1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

79 109 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Tác giả Phạm Hoàng Dũng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về hệ thống quy định pháp luật liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư dựa trên các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM LIÊN KẾT ĐẦU TƯ

CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Thủy

Học viên: Phạm Hoàng Dũng, Cao học Luật Kinh tế, khóa 30

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp

kinh doanh bảo hiểm nhân thọ” này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

với sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Thủy Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các số liệu, kết quả nghiên cứu đã công bố được tham khảo trong luận văn đều đảm bảo sự trung thực, tin cậy và trích dẫn nguồn tài liệu chính xác, đúng quy định

Phạm Hoàng Dũng

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM LIÊN KẾT ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 7

1.1 Khái quát chung về bảo hiểm liên kết đầu tư 7

1.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm liên kết đầu tư 7

1.1.2 Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư 10

1.2 Các nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư 12

1.2.1 Bảo hiểm liên kết chung (Universal life insurance) 13

1.2.2 Bảo hiểm liên kết đơn vị (Unit-linked life insurance) 14

1.3 Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm liên kết đầu tư 16

1.3.1 Cơ cấu phí bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm được tách bạch giữa phần bảo hiểm rủi ro và phần đầu tư 17

1.3.2 Bên mua bảo hiểm được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm và được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư hoặc chịu mọi rủi ro từ đầu tư 20

Trang 6

1.3.3 Doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng các khoản phí do bên mua

bảo hiểm trả theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm 23

1.3.4 Mối liên hệ chặt chẽ giữa sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư với thị trường chứng khoán 23

1.3.5 Tính minh bạch cao của bảo hiểm liên kết đầu tư 24

1.3.6 Tính bảo vệ của bảo hiểm liên kết đầu tư 24

1.4 Các chủ thể tham gia bảo hiểm liên kết đầu tư 25

1.4.1 Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 25

1.4.2 Bên mua bảo hiểm 29

1.4.3 Công ty quản lý quỹ 33

1.4.4 Ngân hàng giám sát 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM LIÊN KẾT ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về một số nội dung liên quan đến hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư 36

2.1.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư 36

2.1.2 Quy định pháp luật về phí bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư 43

2.1.3 Quy định pháp luật về đại lý bảo hiểm tư vấn hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư 45

2.2 Thực trạng quy định pháp luật về một số nội dung liên quan đến hoạt động của quỹ liên kết đầu tư 48

2.2.1 Quy định pháp luật về thành lập và hoạt động của quỹ liên kết đầu tư 48

Trang 7

2.2.2 Quy định pháp luật về vai trò của ngân hàng giám sát thực hiện

giám sát hoạt động của quỹ liên kết đầu tư 50 2.2.3 Quy định pháp luật về vai trò của công ty quản lý quỹ thực hiện

quản lý quỹ liên kết đầu tư 52

2.3 Định hướng hoàn thiện một số quy định pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 54

2.3.1 Cơ sở yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư 54 2.3.2 Những định hướng hoàn thiện pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư của

doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65 KẾT LUẬN CHUNG 66

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo hiểm liên kết đầu tư là sản phẩm phi truyền thống mới xuất hiện trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, sản phẩm hội tụ đủ ba yếu tố quan trọng trong việc lập kế hoạch tài chính cá nhân đó là bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư Đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bên mua bảo hiểm sẽ là người lựa chọn việc phí bảo hiểm của mình

sẽ được đầu tư vào đâu bằng việc sở hữu một số đơn vị của quỹ đầu tư tương ứng với

số phí đóng bảo hiểm hoặc được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư từ quỹ liên kết đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Tùy từng sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đưa ra các quỹ đầu tư khác nhau với mức độ rủi ro cũng sẽ khác nhau cho bên mua bảo hiểm lựa chọn Theo đó, rủi ro và lợi nhuận từ hoạt động đầu tư được chuyển từ doanh nghiệp bảo hiểm sang cho bên mua bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư được xem là

“sản phẩm cao cấp” hơn so với những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống (như sinh kỳ, tử kỳ, hỗn hợp) vì có độ phức tạp cao hơn và cũng đáp ứng tốt hơn cho việc hoạch định tài chính dài hạn của người mua bảo hiểm vì tính linh hoạt của nghiệp vụ bảo hiểm này Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành, bảo hiểm liên kết đầu tư bao gồm sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (Universal life) và sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị (Unit-linked) Hiện nay, trong tổng số 17 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam thì tất cả các doanh nghiệp đã triển khai sản phẩm bảo hiểm hiểm liên kết chung và 5 doanh nghiệp đã triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Dựa trên hợp đồng giao kết, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ

có trách nhiệm tìm kiếm, lựa chọn các tài sản đầu tư (đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết chung) hoặc thông qua công ty quản lý quỹ (đối với sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị) để lập nên bản danh mục đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất bảo đảm quyền lợi đầu

tư cho khác hàng Thông thường, các danh mục đầu tư này là các sản phẩm trên thị trường chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng tương lai Do đó bảo hiểm liên kết đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường chứng khoán

Với những đặc điểm mang tính chuyên môn cao, trong khi những quy định hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định dẫn đến thực tiễn hiện nay đã phát sinh các vấn

đề liên quan đến việc triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư có thể làm ảnh hưởng

Trang 9

đến hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như quyền lợi của bên mua bảo hiểm Do đó, yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật nhằm hình thành khung pháp lý đủ mạnh làm nền tảng cho thị trường bảo hiểm và chứng khoán phát triển, tạo nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải thực hiện cấp thiết hơn nữa nhằm đa dạng hóa phương thức và phát triển các sản phẩm phù hợp với xu thế kinh doanh bảo hiểm

hiện nay Mặc khác, với kinh nghiệm thực tiễn đang làm pháp chế doanh nghiệp của

một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và được trực tiếp thực hiện các thủ tục xin cấp phép, triển khai nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư cho doanh nghiệp, từ đó nhận thấy một số bất cập liên quan đến quy định pháp luật đối với bảo hiểm liên kết đầu

tư, vì vậy học viên đã quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư

của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Khảo sát lịch sử nghiên cứu của đề tài

Hiện nay, đối với lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu khái quát về bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm,

ví dụ như nghiên cứu về quản trị kinh doanh bảo hiểm, hoạt động phân phối bảo hiểm, nguyên lý bảo hiểm hoặc một số vấn đề pháp lý nói chung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hơn là đi sâu vào nghiên cứu vào những đặc điểm của một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cụ thể và quy định pháp luật tác động lên những sản phẩm đó đặc biệt là bảo hiểm liên kết đầu tư Một số giáo trình, sách chuyên khảo liên quan đến kinh doanh bảo hiểm

có đề cập đến bảo hiểm liên kết đầu tư như: Trung tâm nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm

(2013), Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản, nhà xuất bản Tài chính đã giới thiệu khái

quát những điểm khác biệt chính giữa bảo hiểm liên kết đầu tư so với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống như quyền lợi bảo hiểm, hình thức đầu tư; về đặc điểm kinh doanh của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư thì Nguyễn Đăng Tuệ và Nguyễn Thị Vũ

Khuyên (2019) đã trình bày sơ lược trong Giáo trình bảo hiểm, nhà xuất bản Bách khoa

Hà Nội hay Phạm Thị Định và Nguyễn Văn Định (2015) trong Giáo trình kinh tế bảo

hiểm, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân; bên cạnh đó, công trình nghiên cứu là

luận án tiến sĩ luật học của Trần Vũ Hải (2014) về Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

nhân thọ ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn cũng có phần trình bày ngắn về

bảo hiểm liên kết đầu tư, trong đó giới thiệu về nguyên tắc bảo hiểm, khả năng cạnh

Trang 10

tranh của sản phẩm này; về quy định pháp luật thì Bùi Thị Hằng Nga (2015) trong Pháp

luật kinh doanh bảo hiểm, nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh bên

cạnh nội dung chính trình bày về quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì cũng nêu sơ lược bảo hiểm liên kết đầu tư Tuy nhiên, nhìn chung nội dung các công trình này chỉ ở mức độ giới thiệu khái quát về bảo hiểm liên kết đầu tư, vì vậy, yêu cầu có một nghiên cứu chuyên sâu hơn về quy định pháp luật liên quan đến nghiệp

vụ bảo hiểm liên kết đầu tư là một yêu cầu cấp thiết nhằm làm sáng tỏ những quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với nghiệp vụ bảo hiểm này

2.2 Những nội dung nghiên cứu được luận văn kế thừa, phát triển

Nhằm mục đích tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, luận văn đã có sự tham khảo và

kế thừa, phát triển những nội dung mà các công trình nghiên cứu đã đề cập như:

- Một số nội dung, đặc điểm cơ bản của bảo hiểm liên kết đầu tư so với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác

- Các nội dung khái quát về quy định pháp luật có liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư và tình hình triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư của các doanh

nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

2.3 Những nội dung được luận văn tiếp tục nghiên cứu

Thông qua sự tiếp thu, kế thừa một số nội dung liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư từ những công trình nghiên cứu nêu trên và các công trình nghiên cứu khác có liên quan, luận văn đã tiếp tục nghiên cứu, trình bày được nhiều nội dung về bảo hiểm liên kết đầu tư mà các công trình nghiên cứu đó vẫn đang để ngỏ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, dựa trên những nội dung về bảo hiểm liên kết đầu tư của những công

trình đã nghiên cứu, luận văn nghiên cứu kỹ hơn và giới thiệu được lịch sử phát triển của bảo hiểm liên kết đầu tư trên thế giới và tại Việt Nam Luận văn cũng trình bày được các nội dung liên quan đến đặc điểm, tính chất và đưa ra được định nghĩa bảo hiểm liên kết đầu tư

Thứ hai, những quy định pháp luật có liên quan đến bảo hiểm liên kết đầu tư mà

các công trình nghiên cứu chưa đề cập chi tiết, cụ thể đã được luận văn trình bày, phân tích về thực tiễn quy định pháp luật hiện hành (có sự tham khảo với các quy định pháp luật trước đây), từ đó làm rõ hơn những nội dung pháp lý của bảo hiểm liên kết đầu tư

và đề xuất những nội dung cần hoàn thiện

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, thông qua việc đánh giá sự áp dụng các quy định này để đưa ra những kiến nghị về mặt lý luận để hoàn thiện pháp luật về nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phù hợp với xu thế phát triển trong tình hình mới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu đã được xác định cụ thể, các vấn đề đặt ra đối với nhiệm

vụ nghiên cứu đề tài là:

- Hệ thống cơ sở lý luận và quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

