóc trẻ em

- Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại

cơ sở trợ giúp xã hội

- Trẻ em sống trong gia đình có cả cha và mẹ trong độ tuổi trẻ em

Trang 20

- Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và

người còn lại đang chấp hành án phạt tù

tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết

định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ

sở cai nghiện bắt buộc

- Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích

theo quy định của pháp luật

- Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo

quy định của pháp luật và người còn lại

đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi

dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội

- Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo

quy định của pháp luật và người còn lại

đang chấp hành án phạt tù tại trại giam

hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào

cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện

bắt buộc

- Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp

hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang

chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo

dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng

chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở

trợ giúp xã hội và người còn lại đang

chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc

đang chấp hành quyết định đưa vào cơ

sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện

bắt buộc

Từ cách phân chia này có thể rút ra được hai đặc điểm về trẻ em không nơi nương tựa, đó là: cha mẹ không có khả năng nuôi dưỡng con và tình trạng không có khả năng nuôi dưỡng mang tính chất tạm thời, có giai đoạn và có thể lập đi lập lại

Để đánh giá khả năng nuôi dưỡng của cha mẹ với con cái, các nhà làm luật

đã dựa vào việc cha mẹ có thể đáp ứng các điều kiện như: sự hiện diện bên con cái,

Trang 21

khả năng lao động tìm thu nhập, sức khỏe của cha mẹ, khả năng nhận thức về chăm sóc và nuôi dưỡng con cái Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cha mẹ mất đi một trong các điều kiện trên Đó có thể là các sự kiện pháp lý như: chết, mất tích, bị giam giữ, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bệnh tật dẫn đến không còn đủ sức khỏe để kiếm thu nhập hoặc thậm chí tự chăm sóc bản thân mình

Tính chất tạm thời, có giai đoạn và có thể lập đi lập lại của trẻ em không nơi nương tựa thể hiện ở chỗ, khi không còn hội đủ các điều kiện được liệt kê, các em

có thể không còn “được” xác định là trẻ em không nơi nương tựa – trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nữa Hay nói cách khác, vì điều kiện tác động bên ngoài, các em phải phụ thuộc vào hoàn cảnh của cha mẹ Ví dụ, năm 2017, A được 12 tuổi Mẹ của A mất sớm, cha A vì nghiện ngập nên bị đưa vào cơ sở cai nghiện từ tháng 7/2017 tới tháng 9/2019 Nhà A không còn ai, ông bà nội ngoại đều đã mất, A không có anh chị em Như vậy từ tháng 7/2017 tới tháng 9/2019, A được xác định là trẻ em không nơi nương tựa theo khoản 3 Điều 5 Nghị định 56/2017/NĐ-CP Từ tháng 9/2019 trở

đi, khi cha A được trở về, A sẽ không còn “được” xác định là trẻ em không nơi nương tựa và sẽ không còn được hưởng các quyền lợi dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nữa Nhưng việc cha A trở về không có nghĩa là A thoát khỏi nguy cơ lại rơi vào trường hợp này Bởi không có gì đảm bảo rằng trong những năm tiếp theo, cha A sẽ không tái nghiện và lại bị đưa vào cơ sở cai nghiện hoặc không bị giam giữ do phạm tội Hơn nữa, khi A được 16 tuổi, A không còn được pháp luật trẻ em bảo vệ, nếu cha A lại tiếp tục phải đi cai nghiện, A sẽ không được hưởng “chăm sóc thay thế” do không A không còn là trẻ em Nếu A muốn tiếp tục đi học, A phải tự kiếm sống Đây là một đặc điểm quan trọng, tạo nên sự khác biệt trong việc thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa, mà tác giả sẽ phân tích nhiều hơn ở phần sau

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

1.1.3.1 Khái niệm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

“Quyền” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó, cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.4

4 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp, tr.648

Trang 22

Theo từ điển Tiếng Việt, “chăm sóc” là “việc một người cung cấp những thứ cần thiết cho người khác, nhằm tạo điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống của người đó” Nuôi dưỡng là “nuôi nấng và chăm chút cho sự tồn tại khỏe mạnh và phát triển nói chung Bên cạnh đó, nuôi nấng là nuôi dưỡng với sự chăm sóc ân cần

và chu đáo Từ đó, có thể hiểu rằng “nuôi dưỡng trẻ em” là việc săn sóc chu đáo cả

về mặt tinh thần và thể chất, dành cho trẻ em tình cảm yêu thương, chở che Nuôi dưỡng trẻ em không dừng lại ở việc cung cấp vật chất (ăn, mặc, ở) mà còn là việc giáo dục và hình thành nhân cách, tư tưởng, đạo đức, tạo ra những yếu tố tiên quyết, nền tảng cho sự phát triển tính cách và tương lai sau này của các em

“Được chăm sóc, nuôi dưỡng” là quyền của mọi trẻ em Nó quan trọng tới mức

từ CUQTE tới nội luật của các quốc gia đều ghi nhận Thậm chí, từ trước khi gia nhập CUQTE, các quốc gia cũng đã ghi nhận quyền này dưới các dạng nghĩa vụ của cha mẹ và các thành viên trong gia đình đối với trẻ em Khi được sinh ra đời, các em nghiễm nhiên được thụ hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng không chỉ của cha mẹ, gia đình, mà còn là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội Một đứa trẻ có thể bị chết nếu bị

bỏ đói, bỏ rơi, bỏ mặc Nếu nhà nước không can thiệp bằng pháp luật, ghi nhận quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng này mà chỉ can thiệp bằng các biện pháp khác như tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, văn hóa – truyền thống – đạo đức thì sẽ không gây được hiệu ứng mạnh, không mang tính chất bắt buộc và sẽ không đạt được các thành tựu trong chăm sóc trẻ em như hiện nay Bằng các quy định cụ thể của pháp luật, Nhà nước nghiêm cấm cha mẹ giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 Bộ luật hình sự 2015); Cha mẹ, người chăm sóc bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em (khoản 9, Điều 4 Luật Trẻ em 2016) Trong gia đình, các thành viên gồm cha, mẹ, ông, bà đều có nghĩa vụ chăm sóc trẻ em ngay cả khi cha mẹ đã ly hôn (Điều 103, Điều 82, Điều 71 Luật Hôn nhân

và gia đình 2014) Trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi mà không xác định được cha mẹ, Nhà nước vẫn có trách nhiệm phải đảm bảo thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

và các quyền khác của các em Mặc dù theo định nghĩa về “Quyền”, một số trẻ em, đặc biệt ở độ tuổi dưới 5 tuổi chưa thể nhận thức về quyền của mình để có thể chủ động “đòi hỏi” được nhận quyền, nhưng không vì hạn chế về nhận thức cũng như khả năng diễn đạt bằng lời nói, chữ viết mà quyền của trẻ em bị hạn chế, bị bỏ qua

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em là một nội dung trong nội hàm quyền có mức sống thích đáng nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights) Theo đó, “mọi người có

Trang 23

quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và sự yên vui của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ

xã hội cần thiết” Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng không chỉ bao gồm các khía cạnh về thể chất như ăn no mặc ấm, tiếp cận nước sạch, nhà cửa, môi trường an toàn

mà còn bao gồm bao gồm cả khía cạnh về tinh thần, sự yêu thương và cảm thông giữa các thành viên với nhau trong gia đình, bao gồm cả gia đình thay thế hay môi trường chăm sóc thay thế và tạo môi trường thuận lợi để phát triển các mối quan hệ

xã hội của trẻ em Tại Điều 15, Luật trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện” và khoản 2 Điều 4 Luật trẻ em cũng quy định “Phát triển toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em”

Đối với trẻ em không nơi nương tựa, vì bị mất đi nguồn nuôi dưỡng chính một cách thụ động, một cách đột ngột, không có lựa chọn nào khác, các em buộc phải nương nhờ một chủ thể khác không phải cha mẹ Vì vậy, việc được hưởng, được đòi hỏi quyền chăm sóc và nuôi dưỡng cần được thực hiện cấp bách hơn bao giờ hết Nếu may mắn còn người thân, họ hàng thân thích, các em sẽ không bơ vơ, vẫn có người thương xót và để ý đến các em và thay mặt các em để thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm bảo vệ và chăm sóc các em Nhưng nếu không còn người thân nào, hoặc các em lâm vào hoàn cảnh không nơi nương tựa quá đột ngột như cha mẹ mất tích do thiên tai thì tự các em không thể nghĩ ra cách để được bảo vệ một cách nhanh chóng nếu không được cung cấp thông tin từ trước

Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa cũng đặc biệt hơn việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em khác vì các em vốn dĩ vẫn còn cha hoặc mẹ, nhưng vì hoàn cảnh, các em phải xa những người sinh thành này và các em phải/được tiếp nhận việc chăm sóc thay thế Như vậy, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa được thực hiện theo bốn bước, thực hiện lần lượt các bước như sau: Bước 1 Nhận diện trẻ em thuộc trường hợp không nơi nương tựa Bước 2: Tìm nơi chăm sóc thay thế phù hợp Bước 3: Giao trẻ em cho nơi chăm sóc thay thế Bước 4: Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng tại nơi chăm sóc thay thế Ngay tại bước 2, một

số trường hợp các em vẫn còn cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ, do đó, cần cân nhắc đến việc lựa chọn nơi chăm sóc thay thế phù hợp trên cơ sở tính đến và có thứ tự ưu tiên đối với các nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”, “quyền được sống chung với cha mẹ”, “quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ” Điều 7 CUQTE, Ủy ban quyền

Trang 24

trẻ em xác định, việc tôn trọng vai trò của cha mẹ bao gồm nghĩa vụ không cách ly trẻ

em khỏi cha mẹ, trừ khi việc cách ly như thế đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ, bởi trẻ

em đặc biệt dễ bị tổn thương khi bị tách ly khỏi cha mẹ Đồng thời, tại bước 2 này cũng cần có sự giám sát không chỉ từ cơ quan chức năng (thuộc nhánh hành pháp), chính quyền địa phương mà còn từ cơ quan tư pháp để đảm bảo việc tách trẻ em ra khỏi môi trường gia đình được thực hiện đúng đắn và nghiêm túc

Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa phải phù hợp với nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” “Lợi ích tốt nhất cho trẻ em” được nhắc tới tại một số điều của CUQTE: trẻ em bị cách ly khỏi cha mẹ (điều 9); trách nhiệm của cha mẹ (Điều 18); sắp xếp nuôi dưỡng (Điều 20); nhận con nuôi (Điều 21); bị tước quyền tự do (Điều 37); và tư pháp người chưa thành niên (Điều 40) Tuy nhiên, “lợi ích tốt nhất cho trẻ em” được trình bày rõ ràng nhất tại khoản 1, Điều 3 CUQTE: Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu Nguyên tắc này được thể hiện ở các yêu cầu đối với việc chăm sóc thay thế được quy định tại Điều 60 Luật trẻ em 2016:

“Điều 60 Các yêu cầu đối với việc thực hiện chăm sóc thay thế

1 Phải dựa trên nhu cầu, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ của trẻ em và bảo đảm quyền của trẻ em

2 Bảo đảm an toàn cho trẻ em, bảo đảm ổn định, liên tục và gắn kết giữa trẻ

em với người chăm sóc trẻ em

3 Phải dựa vào ý kiến, nguyện vọng, tình cảm, thái độ của trẻ em tùy theo độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em; trường hợp trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên phải lấy ý kiến của trẻ em

4 Ưu tiên trẻ em được chăm sóc thay thế bởi người thân thích Trường hợp trẻ em có anh, chị, em ruột thì được ưu tiên sống cùng nhau

5 Bảo đảm duy trì liên hệ, đoàn tự giữa trẻ em với cha, mẹ, các thành viên khác trong gia đình khi đủ điều kiện, trừ trường hợp việc liên hệ, đoàn tụ không bảo đảm sự an toàn, không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Tóm lại, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

là quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và sự yên

Trang 25

vui của bản thân về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết để có thể phát triển một cách toàn diện và được đảm bảo về mặt pháp lý Nhà nước, gia đình và xã hội có trách nhiệm thực hiện quyền này để đảm bảo không một trẻ em nào bị bỏ lại phía sau