- Nhận định, đánh giá thực tiễn áp dụng một số quy định pháp luật hiện hành

về bảo hiểm liên kết đầu tư để làm tiền để cho việc đưa ra các lập luận, đề xuất điều chỉnh những nội dung phù hợp

- Trình bày các đề xuất hoàn thiện một số quy định pháp luật hiện hành còn đang bất cập, đồng thời bổ sung những nội dung mới phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển của bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về hệ thống quy định pháp luật liên quan đến nghiệp

vụ bảo hiểm liên kết đầu tư dựa trên các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành là các văn bản điều chỉnh trực tiếp đến dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư như bảo hiểm liên kết chung và bảo hiểm liên kết đơn vị, ngoài ra còn có các quy định pháp luật chung và chuyên ngành có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật chứng khoán, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn những quy định này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài xác định mục đích nghiên cứu là quy định pháp luật liên quan đến nghiệp

vụ bảo hiểm liên kết đầu tư, do đó đề tài giới hạn việc nghiên cứu, phân tích đánh giá các quy định pháp luật kể từ khi Luật kinh doanh bảo hiểm được ban hành từ năm 2000

Trang 12

đến thời điểm hiện nay Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh doanh bảo hiểm nhân thọ nói chung và các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác cũng như các quy định pháp luật của giai đoạn trước đó được sử dụng nhằm mục đích giới thiệu, làm rõ thêm những nội dung cũng như tạo cơ sở đánh giá tính hiệu quả, ý nghĩa của mục đích nghiên cứu và thực hiện đề tài

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết quyết các vấn đề đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng để phân tích những quy

định pháp luật, từ đó xác định được các vấn đề đang tồn tại còn hạn chế và xác định được những điểm mới cần điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế và cụ thể hơn là

đề xuất những nội dung cần hoàn thiện

- Phương pháp lịch sử: nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam qua

các giai đoạn lịch sử từ trước khi có Luật kinh doanh bảo hiểm được ban hành cho đến thời điểm hiện nay để nhận diện những chuyển biến về tư duy pháp lý và có được những

đề xuất phù hợp trong tiến trình chung của sự phát triển

- Phương pháp thống kê: thông qua các số liệu được công bố bởi các cơ quan,

tổ chức để làm rõ các nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện, từ đó nhằm củng cố các nội dung được trình bày để đề xuất, định hướng hoàn thiện quy định pháp luật liên quan

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt nghiên cứu học thuật

Với sự nghiên cứu, tiếp thu một số nội dung của bảo hiểm liên kết đầu tư từ những công trình có liên quan, luận văn đã đưa ra được định nghĩa bảo hiểm liên kết đầu tư làm cơ sở cho việc nghiên cứu các đặc điểm, tính chất để đi sâu vào các nội dung cần

Trang 13

nghiên cứu nhằm hoàn thiện đề tài, từ đó luận văn hi vọng đã đóng góp vào số lượng rất

ít các công trình nghiên cứu chuyên khảo liên quan đến pháp luật bảo hiểm liên kết đầu

tư và sẽ là tư liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu pháp luật liên quan đến đề tài này cũng như pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nói chung

6.2 Về mặt hoàn thiện quy định pháp luật

Dựa trên việc nghiên cứu hệ thống, phân tích và trình bày những dẫn chứng cụ thể một số quy định pháp luật có liên quan, qua đó đề tài có thể sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khái quát về sản phẩm bảo bảo hiểm liên đầu tư, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật và các đề xuất một số nội dung tham khảo nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư hiện nay, góp phần vào sự phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm này

cả về mặt lý luận và thực tiễn quy định pháp luật bảo hiểm liên kết đầu tư cũng như đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài danh mục từ viết tắt, mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận văn bao gồm 2 chương chính trình bày các nội dung như sau:

Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Thực tiễn quy định pháp luật về bảo hiểm liên kết đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM LIÊN KẾT ĐẦU TƯ CỦA

DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Khái quát chung về bảo hiểm liên kết đầu tư

1.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển bảo hiểm liên kết đầu tư

Sự ra đời của BHNT xuất phát từ nhu cầu trong cuộc sống của con người, đảm bảo cho cuộc sống của chính họ, khi còn trẻ cũng như khi đã về già và ngay cả khi họ qua đời BHNT là cam kết của DNBH đáp ứng nhu cầu một khoản tài chính (số tiền chi trả) trong tương lai của người tham gia bảo hiểm đã lựa chọn để sử dụng khi xảy ra các rủi ro, sự cố bất ngờ hoặc các sự kiện được bảo hiểm đã được quy định trong HĐBH, đồng thời người tham gia bảo hiểm phải cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như thỏa thuận với DNBH Về khía cạnh định nghĩa chung, theo giáo trình bảo hiểm

của Đặng Văn Dân thì: “Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người

tha gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người 1

Còn theo từ điển thuật ngữ bảo hiểm của Harvey W Rubin thì: “Bảo hiểm nhân thọ là

sự bảo vệ trường hợp tử vong của một người bằng hình thức trả tiền cho người thụ hưởng, thường là thành viên của gia đình, doanh nghiệp hoặc tổ chức Bằng cách đổi một loạt các khoản phí bảo hiểm hoặc thanh toán phí bảo hiểm một lần khi người được bảo hiểm chết, số tiền bảo hiểm (và bất kỳ số tiền bảo hiểm bổ sung nào được kèm theo đơn bảo hiểm) trừ đi khoản vay chưa trả theo hợp đồng bảo hiểm và khoản lãi cho vay,

sẽ được trả cho người thụ hưởng Những khoản trợ cấp trả khi còn sống cho người được

cạnh pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: bảo hiểm nhân thọ là

1 Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM (2018), Giáo trình Bảo hiểm, Đặng Văn Dân, NXB Tài chính, trang 70

2 Harvey W Rubin (2000), Dictionary of Insurance Terms, Barron Publishing, page 280

3 Khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000

Trang 15

vậy, có thể thấy rằng, khái niệm về BHNT có những quan điểm định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung vẫn không làm thay đổi bản chất chính yếu của BHNT là liên quan

đến sinh mạng và tuổi thọ con người

HĐBH nhân thọ đầu tiên trên thế giới ra đời ngày 18/6/1583 tại London Đây là HĐBH tử kỳ với thời hạn 12 tháng, người được bảo hiểm là ông William Gybbons, số tiền bảo hiểm là 400 bảng Anh và có 16 nhà bảo hiểm cá nhân nhận bảo hiểm cho ông Gybbons HĐBH nhân thọ đầu tiên này chỉ có một trang giấy và ghi những thông tin cơ bản về người được bảo hiểm, người thụ hưởng, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và bên dưới là 16 nhà bảo hiểm cá nhân cùng ký xác nhận Dòng dưới cùng của HĐBH ghi một lời cầu nguyện: “Thượng đế ban tặng cho ngài William Gybbons sức khỏe và sự sống lâu.” Trải qua các thế kỷ phát triển sau đó, nhiều loại hình nghiệp

vụ (sản phẩm) BHNT mới ra đời vừa đáp ứng nhu cầu kinh doanh của DNBH cũng như đáp ứng nhu cầu đa dạng của những đối tượng khách hàng khác nhau, trong đó bên cạnh các sản phẩm bảo hiểm truyền thống (như sinh kỳ, tử kỳ) thì sự ra đời của những sản phẩm cao cấp hơn mà điển hình là BHLKĐT được xem là bước phát triển mạnh mẽ không chỉ đảm bảo nhu cầu an toàn tài chính cho các cá nhân có nhu cầu tham gia BHNT

mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng do các đặc điểm riêng biệt của dòng sản phẩm này mang lại

Tại Việt Nam, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước đã bước sang một thời kỳ phát triển mới Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung Đồng thời, bảo hiểm cũng

đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động Ngày 18/12/1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP thì hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh BHNT chính thức đươc khai mở Tiếp theo đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 281TC/TCNH ngày 20/3/1996 cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) tổ chức triển khai thí điểm BHNT với hai nghiệp vụ BHNT có thời hạn 5 năm và 10 năm và bảo hiểm trẻ em - chương trình đảm bảo cho trẻ

em đến tuổi trưởng thành Với quyết định này, Bảo Việt trở thành DNBH đầu tiên và

Trang 16

duy nhất trên thị trường tại thời điểm đó tiến hành kinh doanh BHNT Ngày 09/12/2000, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X đã chính thức thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm (có hiệu lực từ ngày 01/4/2001) đã tạo

ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ cho việc phát triển kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam nói chung và BHNT nói riêng Các DNBH vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau nhằm cung cấp cho thị trường những sản phẩm BHNT phù hợp, có lợi hơn cho người tham gia bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, tại thời điểm này BHKĐT chưa được quy định cụ thể, phải đến cuối năm 2006 đầu năm 2007 khi các sản phẩm BHLKĐT được các DNBH tiên phong giới thiệu với sự chấp thuận của Bộ Tài chính thì nghiệp vụ BHLKĐT mới được điều chỉnh và chính thức quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 24/11/2010

Trên thế giới, các sản phẩm BHLKĐT đã được biết đến cách đây hơn 60 năm Sản phẩm BHLKĐT có tên tiếng Anh là “Investment-Linked Plan” hoặc “Investment-Linked Products” (thường được viết tắt cũng như được gọi tắt là sản phẩm ILP) Với các sản phẩm này, phí bảo hiểm của BMBH được chia làm hai phần tách biệt hoàn toàn: phần bảo hiểm và phần đầu tư Trong đó, phần đầu tư chính là một phần phí bảo hiểm

mà BMBH có quyền linh hoạt trong việc xác định và lựa chọn đầu tư đồng thời sẽ được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư theo cam kết (sản phẩm bảo hiểm liên kết chung) hoặc chịu mọi rủi ro từ đầu tư (sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị) từ các quỹ liên kết do DNBH thành lập Phần đầu tư chiếm tỉ trọng chủ yếu, đúng với mong muốn của BMBH

là để đầu tư gia tăng tài sản Theo đó, phần đầu tư sẽ được DNBH mang đi đầu tư vào các kênh sinh lãi tốt như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng để mang lại lợi nhuận cho khách hàng của mình

Kể từ khi ra đời năm 2006 tại Việt Nam, các sản phẩm BHLKĐT đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ thể hiện trên cả ba tiêu chí: số HĐBH khai thác mới, số tiền đã chi trả bảo hiểm và số phí bảo hiểm, tăng không ngừng qua các năm khiến cho tỷ trọng đóng góp của BHLKĐT trong lĩnh vực BHNT ngày càng tăng Theo số liệu của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, tính đến thời điểm 31/12/2019, tổng số tiền đầu tư của các DNBH nhân thọ vào nền kinh tế ước đạt 329.964 tỷ đồng Trong đó, tổng doanh thu phí BHNT mới ước đạt 107.793 tỷ đồng tăng 25% so với cùng kỳ năm 2018 Doanh thu phí của