1.1.3.2 Đặc điểm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

Dù tiếp cận ở góc độ quyền tự nhiên (natural rights) hay quyền pháp lý (legal rights) Quyền trẻ em mà cụ thể ở đây là quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng là một bộ phận của quyền con người (các quyền do nhà nước xây dựng và pháp điển hóa vào các quy phạm pháp luật) Do đó ngoài các đặc điểm chung của quyền con người như tính phổ biến, tính không thể khoan nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau thì quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng của trẻ

em không nơi nương tựa còn có những đặc điểm riêng sau:

Về đối tượng của quyền: đối tượng của quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng

chính là sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và các vấn đề tổng hòa khác (sự hòa nhập, cơ hội vui chơi, cơ hội giao tiếp với xã hội…) để trẻ em không nơi nương tựa

có thể phát triển một cách toàn diện

Về chủ thể của quyền: là một trong những nhóm yếu thế, trẻ em không nơi

nương tựa xuất thân trong những hoàn cảnh éo le Không kể đến các trường hợp cha

mẹ là người bình thường nhưng đã mất hoặc mất tích, mất khả năng tạo thu nhập, các trường hợp còn lại thường là cha mẹ bị giam giữ do phạm tội, hoặc nghiện ngập phải vào cơ sở cai nghiện, hoặc chưa đủ nhận thức đã làm cha mẹ (cha mẹ đều là trẻ em) Có thể thấy những trường hợp này, cha mẹ có nhân thân không tốt, trẻ em có nguy cơ phải sống và được dạy dỗ trong môi trường có nguy cơ cao, dễ bị tổn thương, bị bạo hành, bị lôi kéo, bị lạm dụng từ trước khi được nhận diện là trẻ em không nơi nương tựa Do đó, việc chăm sóc, nuôi dưỡng các em cũng gặp rất nhiều khó khăn do các em có thể đã bị tổn thương, xâm hại từ trước

Về chủ thể thực hiện quyền: Khác với thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

trẻ em có hoàn cảnh bình thường, chủ thể thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa được quyết định và thực hiện trước hết từ Nhà nước, sau mới đến gia đình và xã hội Vì mất đi môi trường gia đình, ngay khi trẻ

em được nhận diện là đối tượng trẻ em không nơi nương tựa, các em sẽ được Nhà nước bảo vệ bằng các cấp độ hỗ trợ và can thiệp Sau đó, Nhà nước phải theo dõi,

Trang 26

đánh giá trẻ em được nhận chăm sóc thay thế và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo độ tuổi, theo hoàn cảnh riêng của các em Gia đình và xã hội, mà đặc biệt là người nhận chăm sóc thay thế là những người trực tiếp thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng các em, do đó, cần được cung cấp thông tin, kiến thức và kỹ năng về việc chăm lo cho một đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là kiến thức về tâm lý nhằm giúp các em nhận thức đúng và nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới Trẻ em cũng là chủ thể thực hiện quyền của mình, đôi khi là trong vô thức Khi nhận thức được bồi đắp dần dần theo năm tháng, các em có thể hoàn toàn là chủ thể thực hiện quyền của mình

Về cách thức thực hiện quyền: trẻ em không nơi nương tựa được chăm sóc,

nuôi dưỡng dựa vào hình thức chăm sóc thay thế tạm thời hoặc lâu dài tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội Trong đó, ưu tiên hình thức chăm sóc thay thế tại cộng đồng Khi không ai nhận chăm sóc thay thế các em, các em mới được chuyển tới cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội Nhà nước có trách nhiệm giám sát hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng này thông qua các cơ quan chức năng, mà chủ yếu bởi chính quyền địa phương

1.2 Nội dung về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

1.2.1 Quyền được sống chung với cha, mẹ

Cha, mẹ là người sinh thành ra trẻ em Là người có mối liên hệ huyết thống,

có sợi dây tình cảm thiêng liêng mẫu tử, phụ tử tự nhiên với trẻ em Trẻ em cũng cần sống chung với cha mẹ như một lẽ tự nhiên để được hưởng trọn vẹn tình cảm gắn bó của gia đình Trẻ em không nơi nương tựa có đặc điểm là các em không hoàn toàn mất đi cha hoặc mẹ Cha, mẹ của các em chỉ tạm thời mất đi khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng các em, do đó quyền được sống chung với cha, mẹ là nội dung cần được cân nhắc đầu tiên khi thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ

em không nơi nương tựa Quyền được sống chung với cha mẹ được nhắc tới trong nội hàm quyền chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở khía cạnh trẻ em không bị cách ly khỏi cha, mẹ về mặt không gian, thời gian Khi quyền này không thể thực hiện được

vì lý do: 1 Cha mẹ bị cách ly khỏi trẻ em theo quy định của pháp luật 2 Cha mẹ đang sống trong môi trường bị giam giữ hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào

cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc 3 Cha mẹ đều đang mất tích 4 Cha hoặc mẹ chết và người còn lại mất tích thì việc cách ly về không gian, thời gian

Trang 27

mới cần được tính đến Nhà nước cần tạo điều kiện để trẻ em thuộc diện không nơi nương tựa được sống cùng cha hoặc người mẹ còn lại Quyền này cần được nhấn mạnh ở khía cạnh, khi nhận định một trường là trẻ em không nơi nương tựa, người làm công tác bảo vệ trẻ em cần cân nhắc hài hòa giữa quyền được sống chung với cha mẹ với nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của trẻ em” trước khi lựa chọn các phương án chăm sóc thay thế Đặc biệt khi Nghị định 56/2017/NĐ-CP xác định trường hợp khi cha mẹ đều ở độ tuổi trẻ em thì con của đối tượng cha mẹ này cũng

là trẻ em không nơi nương tựa, hoặc cha mẹ đều không còn khả năng nuôi dưỡng (có thể vì lý do sức khỏe mà không kiếm được thu nhập…) trẻ em thì sự can thiệp bằng giao cho đối tượng khác chăm sóc thay thế có thể dẫn tới việc các em không được sống chung với cha mẹ đẻ của mình và cần được cân nhắc Việc giao chăm sóc thay thế cần sắp xếp ưu tiên thêm về khả năng được tiếp tục ở cùng cha mẹ

Quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Cụ thể, CUQTE ghi nhận vai trò và trách nhiệm của cha mẹ như sau:

Điều 18 xác định một nguyên tắc là cha mẹ, và trong những trường hợp nhất định là người giám hộ pháp lý, có trách nhiệm chính trong việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em Điều này cũng quy định rõ, trong gia đình, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái là trách nhiệm chung của các bậc cha mẹ và trong việc này, lợi ích của trẻ

em phải là mối quan tâm hàng đầu của họ Đồng thời, Điều 18 cũng ấn định nghĩa

vụ của các nhà nước phải dành cho các bậc cha mẹ và người giám hộ pháp lý sự giúp đỡ thích đáng để họ có thể hoàn thành tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em Theo tinh thần Điều này, việc giúp đỡ các bậc cha mẹ để học có khả năng chăm sóc, giáo dục trẻ em là biện pháp ưu tiên, việc giao trẻ em cho cộng đồng hay Nhà nước chăm sóc chỉ được coi là biện pháp cuối cùng bởi trẻ em rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương khi bị tách khỏi bố mẹ, gia đình

CUQTE cũng quy định về việc cách ly với cha mẹ tại Điều 9 như sau:

“1 Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị tách khỏi cha, mẹ trái với ý muốn của họ, trừ trường hợp do các cơ quan có thẩm quyền quyết định với sự thẩm định của tòa án rằng theo pháp luật và các thủ tục áp dụng

thì việc tách khỏi cha, mẹ như vậy là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em Quyết định này có thể là cần thiết trong những trường hợp đặc biệt như trẻ em bị cha mẹ lạm dụng hay bỏ mặc, hoặc khi cha mẹ sống ly thân và cần có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em

Trang 28

2 Trong mọi quá trình tố tụng theo như khoản 1, mọi bên liên quan phải được có cơ hội tham gia và bày tỏ quan điểm của mình

3 Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền của đứa trẻ phải sống cách

ly khỏi cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, được duy trì những quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.”

Như vậy, theo Điều 9 CUQTE, nguyên tắc cần tuân thủ trong vấn đề này là việc cách ly khỏi cha mẹ chỉ có thể thực hiện nếu như điều đó mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ và phải có sự tham gia của chính quyền và của tòa án Khi một đứa trẻ

bị cách ly khỏi cha mẹ, đứa trẻ phải được tạo điều kiện để được duy trì những quan

hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ

Luật trẻ em 2016 ghi nhận quyền được sống chung với cha, mẹ tại Điều 22 như sau: “Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em

được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em” Cùng với đó, Luật trẻ em 2016 cũng cũng ghi nhận quyền được chăm sóc thay thế tại Điều 24 như sau: “Trẻ em được chăm

sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha

đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và

lợi ích tốt nhất của trẻ em”

1.2.2 Quyền được chăm sóc thay thế

Chăm sóc thay thế là việc một người/một tổ chức đứng ra nhận trẻ em về chăm sóc thay cho cha mẹ ruột (vì cha mẹ ruột không còn, cha mẹ không có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con cái…) thông qua một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Việc nhận chăm sóc thay thế không làm mất đi quyền và nghĩa vụ của cha

mẹ ruột đối với con cái cũng như giữa con cái với cha mẹ ruột trừ khi cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con cái theo phán quyết của Tòa án Chăm sóc thay thế là cần thiết nhằm tìm ra cá nhân/tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em không nơi nương tựa

Khi mất đi nguồn chăm sóc, nuôi dưỡng từ cha/ mẹ, trẻ em cần được chăm sóc thay thế từ các chủ thể khác CUQTE quy định tại Điều 20: “Một trẻ em, tạm thời hay

Trang 29

vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản thân mình mà không được phép tiếp tục ở trong môi trường gia đình,

có quyền được hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước Các quốc gia thành viên phải cho các trẻ em như thế được hưởng sự chăm sóc thay thế tương ứng, phù hợp với pháp luật quốc gia Sự chăm sóc như thế có thể bao gồm nhiều hình thức, chẳng hạn như gửi nuôi, hình thức Kafala theo luật Hồi giáo5, việc nhận làm con nuôi, hoặc nếu cần thiết, gửi vào những cơ sở chăm sóc trẻ em thích hợp Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích đáng đến mong muốn nuôi dạy trẻ em lâu dài cũng như đến nền tảng dân tộc, tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ của đứa trẻ.”

Luật trẻ em 2016 đã dành hẳn một mục cụ thể quy định về chăm sóc thay thế, trong đó quy định về các yêu cầu đối với việc thực hiện chăm sóc thay thế; các hình thức chăm sóc thay thế; các trường hợp trẻ em cần chăm sóc thay thế; điều kiện chăm sóc thay thế; trách nhiệm và quyền của người nhận chăm sóc thay thế; đăng

ký nhận chăm sóc thay thế; thẩm quyền quyết định chăm sóc thay thế; đưa trẻ em vào cơ sở trợ giúp xã hội; theo dõi, đánh giá trẻ em được nhận chăm sóc thay thế; chấm dứt việc chăm sóc thay thế

Quy định về chăm sóc thay thế rất quan trọng, đặc biệt đối với trẻ em lâm vào hoàn cảnh mất đi môi trường gia đình Nó là định chế đảm bảo cho việc các em

có thể sống, phát triển ở điều kiện cơ bản nhất, không bị chênh lệch quá xa với các

em có hoàn cảnh bình thường khác Cung cấp cho các em một nơi khác để “nương tựa” Quan trọng nhất là các em tránh được nguy cơ bị xâm hại, bị phát triển lệch lạc vì không có ai quan tâm, bị bỏ lại phía sau so với mặt bằng chung của xã hội

Tuy nhiên, theo tác giả, việc chăm sóc thay thế đối với trẻ em không nơi nương tựa là không dễ thực hiện, đặc biệt đối với trường hợp giao cho người không thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm của trẻ em không nơi nương tựa Một là, các em có cha mẹ có nhân thân không tốt như: đang chịu hình phạt tù, đang phải đi cai nghiện… dẫn tới tâm lý e ngại của người nhận chăm sóc thay thế khi phải “liên hệ” không sớm thì muộn với những đối tượng này

vì chăm sóc thay thế không làm chấm dứt mối quan hệ giữa đứa trẻ với cha mẹ ruột của chúng Hơn nữa, rất có thể trong thời gian sống chung với cha mẹ ruột, đứa trẻ cũng đã có những hành vi xấu như: trộm cắp, hỗn láo, thậm chí cũng nghiện ma túy…Hai là, việc chăm sóc thay thế chỉ mang tính tạm thời Khác với trường hợp