Trang 17

nghiệp vụ BHLKĐT chiếm tỷ trọng lớn hơn cả với 56,54% tổng doanh thu phí,4 qua đó góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư dài hạn, ổn định cho nền kinh tế Điều đó cho thấy vai trò và sức thu hút đáng kể của BHLKĐT trên thị trường BHNT

1.1.2 Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu

Khái niệm “sản phẩm bảo hiểm” và “nghiệp vụ bảo hiểm” thường được hiểu mang ý nghĩa giống nhau, tuy nhiên, khi xét ở khía cạnh quy định pháp luật và cả quản trị kinh doanh thì hai khái niệm này mang đặc điểm và bản chất riêng biệt

1.1.2.1 Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư

Nghiệp vụ bảo hiểm chính là những nguyên lý cơ bản và nội dung được pháp luật cho phép để DNBH tiến hành thiết kế nên các sản phẩm phù hợp để chào bán cho BMBH Hiện nay, pháp luật kinh doanh bảo hiểm chưa có định nghĩa cụ thể về “nghiệp

vụ bảo hiểm” mà chỉ liệt kê các loại nghiệp vụ BHNT theo đó DNBH nhân thọ được phép thực hiện kinh doanh Cụ thể, Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành quy định BHNT bao gồm bảy nghiệp vụ sau: bảo hiểm trọn đời; bảo hiểm sinh kỳ; bảo hiểm tử kỳ; bảo

Trong các nghiệp vụ BHNT này thì BHLKĐT vẫn chưa được định nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên dựa trên đặc điểm pháp lý thì có thể định nghĩa

BHLKĐT như sau: “Bảo hiểm liên kết đầu tư là nghiệp vụ bảo hiểm mà bên mua bảo

hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận về quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư trong hợp đồng bảo hiểm.”

Các nghiệp vụ BHNT nói chung và BHLKĐT nói riêng phải được Bộ Tài chính chấp thuận và đề cập trong giấy phép thành lập và hoạt động của DNBH Trong quá trình triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm sau khi được chấp thuận, DNBH phải thực hiện trích lập dự phòng riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tương ứng với phần trách nhiệm của DNBH nhằm đảm bảo nguồn lực sẵn sàng chi bồi thường cho những năm có thể xảy ra những tổn thất lớn Đối với BHLKĐT, bên cạnh các khoản dự phòng theo quy định pháp luật thì DNBH còn phải trích lập dự phòng toán học và dự phòng bảo đảm lãi suất cam kết khi thị trường đầu tư có biến động hoặc kết quả đầu tư từ nguồn

4 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm (2020), Bản tin thị trường bảo hiểm toàn cầu, số 11+12+1, trang 8

5 Khoản 1 Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 18

phí bảo hiểm thấp hơn lãi suất cam kết nhằm đảm bảo lãi suất cam kết trong HĐBH với

1.1.2.2 Sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư

Dựa trên nghiệp vụ BHLKĐT, DNBH nhân thọ sẽ tiến hành thiết kế thành những sản phẩm cụ thể mang giá trị thương mại để chào bán cho BMBH, các sản phẩm thuộc

độ hàng hóa dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm là cam kết của DNBH đối với BMBH về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có các sự kiện được bảo hiểm xảy ra Điều này xuất phát từ việc khi giao kết HĐBH, bằng việc trả một khoản tiền nhất định (nộp phí bảo hiểm), BMBH sẽ được DNBH cấp giấy chứng nhận bảo hiểm xác nhận rằng DNBH sẽ bồi thường hoặc trả tiền cho họ khi xảy ra các sự kiện được bảo hiểm đã thỏa thuận Ở góc độ quản trị kinh doanh bảo hiểm thì: sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm mà DNBH thiết kế và chào bán để thu lợi nhuận, tùy nhu cầu và chiến lược kinh doanh riêng cũng như thực tế thị trường, mỗi doanh nghiệp thiết kế những sản phẩm chuyên biệt để giới thiệt với BMBH Như vậy, khi nói tới sản phẩm bảo hiểm là nói tới từng sản phẩm cụ thể mà DNBH cung cấp chứ không phải là nhóm các sản phẩm (nghiệp vụ bảo hiểm)

mà DNBH có quyền thực hiện khi được cơ quan nhà nước chấp thuận Hiện nay, DNBH nhân thọ cũng linh hoạt thiết kế các sản phẩm BHLKĐT dựa trên cơ sở kết hợp với các đặc tính của những nghiệp vụ BHNT khác như:

- Sản phẩm liên kết đầu tư trọn đời: là sự kết hợp giữa bảo hiểm trọn đời và đầu

tư Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết

nhằm mục đích bảo vệ cao Số tiền bảo hiểm được thanh toán khi NĐBH chết Vì đây

là một HĐBH dài hạn nên việc kết hợp yếu tố đầu tư mang đến sự đảm bảo vệ mặt tài chính và sinh lợi cho NĐBH, sản phẩm bảo hiểm này có một giá trị tiền mặt (giá trị hoàn lại) thường là hai hoặc ba năm sau khi đóng phí bảo hiểm

6 Khoản 3.5 Điều 18 Thông tư 50/2017/TT-BTC ngày 15/05/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm

7 Khoản 3 Điều 39 Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm

8 Khoản 16 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 19

- Sản phẩm liên kết đầu tư hỗn hợp: là sự kết hợp giữa bảo hiểm hỗn hợp và đầu

tư Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử

sống khi kết thúc thời hạn bảo hiểm Nếu NĐBH qua đời trong thời hạn bảo hiểm này, người hưởng quyền lợi sẽ được nhận số tiền bảo hiểm theo HĐBH

- Sản phẩm liên kết đầu tư trả tiền định kỳ: là sự kết hợp giữa bảo hiểm trả tiền

định kỳ và đầu tư Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp NĐBH sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải

gia sản phẩm này BMBH có cơ hội tích lũy, tiết kiệm, đầu tư với lãi suất cao để khi về già có những khoản tiền định kỳ cho mục đích chi tiêu cũng như đảm bảo tài chính cho tương lai của con cái người đó hoặc người thụ hưởng

Sau khi thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật để thiết kế hoàn chỉnh sản phẩm, DNBH nhân thọ sẽ chào bán các sản phảm BHLKĐT ra thị trường với những tên gọi khác nhau,

ví dụ hiện nay Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt triển khai sản phẩm An Phát Trọn Đời,

phẩm phù hợp, BMBH cần căn cứ vào điều kiện tài chính, nhu cầu của bản thân và gia đình cũng như cân nhắc quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định trong HĐBH

1.2 Các nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư

Như đã phân tích ở trên, BHLKĐT là một trong bảy nghiệp vụ BHNT Để cụ thể hóa, quy định pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã có sự phân chia BHLKĐT bao gồm sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị và bảo hiểm liên kết chung theo thông lệ phổ

9 Khoản 15 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

10 Khoản 17 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

11 Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Danh mục sản phẩm, https://www.baovietnhantho.com.vn/san-pham#gref, ngày truy cập 31/5/2020

12 Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam, Danh mục sản phẩm, products/, ngày truy cập 31/5/2020

https://www.prudential.com.vn/vi/our-13 Công ty TNHH BHNT Manulife Việt Nam, Danh mục sản phẩm, bao-hiem.html, ngày truy cập 31/5/2020

Trang 20

https://www.manulife.com.vn/vi/san-pham-biến trên thế giới Sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị đôi khi bị nhầm lẫn là sản phẩm bảo hiểm liên kết chung nhưng giữa hai dòng sản phẩm này có những điểm khác biệt nhất định, cụ thể như sau:

1.2.1 Bảo hiểm liên kết chung (Universal life insurance)

Bảo hiểm liên kết chung là loại hình BHNT có giá trị tích lũy bao gồm các đặc điểm linh hoạt về phí bảo hiểm, linh hoạt về số tiền bảo hiểm và linh hoạt về số tiền quyền lợi tử vong Bảo hiểm này có ba yếu tố cơ bản tách biệt trong HĐBH gồm: phí bảo hiểm cho rủi ro tử vong; tiền lãi mà DNBH sẽ trả khi vay từ giá trị tích lũy; các

sản phẩm theo đó DNBH và BMBH thỏa thuận về quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư Trong đó, nguồn phí bảo hiểm do BMBH đóng sẽ được thành lập một quỹ liên kết chung cho tất cả các HĐBH liên kết chung và thuộc quỹ chủ HĐBH Quỹ liên kết cũng phải được tách riêng khỏi quỹ chủ sở hữu và các quỹ chủ hợp đồng khác của DNBH Tài sản của quỹ liên kết chung không phân chia mà xác định chung cho tất cả các HĐBH được liên kết BMBH sẽ giao toàn quyền chủ động đầu tư cho DNBH và BMBH được hưởng quyền lợi từ kết quả đầu tư của quỹ liên kết chung Hàng năm, BMBH nhận được một báo cáo về những thông tin cập nhật của HĐBH Ngoài ra, DNBH cũng cam kết trả lãi đầu tư cho BMBH được công bố định kỳ BMBH căn cứ vào lãi đầu tư được công bố để đánh giá hiệu quả đầu tư, từ đó có thể quyết định tăng thêm số tiền bảo hiểm (phần đầu tư) hoặc giảm đi số tiền bảo hiểm của mình một cách phù hợp với sự tư vấn của DNBH Với bảo hiểm liên kết chung, BMBH sẽ có thêm nhiều lựa chọn phù hợp với mục đích và nhu cầu tài chính của mình cũng như đảm bảo được quyền lợi được bảo hiểm bởi tính chất vừa bảo hiểm vừa đầu tư một cách linh hoạt Sản phẩm bảo hiểm này thu hút được những người có số tiền tiết kiệm vừa và nhỏ, có nhu cầu gia tăng lợi nhuận tài chính muốn tham gia đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán thông qua DNBH để đảm bảo được sự an toàn và sinh lời