5 Một hình thức nhận con nuôi trong Hồi giáo nhưng đứa trẻ không được coi là con thực sự của cha mẹ nuôi

Trang 30

nhận chăm sóc thay thế trẻ bị bỏ rơi hay trẻ mồ côi, việc nhận chăm sóc thay thế sẽ lâu dài, liên tục và ít trường hợp các em sẽ gặp lại cha mẹ ruột của mình, đối với trẻ

em không nơi nương tựa, khi cha mẹ phục hồi lại khả năng chăm sóc, các em sẽ được/bị chấm dứt chăm sóc thay thế, và như vậy sẽ dẫn tới sự “chia ly” với người nhận chăm sóc thay thế Khi nuôi dưỡng trẻ em sẽ nảy sinh một mối quan hệ tình cảm gắn bó giữa “người nuôi” và “người được nhận nuôi” Tình cảm này không phải nói chấm dứt là chấm dứt Ngay cả khi đã giao trẻ em cho cha mẹ ruột, “người nhận nuôi” vẫn sẽ trăn trở về việc đứa bé có sống tốt không, có được chăm sóc chu đáo không… chính vì vậy, người ta thường e ngại khi được đặt vấn đề nhận nuôi một em bé không nơi nương tựa

1.2.3 Quyền được đáp ứng các điều kiện sinh hoạt cần thiết

1.2.3.1 Quyền được đáp ứng về lương thực, thực phẩm

Khoản 1 Điều 25 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền quy định: mọi người đều

có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch

vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ Trẻ em cũng nằm trong nhóm đối tượng trên và cần được đáp ứng đầy đủ về lương thực, thực phẩm.Theo định nghĩa của giới y học, dinh dưỡng là quá trình cung cấp năng lượng từ thức ăn và chuyển hóa năng lượng trong tế bào để nuôi dưỡng cơ thể Dinh dưỡng chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển cơ thể và giữ gìn sức khỏe con người Ở mỗi thời kì phát triển của một đời người, nhu cầu về dinh dưỡng lại có sự khác biệt Đáp ứng một cách hợp lý cho các nhu cầu đó luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, vì đó là nền tảng của sức khỏe Điều này càng có tầm quan trọng đặc biệt với trẻ nhỏ, vì các sai lầm, thiếu hụt về dinh dưỡng trong giai đoạn ấu thơ

có thể sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe con người Việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể chủ yếu được thực hiện qua đường ăn uống, tức là tiếp nạp thực phẩm vào cơ thể Do đó, quyền được đáp ứng về lương thực, thực phẩm là nội dung đầu tiên cần được nhắc đến của quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em không nơi nương tựa

Hiện tại, ở Việt Nam, suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Mặc dù suy dinh dưỡng nhẹ cân giảm đáng kể nhưng theo số liệu điều tra

Trang 31

dinh dưỡng năm 2017 thì tại Việt Nam có 23,8% trẻ em dưới năm tuổi thấp còi, 7% trẻ em dưới năm tuổi gầy còm, 6% trẻ em dưới năm tuổi thừa cân và hơn 50% trẻ

em dưới năm tuổi bị đói tiềm ẩn Đặc biệt tỷ lệ này vẫn còn cao ở nông thôn và các dân tộc ít người Phân bố suy dinh dưỡng ở Việt Nam không đồng đều Theo số liệu báo cáo năm 2017, ba khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung và Tây Nguyên tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi cao hơn hẳn so với các vùng khác còn trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nông thôn cũng cao hơn ở thành phố.

Bảng 2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ <5 tuổi tại Việt Nam theo khu vực năm 2017

Tên vùng Suy dinh dưỡng

(Nguồn: Giám sát dinh dưỡng 2017 – VDDQG)6

Nguyên nhân của tình trạng này là do các cuộc khủng hoảng kinh tế trước và trong năm 2009 đã làm trầm trọng thêm những điểm yếu có tính hệ thống của nền kinh tế như vấn đề nghèo đa chiều và bất bình đẳng, đặc biệt là ở các vùng cao và các nhóm dân tộc thiểu số Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho quốc gia đang giảm dần sau khi Việt Nam đạt được vị thế nước có thu nhập trung bình năm 2010

đã gây ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện các chính sách mới, cải cách ngành, giảm nghèo và cung cấp dịch vụ cơ bản cho các nhóm có hoàn cảnh khó khăn nhất Trẻ em được xếp vào các nhóm có hoàn cảnh khó khăn nhất do tỷ lệ nghèo đa chiều

ở trẻ em cao hơn so với tỷ lệ nghèo trung bình toàn quốc Bên cạnh đó, thiên tai và biến đổi khí hậu được coi là một thách thức đối với Việt Nam trong lĩnh vực trợ

6 Viện dinh dưỡng, Số liệu thống kê trẻ em suy dinh dưỡng năm 2017 [http://viendinhduong.vn/ FileUpload/Documents/2015/TLSDD%202017.pdf] (truy cập ngày 19/9/2020)

Trang 32

giúp xã hội Biến đổi khí hậu càng làm trầm trọng hơn cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là trẻ em sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng Biến đổi khí hậu tác động lên cuộc sống và sinh kế người dân theo cách này hay cách khác vì những tác dụng phụ kéo theo sau nó như: mất mùa (giảm sản lượng lương thực, giá lương thực tăng cao), bùng phát bệnh dịch…

Theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em thường được thực hiện qua việc theo dõi các chỉ số có tính định lượng như cân đo vòng đầu (đối với trẻ em dưới 12 tháng), cân nặng, chiều cao, và các yếu tố khác như thực hành nuôi con sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ dưới 36 tháng tuổi…Theo Viện dinh dưỡng Quốc gia, có thể ước tính cân nặng trung bình của trẻ trên 1 tuổi theo công thức: Cân nặng (kg) = 9 + 2 (N-1), và chiều cao của trẻ bằng công thức: Chiều cao (cm) = 75 + 6 (N-1) với N là tuổi của trẻ tính theo năm7

Để trẻ đạt được cân nặng và chiều cao này, đòi hỏi người chăm sóc trẻ phải biết và hiểu về nhu cầu dinh dưỡng của trẻ qua từng giai đoạn phát triển của trẻ tính theo