HĐBH liên kết chung đầu tiên được giới thiệu tại Hoa Kỳ năm 1979 bởi Công ty

14 Ngô Trung Dũng (2014), Từ điển bảo hiểm, NXB Dân trí, trang 37

15 Emmett J Vaughan and Therese M Vaughan (2014), Fundamentals of Risk and Insurance, Wiley Publishing, page 232

Trang 21

những năm sau đó dựa trên sự kết hợp giữa sản phẩm bảo hiểm tử kỳ (term life) và quỹ tích lũy (accumulation fund) Tại Việt Nam, trước khi sản phẩm bảo hiểm liên kết chung

có mặt, trên thị trường chỉ có những sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, tai nạn, bảo hiểm hỗn hợp với thời gian bảo hiểm không quá dài và chủ yếu mang tính tiết kiệm nên mức phí khá cao Dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết chung hay còn được biết đến nhiều hơn với tên gọi bảo hiểm linh hoạt được giới thiệu lần đầu tiên tại thị trường Việt Nam bởi Công

ty TNHH BHNT Chubb Việt Nam năm 2006 với tên gọi “Kế hoạch tài chính trọn đời” Một năm sau đó, ngày 23/11/2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 96/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung, chính thức luật hóa và cho phép triển khai một loại hình sản phẩm BHNT mới tại Việt Nam Ngày 21/03/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 52/2016/TT-BTC hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm kết chung thay thế Quyết định số 96/2007/QĐ-BTC và có hiệu lực cho đến nay

1.2.2 Bảo hiểm liên kết đơn vị (Unit-linked life insurance)

Sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị được giới thiệu ra thị trường như là một cách mời chào các nhà đầu tư vì các hợp đồng này liên quan trực tiếp và sâu rộng hơn đến hoạt động đầu tư so với bảo hiểm liên kết chung và các sản phẩm bảo hiểm khác, được thực hiện bằng cách liên kết giá trị của mỗi đơn vị bảo hiểm trong quỹ đầu tư đặc biệt

do DNBH quản lý hoặc với các đơn vị trong một quỹ đầu tư tín thác (tại thị trường Việt Nam hiện nay, pháp luật quy định DNBH triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị

phần hoặc toàn bộ phí bảo hiểm được dùng để mua các đơn vị trong quỹ theo giá hiện hành Giá trị tương lai của HĐBH biến động cùng với giá trị của các đơn vị đầu tư HĐBH liên kết đơn vị đầu tiên được giới thiệu tại Hà Lan vào đầu những năm đầu thập niên 1950 Tại Hoa Kỳ, HĐBH liên kết đơn vị được chào bán vào năm 1954; tại Vương Quốc Anh sản phẩm bảo hiểm này được ra mắt năm 1957; và các thị trường ở châu Á

giới đã phát triển rất đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ như:

16 Khoản 1 Điều 23 Thông tư 135/2012/TT-BTC

17 Thomas Moller and Mogens Steffensen (2007), Market-valuation methods in Life and Pension Insurance, Cambridge University Press, page 149

Trang 22

- BHNT liên kết đơn vị (Unit-linked life insurance): “Unit-linked” có nghĩa là

số tiền phí bảo hiểm được liên kết với giá của các đơn vị quỹ đầu tư “Unit” mang nghĩa các đơn vị quỹ, chứng chỉ quỹ vì phí của người đóng bảo hiểm hình thành các quỹ, mỗi quỹ được chia thành các phần đầu tư có giá trị như nhau Mỗi phần đầu tư được gọi là một đơn vị Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến tại châu Âu và những nước tại khu vực châu Á

- BHNT biến đổi (Variable life insurance): là hình thức BHNT có tích lũy trong

đó phí bảo hiểm đóng cố định nhưng quyền lợi bảo hiểm và quyền lợi bằng tiền khác có thể thay đổi tùy theo kết quả của việc đầu tư qua tài khoản đầu tư mà chủ HĐBH lựa chọn Tài khoản đầu tư là một loạt các danh mục đầu tư khác nhau mà chủ HĐBH phân

“variable” có nghĩa là lợi nhuận của quỹ biến đổi tương ứng với giá trị của các tài sản

cơ sở trong danh mục đầu tư của quỹ nhưng bản chất giống như bảo hiểm liên kết đơn

vị, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến tại Hoa Kỳ

Quyền lợi bảo hiểm theo HĐBH liên kết đơn vị phải bao gồm quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư Tuỳ theo thỏa thuận giữa DNBH và BMBH, DNBH có thể thiết kế thêm các quyền lợi bảo hiểm khác BMBH không được lựa chọn chỉ tham gia quyền lợi đầu tư mà không tham gia quyền lợi bảo hiểm rủi ro Trong đó:

- Quyền lợi bảo hiểm rủi ro: DNBH và BMBH thỏa thuận về quyền lợi bảo hiểm

rủi ro nhưng phải đảm bảo quyền lợi tối thiểu trong trường hợp NĐBH tử vong theo quy định pháp luật

- Quyền lợi đầu tư: BMBH được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm vào các quỹ

liên kết đơn vị do DNBH thành lập, được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư và chịu mọi rủi

ro đầu tư từ các quỹ liên kết đơn vị đã lựa chọn tương ứng với phần phí bảo hiểm đã đầu

Tại Việt Nam, Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam là công ty tiên phong

ra mắt dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị vào đầu năm 2007, đến ngày 14/12/2007,

Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 102/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị tại Việt Nam Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2020, đã có có 5 doanh nghiệp kinh doanh BHNT triển khai dòng sản phẩm bảo

18 Ngô Trung Dũng (2014), Từ điển bảo hiểm, NXB Dân trí, trang 32

Trang 23

hiểm liên kết đơn vị bao gồm: Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam, Công ty TNHH BHNT Manylife Việt Nam, Công ty TNHH BHNT AIA Việt Nam, Công ty

với sản phẩm này, DNBH có nghĩa vụ công bố cho người có nhu cầu mua bảo hiểm về

số lượng quỹ đầu tư và mức độ rủi ro của từng quỹ cũng như danh mục đầu tư và giá đơn vị của từng quỹ đầu tư Sản phẩm bảo hiểm này có sức thu hút đối với người tham gia bảo hiểm với mong muốn đầu tư sinh lời cao với sự tư vấn và hỗ trợ chuyên môn từ phía DNBH nhằm trợ giúp phân tích đánh giá các rủi ro danh mục đầu tư của từng quỹ đầu tư để ra quyết định lựa chọn phù hợp Dù sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị là loại sản phẩm được ưa chuộng và phổ biến từ lâu tại nhiều nước trên thế giới phát triển, nhưng với thị trường BHNT tại Việt Nam, do trình độ về dân trí và khả năng tài chính

cá nhân chưa cao nên các DNBH sẽ phải mất nhiều thời gian để giới thiệu, giải thích và cung cấp kiến thức đầu tư cho khách hàng

1.3 Những đặc điểm cơ bản của bảo hiểm liên kết đầu tư

BHNT là một lĩnh vực đặc biệt không chỉ mang bản chất chính là kinh doanh sinh lợi mà còn góp phần đóng góp cho vấn đề an sinh xã hội HĐBH giữa DNBH và BMBH góp phần đảm bảo tình trạng tài chính cho chính người đó hoặc NĐBH (nếu BMBH không đồng thời là NĐBH) và người thụ hưởng là người thân thuộc của BMBH để họ yên tâm hơn trong cuộc sống Đối tượng của BHNT là tuổi thọ con người và các HĐBH thường có thời hạn bảo hiểm lâu dài nên để thu hút người dân tham gia bảo hiểm, DNBH

sẽ thiết kế các sản phẩm mang những đặc điểm an toàn, vượt trội Ngoài cam kết đảm bảo về giá trị số tiền bảo hiểm theo hợp đồng đã cam kết, DNBH còn sẽ cung cấp thêm các sản phẩm bổ trợ kèm theo (bảo hiểm sức khỏe) để đa dạng và tối ưu hóa việc bảo vệ quyền lợi cho khách hàng Mong muốn của người tham gia bảo hiểm là vừa được gia tăng số tiền bảo hiểm vừa có thể tìm kiếm lợi nhuận gia tăng từ phần phí bảo hiểm đã đóng theo thỏa thuận với DNBH Dựa trên nhu cầu này, DNBH thiết kế nên các sản phẩm BHLKĐT ngoài việc đảm bảo số tiền bảo hiểm không thấp hơn tổng số phí bảo hiểm thì còn cam kết lãi suất đầu tư tối thiểu với phần phí bảo hiểm có thể đóng thêm

để tham gia vào quỹ liên kết chung (đối với bảo hiểm liên kết chung) hoặc được quyền

19 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, Công bố sản phẩm bảo hiểm,

https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/cbspbh?_afrLoop=101631165436576365#!%40%40

%3F_afrLoop%3D101631165436576365%26_adf.ctrl-state%3D3ahtmfar4_61, ngày truy cập 25/6/2020

Trang 24

lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm vào các quỹ liên kết đơn vị và chịu mọi rủi ro đầu tư từ các quỹ này (đối với bảo hiểm liên kết đơn vị) Về mặt lý luận, sản phẩm BHLKĐT có yếu tố đầu tư nhưng bản chất vẫn là sản phẩm BHNT, theo đó yếu tố bảo hiểm là nội dung chính chứ không phải là nội dung đầu tư, dù thực tế người tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận gia tăng khoản tiền phí bảo hiểm cho phần đầu tư nhiều hơn phần bảo hiểm rủi ro Vì bản chất là một loại hình nghiệp vụ của BHNT, do đó bên cạnh các đặc điểm của cơ bản của BHNT, BHLKĐT cũng có những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự vượt trội hơn so với những sản phẩm khác như sau:

1.3.1 Cơ cấu phí bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm được tách bạch giữa phần bảo hiểm rủi ro và phần đầu tư

Trước năm 2006, tại thị trường Việt Nam, các DNBH chỉ chào bán những sản phẩm BHNT truyền thống như bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm trả tiền định

kỳ hoặc dòng sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp nên không thu hút được người dân tham gia bảo hiểm vì những sản phẩm này có quyền lợi bảo hiểm đơn giản, không đa dạng Một

số sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp tuy có thực hiện hình thức chia lãi cho khách hàng nhưng vẫn không đảm bảo vì lãi suất cam kết sẽ dựa vào kết quả kinh doanh của DNBH Bên cạnh đó, đa phần các sản phẩm truyền thống vào thời điểm đó thường có thời gian bảo hiểm ngắn và phí bảo hiểm được BMBH cam kết đóng thường là rất cao và theo một thời gian xác định cụ thể trong HĐBH, điều này khiến cho rất ít người có điều kiện để tham gia đóng phí bảo hiểm lớn nên giá trị bảo hiểm cũng thấp tương ứng Khi được Công ty TNHH BHNT Chubb Việt Nam giới thiệu ra mắt năm 2006, sản phẩm đầu tiên của nghiệp vụ BHLKĐT đã nhận được sự đón nhận và tham gia của rất nhiều người có nhu cầu mua bảo hiểm, với nhiều quyền lợi vượt trội mà một trong số đó là số tiền bảo hiểm cao, cơ chế đóng phí linh hoạt tùy thuộc vào khả năng tài chính của từng người tham gia bảo hiểm BHLKĐT không chỉ được lựa chọn là giải pháp tiết kiệm đơn thuần

mà còn là một công cụ tài chính để BMBH bảo vệ cho mình và những người thân tránh khỏi hoặc giảm gánh nặng tài chính nếu xảy ra những tai nạn bất ngờ không lường trước được Do mang bản chất sự kết hợp giữa bảo hiểm và đầu tư nên phần phí bảo hiểm của BMBH sẽ được tách bạch thành hai phần riêng biệt là phần bảo hiểm rủi ro và phần đầu

tư theo thỏa thuận cụ thể trong HĐBH giữa DNBH và BMBH Phần đầu tư do BMBH đóng sẽ được DNBH hình thành các quỹ liên kết và thuộc quỹ chủ HĐBH (đối với bảo

Trang 25

hiểm liên kết chung) hoặc được tách và quản lý riêng khỏi quỹ chủ sở hữu, các quỹ chủ HĐBH khác (đối với bảo hiểm liên kết đơn vị) BMBH được linh hoạt trong việc xác định phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm theo thỏa thuận tại HĐBH Ngoài ra, BMBH còn

có thể rút tiền nhiều lần, và tùy vào nhu cầu cũng như khả năng của mình sẽ thỏa thuận với DNBH đóng thêm phí bảo hiểm để tham gia vào các quỹ liên kết nhằm tối đa hóa lợi nhuận đầu tư Tính chất linh hoạt và tiết kiệm của BHLKĐT được thể hiện cụ thể như sau:

1.3.1.1 Tính chất linh hoạt

DNBH được quyền cho phép BMBH thay đổi quyền lợi rủi ro, tỷ lệ phí bảo hiểm phân bổ vào quỹ liên kết (lựa chọn tăng hoặc giảm), thời gian nộp phí bảo hiểm và hoán đổi giá trị các quỹ đầu tư trong suốt thời hạn hợp đồng tùy theo nhu cầu của mình (đối với bảo hiểm liên kết đơn vị), bổ sung hay giảm bớt các quyền lợi bổ trợ khác như đã thỏa thuận trong HĐBH Vì các hợp đồng BHLKĐT là một cam kết dài hạn và các khoản phí mà BMBH phải trả là rất cao so trong thời gian đầu của hợp đồng, vì vậy một

số DNBH cho phép BMBH sau khi đóng phí bảo hiểm trong vòng vài năm đầu của thời hạn HĐBH có thể đề nghị tạm ngưng đóng phí bảo hiểm mà không bị phạt vi phạm hợp

nhiên, nếu việc tạm ngưng đóng phí trong thời gian dài, giá trị tài khoản hợp đồng sẽ không đủ khấu trừ chi phí bảo hiểm và các chi phí liên quan có thể dẫn đến hợp đồng bị mất hiệu lực Do đó, DNBH có trách nhiệm tư vấn và giải thích cụ thể, rõ ràng cho BMBH hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình để đảm bảo lợi ích của họ khi lựa chọn dòng sản phẩm này

1.3.1.2 Tính chất tiết kiệm

Đối với HĐBH của những sản phẩm BHNT truyền thống thông thường được thiết

kế phí bảo hiểm theo đó BMBH sẽ đóng phí cố định, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì DNBH phải chi trả số tiền bảo hiểm như cam kết trong HĐBH Nếu hết hạn HĐBH, người được bảo hiểm không gặp rủi ro, sự cố, sự kiện được bảo hiểm nào thì DNBH sẽ được chi trả quyền lợi bảo hiểm như đã cam kết trong HĐBH với tổng số phí bảo hiểm

mà BMBH đã đóng cộng thêm một phần bảo tức (nếu có) Bảo tức là khoản lãi được

20 Điều 18.5.3 Quy tắc và điều khoản sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Investa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Nhân thọ AIA (Việt Nam), được phê chuẩn theo công văn số 2425/BTC-QLBH ngày 23/02/2017 của Bộ Tài chính

Trang 26

xác định hàng năm căn cứ trên lợi nhuận thực tế của quỹ chủ hợp đồng tham gia chia lãi

chủ hợp đồng tham gia chia lãi và phần đóng góp của hợp đồng vào quỹ, cũng như phương thức phân bố lãi chia cho hợp đồng được các DNBH thực hiện theo phương pháp được Bộ Tài chính phê duyệt Bảo tức của một HĐBH thường được hình thành từ lãi suất do lợi nhuận đầu tư thực tế cao hơn dự tính biến động theo từng năm; tỷ lệ xảy

ra sự kiện bảo hiểm thấp hơn dự tính và chi phí thực tế thấp hơn chi phí dự tính Bảo tức được công bố hàng năm đối với những HĐBH đã có hiệu lực từ hai năm trở lên Thông thường, bảo tức được DNBH cộng dồn đến khi đáo hạn hợp đồng Đối với HĐBH có cam kết chia lãi (thường là HĐBH có giá trị lớn, có phí bảo hiểm đóng định kỳ cao) thì DNBH phải trả bảo tức ít nhất bằng lãi đã cam kết trong HĐBH Số phí bảo hiểm thu được hàng kỳ, DNBH có trách nhiệm đầu tư đảm bảo an toàn và sinh lời theo đúng quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm Số lãi đầu tư DNBH dùng để: chi trả cho các quyền lợi rủi ro; trả tiền định kỳ, bảo tức cho NĐBH và trang trải chi phí hoạt động của DNBH

Đối với BHLKĐT, cụ thể là bảo hiểm liên kết chung là sản phẩm có cam kết chia lãi, theo đó DNBH có trách nhiệm chi trả lãi suất đầu tư theo đúng cam kết dù việc đầu

tư từ phí bảo hiểm có thể có hiệu quả thấp (phần lỗ DNBH chịu trách nhiệm) Vào thời điểm kết thúc năm tài chính, DNBH có thể sử dụng một phần hoặc toàn bộ thặng dư của quỹ chủ HĐBH có chia lãi để phân chia cho các chủ hợp đồng và chủ sở hữu Trong mọi trường hợp, DNBH có trách nhiệm bảo đảm tất cả các chủ hợp đồng nhận được không thấp hơn 70% số thặng dư của tổng số lãi thu được hoặc chênh lệch thặng dư giữa

số thực tế và giả định về tỉ lệ tử vong, lãi suất đầu tư và chi phí, tùy theo số nào lớn

BMBH khi tham gia BHLKĐT, theo đó “trường hợp thị trường đầu tư có biến động

hoặc kết quả đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm thấp hơn lãi suất cam kết, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trích lập dự phòng để đảm bảo lãi suất cam kết Mức trích lập tương ứng với chênh lệch giữa kết quả đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm và lãi suất cam kết của doanh

21 Ngô Trung Dũng (2014), Từ điển bảo hiểm, NXB Dân trí, trang 70

22 Khoản 2 Điều 76 Nghị định 73/2016/NĐ-CP

Trang 27

nghiệp với khách hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm.” 23 Do đó, BMBH sẽ tích

lũy và tiết kiệm được được nhiều hơn từ phần đầu tư đã đóng cho DNBH Tuy nhiên, nếu BMBH chấm dứt HĐBH trước hạn trong vòng hai năm đầu sau khi ký kết hợp đồng

sẽ không được chi trả giá trị hoàn lại (phí bảo hiểm và lãi suất đầu tư cam kết) Ngoài

ra, nếu số năm đóng phí bảo hiểm nhỏ hơn thời hạn HĐBH sẽ chỉ được trả giá trị hoàn lại thấp hơn phí đã đóng cộng lãi suất đầu tư cam kết

1.3.2 Bên mua bảo hiểm được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm và được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư hoặc chịu mọi rủi ro từ đầu tư

Dựa trên thông tin giới thiệu về sản phẩm cũng như tình hình tài chính, lợi nhuận, chiến lược của các quỹ liên kết của DNBH, BMBH tùy vào nhu cầu và tài chính của mình có thể lựa chọn các quỹ phù hợp với những danh mục đầu tư cụ thể để tham gia giao kết HĐBH và được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ kết quả đầu tư (nếu là sản phẩm bảo hiểm liên kết chung) nhưng cũng chịu tổn thất nếu việc đầu tư của quỹ kém hiệu quả (nếu là sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị) Ưu điểm được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm sẽ giúp cho các sản phẩm BHLKĐT vừa đạt được yêu cầu bảo hiểm đồng thời đáp ứng nhu cầu đầu tư của BMBH, giúp cho dòng sản phẩm này mang tính cạnh tranh hơn với những sản phẩm bảo hiểm truyền thống và ngay cả đối với các sản phẩm tài chính khác Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa kinh doanh BHNT và kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, vì hoạt động đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ chỉ để đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung chứ không phải cho các cam kết theo từng sản phẩm bảo hiểm cụ thể với BMBH Do

đó, phạm vi đầu tư của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ rộng hơn so với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ để đảm bảo thực hiện cam kết đầu tư với khách hàng

Thông thường, DNBH sẽ thành lập các quỹ liên kết đầu tư khác nhau với mức độ rủi ro cũng sẽ khác nhau Theo đó, rủi ro càng cao thì lợi nhuận cũng sẽ gia tăng tương ứng và giá trị mà BMBH nhận được khi đáo hạn hợp đồng là giá trị của đầu tư theo cam kết hoặc khi đáo hạn Việc hiểu biết về đầu tư để lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm khi tham gia BHLKĐT sẽ rất thuận lợi cho BMBH khi lựa chọn quỹ đầu tư nào phù hợp Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa BMBH cần phải là một chuyên gia đầu tư có chuyên môn