độ tuổi, đặc biệt là trong giai đoạn 3 năm đầu đời và giai đoạn vị thành niên (là hai mốc phát triển nhanh nhất của con người) Điều kiện về việc đáp ứng nhu cầu ăn – tức dinh dưỡng của các em cũng là một trong những yếu tố được theo dõi và lập thành báo cáo theo Biểu mẫu 13 của Nghị định 56/2017/NĐ-CP Báo cáo này được lập mỗi 6 tháng một lần hoặc khi trẻ em phải chuyển đổi hình thức, chuyển đổi cá nhân, gia đình chăm sóc thay thế lên UBND cấp xã

Đây là tình hình chung đối với tất cả trẻ em nói chung, không phân biệt trẻ

em có điều kiện bình thường hay trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên khi thực hiện chăm sóc thay thế đối với trẻ em, kiến thức về dinh dưỡng, các chỉ tiêu cân đo

để đánh giá các mốc phát triển của trẻ em cần được phổ cập và theo dõi bởi người làm công tác bảo vệ trẻ em và tổ chức, cá nhân nhận chăm sóc thay thế trẻ em, đặc biệt là đối với chăm sóc thay thế tại cộng đồng

1.2.3.2 Quyền được đảm bảo các điều kiện sinh hoạt thiết yếu khác

Không dừng lại ở việc chăm lo cho các em được “ăn no” (dinh dưỡng đầy đủ,

đa dạng), mà các điều kiện về “mặc ấm”, tiếp cận với nước sạch, nhà ở, đi lại, môi trường vệ sinh, an toàn cũng là những yếu tố cần thiết để trẻ đạt được điều kiện sống

7 Viện dinh dưỡng, Dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi, chuyen-mon/dinh-duong-cho-tre-em-duoi-5-tuoi.html] (truy cập ngày 19/9/2020)

Trang 33

[http://viendinhduong.vn/vi/pho-bien-kien-thuc-cơ bản Những điều kiện này cũng được liệt kê và cụ thể hóa tại Điều 11 Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 Khoản 1 điều này nêu rằng: Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được có một mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình mình, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, nhà ở,

và được không ngừng cải thiện điều kiện sống Các quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm việc thực hiện quyền này, và vì mục đích đó, thừa nhận tầm quan trọng thiết yếu của hợp tác quốc tế dựa trên sự tự do chấp thuận

1.2.4 Quyền được chăm sóc sức khỏe

Như đã nhắc đến ở phần trên, đối tượng của quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em là sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Do đó, trẻ em không nơi nương tựa phải được hưởng quyền chăm lo sức khỏe Nội dung của quyền này

là việc trẻ em được thụ hưởng dịch vụ y tế để phòng, chống bệnh tật trong suốt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng Cụ thể, trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền này được ghi nhận tại Điều 24 CUQTE:

- Chăm sóc sức khỏe ban đầu;

- Chăm sóc sức khỏe thích hợp cho bà mẹ trước và sau khi sinh;

- Chống bệnh tật và suy dinh dưỡng;

- Thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em;

- Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em;

- Phát triển công tác phòng chống bệnh tật;

- Hướng dẫn cha mẹ cũng như các hoạt động giáo dục và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình;

- Xóa bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe trẻ em

Liên quan đến Điều 24 CUQTE, Ủy ban quyền trẻ em đã có bình luận chung

số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 33 năm 2003 trong đó nêu ra nhiều khuyến nghị về các biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên có thể tiến hành để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của trẻ em, bao gồm:

- Tạo ra một môi trường an toàn và cảm thông cho trẻ em kể cả trong gia đình, nhà trường, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em và trong toàn xã hội

- Đảm bảo cho trẻ em được tiếp cận những thông tin cần thiết cho sức khỏe

và sự phát triển của chính mình, kỹ năng sống và có cơ hội tham gia vào quá trình

ra những quyết định ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em

Trang 34

- Đảm bảo cung cấp các phương tiện, hàng hóa và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm các dịch vụ hướng dẫn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần

và sức khỏe sinh sản, với chất lượng phù hợp cho trẻ em và các bậc cha mẹ

- Đảm bảo rằng mọi trẻ em đều có cơ hội tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch, lên chương trình cho sự phát triển và sức khỏe của chính các em

- Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức lao động nguy hại thông qua việc loại bỏ tất cả các hình thức lao động trẻ em và điều chỉnh môi trường, tạo điều kiện làm việc theo các tiêu chuẩn quốc tế

- Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức tai nạn, thương tích cố ý hoặc vô ý, kể cả những thương tích do bạo lực và tai nạn giao thông

- Bảo vệ các em khỏi mọi hủ tục truyền thống có hại như tảo hôn, giết trẻ em gái vì danh dự và cắt bộ phận sinh dục nữ;

- Đảm bảo trẻ em trong các nhóm đặc biệt dễ bị xâm hại được quan tâm thích đáng

- Thực thi các biện pháp phòng tránh những bất ổn về tinh thần và tăng cường sức khỏe tinh thần cho các em

Thực hiện đầy đủ các nội dung được ghi nhận tại Điều 24 CUQTE và các khuyến nghị đi kèm, Việt Nam còn cụ thể và nội luật hóa tám nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu theo Tuyên ngôn Alma-Ata 1978 và bổ sung thêm hai nội dung,

đó là: giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường, nước sạch, sức khỏe bà mẹ trẻ

em, kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh dịch địa phương, chữa bệnh và chấn thương thông thường, thuốc thiết yếu, quản lý sức khỏe, xây dựng và củng cố mạng lưới y tế cơ sở Điều này cho thấy Nhà nước đã rất nỗ lực trong việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Trẻ em trước hết phải được sống và tồn tại thì mới có thể thể đề cập đến việc làm thế nào để trẻ phát triển bình thường và toàn diện

Cụ thể, Luật trẻ em 2016 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm chăm sóc sức khỏe trẻ em tại Điều 43 có bảy nội dung:

1 Nhà nước có chính sách phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ để hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được chăm sóc sức khỏe, ưu tiên cho trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Trang 35

2 Nhà nước bảo đảm thực hiện các biện pháp theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo độ tuổi; chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ em; phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; tư vấn và hỗ trợ trẻ

em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định của pháp luật

3 Ưu tiên tư vấn, bảo vệ, chăm sóc về sức khỏe, dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai, bà mẹ nuôi con dưới 36 tháng tuổi và trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em bị xâm hại phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ

4 Nhà nước có chính sách, biện pháp tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, đặc biệt là tử vong trẻ sơ sinh; xóa

bỏ phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em

5 Nhà nước đón, hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế phù hợp với độ tuổi, nhóm đối tượng và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ

6 Nhà nước có chính sách, biện pháp để trẻ em được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và điều kiện vệ sinh cơ bản, bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật

7 Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ủng hộ, đầu tư nguồn lực để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em, ưu tiên cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Ở cấp độ đơn vị trực tiếp chăm sóc trẻ, gia đình, hộ gia đình cá nhân nhận chăm sóc thay thế, cơ sở bảo trợ xã hội phải có trách nhiệm thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh cho trẻ em (quy định tại Điều 98 Luật trẻ em 2016)

1.2.5 Quyền được bảo vệ không bị người chăm sóc xâm hại

Như đã đề cập đến ở phần khái niệm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em, trẻ em không chỉ cần được ăn uống no đủ để sống sót và phát triển về thể chất mà còn cần một môi trường an toàn lành mạnh, được vui chơi, được giáo dục, được bồi dưỡng về đạo đức, văn hóa, năng khiếu… để phát triển tốt về mặt tinh thần Do đó, quyền được bảo vệ không bị người chăm sóc xâm hại, quyền được giáo dục và quyền vui chơi giải trí cũng cần được đề cập đến với vai trò là một phần nội hàm của quyền chăm sóc, nuôi dưỡng để quyền chăm sóc, nuôi dưỡng đạt được mục đích phát triển toàn diện của trẻ

Trang 36

Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và dễ bị xâm hại Không chỉ vì thể chất non nớt, nhỏ bé, không đủ sức chống cự mà còn vì các em chưa đủ hiểu biết để nhận ra mình đang bị xâm hại, đang bị dụ dỗ, lợi dụng hoặc ý thức được hậu quả của việc xâm hại Tổn thương của các em không chỉ ở thể chất, thể chất có thể lành lặn nếu được điều trị y tế đúng cách và kịp thời Tổn thương nguy hiểm và lâu dài hơn nằm ở tinh thần và nhận thức của trẻ Đang ở độ tuổi hình thành về thói quen, tính cách, trẻ sẽ bị ảnh hưởng về cách nhìn nhận sự việc, xử sự, lệch lạc trong hành

vi và giới tính nếu không được ở trong một môi trường an toàn Theo thống kê của Liên Hiệp quốc thì tỉ lệ người bị xâm hại tình dục thời thơ ấu gặp các trục trặc về tình dục cao hơn nhóm khác 90% biểu hiện ở sự suy giảm ở khả năng tình dục, có

xu hướng tình dục đồng giới, và có trường hợp trở thành người mại dâm chuyên nghiệp hay quan hệ tình dục bừa bãi8 Trẻ em không nơi nương tựa lại dễ bị tổn thương và dễ bị xâm hại hơn vì các em vốn nhạy cảm vì đã mất đi môi trường gia đình gốc, không được cha mẹ che chở, dạy dỗ, phải nhờ cậy vào lòng hảo tâm, nhân đạo của người khác, đôi khi là người hoàn toàn xa lạ

Luật trẻ em 2016 quy định các hành vi xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại

về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác (khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em 2016) Đây cũng là những hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 6 Luật trẻ em 2016 Trước khi trở thành người chăm sóc thay thế, người nhận chăm sóc thay thế và các thành viên trong gia đình người này phải được rà soát lý lịch để đảm bảo không ai bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý

vi phạm hành chính về các hành vi xâm hại trẻ em trước đó Ngoài ra, người nhận chăm sóc còn không bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; không bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ, ép buộc hoặc chưa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua, bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em (khoản 2 Điều 63 Luật trẻ em 2016) Khi đang được chăm sóc thay thế, nếu trẻ em được phát hiện bị xâm hại bởi những người đang chăm sóc mình thì việc chăm sóc

8 Vũ Thị Thanh Nga, “Vấn đề xâm hại tình dục ở trẻ em hiện nay và sự cần thiết của hoạt động tham vấn tâm

lý tại trường học”, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội,

[http://hnmu.edu.vn/vi-su-tien-bo-cua-phu-nu/van-de-xam-hai-tinh-duc-o-tre-em-hien-nay-va-su-can-thiet-cua-hoat-dong-tham-van-tam-ly-tai-truong-hoc.html] (truy cập ngày 19/9/2020)

Trang 37

thay thế sẽ chấm dứt, trẻ em sẽ được cách ly ngay với gia đình đang nhận chăm sóc (quy định tại khoản 2, Điều 69 Luật trẻ em 2016)

Bộ luật hình sự 2015 cũng quy định các tội danh về hành vi xâm hại đối với trẻ em như: Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185), Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186)…Ngoài ra, yếu tố phạm tội với người dưới 16 tuổi cũng là một trong những yếu tố tăng khung hình phạt đối với các tội danh khác

Hiện nay, tại Việt Nam, tình hình trẻ em bị xâm hại đang có những diễn biến phức tạp Tính từ năm 2015 đến nay, cả nước có 6.432 trẻ em bị xâm hại tình dục

và 666 trẻ bị bạo hành gây thương tích Theo số liệu của Cục cảnh sát hình sự, Bộ công an số trẻ bị bạo hành, xâm hại toàn quốc có xu hướng giảm qua các năm 2015,

2016, 2017, 2018 Tuy nhiên tới 6 tháng đầu năm 2019, số vụ được ghi nhận đã bằng 75% tổng số vụ năm 2015, trong đó, đa phần các em bị xâm hại tình dục Theo thông tin tiếp nhận của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em (từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2019), thủ phạm gây ra bạo lực với trẻ em có 65% là gia đình, 19% từ trường học và 16% từ cộng đồng Thủ phạm xâm hại tình dục có 59% là người quen, hàng xóm, 21% là người thân, 6% là giáo viên nhà trường và 13% tới

từ những người khác 9Đặc biệt trong năm 2019 vừa qua cũng có nhiều tố cáo của một số đối tượng trẻ em đang được tạm thời chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ

xã hội về việc bị chính nhân viên của cơ sở xâm hại Đây là hồi chuông rúng động trong việc quản lý của các cơ sở này Vì các cơ sở này được mệnh danh là nơi có chức năng bảo vệ trẻ em mà lại để xảy ra việc xâm hại trẻ ngay trong chính khuôn viên của mình Sự việc này cũng không được phát hiện sớm mà phải chờ cho tới khi

có tố cáo của nạn nhân thì người vi phạm mới bị xử lý, thậm chí còn có dấu hiệu bao che, chậm xử lý vi phạm của người có thẩm quyền