23 Điểm 3.5 Khoản 3 Điều 18 Thông tư 50/2017/TT-BTC

Trang 28

và hiểu biết sâu về thị trường đầu tư tài chính Vì dựa trên nguồn phí bảo hiểm mà BMBH đã đóng, các chuyên gia đầu tư của DNBH hoặc các chuyên gia quản lý đầu tư của công ty quản lý quỹ được DNBH ký hợp đồng quản lý đầu tư sẽ có trách nhiệm tìm kiếm, lựa chọn các tài sản đầu tư để lập nên bản danh mục đầu tư phù hợp nhằm đem lại lợi nhận đầu tư cao nhất cho người tham gia bảo hiểm Do đó, BMBH có thể yên tâm

vì đã ủy thác đầu tư cho những chuyên gia hàng đầu về đầu tư tài chính Chính vì vậy, hiện nay, sản phẩm BHLKĐT được sự đón nhận của không chỉ những người dân bình thường có nhu cầu tham gia bảo hiểm mà có cả các nhà đầu tư cá nhân, các lãnh đạo doanh nghiệp có nguồn tài chính tích lũy lớn nhưng không đủ thời gian hoặc kinh nghiệm dành cho việc đầu tư Ngoài ra, việc lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng đang có xu hướng giảm dẫn đến nhu cầu tham gia BHLKĐT để tìm kiếm một kênh đầu

tư sinh lợi và hấp dẫn hơn Dù danh mục đầu tư của các quỹ liên kết đầu tư do DNBH thành lập luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa khả năng thu lợi nhuận và hạn chế tối đa mức độ rủi ro đầu tư để đảm bảo an toàn về tài chính không chỉ cho DNBH mà còn đối với nguồn phí bảo hiểm đã đóng của BMBH, tuy nhiên không phải lúc nào mục tiêu đó cũng đạt được do những biến động liên tục của thị trường đầu tư và rủi ro mà BMBH có thể gặp phải là có thể xảy ra Do đó, BMBH khi tham gia BHLKĐT cần lựa chọn hình thức đóng phí bảo hiểm phù hợp với điều kiện tài chính của mình cũng như DNBH có nghĩa vụ tư vấn, giải thích rõ ràng để BMBH hiểu được đặc điểm của sản phẩm Tùy thuộc vào thỏa thuận với DNBH, BMBH có thể lựa chọn hình thức đóng phí định kỳ hoặc một lần để đảm bảo an toàn tài chính cá nhân của mình Việc lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm và hưởng kết quả từ đầu tư của mỗi sản phẩm BHLKĐT cũng có những điểm khác nhau cơ bản như sau:

1.3.2.1 Đối với bảo hiểm liên kết chung

BMBH được hưởng kết quả đầu tư từ quỹ liên kết chung của DNBH nhưng không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu được DNBH cam kết tại HĐBH DNBH sẽ sử dụng một phần phí bảo hiểm mà BMBH lựa chọn đầu tư để đưa vào quỹ bảo hiểm liên kết chung Lợi nhuận đầu tư từ quỹ này sẽ được cộng vào giá trị tài khoản bảo hiểm của BMBH được tích luỹ theo thời gian tạo thành một khoản tiết kiệm Khoản tiết kiệm này có thể được rút ra từ tài khoản, hoặc chuyển từ phần đầu tư sang phí bảo hiểm (phí bảo hiểm đóng thêm) để gia tăng mức bảo hiểm Trong mỗi năm hợp đồng, tổng số phí bảo hiểm

Trang 29

mà BMBH đóng thêm không được: vượt quá năm lần mức phí bảo hiểm năm đầu đối với hợp đồng đóng phí định kỳ hoặc không quá 50% phí bảo hiểm lần đầu đối với hợp

BMBH, do đó DNBH cần đảm bảo quỹ liên kết chung hoạt động một các phù hợp để đảm bảo khả năng thanh toán lãi suất đầu tư theo cam kết Theo quy định hiện hành, DNBH phải luôn duy trì khả năng thanh toán và đảm đảm biên khả năng thanh toán phải cao hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu là 100 tỷ đồng Vì vậy, quyền lợi của BMBH

sẽ được đảm bảo và danh mục đầu tư của quỹ liên kết chung cũng thường chỉ đầu tư vào các kênh an toàn theo luật định như trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng

1.3.2.2 Đối với bảo hiểm liên kết đơn vị

BMBH được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình để mua đơn vị của các quỹ liên kết đơn vị do DNBH thành lập, được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư và chịu mọi rủi ro đầu tư từ các quỹ liên kết đơn vị đã lựa chọn tương ứng với phần phí bảo hiểm đã đầu tư Trong mỗi năm hợp đồng, tổng số phí bảo hiểm mà BMBH đóng thêm không được vượt quá mười (10) lần mức phí bảo hiểm năm đầu đối với hợp đồng đóng phí định kỳ hoặc không quá mức phí bảo hiểm lần đầu đối với hợp đồng đóng phí một

phải cao hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu là 200 tỷ đồng Do phí bảo hiểm đóng thêm cho phần đầu tư được chủ động quyết định bởi BMBH dựa trên thỏa thuận với DNBH, vì vậy BMBH có thể gia tăng phần đầu tư và cũng có thể linh hoạt rút tiền từ tài khoản của mình Vì đặc điểm phức tạp và độ rủi ro hơn so với sản phẩm bảo hiểm liên kết chung, nên pháp luật yêu cầu đối với dòng sản phẩm này có phần khắt khe hơn Theo đó, DNBH có trách nhiệm công bố chính xác, đầy đủ và kịp thời cho BMBH các thông tin liên quan đến HĐBH đã giao kết, các thông tin này phải phù hợp với nội dung

đã được Bộ Tài chính phê chuẩn Ngoài ra, DNBH có trách nhiệm công bố trên trang thông tin của doanh nghiệp mình các tài liệu về: quy tắc, điều khoản sản phẩm bảo hiểm được phê chuẩn; tài liệu giới thiệu sản phẩm; tài liệu minh họa bán hàng về các trường hợp điển hình; tình hình hoạt động của quỹ liên kết đơn vị và công bố giá đơn vị quỹ

24 Khoản 3 Điều 7 Thông tư 52/2016/TT-BTC

25 Khoản 3 Điều 8 Thông tư 135/2012/TT-BTC

Trang 30

liên kết đơn vị định kỳ một tuần một lần Dòng sản phẩm này là lựa chọn hoàn hảo cho người tham gia bảo hiểm muốn được thử thách trong thị trường tài chính với những rủi

ro đầu tư lớn nhưng đem lại khả năng sinh lời cao hơn với sự quản lý đầu tư chuyên nghiệp của các chuyên gia đầu tư được DNBH ủy thác đầu tư trong khi vẫn đảm bảo được yếu tố bảo hiểm

1.3.3 Doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng các khoản phí do bên mua bảo hiểm trả theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm

Trước đây, phí bảo hiểm do BMBH đóng sẽ được DNBH đầu tư vào các kênh an toàn như trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng để hưởng mức lãi suất

cố định, tuy lợi nhuận đầu tư không quá cao nhưng vẫn đảm bảo được cam kết thu nhập tối thiểu và khả năng thanh khoản để xử lý cho những trường hợp xảy ra sự kiện được bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm Đối với các sản phẩm BHLKĐT, phí bảo hiểm thu được sẽ được đầu tư vào các kênh có lợi nhuận nhiều hơn nhưng đồng thời rủi ro cũng cao hơn (ví dụ nếu quỹ liên kết đầu tư thực hiện đầu tư vào cổ phiếu) Khi đó, BMBH sẽ nhận được mức lãi tùy vào kết quả hoạt động của quỹ liên kết đầu tư theo tỷ lệ phần đầu tư đã đóng dựa trên thỏa thuận với DNBH

Do tính chất phức tạp về mặt kỹ thuật, bên cạnh phí bảo hiểm, phí quản lý, phí hủy bỏ HĐBH như các sản phẩm bảo hiểm truyền thống thì DNBH khi triển khai các sản phẩm thuộc nghiệp vụ BHLKĐT sẽ được tính thêm các loại phí liên quan đến hoạt động đầu

tư như phí ban đầu, phí quản lý quỹ, phí chuyển đổi quỹ liên kết đơn vị và các loại phí khác (nếu có) được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản DNBH sẽ được hưởng các khoản phí này để thực hiện việc quản lý HĐBH và hoạt động của các quỹ liên kết đầu

tư mà BMBH tham gia đầu tư vào các quỹ đó

1.3.4 Mối liên hệ chặt chẽ giữa sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư với thị trường chứng khoán

Ngành kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng đã và đang phát triển với tốc độ nhanh Với nguồn vốn dồi dào và ổn định từ doanh thu phí bảo hiểm, các DNBH tận dụng để đầu tư dài hạn và đặc biệt là vào thị trường chứng khoán, vì vậy nguồn vốn từ các DNBH đóng góp rất lớn vào việc phát triển thị trường tài chính và hệ thống kinh tế BHLKĐT với đặc điểm là một sản phẩm bảo hiểm và đầu tư cũng đang góp phần đóng vai trò là nguồn cung ứng vốn, cũng như một phần quan trọng trong việc

Trang 31

thúc đẩy thanh khoản trên thị trường chứng khoán đặc biệt là cổ phiếu, trái phiếu Nguồn vốn lớn từ các quỹ liên kết đầu tư mà DNBH thành lập tạo nên sự ổn định và dài hạn cho thị trường Khi thị trường chưng khoán phát triển đã kéo theo sự tăng trưởng ấn tượng của sản phẩm BHLKĐT BHLKĐT nhanh chóng trở thành một trong những sản phẩm đầu tư phổ biến đối với nhà đầu tư cá nhân và được bán như một công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn tại thị trường một số nước Ví dụ như tại Singapore, sản phẩm BHLKĐT được giới thiệu lần đầu năm 1992 trong giai đoạn thị trường chứng khoán Singapore khá phát triển đã thúc đẩy doanh số của sản phẩm BHLKĐT gia tăng nhanh

trong những sản phẩm chủ lực của các DNBH và ngày càng phát huy vai trò là cầu nối giữa thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán

1.3.5 Tính minh bạch cao của bảo hiểm liên kết đầu tư

Theo quy định hiện hành, khi giao kết HĐBH, DNBH có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến HĐBH, nghĩa vụ giải thích cho BMBH về các điều kiện,

nghĩa vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác và công khai các thông tin liên quan tới quỹ đầu tư (công bố hàng tuần giá đơn vị quỹ đối với bảo hiểm liên kết đầu tư, công bố định kỳ tình hình tài chính của các quỹ liên kết đầu tư) Các hoạt động đầu tư, chi phí quản lý và lợi nhuận của quỹ đều được tách biệt và công bố chi tiết với khách hàng Do vậy, khách hàng có thể biết rõ phí bảo hiểm của mình được đầu tư vào đâu và có thể dễ dàng thường xuyên theo dõi, cập nhật tình trạng quỹ đầu tư mà mình đã lựa chọn đầu

tư, đây là đặc điểm nổi trội mà các sản phẩm bảo hiểm truyền thống không có được Ngoài ra, dựa trên tình hình lợi nhuận của các quỹ liên kết đầu tư, DNBH cũng sẽ tư vấn cho khách hàng tìm kiếm, lựa chọn quỹ liên kết đầu tư phù hợp hoặc chuyển đổi quỹ khi

có nhu cầu nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho khách hàng, do đó BMBH có thể yên tâm

về khoản đầu tư của mình

1.3.6 Tính bảo vệ của bảo hiểm liên kết đầu tư

26 Tan Chwee Huat (2005), Financial Markets & Institutions in Singapore, Singapore University Press, page 137

27 Khoản 1 Ðiều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

28 Ðiều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 32

Bảo vệ NĐBH trước những sự cố, rủi ro không thể lường trước là đặc điểm không thể thiếu được của BHNT Ngoài bù đắp chi phí điều trị ốm đau thương tật như đã thỏa thuận trong HĐBH, NĐBH còn có thể được DNBH chi trả các khoản tài chính như đã cam kết để bù đắp chi phí: chi phí điều trị, giảm sút thu nhập, nuôi dưỡng hoặc các nghĩa

vụ tài chính Bên cạnh đặc điểm bảo vệ, tiết kiệm, đầu tư đã có của BHLKĐT, nhằm gia tăng quyền lợi cho khách hàng, các DNBH cũng cung cấp sản phẩm bảo hiểm bổ trợ kèm theo sản phẩm chính Bảo hiểm bổ trợ là sản phẩm bảo hiểm thiên về bảo hiểm cho một số trường hợp rủi ro nhất định và không có giá trị hoàn lại nên có mức phí rẻ hơn rất nhiều so với mức phí của HĐBH chính nhưng vẫn mang lại giá trị bảo vệ cao và tiết kiệm tối đa chi phí cho BMBH Sau khi hết thời hạn hợp đồng sản phẩm bổ trợ, khách hàng sẽ tiếp tục đóng phí để tiếp tục được bảo vệ Khoản phí mà khách hàng đã đóng sẽ không nhận lại, DNBH sẽ sử dụng để chi trả bồi thường cho những khách hàng khác không may gặp rủi ro nhờ đó đem lại sự bảo vệ cho các chủ HĐBH khác Các sản phẩm

bổ trợ thông thường là: bổ trợ dành cho vợ hoặc chồng; bổ trợ bệnh hiểm nghèo; bổ trợ

tử vong do tai nạn; bổ trợ hỗ trợ chi phí y tế

1.4 Các chủ thể tham gia bảo hiểm liên kết đầu tư

1.4.1 Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

1.4.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

DNBH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm Tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm: Công ty cổ phần bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm; Hợp

do đó hoạt động cũng nhằm mục đích sinh lời Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa DNBH với các doanh nghiệp khác là DNBH chấp nhận rủi ro của NĐBH, trên cơ sở BMBH đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi

nhân thọ chính là việc DNBH thực hiện việc thiết kế và chào bán các sản phẩm BHNT cho khách hàng thông qua việc giao kết HĐBH Nguồn phí bảo hiểm thu được từ việc

29 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

30 Khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 33

bán các sản phẩm đó sẽ được DNBH thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm hỗ trợ và tối

đa hóa lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh, vì vậy hoạt động đầu tư còn được coi là một chức năng cơ bản của DNBH Hiện nay đối với sản phẩm BHLKĐT, thì chỉ có các loại hình doanh nghiệp là Công ty cổ phẩn bảo hiểm và Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm chào bán các sản phẩm này, cụ thể là trên thị trường Việt Nam hiện nay có 17 doanh nghiệp triển khai sản phẩm bảo hiểm hiểm liên kết chung và 5 doanh nghiệp triển

1.4.1.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

Bên cạnh việc kinh doanh các nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm theo quy định của pháp luật, DNBH còn thực hiện việc đầu tư vốn từ nguồn phí bảo hiểm thu được của BMBH để gia tăng lợi nhuận, đảm bảo việc duy trì nguồn lực, hệ thống hoạt động cũng như đảm bảo việc bồi thường cho NĐBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Để đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH, pháp luật các quốc gia thường có quy định chặt chẽ về những yêu cầu và điều kiện đối với hoạt động đầu tư của DNBH Theo đó, các DNBH phải tiến hành hoạt động đầu tư một cách phù hợp trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán theo những tiêu chí đánh giá nhất định Tại Việt Nam, pháp luật hiện hành quy định rằng việc đầu tư vốn của DNBH phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu

bao gồm: vốn chủ sở hữu; vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm; các nguồn hợp

phòng nghiệp vụ được DNBH nhân thọ sử dụng, nguồn vốn này chủ yếu có được là dựa trên các sản phẩm BHNT được chào bán cho khách hàng, theo đó khách hàng sẽ nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận tại HĐBH Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm (sau khi trích lập dự phòng nghiệp vụ) là một nghiệp vụ quan trọng thuộc hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng, góp phần gia tăng lợi nhuận của DNBH thay vì từ việc quản lý đơn thuần doanh thu phí bảo hiểm và chi trả tiền bảo hiểm Bên cạnh đó, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của DNBH

31 Cục quản lý, giám sát bảo hiểm, Công bố sản phẩm bảo hiểm,

https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/cbspbh?_afrLoop=101631165436576365#!%40%40

%3F_afrLoop%3D101631165436576365%26_adf.ctrl-state%3D3ahtmfar4_61, ngày truy cập 25/6/2020

32 Khoản 1 Điều 98 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

33 Khoản 1 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Trang 34

mới đảm bảo yếu tố tiết kiệm trong các sản phẩm BHNT, ít nhất là việc bảo vệ người tham gia bảo hiểm trước tình trạng lạm phát của nền kinh tế do tham gia bảo hiểm với

không có nguồn vốn để đầu tư, nhất là đối với các sản phẩm BHLKĐT Thực tế, DNBH chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư trong các lĩnh vực: mua trái phiếu Chính phủ; mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác; cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và gửi tiền tại các tổ chức tín dụng Do đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh của mình, để đảm bảo an toàn tài chính và khả năng chi trả của DNBH, pháp luật cũng đặt ra yêu cầu hoạt động đầu tư của DNBH phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư, bảo đảm tính an toàn, hiệu quả và thanh khoản; không được đi vay để đầu tư trực tiếp hoặc ủy thác đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và góp vốn vào doanh nghiệp khác;

- Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông (thành viên) góp vốn hoặc người có liên quan với cổ đông (thành viên) góp vốn theo quy định tại Luật doanh nghiệp, trừ tiền gửi tại các cổ đông (thành viên) là tổ chức tín dụng;

- Không được đầu tư quá 30% nguồn vốn đầu tư vào các công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau (quy định này không áp dụng đối với việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc thành lập chi nhánh tại nước ngoài);

- Trường hợp ủy thác đầu tư, tổ chức nhận ủy thác phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thực hiện hoạt động nhận ủy thác đầu tư phù hợp với nội dung nhận ủy thác đầu tư

Hoạt động đầu tư của DNBH mang lại hiệu quả cao sẽ góp phần đảm bảo lợi ích của BMBH đặc biệt là đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ BHLKĐT khi mà BMBH

sẽ được hưởng quyền lợi đầu tư dựa trên quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình Hiện nay, hoạt động đầu tư của DNBH kinh doanh BHNT nói chung và nghiệp vụ BLKĐT nói riêng có những đặc điểm sau:

34 Phạm Thị Hồng Đào, Pháp luật về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, kiến nghị hoàn thiện, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2135, ngày truy cập 26/6/2020

Trang 35

a Danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chủ yếu là các tài sản đầu tư dài hạn

Do những yêu cầu đặc thù của đối với hoạt động kinh doanh của mình là luôn phải bảo đảm năng lực tài chính nhằm thực hiện những cam kết với BMBH cũng như xuất phát từ đặc điểm của BHNT là các HĐBH thường có thời hạn dài, vì vậy DNBH

có thể sử dụng được nguồn phí bảo hiểm và có xu hướng chú trọng và lựa chọn tài sản đầu tư tài chính có đặc điểm an toàn cao và thời hạn lâu dài, như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và tiền gửi ngân hàng bên cạnh những tài sản được phép đầu tư khác như cổ phiếu, bất động sản vì những tài sản này có tính đảm bảo (trái phiếu được bảo lãnh khi phát hành) và xác định cụ thể mức lãi suất, do đó DNBH sẽ thuận lợi hơn khi thiết kế các sản phẩm phù hợp để đảm bảo nguồn lực tài chính Đối với BHLKĐT

mà cụ thể là bảo hiểm liên kết đơn vị, pháp luật hiện hành còn quy định các quỹ liên kết

b Kế hoạch và mục đích đầu tư liên quan chặt chẽ đến nghiệp vụ bảo hiểm

Dựa trên việc thiết kế các sản phẩm BHNT mà DNBH sẽ có kế hoạch và chiến lược khác nhau cho hoạt động đầu tư Quyền lợi đầu tư của BMBH sẽ không giống nhau

do đặc điểm của từng loại sản phẩm sẽ được thiết kế dựa trên những đối tượng khách hàng nhất định, phù hợp với sản phẩm đó căn cứ vào việc phân tích nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm của khách hàng bởi DNBH Đối với những sản phẩm bảo hiểm khác, DNBH chỉ đảm đảm bảo tính thanh khoản, ổn định và dài hạn cho mục đích thực hiện nghĩa vụ thanh toán Trong khi đó, đối với các sản phẩm BHLKĐT thì DNBH còn phải đảm bảo BMBH được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư từ quỹ liên kết không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu được DNBH cam kết tại HĐBH (đối với sản phẩm bảo hiểm liên

đảm bảo an toàn cho danh mục đầu tư và tính thanh khoản Đảm bảo an toàn cho danh mục đầu tư là một nguyên tắc quan trọng không chỉ trong hoạt động đầu tư nói chung của DNBH, mà đặc biệt đối với các sản phẩm BHLKĐT thì nội dung này cần phải được tuân thủ triệt để, vì nếu hoạt động đầu tư của DNBH gặp rủi ro thì sẽ dẫn đến việc không đảm bảo cam kết thực hiện nghĩa vụ của DNBH và còn có thể ảnh hưởng đến tình hình

35 Điểm c Khoản 2 Điều 18 Thông tư 135/2012/TT-BTC

36 Khoản 2 Điều 2 Thông tư 52/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 21/03/2016 hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung

Trang 36

tài chính của DNBH nói chung Ngoài ra, DNBH còn phải đảm bảo tính thanh khoản đối với danh mục đầu tư để duy trì khả năng chi trả đối với các HĐBH như đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm do sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan không thể dự đoán trước mà khi sự kiện đó xảy ra thì DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ

của DNBH đối với nghiệp vụ BHLKĐT sẽ luôn tập trung vào những tài sản có tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính DNBH có thị phần sản phẩm BHLKĐT lớn thường hạn chế trực tiếp tiến hành các hoat động đầu tư mang tính chất rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả và lợi nhuận của các quỹ liên kết