1.2.6 Quyền được vui chơi

Được ghi nhận tại Điều 31 CUQTE: Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi và thư giãn, được tham gia vui chơi và những hoạt động giải trí và được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp

9 VNExpress, [https://vnexpress.net/infographics/hon-6-000-tre-em-bi-xam-hai-trong-gan-5-nam-4014143.html],

(truy cập ngày 19/9/2020)

Trang 38

với lứa tuổi Nội luật hóa tại Việt Nam, các nhà làm luật cũng đã cụ thể hóa quy định này thành trách nhiệm đối với Nhà nước, gia đình, giáo viên và người chăm sóc trẻ như Bảng 3:

Bảng 3 Trách nhiệm tạo điều kiện vui chơi cho trẻ

Nhà nước

(Điều 45 Luật trẻ em 2016)

Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em (Điều 99 Luật trẻ em 2016)

Cộng đồng (Điều 6 Luật trẻ em 2016)

- Nhà nước có chính sách

ưu tiên trẻ em khi sử dụng

dịch vụ vui chơi, giải trí,

thể thao, du lịch và tham

quan di tích, thắng cảnh

- UBND các cấp có trách

nhiệm lập quy hoạch, kế

hoạch sử dụng đất, đầu tư

xây dựng điểm vui chơi,

giải trí, hoạt động văn hóa,

nghệ thuật, thể thao cho trẻ

em; bảo đảm điều kiện,

thời gian, thời điểm thích

tạo, sản xuất đồ chơi, trò

chơi cho trẻ em bảo đảm an

toàn, lành mạnh, mang bản

sắc văn hóa dân tộc

Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ tạo Điều kiện

để trẻ em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi

- Không cung cấp dịch

vụ Internet và các dịch

vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi

và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em

- Không đặt cơ sở dịch

vụ, cơ sở sản xuất, kho chưa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần

cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ

em hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ

em, cơ sở giáo dục, y tế,

Trang 39

văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ

sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ

- Không lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ

em sai mục đích hoặc trái quy định của pháp luật

Quyền được vui chơi rõ ràng liên quan mật thiết tới quyền không bị bóc lột, một trong những hình thức xâm hại trẻ em Bóc lột theo Luật trẻ em 2016 được hiểu

là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định pháp luật về lao động Theo đó, hầu hết trẻ em dưới 15 tuổi không phải là đối tượng của quan hệ lao động, được trả tiền công và có quan hệ thuê mướn với người khác Nhưng trẻ em vẫn có khả năng lao động và phụ giúp công việc trong gia đình như chăn nuôi gia súc, chăm sóc cây cối nông sản, buôn bán phụ giúp gia đình… Việc phụ giúp các công việc trong gia đình không phải là xấu nhưng nó liên quan ở góc độ trẻ em cần được bảo vệ để không bị làm việc quá mức và có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn

Chuyên gia của Unicef đã nhận định: vui chơi là nền móng cho sự phát triển của trẻ, không chỉ về thể chất và trí tuệ mà còn là sự phát triển xã hội, đạo đức và tình cảm và do vậy ảnh hưởng tới sự phát triển cá tính và khả năng giải quyết những

áp lực và tranh chấp; vui chơi là một cách bảo vệ trẻ, chống bị bóc lột và làm việc quá mức; vui chơi là một cách ngăn chặn bạo lực và tội phạm (đằng sau bạo lực và tội phạm trong giới trẻ và vị thành niên có rất nhiều yếu tố, nhưng người ta cho rằng

lý do lớn nhát là việc thiếu hoạt động vui chơi hay cơ hội giải trí thích hợp)10

10 Unicef, Quyền trẻ em – Biến nguyên tắc thành hành động, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2005, tr 110

Trang 40

1.2.7 Quyền được giáo dục

Quyền được giáo dục nằm trong nguyên tắc về sự sống còn, phát triển và bảo

vệ trẻ em thuộc CUQTE Về tổng thể của sự phát triển, sự phát triển của trẻ không chỉ là sự lớn mạnh về thể chất và sức khỏe, nó còn gồm cả sự phát triển về văn hóa, tinh thần, đạo đức, xã hội và tâm hồn (Điều 27) Nó liên quan đến từng cá nhân trẻ

và là một quá trình hiện thực hóa tiềm năng vốn có của các em

Nội dung quyền được giáo dục này không chỉ nằm ở phạm vi hẹp là thực hiện giáo dục ở nhà trường – chủ yếu là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là sự giáo dục

ở các hình thức chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật theo Bảng 4

em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ

em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh

sống tại các xã biên giới, miền núi, hải

đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã

hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận

giáo dục phổ cập, giáo dục hòa nhập,

được học nghề và giới thiệu việc làm

phù hợp với độ tuổi và pháp luật về lao

động

- Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục,

bảo đảm công bằng về cơ hội tiếp tục

giáo dục cho mọi trẻ em; giáo dục hòa

nhập cho trẻ em khuyết tật; có chính

sách miễn, giảm học phí cho từng nhóm

đối tượng trẻ em phù hợp với điều kiện

phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ

- Chương trình, nội dung giáo dục phải

- Cha, mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để trẻ em tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng

- Có chỗ ở và điều kiện kinh tế phù hợp, bảo đảm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em

- Tạo điều kiện để trẻ em được đi học

Ngày đăng: 22/04/2021, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
3. Chỉ thị 20/CT-TW ngày 5/11/2012 về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới”;B. Văn kiện pháp lý quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
1. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố ngày 27 tháng 06 năm 1991 Khác
5. Công ước của ILO về nghiên cứu và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 Khác
6. Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 Khác
7. Nghị định thư của LHQ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Khác
8. Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000, bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em Khác
9. Nghị định thư không bắt buộc về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang năm 2000, bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trrẻ em Khác
10. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w