1.4.2 Bên mua bảo hiểm

BMBH là tổ chức, cá nhân giao kết HĐBH với DNBH và đóng phí bảo hiểm

HĐBH để mua bảo hiểm cho người lao động hoặc những người lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp, đây là một xu hướng hiện nay nhằm giữ chân người lao động đang làm việc cũng như đảm bảo quyền lợi tối đa cho những người lao động này cùng người thân của họ Tuy nhiên, BMBH chiếm tỉ trọng lớn và đặc biệt là đối với BHLKĐT tại Việt Nam hiện nay chỉ là các cá nhân vì đặc điểm phức tạp và tỉ lệ đóng phí bảo hiểm tương đối cao, cũng như những rủi ro đầu tư có thể gặp phải nên không thu hút được đối tượng

là các tổ chức tham gia Về yêu cầu pháp lý, BMBH là cá nhân theo quy định của pháp luật cần đáp ứng các điều kiện như sau:

1.4.2.1 Bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

HĐBH là sự thỏa thuận giữa BMBH và DNBH, theo đó BMBH phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Theo quy định của pháp luật Dân sự hiện hành thì:

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay

sự có hiệu lực là phải đảm bảo rằng BMBH phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập Như vậy, người thành niên từ đủ mười tám tuổi trở

37 Khoản 10 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

38 Khoản 6 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

39 Điều 116 Bộ luật dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015

Trang 37

lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không mắc các bệnh hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì đương nhiên được tham gia giao kết HĐBH với tư cách là BMBH Về mặt lý luận, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa thành niên có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo pháp

giao kết HĐBH nhân thọ nói chung và BLKĐT nói riêng vì về mặt pháp lý, BMBH là một bên trong HĐBH, do vậy sẽ phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của mình như đã thỏa thuận trong HĐBH với DNBH và trường hợp có tranh chấp xảy thì BMBH sẽ trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐBH Mặc khác, vì tính chất phức tạp của sản phẩm BHLKĐT, nên pháp luật quy định BMBH phải xác nhận về việc hiểu rõ sản phẩm bảo hiểm mà họ dự kiến mua, nhận thức rõ được quyền lợi bảo hiểm, quyền lợi đầu tư và các rủi ro đầu tư có thể gặp phải

Vì vậy, đối với các hợp đồng BHLKĐT hiện nay, BMBH phải là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để đảm bảo được các yêu cầu này Theo quy tắc, điều khoản bảo hiểm nhân thọ mẫu của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam cũng quy định về BMBH

trong HĐBH đối với các sản phẩm BHLKĐT như sau: “Trường hợp bên mua bảo hiểm

là cá nhân thì phải thể hiện rõ cá nhân đó phải từ đủ 18 tuổi trở lên tại thời điểm nộp

hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, đang cư trú tại Việt Nam và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

1.4.2.2 Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm (hay bên mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm)

Điều kiện BMBH có quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với HĐBH nhân thọ Vì mục đích của bảo hiểm chỉ đạt được nếu BMBH có lợi ích bảo hiểm nhằm tránh tình trạng lợi dụng để trục lợi bảo hiểm Đây không chỉ là yêu cầu của pháp luật BHNT Việt Nam mà còn là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động BHNT trên toàn thế giới Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro từ BMBH sang cho DNBH Khi mua bảo hiểm, BMBH phải có nghĩa

vụ trả phí bảo hiểm cho DNBH và được chi trả bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra Nếu mua

40 Khoản 2 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015

41 Khoản 1.2 Mục 1 Phần I Quy tắc, điều khoản bảo hiểm nhân thọ mẫu Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2009/QĐ-HHBH do Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam ký ban hành ngày 13/10/2009

Trang 38

bảo hiểm cho đối tượng mà người mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm dẫn đến tình trạng cá cược về bảo hiểm, ngược lại với bản chất của bảo hiểm là sự

BMBH về vật chất hoặc tinh thần đối với đối tượng được bảo hiểm Khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại thì được coi là tổn thất thật sự của BMBH Do đó, nếu một người không

có quyền lợi tài chính hay quan hệ gì đối với đối tượng bảo hiểm mà được phép mua bảo hiểm sẽ dẫn đến hệ quả, người mua bảo hiểm sẽ cố tình gây ra tổn thất hoặc để mặc

bảo hiểm không hạn chế đối với tính mạng của chính bản thân mình, và vì vậy có thể lựa chọn bất kỳ ai là người thụ hưởng quyền lợi Cha mẹ và các con, vợ và chồng, anh chị em có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với nhau vì có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

- Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thực sự tồn tại tại thời điểm giao kết HĐBH Những quyền lợi đã chấm dứt hoặc chưa phát sinh trên thực tế không được coi

là quyền lợi có thể được bảo hiểm vì khi đó BMBH không thể xác định được có thiệt hại gì Do đó, nếu không tồn tại mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng hay mối quan hệ hôn nhân, huyết thống giữa BMBH và NĐBH thì được xem là không xác định được quyền lợi có thể được bảo hiểm (ví dụ như vợ chồng đã ly hôn thì không được xem là tồn tại đương nhiên quyền lợi có thể được bảo hiểm)

- Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải là quyền lợi hợp pháp Quyền lợi hợp pháp được hiểu là những lợi ích được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Một khi bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp này, thì cá nhân bị xâm phạm có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ theo các quy định pháp luật (ví dụ các phương thức bảo vệ quyền dân sự theo Điều 11 Bộ luật Dân sự 2015) Những quyền lợi không hợp pháp không thể được bảo hiểm vì đó là các quyền lợi vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp khác của bên thứ ba hoặc xã hội Trong HĐBH nhân thọ, quyền lợi có thể được bảo hiểm được hiểu là lợi ích kinh tế hoặc lợi ích tinh thần của BMBH Chính vì vậy, mối quan hệ giữa BMBH và NĐBH có tính chất quyết định đến việc xác

42 Trần Minh Hiệp (2018), Xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ, Nghiên cứu lập pháp, số 6(358) - tháng 3/2018, trang 49-50

43 Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, NXB Hồng Đức, trang 20-21

Trang 39

định xem BMBH có quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không Nếu giữa BMBH và NĐBH là quan hệ thân thuộc gần gũi (ví dụ giữa cha, mẹ và con; vợ và chồng; anh chị

em ruột), thì mặc nhiên được pháp luật thừa nhận là có lợi ích bảo hiểm Nếu không, chỉ được coi là có lợi ích bảo hiểm nếu như BMBH phải chịu tổn thất tài chính thật sự nếu rủi ro xảy ra Sở dĩ như vậy vì căn cứ vào mục đích của việc mua bảo hiểm trong bảo hiểm con người, người mua bảo hiểm được quyền bảo vệ lợi ích tài chính của mình có

Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành đã quy định rõ những người mà BMBH có quyền lợi có thể được bảo hiểm, theo đó BMBH chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu

1.4.2.3 BMBH phải được sự chấp thuận của người được bảo hiểm trong trường hợp bảo hiểm đối với cái chết của người này

Trong các nghiệp vụ BHNT theo quy định hiện hành thì bảo hiểm tử kỳ và bảo hiểm hỗn hợp là hai nghiệp vụ quy định về trường hợp bảo hiểm đối với cái chết của NĐBH, cụ thể:

- Bảo hiểm tử kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp NĐBH hiểm chết trong

một thời hạn nhất định, theo đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu

- Bảo hiểm hỗn hợp: là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm

Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm này, nếu người được bảo hiểm không đồng thời

là BMBH thì khi BMBH giao kết HĐBH cho trường hợp chết của NĐBH phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng người thụ hưởng muốn trục lợi bảo hiểm và có thể thực hiện các hành vi phạm pháp xâm hại đến NĐBH Mặc khác, quy định này xuất

44 Nguyễn Thị Thủy (2020), Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người, Tạp chí khoa học pháp lý, số 02 (132)/2020, trang 77

45 Khoản 2 Điều 31 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

46 Khoản 14 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

47 Khoản 15 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Ngày đăng: 22/04/2021, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Án lệ số 22/2018/AL về “không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”, được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
20. Án lệ số 23/2018/AL về “hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm”, được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm
56. Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, https://www.baovietnhantho.com.vn Link
57. Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam, https://www.prudential.com.vn 58. Công ty TNHH BHNT Manulife Việt Nam, https://www.manulife.com.vn 59. Cục quản lý giám sát bảo hiểm,https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh Link
60. Bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng?, http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Ben-mua-bao-hiem-co-quyen-don-phuong-dinh-chi-hop-dong/384987.vgp, ngày truy cập 25/6/2020 Link
61. Gia Bảo – Vân Nguyên, Rủi ro mua bảo hiểm không đọc kỹ hợp đồng, https://www.sggp.org.vn/rui-ro-mua- bao-hiem-khong-doc-ky-hop-dong-628425.html, ngày truy cập 25/6/2020 Link
62. Kim Lan, Làm sai, cả doanh nghiệp và đại lý bảo hiểm cùng chịu trách nhiệm, https://tinnhanhchungkhoan.vn/bao-hiem/lam-sai-ca-doanh-nghiep-va-dai-ly-bao-hiem-cung-chiu-trach-nhiem-161868.html, ngày truy cập 25/6/2020 Link
63. Lập hợp đồng bảo hiểm ảo có thể bị khép tội hình sự, https://baophapluat.vn/tu-van-365/lap-hop-dong-bao-hiem-ao-co-the-bi-khep-toi-hinh-su-418051.html, ngày truy cập 25/6/2020 Link
64. Nguyễn Thị Thủy, Đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của người mua bảo hiểm trong quan hệ bảo hiểm thương mại,http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207820, ngày truy cập 25/6/2020 Link
65. Phạm Thị Hồng Đào, Pháp luật về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, kiến nghị hoàn thiện, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2135, ngày truy cập 25/6/2020II. Danh mục tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Link
1. Bộ luật dân sự (Bộ luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015 Khác
2. Luật kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 Khác
3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm (Luật số 61/2010/QH12) ngày 24/11/2010 Khác
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ (Luật số 42/2019/QH14) ngày 14/06/2019 Khác
5. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật số 59/2010/QH12) ngày 17/11/2020 Khác
6. Luật chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29/06/2006 7. Luật chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 26/11/2019 Khác
8. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán (Luật số 62/2010/QH12) ngày 24/11/2010 Khác
9. Luật doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác
10. Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm Khác
13. Thông tư 50/2017/TT-BTC ngày 15/05/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w